intTypePromotion=1

Tính dung hợp trong văn hóa truyền thống Đà Nẵng

Chia sẻ: ViShizuka2711 ViShizuka2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
24
lượt xem
0
download

Tính dung hợp trong văn hóa truyền thống Đà Nẵng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự tồn tại trong cuộc đời có một điều thật đặc biệt, rằng chúng ta sẽ không bao giờ hoàn thiện nếu chúng ta đơn độc, lẻ loi. Như Thomas Friedman đã viết: “Đứng một mình, bạn không thể nào là một con người hoàn chỉnh. Bài viết trình bày tính dung hợp: Khái niệm, nguồn gốc, biểu hiện của tính dung hợp trong văn hóa Đà Nẵng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tính dung hợp trong văn hóa truyền thống Đà Nẵng

Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TÍNH DUNG HỢP<br /> TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐÀ NẴNG<br /> ? Phạm Thị Tú Trinh *<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 1. Tính dung hợp: khái niệm, nguồn gốc<br /> Sự tồn tại trong cuộc đời có một điều thật đặc<br /> biệt, rằng chúng ta sẽ không bao giờ hoàn thiện nếu<br /> chúng ta đơn độc, lẻ loi. Như Thomas Friedman đã<br /> viết: “Đứng một mình, bạn không thể nào là một con<br /> người hoàn chỉnh. Một mình bạn có thể là một người<br /> giàu có. Một mình, bạn có thể là một nhà thông thái.<br /> Nhưng bạn không bao giờ là người hoàn chỉnh nếu<br /> đứng một mình”.1 Vậy nên, sự liên hệ giữa cá thể này<br /> với cá thể khác, giữa cộng đồng này với cộng đồng<br /> khác là một quy luật tất yếu. Quy luật này đã thể hiện<br /> được tính đúng đắn của mình trong tất cả các lĩnh<br /> vực, bao gồm cả văn hóa. vị tha để bỏ qua và châm chước các lỗi lầm của người<br /> khác, với cái nhìn thông thoáng và tấm lòng rộng mở<br /> Đối với văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa Đà<br /> trong mối quan hệ giữa con người với con người, con<br /> Nẵng nói riêng, trong quá trình vận động để tồn tại<br /> người với xã hội, và con người với thế giới tự nhiên”.3<br /> cũng đã tuân thủ theo đúng quy luật tất yếu của văn<br /> Trong văn hóa, tính dung hợp được thể hiện ở việc<br /> hóa nhân loại. Lịch sử phát triển của Đà Nẵng đã cho<br /> tôn trọng các giá trị văn hóa khác biệt, biết tiếp nhận<br /> thấy lúc nào cũng có nhiều người cùng tham gia vào<br /> và biến đổi những giá trị văn hóa ngoại sinh trên cơ<br /> quá trình sáng lập ra nó với tư cách là một chỉnh thể<br /> sở có chọn lọc sao cho phù hợp với những giá trị văn<br /> hoàn thiện. Những người ấy, có thể đến từ những<br /> hóa nội sinh để làm phong phú và sâu sắc hơn nền<br /> quốc gia rất xa xôi nhưng cũng có thể là rất gần.<br /> văn hóa của mình. Vậy, tính dung hợp của văn hóa<br /> Nhưng dù xa hay gần, dù lạ hay quen thì việc người<br /> Đà Nẵng được hình thành và có những biểu hiện như<br /> này cùng tồn tại và phát triển bên cạnh người kia, tất<br /> thế nào?<br /> yếu đòi hỏi phải có sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau.<br /> Theo cách lập luận này, chúng tôi cho rằng văn hóa Nguồn gốc thứ nhất hình thành nên tính dung hợp<br /> Đà Nẵng có tính dung hợp cao. trong văn hóa Đà Nẵng chính là nhờ sự kế thừa từ<br /> những giá trị đặc trưng bản sắc của văn hóa Việt Nam<br /> Theo Từ điển tiếng Việt thì “Dung hợp” có nghĩa là<br /> truyền thống. Thông qua chủ thể chuyển tải chính là<br /> “hòa lẫn vào nhau để hợp thành một thể thống nhất”,<br /> những tiền nhân vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, đặc trưng<br /> nó không khác mấy với “Dung hòa”: “làm cho có sự<br /> tính cách này đã được tận dụng và phát huy để trợ lực<br /> nhân nhượng lẫn nhau để đạt được những điểm chung,<br /> cho con người khi sinh sống ở vùng đất mới.<br /> trở thành không còn đối lập nhau nữa”2, và lại càng<br /> giống với “Bao dung”: “Tính bao dung là phẩm chất của Nguồn gốc thứ hai chính là nhờ vị thế địa văn hóa<br /> con người biết dung nạp những gì khác mình, có lòng của Đà Nẵng. Vị thế này thể hiện ở chỗ: Đà Nẵng<br /> <br /> *<br /> ThS., Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.<br /> <br /> 46 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> chính là tâm điểm của mọi sự gặp gỡ và giao lưu. Trên giao, trong chính trị và kể cả trong văn hóa thì mới có<br /> thế đứng đó, đất và người Đà Nẵng sẽ không tránh thể khắc phục được những mâu thuẫn đã nảy sinh,<br /> khỏi những va đập và biến cố của những cuộc chạm vươn lên giành lấy chiến thắng.<br /> mặt mà cái tương đồng thì rất ít, cái khác biệt thì lại<br /> 2. Biểu hiện của tính dung hợp trong văn hóa<br /> rất nhiều. Hơn thế nữa, với đặc điểm lưng tựa núi mặt<br /> Đà Nẵng<br /> hướng biển, cùng chung sống với biển và bị biển chi<br /> phối đã tạo cho người Đà Nẵng một nền văn hóa cửa 2.1. Với văn hóa Champa<br /> biển:“Người cửa biển “ăn sóng nói gió”, quen với thế giới Tuy không phổ biến và ít điển hình bằng Quảng<br /> biến đổi, không sợ sự biến đổi, tò mò và ham muốn điều Nam, nhưng ở Đà Nẵng văn hóa Chăm vẫn hiện diện<br /> mới lạ”.4 và tồn tại như là một chứng tích cho quá trình dung<br /> Tuy nhiên, những tiền nhân Đà Nẵng dù có yêu hợp, giao hòa văn hóa giữa hai dân tộc Việt - Chăm.<br /> thích sự thay đổi bao nhiêu chăng nữa mà những cái Đầu tiên là sự ảnh hưởng trong phương thức làm kinh<br /> mới, cái khác đó không xuất hiện thì mọi chuyện vẫn tế của người Chăm đến người Việt ở Đà Nẵng. Đối với<br /> vậy. Cho nên, nguồn gốc thứ ba góp phần quan trọng người Chăm, ngoài nông nghiệp thì họ còn lấy việc<br /> vào việc định hình nên tính dung hợp trong văn hóa buôn bán trao đổi làm nghề chính mà chủ yếu là<br /> Đà Nẵng chính là bối cảnh lịch sử - xã hội của Đà buôn bán trên biển. Bởi vì người Chăm là dân tộc thạo<br /> Nẵng. Đà Nẵng trong lịch sử từng kinh qua rất nhiều thủy chiến, thạo đến mức họ trở thành những người<br /> vị thế khác nhau như làm “tiền cảng” của Hội An, tiếp cướp biển chuyên nghiệp. Cho nên, hoạt động ngoại<br /> đến là hải cảng quốc tế duy nhất của nước ta (đầu thế thương trên biển đã sớm hình thành và phát triển ở<br /> kỷ XX), và cao hơn nữa là một tiền đồn quân sự bảo vệ người Chăm và sau này người Việt ở Quảng Nam đã<br /> sự an nguy của kinh đô Phú Xuân - Huế, thay mặt toàn tiếp tục truyền thống đó với nghề buôn ghe bầu nổi<br /> dân tộc là vùng đất đầu tiên đứng lên chống lại các tiếng. Đà Nẵng lại tỏ ra phù hợp hơn với phương thức<br /> cuộc chiến xâm lược của thực dân đế quốc phương kinh tế này khi nó có lợi thế của một hải cảng giàu tiềm<br /> Tây (Pháp, Mỹ) kéo dài hơn hai thế kỷ. Để hoàn thành năng và rất được các thương gia nước ngoài ưu ái.<br /> được các sứ mệnh này, đất và người Đà Nẵng không Người Đà Nẵng còn chịu ảnh hưởng của văn hóa<br /> chỉ “trung dũng, kiên cường” mà còn cần phải thông Chăm trong cách ăn mặc. Trong cuốn Một chuyến du<br /> minh, sáng tạo, linh hoạt và dung hợp trong ngoại hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793) của mình, John<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 47<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> Barrow đã sử dụng bức tranh Một nhóm người Đàng Nẵng mà không nhắc đến sự dung hợp trong đời<br /> Trong của William Alexander để minh họa. Theo mô tả sống tín ngưỡng. Về phương diện này thì thái độ ứng<br /> của John Barrow thì có thể hình dung đó là một làng xử của người Việt đối với người Chăm chiến bại được<br /> ở cửa Hàn, nay thuộc khu vực phường Nại Hiên Đông, thể hiện khá độc đáo và kỳ lạ trong tín ngưỡng dân<br /> quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Trong bức tranh, gian qua tục cúng tá thổ đến ngày nay cũng chưa<br /> chiếc váy áo nhiều tầng của người phụ nữ ngoài cùng hoàn toàn mất hẳn. Về mặt tên gọi, người Việt không<br /> bên trái được John Barrow viết: “Một quý bà thường còn gọi là cúng tá thổ nữa mà chỉ gọi là cúng đất. Lễ<br /> mang một lúc ba, bốn chiếc áo màu sắc, dài ngắn khác cúng thường tiến hành trong các tháng mùa xuân,<br /> nhau, chiếc ngắn nhất là nổi bật hơn cả”.5 Khi mô tả tập trung nhất là tháng hai âm lịch. Trong lễ vật cúng<br /> cách ăn mặc của người huyện Điện Bàn (bao gồm đất của người Đà Nẵng hiện nay thì bao giờ cũng có<br /> cả các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Hội An, Hòa Vang, những thực phẩm đậm chất biển như con cua (phải<br /> Đà Nẵng nay) thì Ô Châu cận lục chép: “Đàn bà mặc còn sống), mắm cái, khoai lang… như sự tưởng nhớ<br /> váy Chiêm, đàn ông dùng quạt Bắc. Để tỏ sang hèn về văn hóa ẩm thực của chủ nhân cũ vùng đất này.<br /> đồ dùng chẳng vẽ phượng thì rồng, phân biệt tôn Thêm vào đó là tín ngưỡng thờ nữ thần Poh Yang Inư<br /> ti, quần áo chẳng tô hồng thì tía”.6 Trong hình còn Nagar - nữ thần Xứ sở vĩ đại của người Chăm và người<br /> có hai người đàn ông cởi trần và mặc váy kama, mà Việt gọi bằng cái tên được Việt hóa là Thiên Y A Na.<br /> theo Maspero trong Vương quốc Champa thì y phục Trong các sắc phong thần thì có khi ghi là Thiên Y A<br /> của người Chăm cũng mặc váy kama. Như vậy, những Na Diễn Phi Chúa Ngọc nên người dân thường gọi tắt<br /> người đàn ông Đàng Trong này có phải là người là Bà Chúa Ngọc. Ở Đà Nẵng đến nay vẫn còn miếu Bà<br /> Chăm? Hay họ là người Việt chịu ảnh hưởng phong Chúa Ngọc ở thôn Phước Hưng, xã Hòa Nhơn, huyện<br /> cách ăn mặc của người Chăm? Vấn đề này đến nay Hòa Vang như là chứng tích chứng minh cho sự dung<br /> vẫn không thể trả lời một cách chính xác được, nhưng hợp đó.<br /> điều suy luận ra là ít nhất đến cuối thế kỷ XVIII thì văn<br /> Theo Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra, khảo sát di<br /> hóa Chăm vẫn có sức ảnh hưởng hay vẫn còn tồn tại ở<br /> sản văn hóa khảo cổ học trên địa bàn Đà Nẵng do<br /> vùng đất Đà Nẵng là sự thật không thể phủ nhận được.<br /> Trung tâm Quản lý Di sản văn hóa thành phố Đà Nẵng<br /> Sẽ là một thiếu sót rất lớn nếu nói đến sự dung - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng<br /> hợp văn hóa Chăm của người Việt ở Quảng Nam - Đà phối hợp thực hiện với Viện Khảo cổ học Việt Nam thì<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 48 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> 2.2. Với văn hóa Trung Hoa<br /> Trong các quốc gia đã từng xuất hiện ở Đàng Trong,<br /> Trung Hoa là nước đã có mối quan hệ từ rất sớm, và<br /> chính họ cũng là dân tộc để lại nhiều ảnh hưởng<br /> đến đời sống văn hóa của cư dân xứ này. Người Hoa<br /> đến Việt Nam vào nhiều thời điểm khác nhau và họ<br /> thường chọn cư trú ở Đàng Trong thay vì Đàng Ngoài.<br /> Trong các đợt di cư ồ ạt này, người Hoa đã đến định<br /> cư ở Hội An, Đà Nẵng (năm 1679) và phần đông họ<br /> có gốc ở phía Nam Trung Hoa như Phúc Kiến, Quảng<br /> Đông, Triều Châu, Hải Nam. Chúa Nguyễn cũng cho<br /> phép họ tập hợp, lập làng, cư trú ổn định. Thời người<br /> Hoa phát triển cực thịnh nhất cũng gắn liền với thời<br /> cực thịnh của thương cảng Hội An nên văn hóa Hoa<br /> đã ảnh hưởng mạnh mẽ ở Hội An hơn so với các vùng<br /> khác, kể cả Đà Nẵng. Phải chờ đến đầu thế kỷ XX, khi<br /> cảng Đà Nẵng bắt đầu phát triển dưới bàn tay người<br /> Pháp và con đường nước Cổ Cò nối liền Đà Nẵng -<br /> Hội An bị thiên nhiên vùi lấp, Hội An mất dần ưu thế,<br /> người Hoa mới dần dần có mặt ở Đà Nẵng nhưng số<br /> lượng vẫn không đáng kể. Như vậy, văn hóa Hoa đã<br /> ảnh hưởng không thường xuyên và có phần mờ nhạt<br /> đến con người và văn hóa Đà Nẵng từ thế kỷ XX trở<br /> những di tích thuộc văn hóa Champa trên địa bàn về trước.<br /> Đà Nẵng còn lại cho đến ngay nay là khá dày, gần 20 Người Hoa khi sinh sống tại nước ngoài thì thường<br /> di tích thuộc nhiều loại hình như: tháp, chùa, miếu, quy tụ thành các cộng đồng (đặt trên cơ sở là tình<br /> thành, đình, hiện vật cổ, giếng cổ… Thống kê này cho đồng hương) gọi là bang. Người Hoa khi định cư tại<br /> thấy văn hóa của người Chăm đã hiện diện ở Đà Nẵng Đà Nẵng cũng tạo thành các bang như thế, phổ biến<br /> từ rất lâu và còn tồn tại cho đến nay là minh chứng và tồn tại đến ngày nay thì có các bang như Phúc Kiến,<br /> cho sự dung hòa văn hóa trên rất nhiều lĩnh vực của Quảng Đông, Nam Hải, Hẹ, Triều Châu… và tập trung<br /> cả hai dân tộc Việt - Chăm. sinh hoạt trong hai hội quán là Hội quán Chiêu Ứng<br /> và Hội quán Thiên Hậu Cung. Theo thời gian, người<br /> Đỉnh cao cho sự dung hợp văn hóa Việt - Chăm đã<br /> Hoa ngày càng có cuộc sống ổn định và luôn giúp đỡ<br /> kết tinh lại ở một biểu tượng văn hóa tiêu biểu chính<br /> cùng nhau sinh sống chan hòa với cộng đồng cư dân<br /> là Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Trải qua thời<br /> Đà Nẵng.<br /> gian, bảo tàng được nâng cấp và thay đổi nhiều so<br /> với ngày xưa nhưng tinh thần văn hóa Chăm thì vẫn Những thương nhân người Hoa có hoạt động<br /> không hề mờ nhạt. Ở đó, người ta bắt gặp được một buôn bán với người Việt là chuyện tất yếu, nhưng<br /> nền văn hóa mà chủ nhân đã lùi vào quá khứ nhưng bên cạnh đó họ còn là những người trực tiếp giao<br /> các tác phẩm bằng đá, bằng gạch ấy - tưởng như vô dịch buôn bán với thương nhân phương Tây khi neo<br /> tri vô giác nhưng lại tự thuyết minh cho tài năng và thuyền ở Đà Nẵng: “Có thể xem Hoa kiều là cái gạch nối<br /> bản lĩnh của dân tộc mình. Có thể nói, Bảo tàng Điêu quan trọng giữa doanh nhân Pháp và thị trường Việt<br /> khắc Chăm là một công trình kiến trúc có tính dung Nam về cả hai mặt tiêu thụ và cung ứng”.7 Nhà Nguyễn<br /> hợp rất cao, vì trong đó là sự gặp gỡ của tài năng đã có những chính sách cấm thương nhân người Việt<br /> một dân tộc (Chăm) - ý thức giữ gìn và nâng niu cái tiếp xúc và mua bán với thương nhân phương Tây,<br /> đẹp của một dân tộc (Pháp) - và tinh thần tôn trọng, cho nên người Pháp bắt buộc phải bắt tay với một<br /> bao dung văn hóa của một dân tộc (Việt) hòa vào với bộ phận thương nhân Hoa kiều. Nhờ một hệ thống<br /> nhau để cống hiến cho nhân loại những tài sản văn thương mại được tổ chức chu đáo và rộng rãi, nguồn<br /> hóa vô giá. vốn dồi dào và biết đoàn kết chặt chẽ, Hoa kiều có thể<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 49<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> đảm nhận một cách tốt đẹp việc phân phối hàng hóa trong những nếp sinh hoạt văn hóa này mà văn hóa<br /> đến tận tay người tiêu thụ dù ở hang cùng ngõ hẻm tinh thần của người Hoa đã ảnh hưởng phần nào đến<br /> nào; và ngược lại, có thể thu mua các sản vật trong xứ đời sống tinh thần của người Việt Đà Nẵng trong quá<br /> một cách dễ dàng để tự xuất cảng hay cung cấp lại trình hai dân tộc cùng tụ cư tại đây. Trong Hội quán<br /> cho các nhà xuất cảng Pháp. thì đời sống tinh thần của người Hoa được thể hiện rõ<br /> nhất thông qua các tín ngưỡng - lễ hội và các phong<br /> Đặc biệt, trong tổ chức ngoại thương, các chúa<br /> tục dân gian… Nhưng điển hình nhất có thể nhắc đến<br /> Nguyễn đã lập các cơ quan chuyên trách khá hùng<br /> chính là tín ngưỡng thờ Thiên Hậu của người Hoa.<br /> hậu, đặt ở Hội An, đó là Ty Tàu vụ đảm nhận việc<br /> vận chuyển bằng tàu, thuyền của triều đình, ấn định Tục thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu là một sinh hoạt<br /> cùng hành thu các ngạch thuế thuộc về thuyền bè; tín ngưỡng mang tính khu vực, gắn liền với vùng lục<br /> và Ty Hành nhân chuyên về kiểm soát, cân lường và địa và hải đảo Trung Hoa, theo chân người Hoa ra các<br /> ấn định giá cả các loại hàng hóa xuất nhập cảnh. Cả vùng khác ở Đông Nam Á và Đông Á. Bà là vị nữ thần<br /> hai ty này đều không có trụ sở hay chi nhánh tại Đà của những người làm nghề buôn bán, thông thương<br /> Nẵng, cho nên nhân viên đã không có mặt thường trên biển nên người Hoa thờ Bà cũng chính là để cầu<br /> trực tại cảng mà chỉ làm việc trong mùa mậu dịch. Để mong được sự bình yên trên bước đường vạn dặm<br /> hai cơ quan này hoạt động có hiệu quả, chúa Nguyễn bôn ba xứ người, đặc biệt là sự biết ơn của họ khi Bà<br /> đã sử dụng đông đảo các quan quản lý hay nhân viên đã luôn kề vai sát cánh trên hành trình vượt biển gian<br /> Ty Tàu vụ có nguồn gốc là người Trung Hoa ở làng nan khi họ đến Việt Nam, đến Đà Nẵng. Nơi thờ Bà gọi<br /> Minh Hương Hội An. Từ chức Cai tàu, Cai phủ tàu, Tri là Thiên Hậu cung hoặc là chùa Bà, tọa lạc ở 407 Phan<br /> tàu… đến nhân viên trực tiếp về cân đo hàng hóa tàu Châu Trinh, thành phố Đà Nẵng. Không chỉ là nơi của<br /> thuyền đều giao phó cho người Trung Hoa nắm giữ… riêng những người Hoa tụ tập về đây sinh hoạt văn<br /> Vì hơn ai hết, thương mại là lĩnh vực mà người Tàu đã hóa mà chùa Bà/ Thiên Hậu cung còn là nơi khấn lễ<br /> có kinh nghiệm và có thể giúp đỡ chúng ta thực hiện cầu an, cầu lộc của rất nhiều người Việt Đà Nẵng,<br /> một cách tốt nhất. Rõ ràng, đây là một tư duy, một đông nhất là nữ giới. Người Việt gọi Bà Thiên Hậu là<br /> ứng xử rất thân thiện, thể hiện sự thu dụng rất cởi Mẹ, trong khấn lễ cũng kính cẩn hô là Thánh Mẫu. Để<br /> mở nhưng cũng rất thông minh của chúa Nguyễn khi thông linh với Thánh Mẫu, người Việt cũng thể theo<br /> biết tận dụng lợi thế của người khác để làm lợi cho ta cách thức của người Hoa. Hiện chùa Bà/Thiên Hậu<br /> mà không gây một bất hòa nào cả. Cho nên, mặc dù cung có thủ tự là một phụ nữ Việt, và một số danh<br /> không có trụ sở hay chi nhánh tại Đà Nẵng nhưng vào thần Hoa được Việt hóa theo cách gọi của đạo Mẫu<br /> mùa mậu dịch thì nhân viên của Ty Tàu vụ đều đến Việt như Phước Đức Chính Thần thì chuyển thành<br /> Đà Nẵng làm việc nên văn hóa thương mại của họ Quan Hoàng Phúc; Mã Đầu Tướng Quân thì gọi là Cậu<br /> ít nhiều gì cũng ảnh hưởng rất lớn đến phong cách lớn ngoại cảnh hay Thần Tài thì gọi là Quan Hoàng<br /> buôn bán, kỹ năng buôn bán của người Đà Nẵng. Như Mười… Hoặc trong cách bài trí thờ tự, mặc dù là Hội<br /> vậy, người Hoa đã cùng lúc tham gia vào hai khâu quán của người Hoa nhưng không nhất thiết mọi việc<br /> quan trọng nhất của hoạt động thương mại ở Đà đều phải tuân thủ theo nghi thức truyền thống người<br /> Nẵng, đó vừa là những người “quản lý” nhưng cũng Hoa mà có sự linh hoạt, hòa đồng. Ngoại trừ ban thờ<br /> đồng thời là những người “bị quản lý”. Cho nên, có<br /> lúc họ trở thành những người thâu túng toàn bộ thị<br /> trường Đà Nẵng và gây nên sự phẫn nộ đối với những<br /> thương nhân người Pháp. Như vậy, chắc chắn sự<br /> thành công của người Hoa trong kinh doanh sẽ ảnh<br /> hưởng ít nhiều đến đời sống phố cảng Đà Nẵng, mà<br /> đặc biệt là cư dân sống ven sông Hàn - nơi tại vị của<br /> những cửa hiệu buôn bán phồn thịnh của người Hoa.<br /> Bên cạnh đời sống kinh tế hàng ngày, sau những<br /> lúc buôn bán bận rộn thì người Hoa cũng cần có nơi<br /> chốn để sinh hoạt về mặt tinh thần, họ quay trở về<br /> với những Bang, và những Hội quán của mình. Chính<br /> <br /> 50 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> Bà do người Hoa sắp bày thì các ban thờ khác có thể hệ giao thương tại đây. Và đi liền với những chuyến<br /> do người Việt sắp đặt như ban thờ Quan Công, ban thương thuyền của họ, văn hóa phương Tây đã phần<br /> thờ Thần Tài, ban thờ Hội đồng… theo cách thức tín nào “ở lại” và được người Đàng Trong nói chung,<br /> ngưỡng của người Việt. người Đà Nẵng nói riêng tích hợp, dung hòa vào nền<br /> văn hóa của mình.<br /> Như vậy, vẫn lối hành xử rất khôn khéo, người<br /> Việt dù ở đâu đi nữa, khi tiếp nhận bất kỳ một dấu Nói về sự dung hợp văn hóa phương Tây, chúng<br /> vết văn hóa nào của người khác thì cũng rất sáng tạo tôi cho rằng một trong những sản phẩm văn hóa tiêu<br /> và linh hoạt. Họ luôn biết cách dung hợp làm sao để biểu nhất chính là sự ảnh hưởng, du nhập của các tôn<br /> vừa thâu hóa được những giá trị tốt đẹp trong văn giáo, mà đầu tiên là đạo Thiên Chúa. Thiên Chúa giáo<br /> hóa của người khác nhưng không làm mâu thuẫn với vào Đà Nẵng từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ban<br /> những giá trị văn hóa nội sinh của dân tộc. Đối với tín đầu, chúng tôi thắc mắc là tại sao không phải vùng<br /> ngưỡng thờ Thiên Hậu, bằng cách này hay cách khác, đất khác mà lại là Đà Nẵng. Bởi lẽ, so với các vùng<br /> dù là nhỏ thôi nhưng dấu ấn Việt vẫn luôn đi cùng với khác thì miền Bắc chính là cái nôi văn hóa của dân<br /> dấu ấn Hoa chứ không bao giờ có chuyện văn hóa tộc, cũng là nơi đã từng chứng kiến sự du nhập rất<br /> Hoa độc tôn và chi phối. Đây chính là cái tài tình nhất thành công của nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác<br /> của người Việt nói chung, và cũng là cái tài khéo của nhau đến từ các quốc gia trên thế giới như Phật giáo,<br /> người Đà Nẵng trong việc tiếp nhận, dung hòa văn Đạo giáo, Nho giáo... Mang Thiên Chúa giáo đến miền<br /> hóa Hoa. Bắc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với việc phát triển<br /> nó ở miền Trung - vùng đất vẫn còn rất mới, dân cư<br /> 2.3. Với văn hóa phương Tây<br /> vẫn còn thưa thớt. Nhưng qua nghiên cứu và thâm<br /> Khi dong buồm phiêu lưu trên vùng biển giữa nhập sâu hơn, chúng tôi mới vỡ vạc ra hai điều kiện<br /> Mã Lai và Hoa Nam, thuyền trưởng Antonio Da Faria cho sự du nhập của Thiên Chúa giáo tại đây. Thứ nhất,<br /> - người Bồ Đào Nha đã khám phá ra Đà Nẵng. Sau con đường truyền đạo bao giờ cũng theo sau và bám<br /> người Bồ Đào Nha thì Anh là nước phương Tây thứ sát con đường thương mại, những nhà truyền giáo<br /> hai đến với Đàng Trong thông qua những chuyến ghé và thương nhân bao giờ cũng có sự kết hợp rất chặt<br /> thăm của thương nhân Peacock (năm 1613), Thomas chẽ với nhau trong mục đích cả hai cùng có lợi. Người<br /> Bowyear (năm 1695), Chapman (năm 1778)… Cùng Bồ Đào Nha và sau này là các thương nhân phương<br /> thời gian này, Đàng Trong nói chung, Đà Nẵng nói Tây khác lúc bấy giờ đang tập trung mọi hoạt động<br /> riêng là địa điểm thu hút rất mạnh mẽ đối với nước buôn bán của mình ở Đàng Trong chứ không phải<br /> Pháp, và Pháp cũng nhận được sự ưu ái của chính Đàng Ngoài nên việc Thiên Chúa giáo được truyền bá<br /> quyền Đàng Trong hơn bất kỳ quốc gia nào khác. ở đây đầu tiên là hợp lý. Thứ hai, trong khi tìm hiểu để<br /> Nước Pháp là quốc gia phương Tây đầu tiên được truyền giáo vào năm 1618, giáo sĩ Cristoforo Borri đã<br /> chính thức chấp thuận thông thương bằng văn bản nhận xét: “Người Đàng Trong tử tế và có tính tình hòa<br /> đối với Đàng Trong. Thế nhưng, bên cạnh mục đích nhã, nên họ rất trọng người ngoại quốc, họ để cho mỗi<br /> kinh tế, người Pháp đến Đàng Trong còn mang theo người tự do sống theo đạo của mình và ăn mặc tùy sở<br /> những tham vọng chính trị cho nên mối quan hệ của thích của mình”8, và đây có lẽ là nguyên nhân quan<br /> Pháp và Đàng Trong có phần phức tạp hơn rất nhiều trọng nhất. Định cư ở một vùng đất thoáng mở, có<br /> so với các quốc gia phương Tây khác. Sau người Pháp lịch sử hình thành và phát triển nhọc nhằn nên người<br /> thì người Mỹ cũng là một trong những dân tộc đến Đà Nẵng có một sự cảm thông rất sâu sắc đối với<br /> Đà Nẵng nhưng toàn bộ thời gian của họ chủ yếu là những người khác mình về “gốc gác”, giống mình về<br /> dành cho mục đích xâm chiếm thuộc địa nên những “thân phận”. Cho nên, hãy cứ để cho nhau được sống<br /> dấu ấn văn hóa mà họ để lại cũng khá mờ nhạt. với văn hóa của mình, hãy tôn trọng lẫn nhau để có<br /> thể cùng tồn tại.<br /> Như vậy, có thể thấy từ thế kỷ XVI trở đi, Đà Nẵng<br /> đã trở nên rất quen thuộc đối với các nước phương Mặc dù không có một sự kỳ thị hay bài xích nào<br /> Tây, gần như quốc gia nào muốn bành trướng thế lực đối với Thiên Chúa giáo nhưng trong việc tiếp nhận<br /> của mình ở phương Đông cũng đều đã đôi lần đặt nó, người Việt cũng rất linh hoạt theo từng thời kỳ<br /> chân đến Đà Nẵng. Có những nước thất bại, có những dưới sự định hướng của chính quyền nhà nước.<br /> nước thành công trong việc tạo dựng các mối quan Thông qua việc truyền đạo, một bộ phận giáo sĩ tham<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 51<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> gia hoạt động chính trị, làm gián điệp, xây dựng cơ sở đã ra sức xây dựng nên thành phố nhượng địa nhằm<br /> để chuẩn bị cho sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phục vụ một cách hữu hiệu nhất cho đời sống văn<br /> phương Tây thì người Việt Nam - trên từ thân vương hóa và sinh hoạt của mình. Cụ thể, họ quy hoạch<br /> đến thứ dân đều tìm cách chống lại. Cách thức hành Đà Nẵng trên tất cả các lĩnh vực mà đáng kể nhất,<br /> xử phổ biến của các vua nhà Nguyễn là cấm đạo, còn dễ nhận thấy nhất chính là việc người Pháp đã quy<br /> người dân thì tránh xa các giáo sĩ, thậm chí khi đã trở hoạch Đà Nẵng thành một đô thị theo kiểu mẫu của<br /> thành những “con chiên ngoan đạo” thì họ cũng rất đô thị phương Tây. Người Pháp đã bắt đầu công cuộc<br /> sáng suốt để không tuân theo những chính sách mù quy hoạch lại hệ thống giao thông của nhượng địa<br /> quáng mà các giáo sĩ khởi xướng. Cho nên, dung hợp Đà Nẵng, và cùng với đó là sự mọc lên của những khu<br /> không có nghĩa là lấy tất cả những gì của người khác nhà Tây khiến cho Đà Nẵng thoát khỏi bóng dáng của<br /> làm thành của mình một cách rập khuôn bị động, mà một làng quê ven sông. Ngày nay, những khu nhà Tây<br /> dung hợp chính là sự tiếp biến có sáng tạo, lựa chọn tại Đà Nẵng còn lại có thể kể đến như: Trường Con<br /> những giá trị phù hợp với bản sắc văn hóa của mình. Trai (nay là trường tiểu học Phù Đổng) xây năm 1890;<br /> Tòa Đốc lý thành phố xây năm 1900, trước mặt ngôi<br /> Sau Thiên Chúa giáo, Đà Nẵng tiếp tục là nơi đầu<br /> nhà này là Cầu Ngang, nơi đón tiếp các tàu Pháp (nay<br /> tiên đón nhận một tôn giáo mới nữa là Tin Lành. Từ<br /> là cầu chữ T, trước mặt trụ sở Ủy ban nhân dân thành<br /> 1887, tổ chức Liên minh Truyền giáo Cơ Đốc của Hoa<br /> phố Đà Nẵng); Dinh thự của Đốc lý thành phố (nay là<br /> Kỳ đã có những thăm dò sơ khởi về triển vọng truyền<br /> Thư viện Khoa học Tổng hợp) xây năm 1900; Cơ quan<br /> bá Tin Lành ở Đông Dương. Mùa xuân năm 1911, các Kiểm hóa và thuế quan (nay là Công ty Cổ phần Cung<br /> mục sư Robert Alexander Jaffray, Paul M. Hosler và G. ứng Vận tải biển Đà Nẵng) xây năm 1906; Tòa án Sơ<br /> Liloyd Hughes đến Đà Nẵng với rất nhiều hi vọng vào thẩm thành phố (nay là Tòa án Phúc thẩm nhân dân<br /> lúc ban đầu nhưng cuối cùng không đạt được một tối cao) xây năm 1906; Dinh thự Giám đốc Sở thuế<br /> kết quả nào ngoại trừ việc mua được một miếng đất quan Pháp (nay là Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố);<br /> trống ở đường Khải Định rồi tạm bỏ đó mà về lại Hoa Trụ sở cơ quan Hỏa xa Trung kỳ (nay là Đội Thanh tra<br /> Nam vì không được chính quyền Pháp cho thường Kiểm soát Giao thông đường bộ - đường sắt); Dinh<br /> trú với tư cách truyền giáo. Cuối năm 1911, mục sư thự Giám đốc Sở Hỏa xa Trung kỳ (nay là Công ty<br /> Paul M. Hostler đã tìm cách trở lại Đà Nẵng và lần này Quản lý Đường sắt Đà Nẵng); Cơ quan Pháo binh<br /> được phép lưu trú dài hạn. Ông bắt đầu học tiếng Việt và Phòng nhì Pháp (nay là Lãnh sự quán Nga tại Đà<br /> rồi khởi sự công cuộc truyền giáo. Năm 1913, trên Nẵng)… Nếu những thay đổi về quy hoạch đường<br /> mảnh đất đã mua năm 1911, người ta thấy dựng lên phố, sự mọc lên của các cơ quan hành chính,… đóng<br /> một thánh đường bằng tranh, ngôi thánh đường đầu vai trò là “xác của đô thị” thì chính nó cũng gián tiếp<br /> tiên của đạo Tin Lành trên đất Việt Nam, nay là nhà làm nảy sinh thêm những nhân tố mới thuộc về “hồn<br /> thờ Tin Lành Đà Nẵng. Kể từ đây, ngọn lửa Tin Lành cốt đô thị” để tạo cho Đà Nẵng một sự hoàn chỉnh<br /> được nhen nhóm và lan rộng đến nhiều vùng trong nhất định. Con người Đà Nẵng đã bắt đầu thay đổi lối<br /> cả nước. sống, từ bỏ nếp sống cũ chậm chạp, lề mề, tùy tiện<br /> Chúng ta thấy rằng, mặc dù có rất nhiều nước của sinh hoạt nông nghiệp, dần dần xây dựng một<br /> phương Tây đã đến Đà Nẵng nhưng chỉ có nước Pháp nếp sống mới văn minh, hiện đại.<br /> và văn hóa Pháp là để lại dấu ấn của mình nhiều nhất, Khảo sát lại những gì người Pháp đã làm trên đất<br /> cho nên văn hóa Pháp cũng được tiếp thu, dung hợp Đà Nẵng thời nó còn là “nhượng địa” so với Đà Nẵng<br /> một cách sâu đậm nhất, đóng một vai trò quan trọng hôm nay thì quả thật dấu ấn văn hóa Pháp vẫn còn<br /> trong việc góp phần làm thay đổi diện mạo của Đà rất đậm đà, nó hiện hữu trong từng góc đường, trên<br /> Nẵng. Hơn thế nữa, so với dung hòa văn hóa của hai từng hàng cây, trong từng khu nhà… Điều này đã cho<br /> dân tộc kể trên (Chăm, Hoa) thì trong việc dung hòa thấy một điều rằng, dù vô tình hay hữu ý thì những<br /> văn hóa Pháp có chút khác biệt: ban đầu văn hóa gì người Pháp đã làm ở đây xứng đáng được người<br /> Pháp là nền văn hóa do áp đặt, do cưỡng bức mà hiện Đà Nẵng nói một lời “cảm ơn” thật sự chân thành. Bởi<br /> diện ở Đà Nẵng; nhưng sau đó (khi nó đã tồn tại lâu chính nhờ có họ mà Đà Nẵng đã sớm có được vóc<br /> dài và được người địa phương tiếp nhận) thì tính tự dáng một đô thị “hiện đại”, “văn minh” - cái mà con<br /> nguyện, tính trân trọng trong dung hòa được đề cao người ngày nay ở nhiều nơi trên cả Việt Nam đang cất<br /> hơn. Thật vậy, khi Đà Nẵng nằm trong tay Pháp, họ công đi xây dựng. Và thêm một điều nữa, người Đà<br /> <br /> 52 Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> Nghiên cứu - Trao đổi<br /> <br /> <br /> Nẵng cũng thật đáng được khen ngợi khi họ đã biết những nét văn hóa khác nhau, có gốc gác cũng khác<br /> nâng niu và gìn giữ cho đến hôm nay những “sáng nhau. Nhưng không vì thế mà khiến cho thành phố<br /> tạo” mà người Pháp đã thiết lập ở đây, bởi vì cho đến trở thành một mớ hỗn độn, phức tạp. Tất cả họ đã<br /> bây giờ, cả phần xác và phần hồn của đô thị Đà Nẵng cùng chung sống, hài hòa cả trong tư duy lẫn hành<br /> đều “đẹp”. Đó là cái đẹp của sự giao hòa Đông - Tây, động để xây dựng nên một thành phố văn minh, sạch<br /> giữa truyền thống và hiện đại mà không phải nơi nào đẹp và thật “đáng sống”. Như vậy, chính sự đa dạng<br /> cũng có thể làm được. dựa trên cơ sở của sự bao dung, khoan dung đối với<br /> những cái khác biệt đã giúp con người và văn hóa Đà<br /> 3. Ý nghĩa<br /> Nẵng trở thành một môi trường lý tưởng cho mọi giá<br /> Đánh giá về Đà Nẵng, TS. Lưu Trang cho rằng: “Cư trị được tồn tại và thăng hoa.<br /> trú ở vùng đất từng là biên viễn, nơi đầu sóng ngọn gió<br /> P.T.T.T.<br /> người dân Đà Nẵng sớm có tinh thần chịu đựng gian<br /> lao, sẵn sàng vượt qua những khó khăn thử thách với<br /> một tinh thần chiến đấu cao, can đảm, quyết tâm xây<br /> dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Song, họ lại rất<br /> dung hòa, cởi mở và dễ tiếp nhận những tinh hoa văn CHÚ THÍCH<br /> hóa mới để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của 1<br /> Thomas Friedman, Chiếc lexus và cây ô liu, (Hà Nội: Tri<br /> mình”.9 Thật vậy, chính thái độ dung hợp mà người Đà Thức, 2011), 64.<br /> Nẵng đã rất thành công trong việc chung sống với 2<br /> Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, (Đà Nẵng: Đà<br /> những con người đến từ các quốc gia khác nhau. Đối<br /> Nẵng, 1992), 274.<br /> với người Chăm, tính dung hợp khiến người Đà Nẵng<br /> 3<br /> Trần Ngọc Thêm, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ,<br /> có thể nhanh chóng hòa cùng vào đời sống và tiếp<br /> (Thành phố Hồ Chí Minh: Văn hóa văn nghệ, 2013), 736.<br /> thu một cách dễ dàng văn hóa của họ, biến văn hóa<br /> của “kẻ đối đầu” (thậm chí là kẻ thù) trở thành văn<br /> 4<br /> Nguyên Ngọc, Tìm hiểu con người xứ Quảng, (Đà Nẵng:<br /> hóa của chính mình, phục vụ cho mình. Đối với người Đà Nẵng, 2005), 196.<br /> Hoa, tính dung hợp đã giúp người Đà Nẵng tranh thủ 5<br /> Jonh Barrow, Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà,<br /> học được bài học quý giá về văn hóa thương mại, tầm (2008), 83.<br /> nhìn thương mại mà trước đây tổ tiên của họ chưa 6<br /> Dẫn theo Hồ Trung Tú, Có 500 năm như thế, (Đà Nẵng:<br /> rành rọt. Bài học này đã thực sự bổ ích và làm cho Đà Nẵng, 2012), 100.<br /> người Đà Nẵng ngày càng tiến xa hơn trên con đường 7<br /> Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng, Luận văn cao học Lịch sử,<br /> phát triển thương mại của mình, cả ngoại thương lẫn (Viện Đại học Huế, 1974), 313.<br /> nội thương. Còn đối với những nước phương Tây, 8<br /> Cristoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Bản dịch của<br /> tính dung hợp khiến cho người Đà Nẵng có thêm sức<br /> Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị, (TPHCM:<br /> mạnh vật chất và tinh thần để có thể đối đầu với họ Tổng hợp TPHCM, 1998), 53.<br /> một cách mạnh mẽ nhất. Mở mang đầu óc để tiếp thu 9<br /> Lưu Trang, Phố cảng Đà Nẵng từ 1802 - 1860, (Đà Nẵng:<br /> văn hóa phương Tây để “biết địch biết ta”, mềm dẻo<br /> Đà Nẵng, 2005), 67.<br /> trong ngoại giao, cứng cáp trong chiến trận để vươn<br /> lên và giành lấy chiến thắng. TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Cristoforo Borri. 1998. Xứ Đàng Trong năm 1621. Bản<br /> Như vậy, với từng đối tượng chúng ta có từng bài<br /> dịch của Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị.<br /> học khác nhau và bài học nào cũng quan trọng. Bởi Thành phố Hồ Chí Minh: Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.<br /> nhờ có những bài học đó mà người Đà Nẵng trong<br /> 2. Nguyên Ngọc. 2005. Tìm hiểu con người xứ Quảng. Đà<br /> truyền thống đã có được một lịch sử hình thành và<br /> Nẵng: Đà Nẵng.<br /> phát triển rất vẻ vang, để lại những dấu ấn rất tốt<br /> đẹp trong mắt của những người phương xa. Và chính 3. Thạch Phương, Nguyễn Đình An (chủ biên). 2010. Địa<br /> nhờ những bài học đó mà trong hiện tại, người Đà chí Quảng Nam - Đà Nẵng. Hà Nội: Khoa học Xã hội.<br /> Nẵng lại càng có thêm kinh nghiệm để có thể vững 4. Lưu Trang. 2005. Phố cảng Đà Nẵng từ 1802 - 1860. Đà<br /> vàng bước vào công cuộc hội nhập và phát triển. Nẵng: Đà Nẵng.<br /> Trên vùng đất Đà Nẵng hiện nay có rất nhiều người tụ 5. Trần Ngọc Thêm. 2013. Văn hóa người Việt vùng Tây<br /> hợp về đây, thuộc những giai tầng khác nhau, mang Nam Bộ. Thành phố Hồ Chí Minh: Văn hóa Văn nghệ.<br /> <br /> Phaùt trieån Kinh teá - Xaõ hoäi<br /> Ñaø Naüng<br /> 53<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2