intTypePromotion=1

Tỏi trong y học

Chia sẻ: Bibo Bibo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

0
54
lượt xem
4
download

Tỏi trong y học

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tỏi còn có tên là “penicilline của Liên Xô” Thời trung cổ, tỏi được dùng với số lượng lớn trị bệnh dịch hạch. Đến thế kỷ 19, Louis Pasteur là người đầu tiên chứng minh các đặc tính kháng sinh của tỏi và tỏi được trang bị trong quân đội các nước Anh, Đức, Nga vào đầu thế kỷ 20 trong thế chiến thứ nhất. Từ đó tỏi mới được nghiên cứu đầy đủ trong lĩnh vực điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, nhiễm virút và ký sinh trùng. Tỏi chứa các yếu tố kháng khuẩn, kháng virút...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tỏi trong y học

  1. Tỏi trong y học Tỏi còn có tên là “penicilline của Liên Xô” Thời trung cổ, tỏi được dùng với số lượng lớn trị bệnh dịch hạch. Đến thế kỷ 19, Louis Pasteur là người đầu tiên chứng minh các đặc tính kháng sinh của tỏi và tỏi được trang bị trong quân đội các nước Anh, Đức, Nga vào đầu thế kỷ 20 trong thế chiến thứ nhất. Từ đó tỏi mới được nghiên cứu đầy đủ trong lĩnh vực điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, nhiễm virút và ký sinh trùng. Tỏi chứa các yếu tố kháng khuẩn, kháng virút và kháng nấm mạnh. Điều đó được chứng minh trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường âm đạo và nhiễm khuẩn tai. Trong một vài trường hợp, tỏi cũng tỏ ra hiệu quả trong các bệnh nấm tổng hợp. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chứng minh rằng tinh chất tỏi có thể trung hòa được tác dụng của vi khuẩn Helicobacter pylori, nguyên nhân gây phần lớn bệnh loét dạ dày. Trước đây, nhà bác học Liên xô, B.P-Tôkin đã phát hiện ra sức mạnh bí ẩn của tỏi nhờ có chất kháng sinh thực vật có tác dụng diệt một số vi khuẩn, nấm gây nguy hiểm cho con người nên trong thế chiến thứ nhất (1914-1918) tỏi được dùng chống lại các vết thương, bệnh nhiễm khuẩn đường huyết và nước Anh khuyến khích nông dân trồng tỏi cung cấp cho các bệnh viện như là thuốc kháng khuẩn. Vì thế, tỏi còn có tên là “penicilline của Liên Xô”. Trong một nghiên cứu khác, những người dùng bột tỏi trong 3 tuần sau đó phân tích máu thì thấy có sự gia tăng các tế bào miễn nhiễm chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn E. Coli. Từ đó dẫn đến kết luận rằng, tỏi và các sản phẩm từ tỏi sẽ làm
  2. gia tăng sự hoạt động của hệ miễn nhiễm giúp tiêu diệt sự xâm nhiễm của vi khuẩn và virút. Tỏi là người bạn cho sức khỏe Trên 500 nghiên cứu về tỏi đã được công bố trên các tập san y học từ thập niên 80, đa số dựa vào cấu trúc lưu huỳnh trong hoạt chất allicin trong nhiều phản ứng hóa học. Allicin không hiện diện trong tỏi tươi mà chúng xuất hiện khi đập vỡ các tế bào tỏi hoặc xắt mỏng, nấu chín kết hợp tạo ra các hiệu quả chống ung th ư, chống máu đông, chống cao huyết áp, chất chống oxy hóa và làm hạ lượng cholesterol xấu trong máu. Giảm thiểu tần suất nguy cơ ung thư: Theo một nghiên cứu tại Úc, tỏi có tác động đáng kể trong việc giảm thiểu tần suất các nguy cơ mắc bệnh ung thư, nhất là ung thư đường ruột. Nghiên cứu thực hiện trên người, động vật và trong ống nghiệm đều cho thấy tỏi làm suy yếu những hợp chất tạo ung thư cũng như kéo chậm tốc độ tăng trưởng của các tế bào ung thư, giảm kích thước của bướu tới 50%. Những loại ung thư “khắc tinh” của tỏi là ung thư vú, thực quản, dạ dày, ruột, tiền liệt tuyến, bàng quang. Riêng ung thư vú thì tỏi thể hiện tác dụng rõ rệt trong việc ngăn chặn các tác nhân sinh ung thư tấn công các tế bào nhũ hoa. Những thành phần sáng giá trong tỏi giúp kháng ung thư chỉ lộ diện khi tỏi bị băm nhuyễn, giã nát. Một nghiên cứu cho thấy, tiêu thụ trung bình 6 củ tỏi hoặc hơn mỗi tuần làm giảm 30% nguy cơ ung thư ruột kết và 50% ung thư dạ dày. Nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có thể giảm xuống theo một nghiên cứu của Viện Quốc gia Ung thư tại Thượng Hải đã ước tính có thể giảm đến 50% nguy cơ. Tuy nhiên, hiện nay chưa có sự nhất trí về số lượng tỏi phải dùng để đạt được tác dụng chống lại ung thư cũng như giá trị giữa tỏi nấu chín hoặc tỏi khô. Viện ung bướu Houston và BV.
  3. Anderson ở Texas cũng đã thử nghiệm hợp chất chứa lưu huỳnh của hành và tỏi thì thấy có tính ngừa ung thư ở ruột. Tỏi giảm nguy cơ tim mạch: Tỏi hữu ích cho tim. Ajòene, một chất được tạo ra từ allicin, có thể làm giảm các cơn đau tim bằng cách ngăn sự hình thành các cục máu đông. Y học cổ truyền dùng tỏi ngâm rượu gạo 40o trong 10 ngày để chữa trị bệnh cao huyết áp. Hạ cholesterol xấu: tỏi làm hạ mức cholesterol xấu đồng thời làm tăng lượng cholesterol tốt để dọn sạch những mảng vữa bám vào thành mạch máu. Chỉ cần nhai 2 tép tỏi mỗi ngày sẽ hạ lượng cholesterol tới 9%. Ăn tỏi thường xuyên sẽ làm chậm tiến trình lão hóa của các động mạch chủ (những mạch máu của tim giúp duy trì huyết áp và lưu lượng máu khi tim đập) cũng như giúp chúng dẻo dai và linh động hơn. Kiểm soát tốt huyết áp: trong tỏi chứa một chất có tác dụng kiểm soát huyết áp bằng cách làm giảm độ nhớt của máu cũng nh ư ngăn ngừa sự hình thành các cục máu đông. Do vậy, nhiều nghiên cứu cho thấy nơi nào tiêu thụ nhiều tỏi thì dân cư ở đấy hiếm gặp các bệnh về huyết áp và tim mạch. Y học cổ truyền Trung Hoa từ lâu đã dùng tỏi để trị đau thắt ngực hoặc rối loạn tuần hoàn máu. Trên thị trường, hiện nay có khá nhiều chế phẩm từ tỏi đơn thuần hoặc kết hợp với nghệ, sinh tố dùng tăng cường hệ miễn dịch, trị các bệnh nhiễm trùng đường huyết, phòng bệnh ung thư, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, cao cholesterol.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2