TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
96
XÁC ĐỊNH SỐ TIỀN KÝ QUỸ TỐI ƯU VÀ MÔ HÌNH LƯỢNG HÓA
MỐI QUAN HỆ GIỮA SỐ TIỀN KÝ QUỸ VỚI PHÍ MỞ THƯ TÍN DỤNG:
ÁP DỤNG MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TRÁI PHIẾU CỦA MERTON
CALCULATION OF THE OPTIMAL EARNEST MONEY AND MODELLING --
RELATIONS BETWEEN THE EARNEST MONEY AND THE AMOUNT
OF PREMIUM : APPLICATIONS OF THE MERTON MODEL TO THE PRICING
OF THE CORPORATE DEBT
Phan Đình Anh, Nguyễn Trần Thuần
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Bài viết sử dụng cách tiếp cận trong hình định giá trái phiếu của Merton để đị nh
ợng mối quan hệ giữa số tiền ký quỹ với rủi ro đối với ngân hàng phát hành ttín dụng, trên
sđó chỉ ra rằng ngân hàng này không cần thiết phải áp dụng số tiền qu100% số tiền
thư tín dụng mới tránh được rủi ro thanh toán từ người yêu cầu mở thư tín dụng, đồng thời xây
dựng mô hình cho phép giải thích lượng hóa mối quan hệ giữa số tiền ký quỹ phí ngân
hàng áp dụng khi mthư tín dụng . Tđó, mô hình cũng cho thấy trong mức phí luôn một
phần bù đắp cho việc chấp nhận rủi ro.
ABSTRACT
In this article, the Merton model on the pricing of corporate debt is applied to the
quantification of relations between the amount of earnest money and the risk of the issuing banks.
It is assumed that it is not necessary for the issuing banks to impose 100% of the credit amount in
earnest on the elimination of the credit applicant’s risk. At the same time, we propose a model to
explain and measure the relations between the amount of earnest money and the amount of
premium in the application for a letter of credit. This model indicates that there is always a portion
of the amount of charged premium, which is used to compensate for any credit risk.
1. Đặt vấn đề
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, yêu cu quđược ngân
hàng phát hành (NHPH) đưa ra tớc khi phát hành thư tín dụng (tđây viết tắt L/C-
Letter of Credit) nhằm nâng cao khả năng thanh toán L/C của người yêu cầu mở L/C
(nhà nhập khẩu) về sau, buộc nhà nhập khẩu phải lựa chọn phương án thanh toán đầy
đủ số tiền của L/C và nhận hàng nhập khẩu sẽ lợi hơn. Tuy nhiên, nếu số tiền ký quỹ
quá cao sgây khó khăn cho nhà nhập khẩu về tìm nguồn tài trợ gây ra đọng vốn.
Ngưc lại, nếu số tiền qu thấp sẽ gây rủi ro cho NHPH khi nhà nhập khẩu từ bỏ
hàng nhập khẩu không thanh toán đy đủ số tiền của L/C. Số tin ký qu đưc xem
là tối ưu nếu số tiền quỹ thấp nhất đđảm bảo nhà nhập khẩu sẽ lựa chọn phương
án nhận hàng nhập khẩu. Vậy, số tiền quỹ ở mức o được xem là tối ưu?. Bên cạnh
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
97
đó, khi để được chấp nhận m L/C, nhà nhập khẩu luôn phải trả một mức phí cho
NHPH, thực tế cho thấy mức phí này mối liên hệ với số tiền nhà nhập khẩu
thực hiện ký quỹ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa một hình nào giải thích
ợng hóa mối quan hệ này.
2. Tổng quát về mô hình định giá trái phiếu của Merton
Năm 1974, Merton công bbài báo “định giá trái phiếu” . Theo đó, giá trcủa
một công ty cổ phần là tng giá trị của vốn cổ phần và giá thị trường khoản nợ của công
ty. Trong đó, giá trcủa vốn cổ phần giá trị của quyền chọn mua trên giá trị tài sản
của công ty với giá thực hiện là giá trị sổ sách khoản nợ tại thời điểm đáo hạn.
Gọi ET ,VT
Khi đó, giá trị của vốn cổ phần tại thời điểm đáo hạn T sẽ là: E
giá trcủa vốn cổ phần giá trị tài sản của công ty tại thời điểm
khoản nợ đáo hạn T. Nếu B là giá trị sổ sách của khoản nợ tại thời điểm đáo hạn.
T=Max(0,VT
Và giá tr khoản nợ tại thời điểm đáo hạn sẽ là F
- B)
T = Min(B,VT) = B – Max(0,B
- VT
Trong mô hình định giá trái phiếu MERTON giả định rằng:
), bng với giá tr sổ sách của khon nợ tr đi giá tr ti thời điểm đáo hạn của
quyền chọn bán trên giá trị tài sản của công ty với giá thực hiện bằng giá trị sổ sách của
khoản nợ tại thời điểm đáo hạn.
(i) Tổng giá trị tài sản của một công ty một chuyển động Brown (Brownian
motion) tuân theo phương trình sau: dV = ϕVdt + σV
V, dV : là giá trị và độ thay đổi giá trị tài sản
Vdw
ϕ, σV
dw : là quá trình Wiener
: là thu nhập trung bình và độ lệch chuẩn giá trị tài sản
(ii) Công ty không phát hành thêm bt kì chứng khoán nợ nào trước thời điểm
đáo hạn.
Tđó, s dụng hình định giá quyền chọn BLACK-SCHOLES giá trcủa
vốn cổ phần liên hệ với giá trị tài sản và giá trị sổ sách khoản nợ theo phương trình:
Trong đó:
r : lãi suất không rủi ro
T: khong thời gian còn lại trước khi khoản nợ đáo hạn
và giá tr thị trưng ca khoản nợ liên hệ với giá tr tài sn và giá tr s sách
khoản nợ theo phương trình:
)()(
21
hBehVE
rT
ΦΦ=
Thh
T
TrBV
hdzzx
v
v
v
x
σ
σ
σ
π
=
++
==Φ
12
2
1
2
;
)
2
1
()/ln(
;)
2
1
exp(
2
1
)(
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
98
)()(
21
hBehVVEVF
rT
Φ+Φ==
)()( 21 hBehVF rT Φ+Φ=
3. Nhận dạng quyền chọn mua đối với nhà nhập khẩu trong phương thức thanh
toán L/C
Theo cam kết của nhà nhập khẩu trong đơn yêu cầu phát hành L/C, khi nhận
được thông báo của NHPH về việc NHPH đã nhận được bộ chứng txuất trình phù
hợp, nhà nhập khẩu một khoảng thời gian tối đa x ngày ktừ ngày nhận được
thông báo đthanh toán stiền của L/C, gọi quy ưc là thời hạn thanh toán. Nếu quá
thời hạn y mà nhà nhập khẩu vẫn không thanh toán, số tiền chưa được quỹ của
L/C strở thành khoản cho vay của NHPH đối với nhà nhập khẩu trong một khoảng
thời gian nhất định, gọi quy ước thời hạn cho vay. Khi kết thúc thời hạn cho vay, nếu
nhà nhập khẩu vẫn không thanh toán đầy đủ số tiền của L/C, NHPH có thphát mại
hàng nhập khẩu để thu hồi nợ. Như vậy, nhà nhập khẩu quyền quyết định việc lựa
chọn thời điểm thanh toán đầy đủ số tiền của L/C để sở hữu hàng nhập khẩu trong
khoảng thời gian kể từ thời điểm thông báo đến khi kết thúc thời hạn cho vay. Tại bất
kthời điểm nào trong khoảng thời gian này, nnhập khẩu hai phương án để lựa
chọn:
(i) Bra s tiền chưa được ký qucủa L/C, cộng với số tiền lãi phát sinh trên
stiền này trả cho NHPH để nhận lấy bộ chứng từ quyền sở hữu đối với hàng
nhập khẩu,
(ii) Từ bỏ quyền sở hữu lô hàng nhập khẩu và mất đi toàn bộ số tiền ký quỹ ban
đầu.
Khi độ dài thời hạn cho vay bằng không độ dài thời hạn thanh toán không
đáng kể, lúc đó, nhà nhập khẩu bắt buộc phải đưa ra quyết định của mình vào thời điểm
nhận được thông báo của NHPH về bộ chứng từ. Trong trường hợp này, nhà nhập khẩu
đang nm giữ quyn chọn mua kiểu châu Âu trên giá trị hàng nhập khẩu với giá thực
hiện bằng đúng số tiền chưa được ký quỹ của L/C.
Đối với NHPH, giá trị thanh toán L/C (không tính đến số tiền ký quỹ ban đầu)
mà NHPH nhận được từ nhà nhập khẩu phụ thuộc vào quyết định c ủa nnhập khẩu.
Nếu nhà nhập khẩu lựa chọn phương án nhận ng, NHPH sẽ nhận được giá trị thanh
toán tối đa là số tiền chưa được ký quỹ L/C cộng với khoản tiền lãi tính trên số tiền này.
Ngưc lại, NHPH nhận được toàn bộ giá trị hàng nhập khẩu giá tr này luôn nhỏ
hơn trường hợp nhà nhập khẩu nhận hàng.
Như vậy, lô hàng nhập khẩu có vai trò như tài sản công ty cổ phần, số tiền chưa
được quỹ của L/C đóng vai trò là giá trsố sách của khoản nợ tại thời điểm đáo hạn
và nhà nhập khẩu chủ sở hữu công ty cphần trong khi đó NHPH chính chủ nợ
của công ty trong mô hình của Merton.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
99
Giả định rằng:
(1) Số tiền ký quỹ được định giá theo đồng tiền sử dụng trong L/C,
(2) Số tiền của L/C có dung sai bằng không,
(3) Hàng nhập khẩu gồm những đơn vị hàng hoá giống nhau. Giá bán mỗi đơn
vhàng hóa tại thị trường nội địa được định giá theo đồng tiền sử dụng trong L/C (điều
y thực hiện bằng cách quy đổi theo tỷ giá hiện hành) giống nhau. Đồng thời biến
động tuân theo chuyển động Brownian thoả mãn phương trình: dR = µRdt + σRdz (I)
R, dR : là giá và độ thay đổi giá đơn vị hàng nhập khẩu
µ, σ : là tốc độ tăng giá bình quân và độ lệch chuẩn của thay đổi giá
dz : là quá trình wiener
(4) Độ dài thời hạn cho vay và thời hạn thanh toán bằng không.
c ký hiệu quy ước :
Q : Số đơn vị hàng hóa nhập khẩu X : Số tiền ký quỹ L/C
L : Số tiền của L/C L-X : Số tiền chưa được ký quỹ của L/C
Với các giả định này, giá trị nhà nhập khẩu nhận được tại thời điểm thanh
toán L/C ứng với số tiền ký quỹ X khi mở L/C sẽ là:
Eτ* = Max[0, QRτ
Và giá tr thanh toán L/C NHPH nhận được tnhà nhập khẩu tại thời điểm
thanh toán L/C (không bao gồm số tiền ký quỹ)ng với số tiền ký quỹ X sẽ là:
(L X)]
Fτ*=Min[(L X), QRτ
Áp dụng công thức định giá quyền chọn của BLACK-SCHOLES, giá trquyền
chọn mua nhà nhập khẩu nắm giữ tại thời điểm ký qu ứng với số tiền ký quỹ X:
]
τ : Khoảng thời gian từ thời điểm ký quỹ đến thời điểm thanh toán
Và giá trthanh toán L/C tnhà nhập khẩu NHPH nắm giữ tại thời điểm ký
quỹ ứng với số tiền ký quỹ X là:
)()()()(
210
*
0
IIIdeXLdQRF
r
Φ+Φ=
τ
4. Mô hình lượng hóa mối quan hệ giữa số tiền ký quỹ với phí phát hành L/C
Trong trường hợp thời hạn cho vay bằng không độ dài thời hạn thanh toán
không đáng kể. Gọi f L-X
2/1
12
2/1
2
0
1
210
*
0
;
])
2
1
()
)(
[ln(
)()()()(
στ
στ
τσ
τ
=
++
=
ΦΦ=
dd
r
XL
QR
d
IIdeXLdQRE
r
là mức phí NHPH áp dụng khi số tiền chưa được ký qucủa
L/C là L-X.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 1(36).2010
100
Đối với nhà nhập khẩu, khi thay đổi số tiền chưa được quỹ một lượng
(L-X), giá trquyền chọn mua nhà nhập khẩu nắm giữ tại thời điểm quỹ thay
đổi một ợng E0*
Trong mọi trường hợp, số tiền ký quỹ sẽ không được NHPH hoàn trả lại cho nhà
nhập khẩu. Do đó, lợi nhuận đối với nhà nhập khẩu tại thời điểm ký quỹ ứng với số tiền
chưa được ký qu(L X) được xác định:
, mức phí NHPH áp dụng đối với nhà nhập khẩu thay đổi một
ợng f.
Li nhuận (LN) = Giá trị quyền chọn mua ti thời điểm qu - Stiền qu
- Phí mL/C.
Hay: LN = E0*
Và độ thay đổi lợi nhuận theo số tiền chưa được ký qu của L/C là:
– X– f
LN = E0*
Nếu tồn tại một stiền ký qucó lợi nhuận lớn hơn nhà nhập khẩu đương nhiên
sthực hiện quứng với số tiền đó.Vì vậy, bất kỳ một mức phí nào NHPH áp
dụng tương ng với số tin ca đưc ký qu của L/C phải thỏa mãn không làm thay
đổi mức lợi nhuận tại thời điểm ký qucủa nhà nhập khẩu, tức LN = 0 với mọi giá
tr(L-X) hay
+ (L-X) - f.
LN’(L-X) = LN/(L-X) = (E0*
Từ phương trình (II) ta có: E
+ (L-X) - f) /(L-X) = 0.
0*/(L-X) = -e-rτΦ (d2
Do đó: f/(L-X) = 1- e
)
-rτ Φ (d2
Đối với NHPH, khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp, NHPH
phải thanh toán số tiền của L/C cho người thụ hưởng không phụ thuộc vào phương
án nhà nhập khẩu thực hiện, do đó, lợi nhuận của NHPH tại thời điểm nhà nhập khẩu
thực hiện ký quỹ là:
) (*)
LN = P + Stiền qu+ Giá trhiện tại của số tiền thanh toán L/C tnhà
nhập khẩu (không bao gồm số tiền ký quỹ) - Giá hiện tại của số tiền L/C.
Nếu tồn tại một số tiền qu làm cho lợi nhuận của NHPH tại thời điểm
quỹ lớn hơn, NHPH s ưu thích nhà nhập khẩu thực hiện quỹ ứng với số tiền đó.
vậy, mức lợi nhuận của NHPH ứng với mọi số tiền chưa được ký qucủa L/C phải
bằng nhau.
Tức là : LN = f + F0*
Từ phương trình (III) ta có: F
- (L-X) = 0 với mọi (L-X)
0* /(L-X) = e-rτ Φ (d2
Và ta đạt được (*) f/(L-X)=1 - e
)
-rτΦ (d2
Phương trình (*) cho thấy mối liên hệ giữa độ thay đổi mức phí theo độ thay đổi
số tiền chưa được ký quỹ. Ta viết lại (*) dưới dạng:
)