7/18/15

Chương 1. Giá trị kinh tế và tình hình sản xuất

 + Protein: 36-44%

-

1. Giá trị kinh tế Cây lấy dầu: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa, cọ Đứng đầu trong các loài cây đậu đỗ được dùng làm thức ăn, thực phẩm Hàm lượng dinh dưỡng cao:

Cây Đậu tương

Nhiều hơn bất cứ loại thực phẩm nào, kể cả thịt động vật. Là loại protein dễ tiêu, hội đủ các a.a thiết yếu với hàm lượng cao. - Hàm lượng a.a có chứa S: Methionine, Cysteine,… rất gần với hàm lượng các chất này trong trứng, đặc biệt là hàm lượng Lysine cao gấp rưỡi trứng.

Glycine max (L.) Merrill

+ Lipid: 18-20%

Hàm lượng dinh dưỡng trong 100g hạt

Dầu chủ yếu là các axit béo không no: a.linoleic, a.oleic, a.linolenic. - Đặc biệt a.linolenic (Omega-3) thường tìm thấy trong dầu cá, có khả năng giảm thiểu sự nguy hiểm của bệnh nhồi máu cơ tim và giúp ngăn ngừa ung thư. Trên thực tế Omega-3 trong dầu đậu tương tốt hơn các loại có trong dầu cá do không gây phản ứng phụ. + Trong hạt còn chứa nhiều VTM (B1,B2, PP, A, E, D, C, K…), chất khoáng (Ca, Fe, ZN,…), chất xơ,….

Thức ăn cho người: + Giá đỗ, sữa đậu nành, tương, đậu phụ, xì dầu, đậu hũ,… + Cà phê, socola, bánh kẹo, thịt nhân tạo,… Thức ăn chăn nuôi:

Chỉ tiêu

Chỉ tiêu

Chỉ tiêu

Hàm lượng dinh dưỡng

Hàm lượng dinh dưỡng

Hàm lượng dinh dưỡng

Năng lượng

446 kCalo Phenylalanine

2,122 g Nước

8,540 g

- + Khô dầu + Bột và bã + Thân lá xanh

Cacbonhydrat

30,160 g Tyrosine

1,539 g Vitamin A

1 μg

-

Đường

7,330 g Valine

0,377 mg

2,029 g Vitamin B6

-

Chất xơ

9,300 g Arginine

2,029 g Vitamin C

6,0 mg

Chất béo

19,940 g Aspartic

3,153 g Vitamin K

47 μg

-

Protein

36,490 g Histidin

1,097 g Canxi

277 mg

Nguyên liệu công nghiệp chế biến: cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, nhiên liệu sinh học,… Thuốc chữa bệnh trong y học: Tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng đất Loài cây thân thiện, cải tạo đất Thích hợp với cơ cấu luân canh, xen canh, gối vụ

Tryptophan

0,591 g Alanin

1,915 g Sắt

15,70 mg

Threonine

1,766 g Axit Aspactic

5,112 g Magiê

280 mg

Isoleucine

1,971 g Axit Glutamic

7,874 g Phốt pho

704 mg

Leucine

3,309 g Glycine

1,880 g Kali

1797 mg

- + Thời gian sinh trưởng ngắn + Dễ tính, không kén đất Giá trị kinh tế mang lại từ sản xuất đậu tương là rất lớn: - Trên thế giới 1 tấn hạt đậu tương có giá trung bình 500-700 USD.

Lysine

2,706 g Proline

2,379 g Natri

2 mg

Khô dầu đậu tương cũng mang lại nguồn thu lớn với gần 470 USD/tấn.

Methionine

0,547 g Xêrin

2,357 g Kẽm

4,89 mg

- Tại Việt Nam, giá bán đậu tương là rất cao, trung bình 16.000-17.000 VNĐ/kg, có thời điểm lên tới 25.000-30.000 VNĐ/kg

Diện tích năng suất, sản lượng đậu tương thế giới

2. Tình hình sản xuất đậu tương thế giới

Khu vực

Khu vực Diện tích

Từ Đông Á (Trung Quốc) → Nhật (CT.Trung-Nhật)→ châu Âu (CT Nga-Nhật) → châu Mỹ (TK XIX)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

(ha)

Sản lượng (tấn)

→ có mặt ở hầu khắp các đại lục (trừ Bắc Âu), >90 quốc gia

Năng suất (tạ/ha)

Năng suất (tạ/ha)

-

Thế giới

96.870.395

23,84 230.952.636

Châu Á 20.600.679

13,21 27.218.353

-

Châu Phi

1.241.531

11,13

1.381.859

Trung Á

51.309

17,30

88.740

-

Châu Á: 21% S, 12% sản lượng Châu Mỹ: 75% S, 87% sản lượng Năng suất: Tây Á>Bắc Phi>Tây Âu>Châu Mỹ>Châu Á>Châu Phi Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng.

Đông Phi

355.357

10,76

382.450

Đông Á

9.640.616

16,86 16.249.515

 Trong hơn nửa thập kỷ (1961-2013) diện tích tăng: 4 lần, năng suất: 2

Trung Phi

48.945

5,32

26.030

Nam Á

9.741.380

9,53

9.279.475

-

Bắc Phi

9.684

31,15

30.169 Đ.Nam Á

1.156.503

13,52

1.563.049

lần và tổng sản lượng tăng: 8 lần. Mỹ : Diện tích (DT): 30,21 tr.ha (31,19%), sản lượng (SL): 80,59 tr.tấn (34,89%)

Nam Phi

174.400

18,52

322.995

Tây Á

10.871

34,56

37.574

Diện tích trồng đậu tương đứng thứ 3 sau lúa mỳ, ngô và được coi là

Tây Phi

653.145

9,50

620.215 Châu Âu

1.702.455

16,11

2.743.365

-

Châu Mỹ

73.308.230

27,22 199.574.059 Đông Âu

1.365.913

13,20

1.802.694

-

Băc Mỹ

31.401.870

26,71

83.871.420 Nam Âu

55

27,84

819.470

mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu và thu hồi ngoại tệ. Braxin : DT: 21,96% S, SL: 25,95%, NS: 28,17 tạ/ha Achentina – DT: 16,90%, SL: 20,01% Trung Quốc – DT: 9,43% và SL: 6,73%.

Nam Mỹ

41.812.819

27,62 115.505.837

Tây Âu

42.187

28,73

121.201

Châu Á

20.600.679

13,21

27.218.353 Châu Úc

17.500

20,00

35.000

- Năng suất thấp: 16-17 tạ/ha, chỉ ≈ 60% so với Mỹ, Braxin, Achentina nhưng cao hơn so với một số nước khác trong khu vực 12-14% như Ấn Độ (12 – 13 tạ/ha) hay Việt Nam (13 – 14 tạ/ha),...

1

7/18/15

-

Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương thế giới

USDA và IFPRI dự báo, SL đạt 307 triệu tấn (năm 2020). Ba nước:

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Năm

Mỹ, Braxin và Achentina, chiếm 85-90% SL và KL đậu tương giao dịch toàn cầu.

1961

23,82

11,3

26,88

-

1971

30,03

15,2

45,62

-

Các nước nhập khẩu: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan… Trung Quốc hàng năm nhập khẩu 26,48 tr.tấn. Đến 2020, Trung

1981

50,48

17,5

88,53

Quốc vẫn tiếp tục nhập khẩu hoảng 20 triệu tấn mỗi năm.

1991

54,97

18,8

103,32

Nhìn chung: DT sản xuất đậu tương có xu hướng giảm ở các quốc

2001

76,80

23,2

178,25

2002

78,96

23,1

181,68

2003

78,80

22,8

190,66

gia phát triển Mỹ (trồng ngô phục vụ chế biến thức ăn gia súc), Braxin (trồng mía để sản xuất ethanol),… nhưng tăng tại các nước đang phát triển đặc biệt các nước châu Á và Đông Nam Á. Xu hướng phát triển chung:

2004

83,66

22,4

205,53

-

Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa nhằm

2005

91,60

23,2

214,29

tăng năng suất đậu tương lên cao, qua đó tăng sản lượng.

2006

92,51

22,9

218,36

-

2007

90,11

24,4

219,55

2008

96,87

23,8

230,95

Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của các một số quốc gia trên thế giới

Ứng dụng đậu tương biến đổi gen kháng thuốc diệt cỏ, kháng sâu bệnh vào sản xuất: Achentina, Úc, Braxin, Canada, EU, Mỹ, Anh, Nhật Bản,…

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Năm Nước

2006

2007

2008

2006

2007

2008

2006

2007

2008

Mỹ

30,19 25,96

30,21

27,66

28,07

26,66

83,51

72,86

80,59

Braxin

22,05 20,57

21,27

23,80

28,13

28,17

52,47

57,86

59,92

Achentina

15,13 15,98

16,38

26,79

29,71

28.22

40,54

47,48

46,23

Trung Quốc

9,35

8,75

9,13

16,66

14,54

17,03

15,50

12,73

15,55

Tỉnh/Thành

Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương tại một số tỉnh trong cả nước Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (tạ/ha)

phố

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Tỉnh/Thành phố

Diện tích (ha)

3. Tình hình sản xuất đậu tương tại Việt Nam Quá trình phát triển: Lịch sử trồng đậu tương cách đây 1000 năm.

Cả nước

193.300

14,6

213.600 Sơn La

7.500

13,1

9.800

Miền Bắc

147.800

13,3

146.600 Hòa Bình

1.500

12,7

1.900

73.400

15,5

52.600 Bắc Trung Bộ

5.600

14,6

8.200

ĐB. Sông Hồng

31.000

50.200 Thanh Hóa

Hà Nội

16,2

4.700

15,7

7.400

- TCM 8/1945, trồng ở miền núi phía bắc: S nhỏ, năng suất: 4,1 tạ/ha Năm 1980, NS: 5-6 tạ/ha Năm 1990, NS: 7-8 tạ/ha. Năm 2001, DT: 120.000 ha, NS: 11-12 tạ/ha. Sơ bộ năm 2013 tổng DT: 180.000 ha, NS: 15,0 tạ/ha, SL: 270.000tấn - Hiện nay, có trong công thức trồng trọt ở 8 vùng sinh thái nông nghiệp. + ĐB Sông Hồng: S: 73.400 ha (49,7 % miền Bắc, 38,0% cả nước) + Đông Bắc (24,9% ), Tây Nguyên (12,7%), Tây Bắc (10,7%), ĐB.

Hải Phòng

1.000

3.000 Nghệ An

30,0

9.000

8,9

8.000

Vĩnh Phúc

6.000

4.200 Miền Nam

15,6

Sông Cửu Long (8,4%).

45.500

18,8

67.000

Bắc Ninh

3.300

4.100 DH. Nam

12,4

+ Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, S chỉ

3.300

15,3

2.300

khoảng vài nghìn ha.

Trung Bộ

Hải Dương

1.400

2.700 Q. Nam

19,3

1.000

10,0

1.000

Hưng Yên

3.200

5.800 Q. Ngãi

18,1

1.000

30,0

3.000

Hà Nam

9.000

2.100 Bình Định

14,0

800

17,5

1.400

Nam Định

2.300

4.000 Phú Yên

17,4

400

10,0

4.000

16,5

Thái Bình

10.200

16.800 Khánh Hòa

100

10,0

1.000

10,5

Ninh Bình

6.000

4.400 T. Nguyên

24.600

18,6

44.000

+ Tuy miền Bắc chiếm ưu thế về diện tích (76,5%) và sản lượng (68,6%), song NS lại thấp hơn nhiều so với miền Nam. Vùng ĐB. Sông Hồng, NS cao nhất mới chỉ đạt 15,5 tạ/ha, trong khi tại miền Nam NS bình quân đạt 18,8 tạ/ha. Đặc biệt, ĐB. sông Cửu Long, NS bình quân 21,0 tạ/ha. Một số địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi NS còn cao hơn nữa: Quảng Ngãi (30,0 tạ/ha), Hải Phòng (30,0 tạ/ha), An Giang (26,7 tạ/ha), Tiền Giang (25,0 tạ/ha), Vĩnh Long (25,0 tạ/ha),....

2

7/18/15

Tỉnh/Thành phố Diện tích

Tỉnh/Thành phố

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

 - Ưu thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới → trồng

Thuân lợi:

Đông Bắc

48.200

56.400 Gia Lai

1.000

10,0

1.000

11,7

Hà Giang

21.200

23.700 Đăk Lak

7.400

14,1

10.400

11,2

4.100 Đắk Nông

15.900

20,9

33.200

Cao Bằng

5.700

7,2

- (thấp hơn Malaysia 3-4 lần, Thái Lan 2-3 lần), do đó phí sản xuất khá

Lào Cai

5.400

9,8

5.300 Lâm Đồng

300

10,0

3.000

-

Bắc Kạn

2.400

16,7

4.000 Đông Nam Bộ

1.400

12,9

1.800

Lạng Sơn

1.800

12,2

2.200 B. Phước

10,0

100

100

-

17,0

Tuyên Quang

2.300

3.900 Đồng Nai

12,5

1.500

1.200

được nhiều vụ trong năm, Lực lượng lao động nông thôn dư thừa, giá lao động rẻ

12,3

Yên Bái

3.100

3.800 Bình Thuận

20,0

200

100

 - Sâu bệnh hạn chế nhất đến năng suất, chất lượng → hiệu quả kinh tế

13,2

Thái Nguyên

1.900

thấp so với trung bình của thế giới, Thu hút lao động nông thôn và liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia → được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Dễ áp dụng chế độ luân canh trên đất lúa, lúa – màu hoặc đất màu → nâng cao hiệu quả sử dụng đất và đem lại thu nhập cao/ đvS Khó khăn, thách thức:

16.200

21,0

18.900

& khả năng mở rộng diện tích.

2.500 ĐB. sông Cuu Long

Phú Thọ

1.600

16,3

2.600 Đồng Tháp

20,2

10.700

5.300

Bắc Giang

1.800

16,7

3.000 An Giang

26,7

1.600

6.000

Quảng Ninh

1.000

13,0

1.300 Tiền Giang

25,0

5.000

2.000

25,0

3.500

1.400

- Nguồn giống đậu tương còn hạn chế, đặc biệt thiếu các giống thích nghi với các điều kiện bất thuận và cơ cấu luân canh từng vùng - Sản xuất dựa trên kinh tế hộ gia đình → quy mô nhỏ lẻ, phân tán, chất lượng khôn đều → giá thành cao; mất cân đối giữa hệ thống sản xuất – chế biến – kiểm định chất lượng – tiêu thụ nông sản,

Tây Bắc

20.600

12,5

25.800 Vĩnh Long

Lai Châu

2.400

10,0

2.400 Cần Thơ

17,3

1.900

1.100

Điện Biên

9.200

12,7

11.700 Sóc Trăng

17,5

7.000

400

- Tỷ lệ cơ giới hóa thấp, công nghệ CB lạc hậu.

(khó khăn, thách thức (tiếp) - Vấn đề tăng phẩm cấp và VSATTP đang đặt ra nhiều thách thức lớn, Định hướng phát triển đậu tương trong thời gian tới: Đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất, giảm giá thành, nâng cao cần được giải quyết một cách đồng bộ, - Cách thức tổ chức KD các mặt hàng chưa chú trọng xây dựng thương hiệu

chất lượng để có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu, giảm thiếu mức độ phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Phấn đấu đến hết năm 2020, diện tích đậu tương của cả nước đạt mức ổn định khoảng 500 nghìn ha, trong đó diện tích được bố trí trên đất chuyên màu khoảng 250 nghìn ha, còn lại được trồng trên đất 2 vụ lúa, 1lúa – 1 màu, sản lượng đạt 1,3 triệu tấn vào năm 2020, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu trong nước.

- Đồng thời với việc mở rộng thị trường, các doanh nghiệp nước ngòai đều được phép tham gia vào hệ thống phân phối tại Việt Nam. Những kinh nghiệm, thế mạnh của nước ngoài trong hoạt động thương mại, một mặt sẽ có thể hỗ trợ tích cực cho việc tiêu thụ nông sản tại thị trường trong nước, nhưng mặt khác có thể gây khó khăn cho việc xây dựng thương hiệu và tiêu thụ các sản phẩm không có thương hiệu và xuất xứ rõ ràng ngay tại thị trường nội địa, Để làm được điều này cần: - Tiếp tục hoàn thiện chế độ trồng trọt và kỹ thuật thâm canh tăng năng suất: luân canh, xen canh, thời vụ, mật độ - khoảng cách, chế độ bón phân thích hợp cho mỗi vùng, - Sự trợ giá đối với các sản phẩm nông nghiệp nói chung làm méo mó mối quan hệ thương mại. Sản xuất đậu tương của Việt Nam sẽ khó khăn trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu cùng loại, - Phát triển các giống đậu tương năng suất cao, phẩm chất tốt, thích ứng với những điều kiện bất thuận khi Việt Nam là vùng trung tâm của biến đổi khí hậu: giống chịu nóng, chịu lạnh, chịu hạn và chịu úng ngập. - Mở rộng diện tích trồng đậu tương đông trên đất 2 vụ lúa ở phía Bắc, trên đất lúa vụ 3 ở phía Nam, - Luật pháp của Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các quy định thương mại quốc tế. Mâu thuẫn giữa các quốc gia trong thương mại là vấn đề không tránh khỏi trong khi Việt Nam chưa có kinh nghiệm giải quyết tranh chấp quốc tế.

Chương 2. Đặc điểm sinh vật học

2. Đặc điểm thực vật học a. Bộ rễ

-

- Tận dụng các diện tích đất, hoang hóa chưa sử dụng để trồng đậu tương vừa tăng thu nhập vừa có tác dụng cải tạo bồi dưỡng đất. - Phát triển đậu tương chịu hạn để thay thế cho cây lúa tại các vùng thiếu nước tưới.

-

-

-

1. Phân loại Cây đậu tương có nguồn gốc Đông Á (phía Đông Nam – Trung Quốc) Đậu tương trồng có số NST 2n= 40. Thuộc bộ đậu (Fabales), họ đậu (Fabaceae), họ phụ cánh bướm (Leguminosae) Chưa thống nhất phân loại, thừa nhận theo: R.C. Palmer, T. Hymowitz

-

Rễ cọc, phát triển không ngừng và đạt cực đại vào thời kỳ quả mẩy, sau đó giảm dần và ngừng lại trước khi hạt chín sinh lý. Bộ rễ phát triển mạnh hay yếu tuỳ thuộc: đặc tính giống, tính chất đất, kỹ thuật làm đất, bón phấn,… Trên rễ có sự xuất hiện của các nốt sần - sản phẩm của sự cộng sinh của vi khuẩn nốt sần Rhizobium Japonicum với rễ cây Đặc tính của vi khuẩn nốt sần: và R.L. Nelson (1996): Chi Glycine Willd gồm 2 chi phụ: Glycine và Soja. Chi phụ Glycine: cây lưu niên, có nhiều: Úc, đảo phía nam Thái Bình Dương, Philippin, Đài Loan và đông nam Trung Quốc. Bộ gen 2n, 4n và các dạng lệch bội (40, 80, 38, 78). Lai giữa các loài trong chi phụ này rất khó thành công

- + Vi khuẩn hữu ích, hảo khí + Ưa pH: 5,5-6,5 + Chuyên tính rất cao → cơ sở có những biện pháp kỹ thuật tác động kích thích rễ phát triển Thực tiễn ở những vùng đất tơi xốp, thoáng khí (đất có thành phần cơ giới nhẹ hay đất cày bừa kỹ và thường xuyên xới xáo) thì bộ rễ phát triển mạnh, lượng vi khuẩn nốt sần cũng tập trung nhiều hơn so với những đất có thành phần cơ giới nặng và ít tơi xốp. Cũng do những đặc tính này, có thể dễ dàng nhận thấy có sự tập trung với số lượng lớn vi khuẩn nốt sần ở lớp rễ mặt (0-20cm).

Không có ý nghĩa trồng trọt, trừ Glycine canescense trồng làm TAGS. Chi phụ Soja (Moench) F.J. Herm, gồm: G. soja Sieb và Zucc ; G. max (L.) Merrill. + Loài G. max (L.) Merrill (đậu tương trồng), có ý nghĩa kinh tế và quan trọng nhất. Khi lai trong loài có thể thu được kết quả.

Hoạt động của VKNS còn chịu sự tác động của ngoại cảnh: độ ẩm đất, hàm lượng hữu cơ, hàm lượng Nitrat trong đất. Thân thảo, cây hàng năm, trồng phổ biến ở các nước trên thế giới. + Loài G. Soja Sieb và Zucc: thân thảo, dạng cây bò leo với lá kép có 3 thùy nhỏ và hẹp. Hoa có màu tím, hạt nhỏ, cứng, tròn, có màu nâu tối, đen. Mọc hoang dại ở phía bắc và đông bắc Trung Quốc, Liên Xô cũ, Triều Tiên và Nhật Bản.

3

7/18/15

Hình ảnh nốt sần trên cây đậu tương

- Sau mọc 10-15 ngày, bắt đầu có sự xâm nhập và hình thành NS - Ban đầu: VKNS nằm trong đất, rễ tiết chất dẫn dụ để kích thích vi

Quá trình xâm nhập và hình thành nốt sần

- Lông hút → nhu mô vỏ rễ - Các tế bào nhu mô phân chia mạnh khu trú VKNS → Nốt sần - Tại NS: VKNS x số lượng & cố định N

N2 + 8 H+ + 8 e - → 2 NH3 + H2 (Nitrogenaza+ATP)

- Chu kỳ NS: + Xâm nhập → bắt đầu cố định đạm: 30 ngày + Tiếp tục cố định đạm: 20-30 ngày → già hóa, vỡ ra & trả lại đất: VKNSx + N - Quá trình cây sinh trưởng, nốt sần có độ tuổi khác nhau, ∑:100-200NS - NS hữu hiệu: có chất dịch màu hồng hoặc màu nâu đỏ (màu của

khuẩn nốt sần tới xâm nhập qua miền lông hút.

- NS vô hiệu: khô, chỉ có vỏ hoặc dịch có màu xanh, nâu đen

nitrogenaza),

- Nốt sần phân bố tập trung ở phần cổ rễ - Tầng đất mặt

Phân bố của nốt sần

Để tăng số lượng nốt sần hữu hiệu cũng như tăng khả năng hoạt động và cố định đạm của các nốt sần, cần chú ý các biện pháp kỹ thuật sau:

- Tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn hoạt động: do là vi khuẩn hảo khí, trong quá trình sống cần nhiều oxi nên dựa vào đặc điểm này cần thường xuyên xới xáo đảm bảo đất tơi xốp, thoáng khí; bón phân lót đầy đủ đảm bảo đất đủ dinh dưỡng, nhiệt độ đất thích hợp 25- 28oC.

b. Thân, cành đậu tương - Thân thảo,có thể có dạng thân bò, leo (đậu tương hoang dại). - Thân có tiết diện tròn, màu sắc biến đổi theo độ tuổi - Trên thân có lông biến đổi tương ứng với màu sắc thân. - Thân có nhiều lóng, đốt. Mỗi đốt mang nhiều mầm, không chuyên hóa

- Chọn loại đất phù hợp: nên chọn loại đất có giá trị pH thích hợp cho vi khuẩn hoạt động (pH từ 5,5-6,5), trường hợp đất chua cần bón bổ sung vôi để dung hòa độ chua, chọn đất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, những đất có thành phần cơ giới nặng, đất dễ bị bí dí cần bổ sung phân hữu cơ, xới xáo phá váng thường xuyên.

- Xử lý phân vi khuẩn nốt sần: do tính chuyên tính của loài vi khuẩn nốt sần cộng sinh với rễ cây đậu tương, nên cần bổ sung chủng vi khuẩn này cho đất bằng cách xử dụng các loại chế phẩm vi sinh (có chứa vi khuẩn nốt sần sống, đặc biệt chứa loài vi khuẩn nốt sần thích hợp với rễ cây đậu tương như phân Nitragin, Ridafo, Enterobacterrin,...), các loại phân này đặc biệt có hiệu quả trên những đất chưa bao giờ trồng đậu tương, vùng đất mới trồng, đất cấy lúa hay đất ngập nước.

- Chiều cao thân chính, số đốt và khả năng phân cành biến động lớn tùy theo: đặc tính di truyền, điều kiện chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh.

- Thân chính liên quan nhiều đến khả năng chống đổ: giống có chiều cao 50-100cm, đường kính thân lớn thường → chống đổ tốt.

c. Lá đậu tương: - Có ba loại, bao gồm: lá mầm, lá đơn và lá thật. + Lá mầm: đốt đầu tiên, mọc đối xứng + Lá đơn: đốt 2 trên cây, lá thật, 1 lá chét, mọc đối xứng + Lá kép: đốt 3 trở lên, lá thật, 3 lá chét, mọc cách - Hình dạng lá chét: hình mác, hình ngọn giáo, hình trứng, hình trái xoan VD: NB1, A7,....- mũi mác, AU7, AU14, AU16,.... - ngọn giáo, DT84, AU10,...- hình trứng, AU2, AU4, AU19, D912,....- hình trái xoan.

- Khả năng phân cành kém: cấp 1, rất ít cấp 2. + Bắt đầu phân hóa sau khi trồng 20-30 ngày tại vị trí nách lá. + Chủ yếu từ đốt 2-6 + Năng suất quả/cành chiếm 40-50% năng suất quả/cây + Góc độ phân cành 45-600 - Mặt lá có nhiều lông trắng - Căn cứ đặc điểm của lá để đánh giá: + Khả năng sinh trưởng: lá trải rộng, xanh tươi → sinh trưởng khỏe + Khả năng vận chuyển dinh dưỡng: lá to > lá nhỏ + Khả năng tiếp nhận ánh sáng: rộng bản > bản hẹp, góc độ lá nhỏ > góc độ lá lớn

+ Khả năng chống chịu ngoại cảnh: bản hẹp > rộng bản

Các lá thật ở tầng giữa bao giờ cũng lớn hơn và kích thước ổn định hơn các lá thật ở tầng dưới và tầng ngọn. Lá nằm ở chùm hoa nào thường có tác dụng quan trọng với chùm hoa ấy trong việc phát triển thành quả. Nếu lá phía dưới bị vàng úa sớm, do mật độ quá dày hoặc kém chăm bón làm chùm quả bị rụng hoặc hạt lép.

4

7/18/15

d. Hoa, quả và hạt đậu tương - Hoa đậu tương: + Lưỡng tính và là hoa tự thụ điển hình. + Kích thước nhỏ, mọc thành chùm ở nách lá, 1-10 hoa/chùm. + Hoa nở vào buổi sáng, trời âm u nở rải rác trong ngày Sau khi nở, tiếp tục tồn tại khoảng 2-3 ngày rồi cánh hoa mới rụng Thời kỳ ra hoa sớm hay muộn tuỳ thuộc: giống và thời vụ gieo trồng. VD: giống chín sớm, vụ hè: ≈ 30 ngày sau gieo, giống chín muộn: 40- 45 ngày.

Thời gian ra hoa dài hay ngắn tuỳ thuộc: đặc tính của giống và thời vụ. VD: giống D140, vụ xuân và vụ hè thời gian ra hoa 20-25 ngày, nhưng gieo vụ đông thời gian ra hoa rất ngắn chỉ khoảng 12-15 ngày. + Hoa có 2 màu rõ rệt: màu tím, trắng → ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác lai tạo giống

♀ hoa trắng x ♂ hoa tím

♀ hoa tím x ♂ hoa trắng

hoa tím cây lai, phép lai thành công

100% hoa tím cây lai ?, cây tự thụ ?

hoa trắng cây tự thụ, không thành công

trồng thêm vụ & đánh giá tông thể

F0: F1: Các giống khác nhau hoa mang màu sắc khác nhau. Một số giống có hoa màu tím: AK03, DT84, D140, DT90, DT96,.... Các giống có hoa màu trắng: V74, AK06, VX92, ĐT22, ĐT26, Đ9804,...

+ Căn cứ vào đặc tính nở hoa và sinh trưởng của thân chia đậu tương thành: Loại hình sinh trưởng hữu hạn Loại hình sinh trưởng vô hạn - Quả đậu tương: + Quả giáp (quả đậu), khi chín quả tự mở làm rơi hạt xuống đất. + Mỗi quả có từ 1-4 hạt nhưng thường 2-3 hạt. + Số quả/cây biến động: 10-500 quả tùy giống và điều kiện chăm sóc. + Quả non: màu xanh, quả chín: màu vàng rơm, vàng đậm, nâu nhạt hoặc màu nâu đen. Sau khi ra hoa chiều cao thân chính hầu như không tăng + Trên quả cũng có lông có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của sâu, Sau khi ra hoa, chiều cao thân chính tiếp tục tăng, đến khi làm quả chiều cao 2 khi ra hoa. bệnh hại. Sự phân bố hoa ở trên các đốt Trong sản xuất, chọn giống có số quả/cây nhiều, tỷ lệ quả 3 hạt cao và chiều cao đóng quả hợp lý (10-12 cm ) thân tương đối đồng đều. Chùm hoa ở đỉnh thân, đỉnh cành nhiều hơn các chùm ở vị trí khác. - Hạt đậu tương: + Có nhiều màu sắc: xanh (Xanh lơ Hà Bắc), đen (Đen Hà Bắc, Đen Đường kính của phần gốc, thân, Đường kính của phần gốc, ngọn ngọn chênh lệch không lớn chênh lệch lớn Quảng Ninh),... nhưng nhìn chung do thị hiếu người tiêu dùng, nên chủ yếu có màu vàng: DT84, D912, D140, ĐVN6,... + Hình dạng, kích thước và khối lượng hạt cũng khác nhau, có thể hình bầu dục, hình tròn dẹt,.... Khối lượng 1000 hạt: 80-220g. Sự nở hoa: Hoa thường nở đầu tiên ở đốt 7, đốt 8 rồi nở lên trên và nở xuống dưới. Sự nở hoa: Hoa thường nở đầu tiên ở đốt 4, đốt 5 rồi nở theo quy luật lên trên + Rốn hạt: có thể màu trắng, nâu đậm, nâu đen hay màu hồng nhạt. + Hạt có thể nhăn/trơn, có thể nứt vỏ/không tùy vào giống. Hạt bị nứt mất giá trị thương phẩm và bảo quản khó khăn, dễ bị biến chất và dễ mất sức nảy mầm. Sự tích lũy chất khô nhanh. Khi ra hoa tích lũy được 78%. Khi làm quả tích lũy được khoảng 92% tổng lượng chất khô Sự tích lũy chất khô chậm. Khi ra hoa tích lũy được 58%. Khi làm quả tích lũy được khoảng 72% tổng lượng chất khô. + Hạt có nhiều dầu và đạm, khi chín cần thu hoạch kịp thời, không nên để lâu ngoài đồng ruộng nhất và cần chú ý trong quá trình bảo quản.

3. Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương Sự sinh trưởng và phát triển được chia thành 2 giai đoạn lớn: Giai đoạn sinh sinh dưỡng (V) và giai đoạn sinh trưởng sinh thực (R).

Giai đoạn V gồm các thời kỳ: VE, VC, V1, V2, V3,... V(n). Những thời kỳ V mới xuất hiện cứ sau 5 ngày một từ VC đến V5 và khoảng 3 ngày một từ V5 đến R5, sau đó sự phát triển diễn ra nhanh chóng khi số lá đạt mức tối đa. Thời kỳ cuối cùng của giai đoạn V được ký hiệu là V(n), trong đó n là số lá cuối cùng đặc trưng cho giống, n sẽ giao động tùy thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh.

Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng

Giai đoạn sinh trưởng sinh thực

VE

Nảy mầm

R1

Bắt đẩu ra hoa

VC

Mọc mầm

R2

Ra hoa rộ

Lá thật thứ nhất

Hình thành vỏ quả

V1

R3

V2

Lá thật thứ 2

R4

Vỏ quả phát triển đầy đủ

V3

Lá thật thứ 3

R5

Hình thành hạt

...

...

R6

Quả mẩy

...

...

R7

Bắt đầu chín

Vn

Lá thật thứ n

R8

Chín hoàn toàn

5

7/18/15

Biện pháp kỹ thuật tác động

Tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống liên quan nhiều tới mật độ thực tế vì vậy trong thời kỳ này cần chú ý áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt: 3.1. Thời kỳ nảy mầm - mọc - Hạt bắt đầu nảy mầm khi hút được một lượng nước bằng khoảng 50% trọng lượng hạt. Đầu tiên rễ sơ cấp tăng trưởng làm hạt trương lên. Rễ sơ cấp (rễ mầm) tiếp tục dài ra đâm xuống phía dưới và giữ hạt nằm trong đất, gọi là sự nảy mầm. - Làm đất kỹ: đất cần được làm tơi xốp, sạch cỏ dại nhưng không quá - Trong quá trình này trong hạt diễn ra các quá trình biến đổi sinh hóa: mịn dễ dẫn tới hiện tượng bí dí khi gặp mưa. protein → a.a (enzym proteaza) → protein mới và tế bào mới

lipid → glucoza (enzym lipaza). - Kéo dài 4-5 ngày (nhiệt độ và ẩm độ thích hợp). Nhiệt độ thấp và khô hạn có thể kéo dài từ 10-15 ngày. - Độ sâu gieo hạt tùy theo độ ẩm đất. Trong đa số trường hợp, đậu tương cần phải gieo ở độ sâu 2,5-3cm và không được sâu hơn 5,5cm. Vụ xuân hạt giống cần được gieo sâu, lấp đất chặt đảm bảo độ ẩm và nhiệt độ thích hợp cho hạt nảy mầm, nếu khô hạn trước khi gieo cần tưới nước; vụ hè thu và vụ đông do đầu vụ thường có mưa, cần gieo nông để tránh gây thối hạt - Bón lót đầy đủ đặc biệt là trong vụ xuân, không nên bón phân quá gần - Cây sinh trưởng chủ yếu dựa vào dinh dưỡng dự trữ trong lá mầm, khoảng 7-10 ngày sau khi nảy mầm đến khi lá thật đầu tiên xuất hiện). Trong suốt thời gian này lá mầm tiêu tốn khoảng 70% trọng lượng khô của nó. hạt giống có thể ảnh hưởng tới sức nảy mầm.

- Thời gian và tỷ lệ mọc mầm phụ thuộc: giống và điều kiện ngoại cảnh. Hạt giống nếu bảo quản > 6 tháng tỷ lệ mọc sẽ giảm, nếu thu hoạch về gieo tiếp tỷ lệ mọc sẽ cao hơn. Nhiệt độ thích hợp cho mọc mầm 25-30oC, nếu nhỏ hơn 10oC sẽ gây chết mầm, độ ẩm thích hợp là khoảng 70-80%.

3.2. Thời kỳ cây con (V1 – V6) - Khi lá thật đầu tiên xuất hiện đến khi ra hoa đầu tiên. - V2, V3: bắt đầu có sự cộng sinh với vi khuẩn NS - V5 bắt đầu có hiện tượng phân hóa mầm hoa từ các chồi nách trên

các đốt thân.

- V6 lá mầm và lá đơn có thể bị hóa già và rụng. Mất 50% lá ở thời kỳ V6 làm giảm 3% năng suất. - Thời kỳ cây con kéo dài khoảng 30-40 ngày tùy: giống và mùa vụ. VD: vụ xuân, vụ hè thời kỳ này kéo dài, vụ đông diễn ra nhanh hơn - Thời kỳ này, cây con dễ bị sâu bệnh phá hại: Bệnh lở cổ rễ, sâu đục

thân, giòi đục thân, sâu ăn lá...

Do đó, trong sản xuất cần chú ý: - Bón thúc sớm vào thời kỳ cây được 2-3 lá thật vì lúc này nốt sần

chưa được hình thành.

3.3. Thời kỳ ra hoa, làm quả (R1 – R6) - Khi hoa đầu tiên đến khi hoa cuối cùng xuất hiện trên cây. Cây đậu tương khi đã ra hoa các thân lá vẫn tiếp tục phát triển. - Thời kỳ bắt đầu ra hoa (R1) tương đương với thời kỳ V7 đến V10 - Thời kỳ ra hoa rộ (R2) (tương ứng với V10-V12): tốc độ tích lũy chất khô và cố định đạm tăng lên nhanh chóng. - Thời kỳ kết thúc nở hoa và hình thành vỏ quả (R3) (tương ứng với V12- V17): diễn ra cùng lúc các quá trình phát triển vỏ quả, hoa héo, hoa nở và quá trình hình thành nụ. Những điều kiện bất thuận như: nhiệt độ cao, thiếu hụt ẩm độ trong thời kỳ này đều sẽ làm giảm đáng kể năng suất. - Thời kỳ làm quả kết hạt (R4-R6): Sau TPTT khoảng 5-7 ngày, quả được hình thành tại nách lá,có độ dài khoảng 0,5-0,7cm.

- Tăng cường xới xáo cung cấp oxi cho vi khuẩn hoạt động - Phòng trừ sâu bệnh kịp thời để đậu tương bước vào thời kỳ sau. Ngay sau khi cây phân hóa mầm hoa cần chú ý điều chỉnh để tránh sinh trưởng sinh dưỡng quá mạnh, làm mất cân đối với sinh trưởng sinh thực, làm rụng hoa, rụng quả nhiều.

Thời kỳ này tương đương với thời kỳ V13 - V20 và được đặc trưng bởi : + Sự tích lũy chất khô nhanh chóng vào quả, hạt + Diện tích lá, chiều cao cây, số đốt đạt cực đại, + Sự cố định nitơ giảm dần Khủng hoảng: thiếu hụt độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng, sương giá, rụng lá,... sẽ làm giảm 70% năng suất. + Cuối thời kỳ này, chất khô được tích lũy vào hạt và đạt tối đa, ngay sau đó lá bắt đầu úa vàng nhanh và rụng

3.4. Thời kỳ chín (R7 – R8) - Tính từ khi lá và quả chuyển màu vàng đến khi chín khô (thu hoạch). - Quả và hạt diễn ra các quá trình biến đổi sinh lý và hình thái theo Hiện tượng rụng hoa, rụng quả và hiện tượng quả lép Hiện tượng này xảy ra khá phổ biến, tỷ lệ đậu quả trung bình đạt 60- 70%, có thể đạt cao 80-90%, trong nhiều trường hợp chỉ đạt khoảng 40%. Trong quá trình hình thành quả, quả cũng thường bị lép nhiều, tỷ lệ quả lép biến động 10-20%, gây giảm năng suất chiều hướng ổn định về màu sắc + hàm lượng nước, đạm, glucoza giảm dần, protein và lipid tăng dần

- Sự khủng hoảng trong thời kỳ này không gây hiệu ứng gì đối với năng suất. Tuy nhiên trong thời kỳ này yêu cầu ẩm độ đất giảm xuống còn 60% để đậu tương chín nhanh và thuận lợi cho quá trình thu hoạch.

- Thời kỳ này vụ xuân quả chín nhanh, thuận lợi, nhưng cuối thời kỳ gặp mưa dễ gây thối và mọc mầm trên đồng ruộng. Cần thu hoạch đúng độ chín

Hiện tượng này xảy ra do nhiều nguyên nhân: + Giống + Điều kiện bất thuận: nhiệt độ quá cao > 40oC, quá thấp <10oC, ánh sáng ngày dài + nhiệt độ không khí cao, mưa to, gió lớn, hạn, úng,... + Dinh dưỡng thiếu và không cân đối, chăm sóc không hợp lý: bón quá Trong thời kỳ này, tùy từng vụ mà có những biện pháp tác động hợp lý, chủ yếu trong khâu thu hoạch:

- Vụ đông, cuối thời kỳ thiếu ánh sáng và nhiệt độ thấp, khó khăn cho

nhiều phân N, mật độ quá dày, vụ đông trồng quá muộn + Sâu bệnh phá hại: bệnh gỉ sắt, đốm lá, sâu đục thân, bọ xít,... Thời kỳ ra hoa làm quả là thời kỳ đặc biệt quan trọng với cây đậu tương, trong thời kỳ này cần chú ý:

- Đảm bảo đủ độ ẩm tối thích cho cây sinh trưởng - Bón phân thúc sớm vào thời kỳ trước có ý nghĩa quan trọng trong thời quá trình chín quả và thu hoạch. Có thể kích thích cho hạt chín nhanh bằng cách làm rụng lá, hoặc có thể thu hoạch về rồi ủ 1-2 đêm cho lá rụng rồi mới đem phơi kỳ này.

- Tiến hành vun cao và chống đổ cho cây đặc biệt trong vụ hè - Thường xuyên theo dõi, phòng trừ sâu bệnh kịp thời đặc biệt là các đối tượng sâu bệnh hại quả

6

7/18/15

4. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 4.1. Yêu cầu về nhiệt độ - Có nguồn gốc ôn đới nhưng không có khả năng chịu rét và cần to ôn hòa để sinh trưởng phát triển. - to ảnh hưởng tới hoạt động quang hợp của cây. Cây quang hợp tốt nhất ở to 25-300C, to >40oC và to <20oC cây giảm quang hợp - to ảnh hưởng đến quá trình cố định đạm: to thích hợp 25-270C, to >30oC, to <200C nốt sần hình thành ít. - to liên quan đến khả năng hút nước, dinh dưỡng và khả năng vận chuyển các chất trong cây. + to thấp làm giảm sự hút nước của rễ, gây ra thiếu nước và giảm tốc - to thích hợp:22-280C, tổng tích ôn 1700-30000C - TK Nảy mầm: + to thích hợp là 25-30oC, + to <15 – 18oC làm giảm tỷ lệ mọc, thời gian mọc kéo dài, to < 10oC độ ra lá. mầm chết rét + to > 30oC bắt đầu tới KN nảy mầm của hạt, to > 40oC + hạn, hạt đậu tương rất dễ mất sức nảy mầm + to thích hợp >150C, dưới 150C các quá trình này bị đình trệ. - TK cây con: Cây chịu rét khá, nhưng nếu to thấp kéo dài, cây con sẽ Thời kỳ sinh trưởng chậm, ra hoa muộn.

- TK chín quả: to tối thích 25oC vào ban ngày và 15oC vào ban đêm. to

- Trong bảo quản: to cao hạt hô hấp mạnh làm tiêu hao nhiều dinh

Nhiệt độ thích hợp (oC) 25-30 Nhiệt độ tối thấp (oC) 5-7 Nhiệt độ tối cao (oC) 40 Gieo – mọc - TK trước ra hoa to cao > 40oC ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành đốt, sinh trưởng lóng và phân hóa hoa. to thích hợp (22- 27oC) cây có nhiều đốt, cành, nhiều quả và năng suất cao. 22-27 8-10 40-42 Cây con - TK ra hoa – làm quả: < 10oC không ra hoa,< 15oC quả không đậu. to > 30oC: hoa rụng nhiều, đậu quả ít. to thích hợp là 20-25oC. 20-25 <15 30 Ra hoa 20-25 <15 30 Hình thành quá cao làm giảm chất lượng nảy mầm của hạt. quả dưỡng, hạt nhanh mất sức nảy mầm 20-25 - - Quả chín

 Về cường độ chiếu sáng: - Cây C3 → yêu cầu về CĐCS không mạnh bằng cây C4 - Cây bão hòa ánh sáng ở CĐ 23680 Lux (20% ánh sáng buổi trưa). - Phân hóa mầm hoa khi CĐCS > 1076 Lux. - Chất lượng ánh sáng ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng của cây + CĐAS mạnh, cây sinh trưởng tốt, năng suất cao. + Thiếu AS cây vươn lóng dài, phân hóa ít hoa, ít quả Như vậy với một số thời vụ trồng đậu tương ở miền Bắc:  Vụ xuân, giai đoạn cây con, thiếu ánh sáng cây sinh trưởng chậm,

4.2. Yêu cầu về ánh sáng Phản ứng với AS thể hiện ở 2 mặt: độ dài và cường độ chiếu sáng. • Về độ dài chiếu sáng: - Cây ngày ngắn điển hình, chỉ ra hoa được khi độ dài chiếu sáng trong

 Vào vụ hè: cường độ ánh sáng cao, có ánh sáng ngày dài thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, cây sinh trưởng mạnh, số lượng hoa, quả nhiều hơn so với các vụ khác trong năm, do đó năng suất đậu tương vụ hè cũng thường cao hơn các vụ khác.

 Trong vụ đông: ánh sáng ngày ngắn dần từ tháng 9 đến tháng 11,

ngày của vùng trồng nhỏ hơn trị số giới hạn của giống VD: Giống X11, trị số giới hạn:11h, chỉ ra hoa khi TGCS <11h - Các giống khác nhau có phản ứng với ánh sáng là khác nhau. + Nhóm chín muộn phản ứng chặt chẽ với độ dài chiếu sáng. + Nhóm chín sớm, chín trung bình phản ứng ít chặt chẽ hơn→ có thể trồng nhiều vụ trong năm → hầu hết các giống thuộc nhóm này. - Thời kỳ cây con rất mẫm cảm với ánh sáng ngày ngắn > giai đoạn nụ > ngừng ở giai đoạn ra hoa. Ra hoa - chín giống nhau giữa các nhóm chín. sau đó cường độ chiếu sáng tăng dần, bước sang thời kỳ ra hoa ánh sáng đầy đủ, cây sinh trưởng mạnh hơn, tốc độ tăng trưởng thân lá cao gấp 1,5-2 lần giai đoạn trước. - Độ dài ngày ảnh hưởng sâu sắc tới tỷ lệ đậu quả và tốc độ lớn quả. Ngày ngắn sẽ tăng tỷ lệ đậu quả và tốc độ tích lũy chất khô vào quả. Ngày dài, nhiệt độ không khí cao đậu tương rất dễ rụng quả và ít hạt. - Độ dài chiếu sáng thay đổi theo mùa vụ và vĩ độ địa lý: Vùng vĩ độ thấp là phạm vi thích ứng rộng hơn vĩ độ cao. Tuy nhiên, ở vùng nhiệt đới do sự chênh lệch về vĩ độ, độ dài chiếu sáng giữa các mùa vụ không lớn → có thể trồng được nhiều vụ/năm đậu tương nhanh ra hoa, tuy nhiên lúc này cây chưa tích lũy đầy đủ dinh dưỡng để nuôi các bộ phận sinh trưởng sinh thực do đó số lượng hoa quả ít, quả nhỏ, năng suất thấp.

4.4. Yêu cầu về đất trồng - Đậu tương là cây trồng không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất có kết cấu khác nhau. - Đất thích hợp: đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất cát pha, phù sa trẻ 4.3. Yêu cầu về ẩm độ và lượng mưa - Có khả năng chịu hạn, nhu cầu lượng mưa không lớn. Để tổng hợp được 1 đv chất khô cây tiêu thụ 250-300 đơn vị nước, trong khi lúa mì cần: 300-600, ngô: 250-400, lúa: 500-800 đơn vị, hướng dương: 500-600, đay: 600-800, cây lấy gỗ: 400-600 ven sông. - Trong quá trình sinh trưởng cây cần lượng mưa 350-600mm và tập trung vào thời kỳ ra hoa làm quả (2/3 tổng lượng nước cây cần) - Đất chặt, dễ đóng váng, đất nặng mất kết cấu như đất sét, đất thịt nặng đều có thể làm giảm khả năng mọc mầm và năng suất. - Đất cát cây mọc mầm khỏe, nhưng khả năng giữ nước giữ phân kém, năng suất đậu tương thường không ổn định - Giá trị pH đất 5,5-6,5 là giá trị thích hợp giúp cây sinh trưởng tốt, đất chua cần phải bón vôi để cải tạo.

- Trong mỗi thời kỳ đòi hỏi những giới hạn độ ẩm khác nhau: + TK nảy mầm: 70-80%. + TK cây con: 60-65%. Hạn, úng đều làm chậm quá trình sinh trưởng + TK ra hoa làm quả: 70-80% + TK chín: 60-70%. - Liên hệ từng vụ: + Vụ xuân: đầu vụ khô hạn, cuối vụ mưa nhiều + Vụ hè: nằm hoàn toàn trong mùa mưa, + Vụ đông: đầu vụ ẩm độ còn cao, cuối vụ không mưa Từ thực tế trồng đậu tương từ xưa đến nay, ông cha ta có câu: “Hoa khô quả ẩm ăn to, quả khô hoa ẩm thì vò lấy thân” → ngụ ý cần điều tiết độ ẩm đất và độ ẩm không khí đặc biệt trong giai đoạn ra hoa và làm quả sao cho hợp lý để đảm bảo năng suất và chất lượng hạt cao.

7

7/18/15

Với một số loại đất ở Việt Nam: - Vùng đất bạc màu: Việt Yên, Hiệp Hòa, Sóc Sơn,.... đất nhẹ, tỷ lệ cát mịn nhiều hơn cát thô, đất chua, nghèo dinh dưỡng, năng suất không cao nếu không bón đầy đủ phân hữu cơ, lân và vôi. - Vùng đất cát ven biển: Hải Hậu, Diễn Châu,.... đất nhẹ, tỷ lệ cát thô nhiều hơn cát mịn, màu sáng, không chua, dinh dưỡng cao hơn nên có thể trồng đậu tương với năng suất khá - Vùng đất phù sa ven sông: dinh dưỡng khá, không chua, thành phần cơ giới nhẹ, trồng đậu tương đạt năng suất rất cao. - Vùng đất đồi thấp: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên. Đất do bị rửa

Chương 3. Kỹ thuật trồng trọt 1. Chế độ trồng trọt a) Chế độ luân canh - Vì sao phải luân canh tăng vụ trong sản xuất đậu tương? - Yêu cầu của luân canh: + Thời vụ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển + Hạn chế sự phát triển của dịch hại, cỏ dại; + Cây trồng có đặc điểm sinh trưởng và nhu cầu dinh dưỡng khác nhau - Các công thức luân canh: + Các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc: Ngô xuân - Đậu tương hè - Bỏ hóa (cày ải qua đông) Đậu tương gieo đầu mùa mưa, thu hoạch tháng 10. Sử dụng giống dài

trôi, khô hạn, nếu trồng phải bón thêm vôi hoặc lân giúp làm giảm độ chua. Nếu cải tạo tốt, có thể trồng đậu tương với năng suất khá. - Vùng đất bazan như ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên là loại đất rất phù hợp cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển. Trồng đậu tương trên đất này năng suất sẽ rất cao, tuy nhiên thường những vùng đất này đã được quy hoạch trồng các loại cây công nghiệp thế mạnh xuất khẩu khác như: cao su, cà phê,.... nên phần lớn các diện tích trồng đậu tương chủ yếu là để tận dụng đất. ngày: Xanh lục khu, Vàng Lạng Sơn, Vàng Cao Bằng... Đậu tương xuân - Lúa mùa - Bỏ hóa (cày ải qua đông) Sử dụng giống chịu lạnh, khai thác diện tích bỏ hóa vụ xuân: AK06, DN42, D140...

Một số công thức luân canh khác cũng được áp dụng ở vùng này: Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương đông Lạc xuân – Đậu tương hè – Cây vụ đông

+ Vùng Trung du Bắc bộ: Đậu tương xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ đông Áp dụng trên đất vàn cao, cấy lúa không chủ động được nước. Chọn các giống đậu tương chịu được rét như DN42, D140... b) Trồng xen, trồng gối -Tác dụng của trồng xen? - Cây trồng xen Tại Indonesia: dừa, ngô, mía; Philippin: ngô, mía; Thái Lan: bông. Ở Trung Quốc: mía, ngô, bông,.... Còn ở Việt Nam, tùy theo cơ cấu của mỗi vùng mà hình thức trồng xen có khác nhau: Lúa xuân - Đậu tương hè sớm – Lúa mùa muộn Chọn giống ngắn ngày, chịu nóng như: Xanh lơ Hà Bắc, ĐT93, ĐT12... Lạc xuân - Đậu tương hè trung - Ngô đông Áp dụng trên đất chuyên trồng màu, sử dụng các giống trung ngày năng + Cây nghiệp ngắn ngày như mía: do mía là cây hàng rộng và có thời kỳ đầu cây chưa khép tán, trồng xen 1 hàng đậu tương giữa hai hàng mía cách nhau 40-45cm. suất cao M103, DT84, DT96,...

+ Ngô đông, trồng hai hàng ngô xen với 4-6 hàng đậu tương. + Đậu tương hè với dâu tằm giai đoạn đốn hè. + Với cây công nghiệp lâu năm: chè, cà phê, cao su hoặc cây ăn quả: cam, quýt, mận,... thời kỳ kiến thiết cơ bản, khi cây chưa khép tán. + Vùng Đồng bằng Bắc bộ và khu 4 cũ: Lúa xuân - Lúa mùa sớm - Đậu tương đông Trên thực tế, ở nhiều địa phương như : Hà Tây (cũ), Bắc Ninh,... chọn các giống có khả năng chịu rét như : DN42, DT2000, D140, AK06...

- Tác dụng của trồng gối? - Một số công thức trồng gối có đậu tương: Lúa xuân - Đậu tương hè - Ngô đông (gối thời kỳ đậu tương CSL) Ngô xuân – Đậu tương hè (gối thời kỳ ngô thâm râu) Lạc xuân – Đậu tương hè – Ngô đông (gối thời kỳ đậu tương CSL) Đậu tương xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ đông Áp dụng trên chân đất cao, diện tích áp dụng thường không lớn. Đậu tương xuân - Ngập nước - Cây vụ đông Áp dụng trên đất bãi ven sông thường bị ngập nước trong mùa mưa.

* Các giống thích hợp cho vụ hè: + M103: TGST 80-90 ngày, chiều cao trung bình, sinh trưởng khỏe,

năng suất từ 17 - 20 tạ/ha. Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha. Giống có khả năng chịu nóng khá, thích hợp với vụ hè đồng bằng Bắc Bộ, cũng có thể gieo trong vụ xuana muộn và thu đông. + DT84: TGST 85-90 ngày. Hàm lượng protein, lipid và hàm lượng 2. Giống đậu tương * Các giống thích hợp cho vụ Xuân: + VX92: TGST 90 - 100 ngày. cây cao trung bình, ít phân cành, năng suất trung bình 13 - 16 tạ/ha, thâm canh có thể đạt 20 tạ/ha. Giống có khả năng chịu rét ở giai đoạn đầu, thích ứng rộng ở vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, miền núi phía Bắc có thể gieo vào vụ Xuân muộn.

đường bột cao, năng suất từ 15 – 30 tạ/ha. Giống có khả năng kháng tốt với bệnh đốm nâu vi khuẩn, chống chịu khá với bệnh gỉ sắt, sương mai, virus khảm, chịu nóng tốt, chịu lạnh, hạn, úng khá. Thích ứng rộng với tất cả các vùng sinh thái trong cả nước. + TL57: TGST 100 - 110 ngày, cao cây trung bình, cứng cây, có khả năng chống đổ, năng suất từ 15 - 20 tạ/ha. Thích hợp nhất với vụ xuân vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, giống cũng có khả năng trồng trong vụ đông. + ĐT93: TGST 75-85 ngày, chiều cao cây trung bình, cứng cây. Năng suất trung bình 12-14 tạ/ha. Giống thích hợp với vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ trên đất thịt nhẹ, đất cát pha bạc màu. + DN42: TGST 90 - 95 ngày, tán gọn, cứng cây, phân cành trung bình, năng suất từ 14 - 16tạ/ha. Thích hợp trên đất thịt nhẹ, đất đồi thấp, đất bãi vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

+ ĐT12: TGST vụ hè 71 - 80 ngày, rất thích hợp trong vụ Hè giữa 2 vụ lúa, thấp cây, phân cành trung bình, năng suất từ 14 - 20 tạ/ha. Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 23 tạ/ha. Giống có khả năng chống đổ tốt, nhiễm bệnh ở mức nhẹ, chịu úng khá, đặc biệt tốt nhất trong vụ hè, có thể trồng xuân muộn và vụ thu đông. + AK06: TGST 95 - 98 ngày, dạng cây đứng, chiều cao trung bình, phân cành vừa phải, năng suất từ 17-25 tạ/ha, chống chịu bệnh gỉ sắt khá, chịu hạn, chịu nóng và lạnh ở mức khá. Giống có thể trồng được cả ở vụ hè và vụ đông.

+ ĐT2000: TGST 100 - 110 ngày, chiều cao cây trung bình, thân to và cứng, ít đổ, phân cành nhiều, năng suất từ 20-3- tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 40 tạ/ha, kháng bệnh gỉ sắt và bệnh phấn trắng ở mức cao, chịu thâm canh, chịu hạn kém. Giống có thể gieo trồng trên nhiều loại đất, nhưng thích hợp nhất là đất cát pha, thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng, dễ tưới tiêu.

8

7/18/15

3. Thời vụ gieo trồng đậu tương a) Cơ sở khoa học Xác định thời vụ trồng hợp lý cần phải căn cứ vào các cơ sở sau: -Yêu cầu sinh thái của đậu tương: Đậu tương cần nhiệt độ để sinh * Các giống thích hợp cho vụ (Thu) Đông: + VX93: TGST 90-95 ngày, cao cây trung bình, ít phân cành,, năng suất đạt từ 12 - 15 tạ/ha. Trong điều kiện thâm canh đạt 25 tạ/ha. Đây là giống có khả năng chịu rét tốt, chịu hạn, úng trung bình, thích hợp ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ + AK05: TGST 98-105, cao cây trung bình,, năng suất đạt từ 16 - 15 trưởng phát triển thích hợp là 22-28oC, cần đầy đủ ánh sáng và ẩm độ vào thời kỳ ra hoa làm quả. tạ/ha. Khả năng chống chịu sâu bệnh trung bình, chịu hạn và chịu rét khá.

+ DT95: TGST 90-98 ngày, cây cao trung bình, có phản ứng với độ dài chiếu sáng, chống chịu với các bệnh gỉ sắt, đốm vi khuẩn, lở cổ rễ trung bình, chống đổ trung bình có khả năng chịu lạnh, năng suất biến động từ 22-27 tạ/ha. Giống yêu cầu thâm canh cao, thích hợp ở các vùng sinh thái phía Bắc. - Đặc điểm của giống đậu tương đem gieo trồng. Xem giống đó có khả năng chịu lạnh hay có khả năng chịu nóng. Giống chịu lạnh để trồng vào vụ xuân và vụ đông, giống chịu nóng có thể trồng vào vụ hè. Ngoài ra cần căn cứ vào thời gian sinh trưởng của giống để đưa ra thời vụ gieo trồng thích hợp ví dụ: giống chín muộn đưa vào vụ hè vùng núi, giống chín sớm đưa vào vụ đậu tương hè sớm ở vùng trung du, giống chín trung bình đưa vào vụ xuân hoặc vụ đông.

- Cơ cấu cây trồng trong vùng xem đó là đất hai lúa hay đất chuyên màu + DT96: TGST 90-95 ngày, cây cao trung bình, kháng tốt với các bệnh đốm nâu vi khuẩn, gỉ sắt, sương mai, virus, chịu hạn, chịu lạnh và chịu nóng tốt, năng suất biến động từ 18 - 22 tạ/ha. Giống thích hợp với tất cả các loại đất, các vùng sinh thái có trồng đậu tương, đặc biệt các vùng núi cao. hay trồng trên đất bãi. Đất hai vụ lúa thường trồng đậu tương vụ đông, đất chuyên màu có thể làm ba vụ đậu tương trong các công thức cụ thể, đất bãi ven sông trồng đậu tương xuân.

 Vụ hè - Vụ hè chính vụ: + Chủ yếu tại miền núi phía Bắc: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang.... + Sử dụng giống có thời gian sinh trưởng tương đối dài và ưa nóng

b) Các thời vụ gieo trồng  Vụ xuân - Chủ yếu trên các vùng đất chuyên màu hay đất bãi ven sông. - Gieo đầu tháng 2 đến 10/3 dương lịch, có thể sớm hơn từ 15/1 (tuy như: Vàng Lạng Sơn, Xanh Lục Khu, Vàng Cao Bằng,... nhiên thường hay gặp rét) và thu hoạch vào tháng 5, tháng 6. - Nhìn chung thời vụ này tương đối thuận lợi, cây sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, phù hợp với yêu cầu của cây. - Cần chú ý lúc gieo hạt có thể có các đợt gió mùa Đông Bắc gây ra + Gieo vào đầu mùa mưa (tháng 5) thu hoạch cuối mùa mưa (tháng10). - Vụ hè trung: + Áp dụng trên đất luân canh chuyên màu vùng ven trung du, trong công thức: Lạc xuân – Đậu tương hè trung – Ngô đông.

nhiệt độ thấp dưới 15oC, thậm trí xuống dưới 10oC, cùng với thời tiết khô hanh, thiếu ẩm đã ảnh hưởng đến sự mọc và sinh trưởng của cây con. Cần chọn giống đậu tương có khả năng chịu lạnh và có biện pháp tưới bổ sung tránh những ngày rét đậm không gieo. Cần bón lót đầy đủ phân lân và tưới nước bổ sung. Vụ xuân cũng là vụ có độ ẩm cao, mây mù nhiều tạo điều kiện + Cây sinh trưởng hoàn toàn trong mùa mưa (T6-T9), nhiệt độ cao, ánh sáng ngày dài, cây sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao tuy nhiên không ổn định, có thể mất trắng nếu gặp mưa bão. → Chọn đất cao, chủ động tưới tiêu, làm luống cao, hẹp. Chọn giống đậu tương chịu nhiệt độ cao, ưa ẩm như: DT84, D140, AK06, DT96,... Phòng trừ đốm lá vi khuẩn, xoăn lá virus ngay từ đầu.

 Vụ đông - Vụ đậu tương tăng vụ vùng đồng bằng và một số tỉnh ở Trung du, nằm

cho sâu bệnh phát sinh gây hại. Nếu không phòng trừ tốt sẽ làm ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Do đó công tác phòng trừ sâu bệnh cần tiến hành thường xuyên ngay từ đầu vụ. Thêm nữa vào thời kỳ chín, có thể có những đợt mưa dài gây thối quả hạt hoặc làm cho hạt nảy mầm ngoài đồng ruộng., cần thu hoạch kịp thời hoặc phòng chống úng, chống đổ cho đậu tương. Lưu ý vùng khu 4 để tránh gió Lào cần tranh thủ gieo sớm vào tháng 1 để khi đậu tương ra hoa tránh được gió khô nóng.

trong công thức: Lúa xuân – Lúa mùa sớm – Đậu tương đông. + Ưu điểm: không ảnh hưởng tới diện tích lúa, ít sâu bệnh, vốn đầu từ cho giống không nhiều có thể cạnh tranh được với ngô và khoai tây.

- Đất chuyên màu, thâm canh cao nhất thiết phải tiến hành làm đất. - Đối với những vùng luân canh với cây trồng có thể áp dụng phương

4. Chọn đất và làm đất - Đất có thành phần cơ giới nhẹ (đất cát pha, thịt nhẹ), pH thích hợp từ 5,5-6,5, đất chủ động tưới tiêu. Đất có pH <5,5 cần bón thêm vôi để cải tạo độ chua, đất mới trồng có thể bón bổ sung phân vi khuẩn. - Đất được cày bừa kỹ, tơi nhỏ đảm bảo độ ẩm, độ tơi xốp, sạch cỏ dại. - Cầy đất lúc đất có độ ẩm vừa phải, tránh cày lúc đất còn quá ướt, đất quá khô cần chờ đến khi đất đủ ẩm thiết mới tiến hành cày đất. - Lên luống cao 15-20cm, rộng 1,0-1,2m, trồng 3 hàng, rãnh:30-40cm S rộng: luống rộng 1,5m - trồng 4 hàng dọc. S hẹp: luống rộng 0,75 m Đất bãi có thể trồng thành từng băng rộng 2,5-3m thậm chí nếu đất bằng phẳng, thoát nước tốt có thể chỉ cần rạch hàng mà không cần lên luống. + Nhược điểm: nhiệt độ, ẩm độ, cường độ ánh sáng cũng giảm dần. Cây ra hoa sớm, hoa ít, quả ít và năng suất khá thấp. Thời kỳ chín thiếu nắng do đó khó khăn trong khâu phơi hạt giống. - Thời vụ: 20/9 đến 15/10, tuyệt đối không gieo muộn hơn. - Trong vụ đông, để tranh thủ thời vụ người dân nên áp dụng phương thức làm đất tối thiểu, không làm đất hoặc tiến hành làm bầu đậu tương. Sau khi gieo có thể tiến hành che phủ để giữ ẩm cho đất (trên những chân ruộng dễ mất ẩm) và hạn chế cỏ dại. Tùy từng địa phương, tùy từng điều kiện cụ thể có thể sử dụng các loại vật liệu che phủ như: nilong, thân xác cây ngô và cây phân xanh, che phủ bằng rơm rạ. - Giống đậu tương sử dụng cho vụ này là những giống có khả năng chịu rét tốt như: DN42, VX93, D140,... Cần chú ý phòng trừ giòi đục thân sớm khi cây mới mọc. thức làm đất tối thiểu hoặc không làm đất.

9

7/18/15

Không làm đất

- Đây là biện pháp đã được ứng dụng đối với những vùng ruộng vẫn còn nước và ruộng đã khô nhưng không đủ thời gian làm đất. - Đậu tương có thể được gieo thẳng xuống ruộng lúc đất còn ẩm (độ ẩm khoảng 70-80% độ ẩm đồng ruộng) Làm đất tối thiểu - Trước khi gặt lúa 4-5 ngày cần tháo kiệt nước ruộng. Gặt lúa xong đất còn đang ẩm (độ ẩm 75-80%) tiến hành lên luống và gieo ngay. - Đất quá khô cần tát thêm nước vào ruộng, ngâm qua đêm cho đất ẩm để hôm sau làm đất gieo ngay. - Tiến hành che phủ hạt bằng cách dùng liềm, dao có cán dài đi cắt, - Chú ý: cần thu hoạch lúa sát đất, tránh để gốc rạ cao quá sẽ che lấp ánh sáng khi cây còn non. phạt gốc rạ để lấp kín hạt, cũng có thể dùng máy Bông Sen lắp bánh lồng và bàn trượt chống lún chạy một lượt để đè gốc rạ lấp kín hạt đậu. - Tiến hành chia luống rộng từ 1,2-1,5m (khoảng 5-7 hàng lúa). Sau đó

tạo rãnh thoát nước giữa các luống và xung quanh ruộng. Vét hết đất ở rãnh lên trên mặt luống tạo rãnh tưới, tiêu, dùng tay nhấn úp gốc rạ và san phẳng mặt luống.

- Những vùng đất thoát nước độ ẩm đất dưới 70% có thể tiến hành phương pháp chọc lỗ bỏ hạt hoặc thả trực tiếp hạt vào gốc rạ tuy nhiên cần tiến hành tạo rãnh thoát nước sao cho khoảng cách luống từ 1,2-1,5m sau đó mới tiến hành gieo hạt trực tiếp vào gốc rạ, mỗi gốc rạ gieo khoảng 2-3 hạt và dùng đất bột trộn với phân chuồng hoai mục hoặc tro bếp để phủ lấp hạt. - Dùng thước gỗ hoặc mép đòn gánh thẳng ấn rạch hàng ngang trên mặt luống cách nhau 30-35cm, sâu 2-3cm để gieo hạt (lượng hạt giống khoảng 2,5-3,0 kg/sào Bắc Bộ). - Mật độ khoảng cách bỏ hạt cần tùy theo giống, thời vụ và trình độ - Trường hợp đất đã cứng dùng cuốc rạch hàng để gieo hạt, khoảng thâm canh. cách hạt cách hạt 4-5cm (gieo 1 hạt trên hốc), khoảng cách 10-12cm (gieo 2 hạt trên hốc). - Sau khi gieo xong dùng đất bột trộn với phân chuồng hoai, tro bếp, trấu để rắc phủ lên hạt.

5. Mật độ, khoảng cách a) Cơ sở xác định mật độ, khoảng cách trồng Xác định mật độ, khoảng cách trồng hợp lý tạo mối tương quan tốt giữa các cá thể và cho quần thể năng suất cao nhất. Kỹ thuật làm mạ đậu tương

- Đặc điểm của giống đậu tương: Những giống có thời gian sinh trưởng dài, phân cành nhiều, góc độ phân cành rộng thì trồng thưa. Ngược lại giống có thời gian sinh trưởng ngắn, ít cành, góc độ cành và lá hẹp nên trồng dầy. - Làm mạ đậu tương vào thời kỳ lúa xuân đỏ đuôi chuẩn bị thu hoạch. - Tiến hành làm mạ trên nền cứng như trên sân xi măng hay bờ ruộng sau khi đã dọn sạch cỏ dại, gần nguồn nước, để tiện vận chuyển. - Vét bùn rồi trải trên nền đã chuẩn bị sẵn, độ dày lớp bùn khoảng 1-

2cm, có thể trộn bùn với phân chuồng hoai mục theo tỷ lệ 3/1 sau đó đợi bùn se lại rồi kẻ ô vuông có cạnh 4-5cm, trong một ô gieo từ 3-5 hạt đậu tương.

- Đợi khi gặt lúa xuân xong bứng các bầu này mang gieo trồng. Cách làm này có thể tranh thủ thời gian sinh trưởng cho đậu tương khoảng 7-9 ngày, không được để lâu hơn nữa do bộ rễ phát triển mạnh, dễ bị đứt khi bứng trồng. - Thời vụ trồng: Vụ nào có điều kiện khí hậu nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng thích hợp với yêu cầu sinh thái của cây đậu tương thì trồng thưa và ngược lại. Vụ xuân và vụ hè cây sinh trưởng mạnh, chiều cao lớn, phân cành nhiều, hoa quả cũng nhiều hơn vụ đông nên trồng thưa hơn vụ đông. Nếu gieo dày năng suất sẽ giảm do chỉ số diện tích lá cao, có sự che khuất giữa các tầng lá, hiệu suất quang hợp giảm, hạn chế tích lũy vật chất, thân vống lốp, hoa quả ít. Vụ đông nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng giảm dần, cây sinh trưởng yếu nên gieo dày hơn. - Đặc điểm đất đai: Đất giàu dinh dưỡng trồng thưa hơn đất nghèo dinh dưỡng, đất chủ động độ ẩm trồng thưa hơn đất khô hạn; đất thịt nhẹ phù sa ven sông trồng thưa hơn đất bạc màu.

- Trình độ thâm canh: Nơi có điều kiện thâm canh: đủ phân bón, tưới tiêu chủ động, phòng trừ sâu bệnh tốt thì trồng thưa; canh tác thủ công trồng dày hơn canh tác bằng cơ giới.

- Vụ hè: + Giống chín muộn: 25 cây/m2, khoảng cách 40 cm x 10 cm (1 cây/hốc)

b) Mật độ, khoảng cách cụ thể - Vụ xuân: + Giống chín sớm: 50 -55 cây/m2, khoảng cách 30-35 cm x 5-6 cm (1 6. Chuẩn bị hạt giống và gieo hạt đậu tương a) Lượng hạt giống: - Trung bình cần 1,8 – 2,2 kg/sào BB (≈ 50-60 kg/ha), có thể tăng thêm cây/hốc); 30-35 cm x 10-12 cm (2 cây/hốc). + Giống chín trung bình: 40-45 cây/m2, khoảng cách 35-40 cm x 6-7 cm 5-6 kg /ha với giống hạt lớn, với giống hạt nhỏ có thể ít hơn. - Tính lượng hạt cần tính đến: tỷ lệ nảy mầm, tình hình sâu bệnh hại (1 cây/hốc); 35-40 cm x12-15 cm (2 cây/hốc) nhằm tính toán lượng hạt dự trữ để dặm kịp thời.

hoặc 40 cm x 20 cm (2 cây/hốc). + Giống chín sớm: 40-45 cây/m2, với khoảng cách 30-35 cm x 5-6 cm (1 cây/hốc) hoặc 30-35 cm x 10-12 cm (2 cây/hốc). + Giống chín trung bình: 35-40 cây/m2, khoảng cách 35-40 cm x 8-10 - Sử dụng giống có tỷ lệ nảy mầm cao, đồng đều không có mầm bệnh. Hạt giống đảm bảo chất lượng cần có tỷ lệ nảy mầm lớn hơn 85% - Không nên sử dụng hạt có thời gian bảo quản quá lâu, tối đa 3 tháng. - Hạt giống sau khi thu hoạch có thể gieo ngay, tỷ lệ nảy mầm rất cao. Hạt giống có thời gian bảo quản quá lâu cần tiến hành ngâm ủ sau - Trong trường hợp hạt giống bị nhiễm nấm bệnh có thể tiến hành một cm (1 cây/hốc) hoặc 35-40 cm x 16-20 cm (2 cây/hốc).

- Vụ đông: + Giống chín sớm: 55-60 cây/m2 + Giống chín trung bình: 45-50 cây/m2 Nhìn chung: + Giống chín muộn: - 5 cây, chín sớm: +5 cây + Vụ đông: + 5 cây, vụ hè: - 5 cây + Giống phân cành khỏe: - 5 cây, phân cành thưa: +5 cây

trong các biện pháp sau đây để khử mầm bệnh trên hạt giống: + Ngâm nước ấm (3 sôi + 2 lạnh, nhiệt độ: 50-52oC) trong 15 phút + Ngâm hạt trong nước muối 5% trong vòng 15 phút. + Sử dụng các loại thuốc trừ nấm như Zineb hoặc Mancozeb với liều lượng 100g/10kg hạt, trộn đều với hạt giống trước khi gieo

10

7/18/15

- Gieo lúc trời ấm áp, nhiệt độ 18-30oC. Nếu trời rét cần gieo sâu và

- Không gieo khi nhiệt độ dưới 10oC, có sương muối hoặc khi trời

- Hạt giống đã ngâm ủ khi gieo đủ ẩm, độ ẩm cao quá gây thối mầm,

7. Kỹ thuật bón phân Để đạt được 1 tấn hạt đậu tương cùng với thân lá, cây lấy từ đất: 81kg N, 17kg P2O5, 35kg K2O, 8kg MgO, 24kg CaO, 3kg S, 366g Fe, b) Gieo hạt giống: - Sau khi làm đất, lên luống xong đất còn ẩm cần tiến hành gieo ngay. - Rạch hàng, độ sâu 3-5cm, bón lót đầy đủ, lấp đất che kín phân rồi tiến 90g Mn, 6g Zn, 25g Cu, 39g B, 7g Mo,… hành gieo hạt. - Gieo 1-2 hạt/hốc, gieo xong lấp một lớp đất mỏng trên bề mặt cho kín hạt. Độ sâu lấp hạt có thể thay đổi tùy theo thời vụ: - Với phương thức làm đất tối thiểu có thể tiến hành gieo vãi hoặc gieo hạt trực tiếp vào gốc rạ như đã giới thiệu ở trên. a) Dinh dưỡng đạm: - Cây hút đạm tăng dần và nhiều nhất TK hoa rộ - quả mẩy - Thiếu đạm lá xanh vàng, dễ rụng, phiến lá nhỏ, cây còi cọc. - Thời kỳ ra hoa tạo quả, thiếu đạm tỷ lệ đậu hoa, đậu quả giảm nhiều, lấp đất kỹ nóng, độ ẩm không khí thấp. hạt lép, năng suất hạt giảm thấp. - Cây có khả năng tự tổng hợp đạm: Bình quân 40-50 kg N/ha, đóng góp 50-75% nhu cầu. Đất trồng đậu tương lâu năm 90-95%, đất mới trồng đậu tương:15-20% độ ẩm quá thấp đất sẽ hút nước từ hạt giống sẽ bị thui mầm. - Bón lót đầy đủ đặc biệt phân chuồng và phân lân nếu thời tiết lạnh,

Các nguồn dinh dưỡng đạm của đậu tương: + Đạm sinh học từ nốt sần: NH4+ + Từ đất dưới dạng NO3-, → Nguồn đạm từ phân bón: bón vào đất hoặc phân bón lá - Hiệu suất sử dụng đạm: 4-6 kg đậu tương/1 kg N

b) Dinh dưỡng lân: - Có tác dụng xúc tiến phát triển bộ rễ và hình thành nốt sần, cũng như các cơ quan sinh sản (hoa, quả, hạt,... ). - Cây hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng, nhưng chủ yếu vào thời * Phân vi khuẩn cố định đạm (Nitragin): - Có hiệu quả với đất bạc màu, đất chua, đất chưa trồng đậu tương bao giờ, đất cấy lúa ngập nước nay trồng đậu tương để cải tạo. Xử lý phân vi khuẩn trên đất tốt, giàu đạm, đất trồng đậu tương nhiều vụ hiệu quả kém hoặc không mang lại hiệu quả. kỳ đầu. Giai đoạn sau lân chuyển từ thân lá về quả và hạt.

- Một lượng vi khuẩn nốt sần Rhizobium Japonicum sẽ được nhiễm vào hạt giống trước khi đem gieo bằng cách trộn chế phẩm vi sinh với hạt giống trước khi gieo hoặc tưới phủ sớm khi cây mọc. - Hoặc trộn đều chế phẩm với đất nhỏ tơi, sau đó đem rắc đều vào luống trước khi gieo hạt. - Có thể đem chế phẩm ủ hoặc trộn với phân chuồng hoai, sau đó bón đều vào luống rồi gieo hạt - Thiếu lân cây còi cọc, sinh trưởng chậm, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên, lá màu xanh tối, mặt lá có những chấm nâu. Thiếu lân nghiêm trọng thân có màu vàng, rễ có màu nâu, thưa hoa ít quả. - Hiệu suất bón lân là khá cao từ 7-10 kg đậu tương/1 kg P2O5. c) Dinh dưỡng Kali: - Kali có vai trò quan trọng trong trao đổi đạm, chuyển hóa gluxit, điều - Cũng có thể hòa chế phẩm vào nước sạch rồi tưới trực tiếp vào cây hay vào đất (thường gọi là phương pháp tưới phủ sớm). hòa cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng khả năng hình thành các mô cơ giới, tăng tính chống chịu bệnh, chịu lạnh và chống đổ. - Cây hút Kali trong suốt quá trình sinh trưởng, nhiều nhất TK ra hoa. Thời kỳ cuối Kali chuyển từ thân lá về hạt. - Ngoài Nitragin chế phẩm vi sinh vật cố định đạm còn có nhiều tên gọi khác: Ridafo, Rhizobin, Rizolu, Azotobacterin, Flavobacterin,… - Xử lý phân vi khuẩn khi đất đủ ẩm, tơi nhỏ, pH gần trung tính, đủ lân. - Thiếu Kali mép lá bị cháy trong khi gân lá vẫn xanh, hình thành quả không hạt, thời gian thu hoạch kéo dài. - Thiếu Kali nốt sần khó hình thành và phát triển, cây không cố định Điều kiện trời nóng cần tăng liều lượng phân bón lên gấp 2 đến 3 lần so với bình thường (2 kg/ha). Khi xử lý phân vi khuẩn cũng cần chú ý lấp kín đất tránh để chế phẩm tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm giảm hiệu lực. được đạm, nấm bệnh dễ xâm nhập làm cho cây yếu. - Hiệu suất sử dụng Kali là từ 7-9 kg đậu tương/ 1kg K2O

N

K

P

Mg

Fe

Zn

d) Dinh dưỡng Canxi và các nguyên tố vi lượng khác: - Canxi có tác dụng điều chỉnh pH đất, cung cấp Canxi cho cây. Ở miền Bắc các loại đất lúa, đất đồi nương phần nhiều là đất chua và ở miền Nam các loại đất Bazan, đất xám, đất phèn,... muốn trồng được đậu tương đều phải bón vôi. Thiếu Canxi, trước khi ra hoa mép lá đơn có màu đen về sau mép lá có những vết xanh tối hoặc xanh vàng. Khi ra hoa tạo quả, thiếu Canxi lá xanh vàng hoặc tím nhạt, lá rụng nhiều. - Molipden (Mo): Mo cần cho sự tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat. Loại men này khử Nitrat thành Amonium trong cây. Mo có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp đạm do cộng sinh với vi khuẩn nốt sần. Mo cũng cần thiết cho việc chuyển hóa lân. Khi thiếu Molipden quá trình trao đổi đạm bị gián đoạn, lá dễ bị trắng. Mo trở nên hữu dụng khi pH tăng, do đó hiện tượng thiếu Mo thường xảy ra ở đất chua, đất nhẹ thường dễ bị thiếu hơn đất nặng. - Kẽm (Zn): Kẽm là một trong số nguyên tố hạn chế năng suất cây

trồng, thiếu kẽm năng suất sẽ giảm. Kẽm hỗ trợ cho sự tổng hợp các chất sinh trưởng và các hệ thống men và cần thiết cho sự tăng cường một số phản ứng trao đổi chất trong cây. Nó cần thiết cho sự sản xuất diệp lục và các hydratcabon. Thiếu Zn lá có màu đồng, lá nhỏ, gây đình trệ sinh trưởng.

11

7/18/15

Bón phân cân đối và hợp lý cho đậu tương Quy trình chung bón phân cho đậu tương - Tuỳ từng vùng mà lượng lân và kali có thể khác nhau, song đây là những nguyên tố không thể thiếu trong cân đối dinh dưỡng cho đậu tương. Về tổng thể, đậu tương cần bón ít đạm hơn lân và kali.

- Đạm và kali có tác dụng tương hỗ khá rõ trong dinh dưỡng đậu tương. Nếu bón riêng rẽ, đạm chỉ cho bội thu 1,4 tạ/ha, trong khi đó cũng bón lượng đạm như vậy lại cho bội thu 2,3 tạ/ha trên nền bón cả lân và kali. Một quy luật tương tự cũng thấy với kali. Bón riêng rẽ, kali cho bội thu 1,4 tạ/ha trên nền đạm cho bội thu 4,3 tạ/ha. Tương hỗ đạm lân thấp hơn so với đạm kali. - Tuy đạm và kali có hiệu lực cao với đậu tương song việc bón phân liều lượng cao đều làm giảm hiệu quả phân bón. - Nhìn chung mức bón tối đa cho đậu tương là 40 kg N (tương đương - Lượng bón cho 1ha trồng đậu tương: 5-8 tấn phân chuồng 30-40 kg N (tương đương: 65-90 kg urê) 60-90 kg P2O5 (tương đương: 300-450 kg supelân) 60-90 kg K2O (tương đương: 100-150 kg KCl) Đất chua có thể bón thêm 300-500 kg vôi bột/ha - Thời điểm và kỹ thuật bón: + Bón lót: 100% PC + 100% lân + 1/2 N + 1/2 K2O+ (Phân vi sinh,vôi). Toàn bộ lượng phân hóa học được trộn đều và bón vào hàng đã rạch sẵn, sau đó bón phân chuồng, lấp một lớp đất nhẹ phủ kín phân rồi mới gieo hạt để tránh hạt tiếp xúc với phân làm giảm sức nảy mầm 87 kg urê/ha hay 3 kg/sào Bắc Bộ) và 60 kg K2O (100 kg kali clorua/ha hay 3-4 kg/sào).

- Công thức bón phân cân đối cho đậu tương thay đổi theo vùng, + Phổ biến: 30 N: 90 P2O5: 90 K2O. + Đất bazan: 30 N: 60 P2O5: 60 K2O + Đất bạc màu: 20 N: 60 P2O5: 60 K2O + Đất xám: 30 N: 90 P2O5: 60 K2O + Đất nhẹ: 30 N: 90 P2O5: 60 K2O

+ Bón thúc: 1/2 N + 1/2 K2O Trộn đều bón vào hàng đã rạch sẵn sau đó lấp đất chặt để tránh phân đạm bốc hơi và rửa trôi khi gặp mưa, có thể hòa phân tưới cho cây.

-

- Việc tỉa dặm chỉ áp dụng khi tỷ lệ mọc mầm kém, do chất lượng hạt

- Trong trường hợp này, khi gieo có thể dự trù và gieo với lượng hạt giống nhiều hơn so với yêu cầu khoảng 10%, hoặc có thể để dặm sau khi hạt mọc mầm.

- Nếu mật độ quá dày cần tỉa bớt cây để đảm bảo mật độ khoảng cách

8. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh a) Tỉa dặm Ít được làm do tỷ lệ mọc mầm của hạt giống khá cao, cây có khả năng phân cành bù sản lượng Đối với đất chua bón thêm vôi bột với lượng 300-500 kg vôi bột/ha. Có thể bón thêm phân vi lượng: Mo, Bo, Cu, Zn…Phun từ 1-2 lần vào thời kỳ đậu tương ra hoa. Ngoài ra bón phân vi khuẩn đối với vùng đất chưa trồng đậu tương bao giờ, nghèo vi khuẩn. giống hoặc điều kiện bất thuận (mưa, nắng nóng, khô hạn).

tránh hiện tượng tranh chấp dinh dưỡng.

b) Xới vun - Nên xới xáo ít nhất 2-3 lần trong vụ từ khi cây có 2-3 lá thật cho đến Tại các vùng sản xuất đậu tương trên đất hai vụ lúa tại các tỉnh như: Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, các tỉnh vùng Đông Nam Bộ,.....thường áp dụng các biện pháp làm đất: làm đất tối thiểu hoặc không làm đất, do đất ướt không bón lót được nên phải bón thúc kịp thời. Bón bằng cách hoà vào nước rồi tưới cho cây làm 3 lần: + Lần 1, khi cây có 2 lá đơn, bón 1/3 phân đạm và 1/2 phân lân. + Lần 2, khi cây có 2 - 3 lá kép, bón 1/3 phân đạm, 1/2 phân lân và 1/2 khi đậu tương ra hoa. Sau khi ra hoa không nên xới vun nữa làm ảnh hưởng đến bộ rễ, khi xới tránh làm tổn thương vùng cổ rễ phân Kali. - Xới vun lần 1: thời kỳ 2-3 lá, làm tơi xốp đất, kết hợp bón thúc lần 1, + Lần 3, sau khi gieo 28 - 30 ngày, bón 1/3 phân đạm, 1/2 phân kali. trừ cỏ dại và vun nhẹ chống đổ cho cây. - Xới vun lần 2: Trước khi đậu tương ra hoa, sau lần 1 khoảng 15-20 ngày. Xới nặng tay, sâu 5-7cm, kết hợp vun cao chống đổ, trừ cỏ dại. Tùy theo tình hình như mưa nhiều, đất đóng váng mà có thể xới lần 3.

d) Phòng trừ sâu bệnh * Bệnh sương mai đậu tương:

Bệnh do nấm Peronospora manshurica gây ra, ở nước ta và các nước

c) Tưới và tiêu nước - Tưới nước cũng cần căn cứ vào từng thời vụ: vụ xuân thường khô

hạn vào thời kỳ đầu, vụ đông cuối vụ vào thời kỳ ra hoa đến làm quả cũng gặp hạn, vụ hè nằm trong mùa mưa, tưới nước ít đặt ra mục tiêu lớn mà tiêu nước là chủ yếu.

thuộc Đông Nam Á bệnh gây hại mạnh, Bệnh làm ảnh hưởng đến quang hợp và gây giảm năng suất. Triệu chứng bệnh: Bệnh xuất hiện ở thời kỳ cây trưởng thành, gây hai trên lá, thân, quả và hạt. Trên lá vết bệnh là các vết đốm màu xanh vàng không định hình nằm rải rác ở mặt trên của lá. Vết bệnh có thể nằm dọc các gân lá, có màu nâu vàng gây cháy khô lá. Cây bị bệnh nặng, vết bệnh lan sang quả và xâm nhiễm vào hạt. Ở mặt dưới lá bệnh và bên trong quả bị nhiễm bệnh có lớp mốc trắng xám, hạt bị nhiễm bệnh thường bị lép và có một lớp bột màu trắng ở trên bề mặt hạt. Hàm lượng dinh dưỡng trong hạt cũng bị giảm sút. Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh thường phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ khoảng 20oC. Bệnh gây hại nặng từ tháng 3 đến tháng 5 ở vụ đậu tương xuân vào giai đoạn cây có 4-5 lá kép. Năng suất có thể giảm 10% nếu không phòng trừ kịp thời. Biện pháp phòng trừ: Cần chọn giống sạch bệnh, nguồn giống cần được kiểm nghiệm trước khi gieo trồng. Xử lý hạt giống, tiêu hủy và dọn sạch tàn dư cây bệnh sau khi thu hoạch. Khi bệnh xuất hiện cần phun thuốc phòng trừ bằng Boocdo 1%, Oxyclorua đồng 1%, Aliette 80WP 0,25%, Rhidomyl MZ 72BHN (2,5-3 kg/ha), Rhidomyl 5g (10-14 kg/ha).

- Tưới khi độ ẩm đất giảm xuống đến 55-60% độ ẩm tối đa đồng ruộng. - Tưới trước khi gieo: + Vùng có điều kiện có thể ngâm ruộng, + Vùng khô hạn nhờ nước trời, đất khô tưới theo các hàng trước khi gieo, nhờ đó tăng được phần nào độ ẩm đất, nhưng nói chung chỉ gieo hạt độ ẩm đất đảm bảo cho hạt mọc mầm được - TK sau khi gieo, TK ra hoa - kết quả, tưới rãnh hoặc tưới ngập 1/3 – 2/3 rãnh tưới, rồi rút nước khi đất đủ ẩm và sau đó phải phá váng.

- Nếu có mưa: + < 10mm phải tưới đầy đủ mức tưới. + >10-15mm phải tưới thêm 1/2 mức tưới. + >15mm coi như một lần tưới. - Vùng khó khăn tưới đẫm: TK mọc và TK hình thành quả - hạt. - Sau khi mưa to, phải tiêu nước ngay (không để quá 24 giờ). Nếu không thối rễ, hạn sinh lý, rụng hoa, rụng quả.

12

7/18/15

* Bệnh thán thư đậu tương: Bệnh do nấm Colletotrichum trunctum gây ra, gây hại làm giảm chất lượng hạt

(hàm lượng axit amin giảm).

* Bệnh gỉ sắt đậu tương: - Bệnh do nấm Phakopsora sojae Saw gây ra. Bệnh gây hại nặng nhất trên lá, có thể hại trên thân cành và quả. Lúc ban đầu ở mặt dưới lá, vết bệnh hình thành dưới dạng những chấm nhỏ màu vàng trong. Sau đó, vết bệnh nổi lên trên mặt lá có màu vàng nâu, biểu bì lá nát để lộ bào tử có màu vàng (màu gạch non). Cây bị bệnh khiến lá sớm bị vàng, lượng diệp lục giảm nhanh chóng, cường độ quang hợp và sự trao đổi chất trong cây giảm, năng suất và phẩm chất đậu tương bị giảm sút nghiêm trọng.

- Triệu chứng bệnh: Giai đoạn cây con vết bệnh là các vết đốm màu nâu ướt, hơi lõm trên lá mầm và phát triển xuống thân, lá mầm bị bệnh thường rụng sớm. Bệnh nặng thường gây chết cây con. Vết bệnh trên lá thường biểu hiện các vết chết hoại có màu nâu đỏ trên gân lá, gây thối gân. Bệnh có thể hại trên phiến lá là các vết bệnh có hình bầu dục, màu nâu, hơi lõm, xung quanh có viền nâu đỏ, trên bề mặt vết bệnh có các chấm đen nhỏ. Lá bị bệnh thường quăn lại và dễ rụng. Trên thân cành, cuống lá và vỏ quả vết bệnh có màu nâu, vết bệnh thường bị bao phủ bởi các đĩa cành có màu nâu. Hạt bị nhiễm bệnh thưởng nhỏ, nhăn nheo, trên bề mặt hạt có các vết xám, sau chuyển sang màu nâu hoặc nâu đen. Cây bệnh phát triển kém, nếu nhiễm ở giai đoạn sớm cây không có khả năng phát triển quả. Một số cây bệnh trên thân và hạt có thể không mang triệu chứng nhưng nấm nhiễm hệ thống ở bên trong.

- Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao,

- Đặc điểm phát sinh phát triển: Các vụ trồng đều bị bệnh nhưng bệnh phát sinh và phá hại nặng nhất trong vụ đậu tương xuân. Các vụ đông, hè thu bệnh nhẹ hơn. Ở vụ xuân khi bệnh nặng chỉ còn thu hoạch từ 0,8-2,5 tạ/ha, trong khi bình thường năng suất đạt 5-8 tạ/ha. Vụ đông thời tiết lạnh, vụ hè và hè thu nhiệt độ cao nấm khó hình thành bào từ và khó thực hiện nảy mầm, xâm nhiễm vì vậy bệnh hại nhẹ hơn. Cao điểm của bệnh tập trung vào tháng 3, tháng 4 khi nhiệt độ đạt trên 18-20oC và cây có từ khi 5 lá kép đến khi thu hoạch quả. Bệnh có thể kéo dài tới tháng 5 làm lá cây rụng hàng loạt, ruộng đậu tương vàng rực màu lá bệnh.

Các giống đậu tương nhiễm bệnh cao là các giống: AK03, DT84. Các

- Trong giai đoạn sinh trưởng từ cây mọc tới chớm hoa ít bị bệnh Từ ra hoa đến thu hoạch quả là lúc bệnh phát triển nhanh nhất trên lá bánh tẻ và lá già. Các giống đậu tương trồng ở nước ta đều bị nhiễm bệnh nhưng mức độ khác nhau. Các giống ít bị nhiễm hoặc nhiễm muộn hơn hiện nay là: M103, DT93, DT84, AK03, AK05, VX93,... Giống bị nhiễm nặng nhất là V74.

Biện pháp phòng trừ: Cần xử lý hạt giống bằng một số thuốc hóa học như

- Biện pháp phòng trừ: Chọn giống chống chịu bệnh và sản xuất giống sạch bệnh; luân canh với các cây thuộc họ hòa thảo; xử lý giống bằng Bayphidan 10-15 g. a.i/tạ hạt giống hoặc 200 g/tạ hạt. Có thể phun thuốc hạn chế bệnh bằng các loại thuốc trừ gỉ sắt, đặc biệt như Baycor 25WP 0,1% (0,15-0,25 kg a.i/ha), Bayleton 25EC (25WP) 120-250 g/ha, ...

nhiệt độ khoảng 28oC. Miền Bắc, bệnh phát triển từ tháng 4 - 6, gây hại mạnh ở giai đoạn phát triển quả tới khi thu hoạch. Bệnh phát triển mạnh trên những ruộng trồng với mật độ dày, trồng liên tiếp nhiều vụ. Bệnh phát triển mạnh ở vùng có mưa nhiều, bón phân không hợp lý. giống nhiễm ở mức thấp hơn ĐT22, DT90, ĐT93. Thiram, Captan, Benomyl; vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy tàn dư cây bệnh; bón canxi và kali cũng hạn chế được bệnh; khi bệnh phát triển sớm cần phun thuốc hóa học Benomyl, Cacbenzym, Mancozeb vào giai đoạn hình thành quả. Có thể sử dụng biện pháp sinh học, dùng các chế phẩm từ loài nấm đối kháng như Glicoladium roseum, Trichoderma viridae, Penicillium thomi để xử lý hạt giống cũng làm giảm tỷ lệ bệnh.

* Bệnh đốm lá vi khuẩn hại đậu tương: Bệnh đốm gỉ do vi khuẩn Xanthomonas phaseoli pv. sojense và bệnh đốm góc vi

khuẩn Pseudomonas glycinea gây ra.

* Bệnh khảm lá đậu tương: Bệnh do loài virus Soybean mosaic virus – SMV gây ra. Thiệt hại về năng suất có thể lên đến 50% thậm chí 90%. Bệnh có thể truyền qua hạt giống làm giảm chất lượng hạt giống.

- Triệu chứng bệnh: Bệnh thay đổi phụ thuộc vào giống, giai đoạn sinh trưởng của

- Triệu chứng bệnh: + Bệnh đốm gỉ: Bệnh hại trên lá, triệu chứng bệnh xuất hiện ở dạng đốm nhỏ nổi trên mặt lá như các mụn loét nên trông rất dễ nhầm lẫn với bệnh gỉ sắt đậu tương.

+ Bệnh đốm góc: Triệu chứng bệnh thể hiện ở trên lá là những vết đốm nhỏ lúc

đầu ngậm nước trong giọt dầu, vàng nhạt, về sau chuyển sang màu nâu đen, vết bệnh có góc cạnh, không đều đặn. Nhiều vết bẹnh liền nhau, chi chít trên phiến lá.

cây và điều kiện ngoại cảnh. Trên lá sò vết bệnh có dạng khảm, trên lá thật triệu chứng bệnh thể hiện rõ các vết bệnh xanh đậm và xanh nhạt xen kẽ nhau, lá cây bị bệnh thường nhăn nheo, mép lá cong xuống, lá bị biến dạng. Đôi khi trên lá bệnh xuất hiện vết xanh đậm, hoặc các vết chết hoại chạy dọc theo gân chính. Cây bị bệnh thường lùn hơn cây khỏe và thường bị chín sớm. Số lượng nốt sần trên cây bệnh thường giảm nên vai trò cố định đạm giảm, rễ cây thường bị thối đen. Ở những giống mẫn cảm cây có thể bị chết. Bệnh gây hại trên quả làm quả đậu bị biến màu nâu, cong queo hạt lép. Hạt đậu tương bị nhiễm bệnh có các vết màu nâu hoặc tím hình chân chim thể hiện rõ trên vỏ.

- Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh đốm lá vi khuẩn phát sinh phát triển thuận lợi trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Nhiệt độ thích hợp nhất để bệnh phát triển từ 26-30oC.

Bệnh phát sinh gây hại ở tất cả các thời vụ trồng đậu tương, mức độ nhiễm ở mỗi

thời vụ có khác nhau. Vụ đậu tương xuân và hè thu, bệnh thường phát sinh gây hại nặng. Còn ở vụ đậu tương đông thì bệnh thường phát sinh gây hại nhẹ hơn.

Hầu hết các giống đậu tương đang gieo trồng đều có thể nhiễm bệnh, bệnh có xu hướng phát sinh gây hại nặng trên những giống đậu tương nhập nội, lai tạo có năng suất cao. Tuy nhiên nguồn bệnh của hai loài vi khuẩn gây bệnh thường chủ yếu tồn tại trên hạt giống và tàn dư cây bệnh, vi khuẩn không truyền qua đất vì nó rất nhanh bị chết trong đất khi tàn dư đã hoai mục.

- Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng bằng cách thu dọn sạch tàn dư các bộ

- Đặc điểm phát sinh phát triển: Virus gây hại có thể tồn tại và lan truyền qua hạt giống hoặc truyền qua các loài rệp muội theo kiểu không bền vững. Virus có phạm vi ký chủ rộng, phát triển mạnh trên cây đậu tương trồng vào vụ đông và vào giai đoạn cây ra hoa và hình thành quả. Bệnh gây hại nặng trên những ruộng đậu tương chăm sóc kém, bón nhiều đạm hoặc bón phân không cân đối. - Biện pháp phòng trừ: Sử dụng giống chống bệnh, giống sạch bệnh. Lấy giống từ vùng không bị bệnh, chọn lọc giống, loại bỏ hạt mang triêu chứng bệnh. Trồng xen với cây trồng không phải là ký chủ của rệp.Phun thuốc hóa học phòng trừ rệp, hoặc bẫy rệp bằng các bẫy dính màu vàng. Có thể dùng biện pháp sinh học, sử dụng các chủng virus nhược độc để lây bệnh cho cây con, tạo khả năng kháng bệnh đối với chủng virus gây hại có độc tính cao.

phận bị bệnh trên đồng ruộng. Chọn lọc, sử dụng những hạt giống khỏe, không lấy hạt ở những cây bị bệnh để làm giống. Cần phải chọn lọc và sử dụng những giống đậu tương có khả năng chống chịu với bệnh đốm lá vi khuẩn để gieo trồng cho phù hợp với mỗi thời vụ và các vùng sinh thái trồng trọt.

* Sâu xám (Agrotit. YP silon):

* Bệnh lở cổ rễ Bệnh do nấm Fusarium solani fsp. phaseoly gây ra. Bệnh gây hại ở tất cả các

vùng trồng từ đồng bằng, trung du cho tới miền núi. Bệnh phá hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng nhưng chủ yếu vào thời kỳ cây con.

Phá hại nặng vụ xuân, vào thời kỳ cây con, thường cắn ngang thân. Phòng trừ bằng cách: làm đất kỹ để diệt trừ nhộng và sâu non thường ẩn nấp ở độ sâu cách mặt đất 4-6cm. Có thể xử lý đất bằng thuốc hóa họcL Basudin, Padan 1%, Ofatox 0,1%,... diệt trừ sâu tuổi 1-3, với sâu tuổi lớn 4-5 tuổi tổ chức bắt vào buổi sáng sớm.

* Ruồi đục thân (Melana Gromyza Sofae):

Sâu trưởng thành là loài ruồi nhỏ, màu đen sáng phần bụng màu xanh óng

Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, có nhiều loại ruồi đục lá, đục thân, trong

- Triệu chứng bệnh: Bệnh hại vào thời kỳ cây con mới mọc gây héo và chết cây con. Vết bệnh lúc đầu chỉ là một chấm nhỏ, màu đen ở phân gốc sau đó lan nhanh bao bọc xung quanh cổ rễ làm cổ rễ khô tóp lại, cây gục xuống và chết nhưng thân lá vẫn còn màu xanh. Trên vết bệnh có lớp nấm màu trắng xám. Vết bệnh thối mục, có màu nâu đen ủng và lan nhanh khi gặp mưa. - Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ 25-28oC, độ ẩm đất cao, nóng lạnh bất thường. Bệnh phá hại mạnh trên những chân ruộng trũng, ứ đọng nước, đất bị đóng váng sau khi mưa. Nấm bệnh có phổ ký chủ rộng: đậu đỗ, cà chua, khoai tây, ngô, lúa,... Nấm gây bệnh có thể sống hoại sinh trong đất trên các tàn dư cây trồng.

- Biện pháp phòng trừ: Luân canh với lúa nước 2-3 năm để hạn chế tích lũy

ánh, mắt kép màu đỏ tối, gân cánh và chuỳ cánh đen. Trứng nở thành giòi phá hoại ở các bộ phận của cây như lá hoặc thân. đó loài gây hại nghiêm trọng nhất ở thời kỳ cây con là Melana Gromyza Sofae chiếm tới 70-80%. Cao điểm phá hại vào tháng 3, tháng 4 và tháng 10, tháng 11. Ruồi đục thân gây tác hại nặng nhất đối với đậu tương đông và thu đông. Cần phun thuốc sớm khoảng 5-7 ngày sau khi gieo, khi cây mới xuất hiện lá đơn. Sau lần phun thứ nhất 7-10 ngày phun tiếp lần 2. Các loại thuốc hiệu lực là Monito phun với nồng độ 0,1%, có thể xử lý đất bằng các loại thuốc như Basudin (3kg/ha) có thể giảm tỷ lệ bệnh xuống dưới 5%. Xử lý hạt bằng thuốc Oftanol (40gr/kg hạt) hoặc Gacho 70WS bón vào đất. Phun thuốc phòng trừ ruồi đục thân: Bitox 40EC 0,8-1l/ha, Regent 800WG 20-30 gr/ha, Selecron 500EC 0,8-1l/ha, Peran 50EC 200-400cc/ha. Không nên trồng liên tiếp các loại cây ký chủ của ruồi như đậu xanh, đậu đen, đậu cove,... mà cần luân canh với các cây trồng khác như lúa nước.

nguồn bệnh trong đất; cày sâu để chôn vùi hạch nấm, bừa đất kỹ, để ải, bón vôi để tiêu hủy nguồn bệnh trong đất; chọn hạt giống khỏe, sạch bệnh; gieo đúng thời vụ, không gieo quá sâu, mật độ vừa phải; phá váng sau khi mưa và xới xáo kịp thời, vun luống cao, thoát nước tốt. Bón lót phân chuồng hoai mục kết hợp với bón vôi. Bón thúc sớm lân và kali. Xử lý hạt giống trước khi gieo và phun thuốc phòng trừ khi bệnh xuất hiện. Có thể dùng các loại thuốc: Ridomil MZ 72WP 2,5-3,5 kg/ha, Topsin M (50-70WP) 50-100g thuốc/100 lít nước, Rovral 50WP 0,1-0,2%. Có thể sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma phòng trừ bệnh.

13

7/18/15

* Sâu hại lá:

* Sâu đục quả (Etiela Zinekenella):

Sâu phá hại khi cây có quả non (giai đoạn R4), hạt mới hình thành bị sâu

Sâu non đẫy sức dài khoảng 14mm, màu sắc cơ thể biến đổi theo độ tuổi, tuổi nhỏ có màu trắng hoặc xám xanh, tuổi trung bình màu xanh có vệt hơi đỏ, tuổi lớn có màu tím đỏ, bụng xanh, mảnh da ngực trước cứng và ở giữa có vân đen hình chữ “Y”, ở hai bên có chấm đen, ở giữa mép sau lại có một đôi chấm đen. đục không phát triển nữa. Khi hạt mẩy bị sâu đục sản lượng giảm, nhiều trường hợp khi thu hoạch sâu vẫn tiếp tục phá hoại (trong kho). Sâu phá hại lớn nhất ở vụ xuân sớm, vụ xuân hè và vụ thu ở Đồng bằng và Trung du Bắc bộ. Để trừ sâu non cần phun thuốc sớm khi cây có quả non bằng Fastas 5EC, Fortac 5EC, liều lượng 0,4-0,6 l/ha, Cyperkill 25EC, Prower 5EC 0,6-0,8 l/ha, Sumidin 20EC 0,8-1 l/ha, hoặc có thể dùng thuốc phun diệt bướm và sâu mới nở. Dùng biện pháp nông học như luân canh với cây trồng khác không phải ký chủ của sâu đục quả. Chọn thời vụ trồng hợp lý (ở đồng bằng miền Bắc, vụ xuân gieo vào 25/2, tỷ lệ sâu đục quả ít nhất, đồng thời ít bị bệnh gỉ sắt).

Bộ lá đậu tương rậm rạp, nếu bị một ít lá hầu như không gây ảnh hưởng đến năng suất, nhất là giai đoạn trước khi ra hoa. Ở giai đoạn cây ra hoa, làm quả và hạt, sâu hại lá gây hại lớn đến năng suất do chúng làm thấp bộ lá quang hợp, cũng như ảnh hưởng đến dòng vận chuyển vật chất từ lá về quả và hạt, gia tăng tỷ lệ lép của quả và hạt đậu tương, giảm tháp rõ rệt năng suất. Sâu hại lá phổ biến là sâu xanh (Heliothis Aramigera), sâu khoang (Prodenoa litura), sâu cuốn lá (Luaprosena indiedra), sâu ban miêu (Epicauta xantusi). Với sâu xanh, sâu khoang phòng trừ bằng bẫy bả chua ngọt bắt trưởng thành, ngắt ổ trứng. Dùng thuốc trừ sâu sinh học Abamectin 1,8EC, hoặc chế phẩm sinh học Bt, NPV phun lên cây vào giai đoạn ra hoa, quả non, khi sâu bắt đầu phát triển. Dùng thuốc hóa học khi sâu thành dịch: Monitor 50%, Rogor 40EC, Sevin 35% pha đều với nước tỷ lệ 1:100. Chú ý không luân canh đậu tương với cây trồng ký chủ của sâu này như bông. lạc, đậu rau,.... Với sâu cuốn lá đậu tương có thể trừ bằng cách luân canh đậu tương với lúa hoặc cây họ hòa thảo, bông,... có tác dụng hạn chế sâu hại rõ rệt. Bảo vệ và tăng cường hoạt động của thiên địch bằng cách trồng xen với cây trồng khác. Thời kỳ sâu gây hại nặng là thời kỳ đậu tương có 3-4 lá kép đến quả non, khi cần thiết dùng các loại thuốc có hiệu quả diệt sâu cao như Bulldock 25EC 0,8-1 lít/ha, Forvin 85WP 0,75-1 kg/ha, Karate 25EC 0,3-0,5 lít/ha, Baythroid 50EC 0,6-0,8 lít/ha.

* Sâu chích hút:

Bọ xít xanh (Nejaravinedula) chích hút lá ở thời kỳ quả mẩy làm quả lép, không chín được. Hạt bị bọ xít xanh chích hút khi gieo mọc kém, tỷ lệ mọc mầm bị giảm 50%. Về hình thái sâu trưởng thành có thể dễ dàng nhận biết: hình lá chắn, toàn thân màu xanh, phiến tiểu thuần có 3 chấm nhỏ. Bọ xít xanh phá hại cả lúa, ngô, lạc,... dễ phát triển thành dịch, cần phòng trừ kịp thời bằng cách dùng bẫy đèn thu bắt sâu bướm trưởng thành, diệt những ổ bọ xít mới nở hoặc vợt bắt trưởng thành, khi đậu bắt đầu ra hoa – quả non mà mật độ bọ xít 1-3 con/cây phun thuốc ngay với các loại thuốc như Cyper 25EC 0,6-0,8 l/ha, Perkill 50EC 0,1- 0,3 l/ha,Actara 25WG 50gr/ha, Superkill 50EC 1-2 lít/ha.

* Rệp (Aphismedicaginic):

Rệp non có thể có cánh hoặc không có cánh. Rệp có cánh cơ thể màu vàng, xanh nhạt hoặc xanh đậm, phần đầu và mảnh lưng trước màu đen, phần bụng hai bên có 3-4 chấm đen, phiến đuôi màu xanh. Rệp non không cánh: cơ thể có màu vàng chanh hoặc vàng, sang thu lại có màu xanh thẫm, hoặc màu đen, màu hồng nhạt, toàn thân phủ bụi xáp. Rệp là môi giới truyền bệnh virus khảm lá đậu tương, gây hại nặng ở vụ đậu tương hè, cần chú ý phòng trừ bằng cách: chặt bỏ cây chủ thân gỗ, cây dâm bụt,... tiêu diệt trứng qua đông và vệ sinh đồng ruộng khi gieo trồng đậu tương. Luân canh đậu tương với lúa nước và các cây khác ký chủ với rệp đậu tương. Tỉa cây sớm, nhổ bỏ cây bị rệp và chăm sóc làm cỏ kịp thời tạo điều kiện thông thoáng trong ruộng đậu tương.

Chương 4. Thu hoạch và bảo quản a) Thu hoạch - Đúng độ chín: 50% lá khô, vàng rụng khoảng 50%, cây khô vàng - Đúng lúc: nắng ráo, có thể dùng liềm cắt sát mặt đất, phơi khô cả thân cành sau đó đập tách và làm sạch hạt.

* Mọt đậu tương (Acanthoscelideb obtectus Say)

Mọt này phổ biến ở nhiều nước phá hoại hạt đậu tương trong quá trình

bảo quản gây thủng hạt, hỏng hạt, gây mùi khó chịu làm giảm chất lượng sản phẩm. Mọt trưởng thành có thân hình ovan dài, màu nâu đỏ, bụng có màu vàng đỏ, toàn thân phủ long nhung màu vàng kim hay vàng lục. Mọt có thể xẩm nhập ngay trên đồng ruộng khi quả bắt đầu vàng bằng cách đẻ trứng trên các khe nứt hoặc đường sống của quả. Trong kho mọt đẻ trứng lên vỏ quả hoặc lên bao bì đựng hạt. Để phòng trừ đối tượng sâu hại này cần kiểm tra chặt chẽ không để mọt lây lan tới khu vực bảo quản, khi phát hiện thấy mọt xuất hiện cần tiến hành khử trung kho kịp thời bằng thuốc bảo quản.

- Đập tách hạt bằng vồ hoặc sử dụng máy: ĐTG-0,5 hay ĐĐT-0,5. - Phơi hạt giống: + Không phơi trực tiếp trên sân gạch,sân xi măng. Hạt phơi tới khi khô giòn, cắn không dính răng (khoảng 2-3 nắng), độ ẩm khoảng 12%, + Vụ đông, đông xuân thiếu nắng, có mưa nhỏ. Thu hoạch bó thành từng bó phơi trên dây thép, hoặc để nơi thoáng mát cho khô dần.

+ Có thể áp dụng phương thức sấy hạt, tuy nhiên chi phí hơi cao Một số máy sấy chuyên dụng: SH1-200. SV500, BD-4, SN-400,... - Làm sạch: nhằm loại bỏ các tạp chất: vỏ quả, cành cây, bụi đất, sạn cát sỏi, sâu mọt, phân xác mọt,... cần đảm bảo tỷ lệ tạp chất < 1%. + Quy mô nông hộ: sử dụng dụng cụ thủ công: sàng, thúng, sảy hạt, có thể dùng thêm quạt máy hoặc quạt hòm hỗ trợ.

+ Quy mô công nghiệp: sử dụng máy tách tạp chất, phân loại hạt thành các loại: hạt sạch, chắc mảy hoàn thiện; hạt non, hạt kẹ, hạt nhọn, hạt nhăn; hạt vỡ, hạt nứt, cát bụi; rơm rác, thân cành, vỏ,...

Kỹ thuật bảo quản

b) Bảo quản Những nguyên nhân dẫn đến tổn thất sau thu hoạch: - Tính chất cơ lý: - Quy trình công nghệ bảo quản hạt giống đậu tương cũng khá đơn giản, có thể tóm tắt như sau: Thu hoạch quả → Làm khô sơ bộ (phơi) → Tách vỏ quả → Làm sạch → Phân loại → Làm khô bổ sung tới độ ẩm an toàn → Bảo quản (trạng thái khô, kín).

- Khái niệm độ ẩm an toàn của hạt để bảo quản: Độ ẩm an toàn của hạt là độ ẩm dưới mức giới hạn làm hư hỏng hạt. Đậu tương có tỷ lệ dầu cao, do đó độ ẩm an toàn trong bảo quản cần:

Hầu hết các tính chất vật lý như độ chảy rơi, tính tự phân loại, tính hút nhả ẩm, nhả khí, tính trao đổi nhiệt, đều phụ thuộc vào độ ẩm của hạt và có liên quan đến quá trình bảo quản. Hạt ẩm tính dẫn nhiệt cao, hạt khô tính dẫn nhiệt thấp, do đó khi phơi sấy cần cẩn thận để tránh hạt bị chín và rạn nứt. - Các hoạt động sinh lý, sinh hóa của hạt: + Hô hấp của hạt: hạt ẩm hô hấp mạnh hơn hạt khô. Hạt kẹ, vỡ, rạn hô hấp mạnh hơn hạt nguyên, mảy

+ Hạt mọc mầm sinh nhiệt lớn, chất lượng hạt bị ảnh hưởng - Các loại dịch hại: Điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam tạo điều kiện cho các loài Thời gian bảo quản Độ ẩm an toàn (%) Dưới 3 tháng 14 3-6 tháng 12 6 tháng – 1 năm 10 Trên 1 năm 10 * Các phương tiện bảo quản: 

Ở Việt Nam, tại hầu hết các vùng sản xuất đậu tương, đậu tương được sản xuất trong quy mô hộ gia đình, nên sản lượng đậu tương thu hoạch ở các nông hộ không nhiều, trung bình chỉ khoảng vài trăm cân đến vài tấn/hộ. Do đó có thể bảo quản hạt giống trong các vật liệu đơn gian như: chum vại lớn, thùng gỗ, cót có lưới thép quây phủ bạt, thùng kim loại hoặc trong các bao dệt PP,... thời gian sử dụng, hiệu suất đầu tư cho bảo quản cũng tùy theo chất liệu của các phương tiện bảo quản. dịch hại gây hại trong quá trình bảo quản làm giảm giá trị sản phẩm. Hạt đậu tương rất dễ bị nhiễm nấm mốc (đặc biệt là nhiễm loại nấm độc aflatoxin gây hại cho sức khỏe của người và vật nuôi) và các loài côn trùng gây hại trong bảo quản. Hầu hết các loài côn trùng hại đều thuộc loài chân đốt, gây mùi khó chịu cho sản phẩm. Hạn chế mọt hại bằng cách phơi nắng, sàng sẩy, đốt xác mọt để tránh lây lan. Ngoài ra những dịch hại khác cũng cần chú ý phòng trừ như: chim, chuột đặc biệt là sự phá hại của chuột.

14

7/18/15

Các phương tiện bảo quản

Hiệu suất đầu tư

Phương tiện bảo quản

Khối lượng chứa (tấn)

Giá ước tính (đồng)

Thời gian sử dụng (năm)

(đồng/tấn)

Thùng gỗ

1-2

2.000

10

50.000

Chum lớn

0,5-1

200

10

100.000

0,5-1

50

1

50.000

Cót,lưới thép quây phủ bạt

kim

0,5

600-700

10

60.000

Thùng loại

Bao dệt PP

0,05

3

1

60.000

15