intTypePromotion=1

Bài giảng Tài chính quốc tế - Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:18

0
23
lượt xem
3
download

Bài giảng Tài chính quốc tế - Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Bài giảng Tài chính quốc tế - Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế" được biên soạn nhằm cung cấp đến người học các kiến thức bao gồm tổng quan về hệ thống tiền tệ quốc tế.; hệ thống tiền tệ quốc tế trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914); hệ thống tiền tệ quốc tế trong giai đoạn hai chiến tranh thế giới (1914–1944); hệ thống tiền tệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1944-1999); các tổ chức tài chính quốc tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Tài chính quốc tế - Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế

  1. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế BÀI 1 HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ Hướng dẫn học Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:  Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn.  Đọc tài liệu: 1. C. Paul Hallwood va Ronald McDonald – Tài chính và Tiền tệ Quốc tế (International Money and Finance). 2. Jeff Madura – Quản trị Tài chính Quốc tế (International Financial Management). 3. Nguyễn Văn Tiến – Tài chính Quốc tế hiện đại. 4. Nguyễn Văn Tiến – Thị trường Ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối. 5. Nguyễn Văn Tiến – Thanh toán Quốc tế. 6. Nguyễn Thị Thu Thảo và Hoàng Thị Lan Hương – Hướng dẫn nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.  Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.  Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học. Nội dung Bài 1 trong học phần Tài chính quốc tế nghiên cứu những vấn đề:  Tổng quan về hệ thống tiền tệ quốc tế.  Hệ thống tiền tệ quốc tế trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914).  Hệ thống tiền tệ quốc tế trong giai đoạn hai chiến tranh thế giới (1914 – 1944).  Hệ thống tiền tệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1944 – 1990s).  Các tổ chức tài chính quốc tế Mục tiêu  Sự hình thành và phát triển của các chế độ tiền tệ: Cơ sở và quy tắc xác định, điều tiết tỷ giá trong các giai đoạn lịch sử.  Phương thức và công cụ điều tiết việc xác định và duy trì giá trị của đồng tiền của mỗi nước.  Sự hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính quốc tế.  Tác động của hệ thống tài chính quốc tế đối với sự ổn định và phát triển của các nước. TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 1
  2. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế Tình huống dẫn nhập Trong năm 2008, 1 EUR đổi được 1,6 USD, đổi được 1,39 USD vào thời điểm tháng 3/2014, nhưng đến nay đã giảm xuống gần ngang bằng với 1 USD. Đây là mức thấp nhất của cặp tỷ giá này trong 12 năm qua, đặc biệt là sau đà rơi liên tục và rất mạnh của đồng EUR từ đầu năm đến nay. Đồng EUR do ai phát hành và tại sao lại suy giảm mạnh? 2 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  3. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế 1.1. Tổng quan về hệ thống tiền tệ quốc tế  Được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại – tài chính giữa các nước.  Là hệ thống bao gồm các chế độ tiền tệ, chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế. Cụ thể bao gồm: o Các chế độ tiền tệ và quy tắc xác định, điều tiết tỷ giá giữa đồng tiền của các nước khác nhau với nhau o Các chế tài điều tiết các mối quan hệ và hoạt động tài chính quốc tế và các quốc gia. o Hệ thống thị trường tài chính quốc tế. o Các tổ chức tài chính quốc tế.  Nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế là nghiên cứu các chế độ tiền tệ và chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Cụ thể: o Chế độ tiền tệ, phương thức xác định tỷ giá và các quy tắc điều tiết. o Hoạt động của các định chế tài chính quốc tế. Tiền tệ là gì?  Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng làm vật ngang giá chung để thể hiện và đo lường giá trị của mọi hàng hóa. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.  Có quan điểm lại cho rằng: Tiền tệ là đơn vị để đo lường giá trị trao đổi và để bảo tồn giá trị.  Các nhà kinh tế học đương đại cho rằng: Tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để lấy hàng hóa, dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả các món nợ. Như vậy, Tiền tệ là tất cả những gì thỏa mãn những điều kiện sau: Được chấp nhận một cách rộng rãi để làm phương tiện tính toán, thanh toán, chi trả các khoản nợ nần cuả cá nhân và công cộng.  Tiền tệ ra đời như là một tất yếu của hoạt động trao đổi. Tiền tệ chỉ thực sự phát triển trong điều kiện nền sản xuất hàng hóa. Kể từ khi ra đời đến nay, tiền tệ tồn tại nhiều hình thái khác nhau. o Vật ngang giá chung (hình thái cổ xưa). o Tiền kim loại: Vàng và bạc là phổ biến nhất. Vàng đại diện cho sự giàu có và của cải và được gọi là kim loại quý. Do khối lượng vàng hạn chế nên người ta sử dụng kim loại khác để đúc tiền (Cu, Pb, Al) những đồng tiền kim loại đầu tiên được đúc do các địa chỉ, tầng lớp quý tộc. o Tiền giấy do sự phát triển của ngành in. o Tiền tín dụng: Sự phát triển cuả hệ thống ngân hàng giữa các nước với nhau, trong hệ thống thanh toán đã xuất hiện tiền tín dụng. Việc sử dụng tiền tín dụng TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 3
  4. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế rất thuận lợi và an toàn. Đối với bản thân nền kinh tế thì tất cả đồng tiền của nền kinh tế được đưa vào lưu thông, tốc độ luân chuyển nhiều nên tăng GDP.  Khác nhau giữa tiền tệ quốc gia và tiền tệ quốc tế: Chúng đều là tiền, có chức năng giống nhau là lưu thông, trao đổi, buôn bán. Tuy nhiên chúng khác nhau về phạm vi: Tiền quốc gia được từng quốc gia thừa nhận còn tiền quốc tế được nhiều quốc gia thừa nhận. Vậy để tiền tệ quốc gia trở thành tiền tệ quốc tế dựa trên cơ sở là đồng tiền đó phải có khả năng chuyển đổi. Hệ thống tiền tệ quốc tế là gì?  Hệ thống tiền tệ quốc tế là chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ giữa các quốc gia, được thực hiện bằng những thỏa ước và quy định ràng buộc của các quốc gia, có hiệu lực trong phạm vi không gian và thời gian nhất định.  Hệ thống tiền tệ quốc tế tập trung vào hai điểm đó là: o Chọn loại hình tiền tệ làm đơn vị tiền tệ quốc tế. Đơn vị tiền tệ chung là đơn vị thanh toán, đo lường và dự trữ giá trị của một cộng đồng kinh tế. Thông thường các nước sử dụng một đồng tiền mạnh của một quốc gia nào đó trong khối làm đồng tiền chung của khối. Các đồng tiền USD, GBP… đã từng là các đồng tiền quốc tế trong một khoảng thời gian. Tuy nhiên, sau này do sự phát triển và hội nhập kinh tế, các liên minh kinh tế được hình thành hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện do vậy, không có một đồng tiền nào của quốc gia được chọn làm đồng tiền chung, mà các nước trong liên minh tự định ra một đồng tiền chung của cả khối. Chẳng hạn: Ngày 01/01/1999 Đồng tiền chung của châu Âu gọi là EURO đã ra đời với tỷ giá ngay tại ngày ra đời là 1 EURO = 1,16675 USD. o Tổ chức lưu thông tiền tệ:  Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ trong các hệ thống tiền tệ quốc tế thông thường bao gồm những nội dung đặc trưng sau: - Xác định tỷ giá giữa đồng tiền chung với các đồng tiền thàng viên của khối. Có thể theo tỷ giá cố định hoặc tỷ giá thả nổi. - Quy định về lưu thông tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt và lưu thông các giấy tờ có giá khác ghi bằng đồng tiền chung của cả khối. - Quy định về tỷ lệ dự trữ ngoại hối: ấn định tỷ trọng giá trị của đồng tiền chung trong tổng dự trữ ngoại hối của các nước thành viên, của ngân hàng thuộc khối.  Tiền tệ quốc tế và hệ thống tiền tệ quốc tế là sản phẩm của các liên minh kinh tế. Do vậy sự phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế phụ thuộc vào các liên minh kinh tế. Tuy nhiên, các liên minh kinh tế thường không đứng vững trong một thời gian dài do các nguyên nhân khác nhau cho nên khi các liên minh kinh tế tan vỡ thì hệ thống tiền tệ quốc tế cũng bị ảnh hưởng theo. 4 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  5. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế  Mục đích của tổ chức hệ thống tiền tệ quốc tế: Các hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành và phát triển trong thế kỷ XX. Mỗi hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành đều xuất phát từ những mục đích nhất định. Những mục đích đó là: - Mở mang giao lưu về kinh tế quốc tế, tạo sự liên kết kinh tế giữa một số nước đã có quan hệ gắn bó hoặc phụ thuộc lẫn nhau với ý định cạnh tranh hoặc chống lại sự xâm nhập kinh tế – tài chính của các khối kinh tế khác. - Có thể tạo ra các mối liên kết (liên minh) về chính trị giữa các quốc gia một cách chặt chẽ hoặc ràng buộc lỏng lẻo giữa các nước dưới sự chỉ huy hoặc thao túng của một quốc gia mạnh. - Củng cố vai trò và vị trí kinh tế – tiền tệ của một số quốc gia nào đó trong khu vực.  Quá trình phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế: Hệ thống tiền tệ quốc tế đã hình thành từ tự phát đến tự giác. Ban đầu là tự phát thể hiện một đồng tiền của quốc gia nào đó tự nó có đầy đủ các yếu tố trở thành tiền tệ quốc tế. Dần dần hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành một cách tự giác trên cơ sở các quốc gia thỏa thuận, thống nhất với nhau thông qua đàm phán, ký kết văn bản hoặc thừa nhận một đồng tiền của một quốc gia nào đó làm đơn vị tiền tệ quốc tế. Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ xem kỹ hơn sự phát triển này. Trong bài này chúng ta sẽ nghiên cứu hệ thống tiền tệ trước, trong và sau hai đại chiến thế giới. 1.2. IMS trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914) 1.2.1. Chế độ bản vị hàng hóa – đồng hay song bản vị (trước 1870) Chế độ bản vị hàng hóa: Kể từ thời cổ cho đến thời cận đại, thương mại quốc tế hoạt động trên cơ sở “bản vị hàng hóa”, trong đó kim loại là hàng hóa (chủ yếu là vàng và bạc) được đúc thành những khối với chức năng làm phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế. Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơn hẳn các kim loại khác, bởi vì những đặc tính của chúng luôn đáp ứng những điều mà đồng tiền hàng hóa yêu cầu: sự khan hiếm, tính bền, có thể chuyên chở, dễ phân chia, đồng chất và chất lượng được duy trì lâu bền. Sự chấp nhận vàng và bạc là tiền còn được củng cố từ một thực tế là các kim loại này được sử dụng rộng rãi và có giá trị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệp hoặc trang sức. Hơn nữa, chất lượng của chúng có thể được kiểm tra một cách chính xác và được các chuyên gia (thợ kim hoàn) chứng nhận. Sự ra đời của tiền đúc “thiếu giá” (1540 – 1560): Ở dạng tinh khiết, bản vị hàng hóa kim loại hoạt động dựa trên cơ sở giá trị đầy đủ của đồng xu, nghĩa là giá trị tiền tệ của chúng cũng chính là giá trị kim loại của các đồng xu. Điều này có nghĩa là khi giá vàng thay đổi so với giá bạc sẽ làm tỷ lệ trao đổi giữa các đồng xu vàng và bạc trao TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 5
  6. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế đổi theo. Mặc dù tiền xu đúc mang theo nhãn hiệu riêng của từng quốc gia làm bằng chứng đảm bảo về nội dung và chất lượng kim loại, nhưng trong thực tế các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng hỗn hợp kim loại là vàng và bạc với các kim loại khác có giá trị thấp hơn. Các quốc gia ngày càng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng xu; hành động này gọi là bào mòn giá trị thực tế tiền xu. Điều này làm mất giá trị dần trong lưu thông, nên hành động này được xem là tiền thân của phá giá thời hiện đại. Quy luật T. Gresham (Anh): Những gì xảy ra trong một nền kinh tế khi mà cả hai loại đồng tiền đủ giá trị và đồng tiền thiếu giá trị cùng tồn tại song song và cùng ghi một mệnh giá đồng tiền? Những đợt bào mòn giá trị tiền xu của Anh những năm 1540 và 1560 là bằng chứng rõ ràng về kết cục: Đồng tiền thiếu giá trị đã đẩy đồng tiền có giá trị hơn ra khỏi lưu thông. Nguyên nhân của kết cục này được bắt nguồn trực tiếp từ sự áp đặt cùng một mệnh giá danh nghĩa cho cả hai đồng tiền đủ và đồng tiền thiếu giá trị. Những đồng tiền bị bào mòn giá trị được định giá quá cao trong vai trò phương tiện trao đổi, bởi vì mệnh giá của nó được ấn định cao hơn so với nội dung kim loại mà nó chứa đựng. Ngược lại, đồng tiền đầy đủ giá trị bị định giá quá thấp trong vai trò là phương tiện trao đổi. Với lý do này, những ai đang nắm giữ cả hai đồng tiền sẽ ưu tiên dùng đồng tiền bị bào mòn (thiếu giá trị) để thanh toán trước còn đồng tiền có giá trị đầy đủ thì ưu tiên làm phương tiện cất trữ. Hơn nữa những đồng tiền có giá trị đầy đủ có thể được nấu chảy để bán kim loại thông thường, xuất khẩu hay thậm chí gửi vào xưởng đúc tiền để đúc các đồng xu mới có giá trị thấp hơn. Kết quả là chỉ đồng tiền bị bào mòn được định giá cao tồn tại trong lưu thông còn đồng tiền có giá trị đầy đủ (được định giá thấp) bị biến mất khỏi lưu thông. Quy luật này gọi là quy luật Gresham “đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt” ra khỏi lưu thông. Điều này đã thuyết phục Nữ hoàng Anh đi đến quyết định thay thế toàn bộ các đồng tiền đã bị bào mòn bằng cách đúc các đồng tiền khác đầy đủ giá trị. Chế độ song bản vị ở Mỹ (1792–1861): Luật đúc tiền năm 1792 đã thông qua đồng đô la là đơn vị tiền tệ của Mỹ có giá trị cố định của vàng so với bạc. Như vậy ở Mỹ chính thức hình thành chế độ đồng bản vị, với giá trị của đô la được ấn định bằng 24,75 grains vàng hoặc 371,25 grains bạc. Điều này hàm ý, tỷ lệ trao đổi giữa vàng và bạc là 15/1. Tuy nhiên càng về cuối thế kỷ 18 thì giá bạc trên thị trường bắt đầu giảm. Ngoài ra ở các nước khác, ví dụ như Pháp, hình thành chế độ đồng bản vị với tỷ lệ 15,5/1, điều này kích thích luồng bạc chạy vào và luồng vàng chạy ra khỏi nước Mỹ. Quy luật Gresham hoạt động khá hiệu quả và được thể hiện ở chỗ: vàng từ từ biến ra khỏi lưu thông ở Mỹ, do đó xét về mặt danh nghĩa thì Mỹ vẫn áp dụng chế độ đồng bản vị nhưng thực tế đã nhường chỗ cho chế độ đơn bản vị bạc. Sự sụp đổ của chế độ song bản vị (1861): Chế độ đơn bản vị bạc ở Mỹ tồn tại đến năm 1834 khi Quốc hội Mỹ quyết định tăng giá vàng làm tỷ giá vàng/bạc thành 16/1 trong khi ở nước ngoài là 15,5/1. Như vậy quy luật Gresham hoạt động theo chiều ngược lại: vàng định giá quá cao và bạc định giá quá thấp. Một lần nữa nước Mỹ chỉ còn chế độ đơn bản vị kim loại đó là vàng. 6 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  7. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế Quyết định chuyển đổi USD ra vàng (1879) và Đạo luật bản vị vàng ở Mỹ (1900) Về mặt pháp lý, nước Mỹ tiếp tục duy trì chế độ đồng bản vị kim loại, nhưng trên thực tế chế độ đơn bản vị kim loại được duy trì cho đến năm 1861. Trong suốt thời gian này (1834 – 1861), tiền giấy và tiền gửi ngân hàng ngày càng tăng lên và chiếm ưu thế so với tiền xu trong cung ứng tiền của Mỹ. Như vậy trong lưu thông, ngoài tiền xu bằng vàng còn có tiền giấy và tiền gửi ngân hàng được tự do chuyển đổi thành vàng hay bạc. Tuy nhiên, sự chuyển đổi này bị gián đoạn khi nội chiến xảy ra. Sau nội chiến, chế độ chuyển đổi USD ra vàng được quay lại nhưng đồng bạc không được quay lại. Quyết định chuyển đổi trở lại USD ra vàng mà không chuyển đổi ra bạc vào năm 1879 là bước quan trọng trong việc hình thành chế độ đơn bản vị vàng ở Mỹ. Sự dịch chuyển này đã trải qua những cuộc tranh luận gay gắt và tất nhiên là không thiếu những lời chỉ trích mạnh mẽ từ phía những người bảo vệ cho bản vị bạc. Chế độ đồng bản vị kim loại là chế độ thiên vì trợ giá cho bạc, do đó khi thay thế chế độ này bằng chế độ bản vị vàng đã tạo ra hiệu ứng làm giảm quyền lực của bạc trong đời sống, đặc biệt đối với những ông chủ mỏ bạc được sinh lợi từ chế độ trợ giá cho bạc bấy lâu nay. Điều này làm cho đồng bản vị trở thành chủ đề tranh luận trên chính trường, do đó phần nào giải thích tại sao mặc dù trong thực tế chỉ tồn tại chế độ đơn bản vị vàng, nhưng chế độ này vẫn không được phê chuẩn cho tới khi có Đạo luật bản vị vàng vào năm 1900. 1.2.2. Chế độ bản vị vàng (1880 – 1914) Thời kỳ hoàng kim của chế độ bản vị vàng (1880 – 1914): hệ thống tiền tệ quốc tế hoạt động một cách ổn định và hợp tác giữa các nước trong các khu vực và trên thế giới. Đặc trưng và các nguyên tắc cơ bản của chế độ bản vị vàng: 1. Gắn giá trị của đồng tiền với vàng Dưới chế độ bản vị vàng, quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng; hay nói cách khác, chính phủ ấn định cố định giá vàng tính bằng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã quy định. Ví dụ, trong trường hợp của Mỹ, giá của một troy ounce vàng nguyên chất 480 grains là 20,67 USD, do đó, sở đúc tiền của Mỹ sẵn sàng và không hạn chế mua vàng và bán vàng ra ở mức giá này. Bản vị vàng giữa hai đồng tiền trở thành tỷ lệ trao đổi giữa chúng, tức tỷ giá hối đoái. Ví dụ 1 ounce vàng nguyên chất ở Anh có giá 4,24 GBP và Mỹ giá 20,67 USD, như vậy tỷ giá hối đoái sẽ là 20,67/4,67 = 4,87. 2. Tự do đúc tiền vàng đủ giá. 3. Tự do đổi tiền phù hiệu lấy tiền vàng đủ giá. 4. Tự do xuất nhập khẩu vàng: Dưới chế độ bản vị vàng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng được tự do hoạt động. Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia, nên tỷ giá trao đổi trên thị trường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng. Chúng ta giải thích điều này thông qua ví dụ giữa đô la và bảng Anh như sau: giả sử tỷ giá thị trường tự do là 5 USD/GBP có độ chênh lệch đáng kể so với bản vị vàng là 4,87 USD/GBP. 5. Dự trữ vàng với quy mô đủ lớn là yêu cầu để bảo đảm sức mua đồng tiền – money backs to gold. Dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trì một lượng vàng dữ trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành. Số vàng dự trữ này cho phép NHTW xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặp bất cứ trở ngại nào, hay nói cách khác, tiền do NHTW phát hành được bảo đảm bằng vàng 100% và tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng. Quy tắc đảm bảo bằng vàng buộc NHTW khi mở rộng cung ứng tiền cho nền kinh tế phải tuân thủ kỷ luật” chỉ phát hành tiền khi có luồng vàng từ công chúng chảy vào NHTW”. Kết quả là, TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 7
  8. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế khả năng thay đổi cung ứng tiền chính là sự thay đổi lượng vàng trong tay những người cư trú. Lượng vàng có sẵn được xác định bằng khối lượng vàng được sản xuất ra (đây là lượng vàng do ngành khai khoáng nội địa cung ứng, một phần được bán trực tiếp cho công chúng sử dụng, phần còn lại bán cho chính phủ). Ngoài ra, khi cán cân thanh toán quốc tế thặng dư, sẽ có một luồng vàng ròng chảy vào trong nước, do dó làm cho cung tiền trong nước tăng. Cần nhận thấy rằng vai trò của NHTW trong chế độ bản vị vàng là mua vàng từ người cư trú và thông qua đó phát hành tiền ra lưu thông. Ưu thế và những hạn chế của chế độ bản vị vàng: 1. Ưu thế: Rõ ràng ưu thế của bản vị vàng là ổn định. 2. Những hạn chế: Vô hình chung chế độ bản vị vàng đã hạn chế sự năng động của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền trong lưu thông. 1.3. Hệ thống tiền tệ trong hai cuộc chiến tranh thế giới (1914 – 1944) Năm 1914, đại chiến xảy ra. Các nước bắt buộc sử dụng chế độ thả nổi. Mỹ tham gia chậm hơn nên có lạm phát thấp hơn các nước Châu Âu, làm tăng sức cạnh tranh thương mại của Mỹ, do vậy lượng vàng đổ vào Mỹ nên dự trữ vàng của Mỹ tăng lên nhanh chóng. Sau cuộc chiến, các nước Châu Âu tiếp tục thả nổi đồng tiền và hầu hết các đồng tiền đã bị phá giá đáng kể so với đô la. Ngược lại với các nước có tỷ lệ lạm phát cao tiến hành ấn định lại giá vàng ở mức cao hơn so với chiến tranh phù hợp với tỷ lệ lạm phát hàng hóa, thì nước Anh lại chọn phương án thiểu phát trong những năm đầu 1920s và vào năm 1925 nước Anh đã ấn định bản vị vàng ở mức giống như trước khi chiến tranh xảy ra (1913). Điều này có ý nghĩa là, hầu hết các đồng tiền đều phá giá so với đô la, trong khi đó tỷ giá GBP/USD được duy trì không thay đổi so với trước chiến tranh là 4.8065USD/GBP. Việc ấn định tỷ giá này đã làm hồi sinh chế độ bản vị vàng, tuy nhiên sau năm 1925 giá cả hàng hóa ở Anh không giảm xuống như trước chiến trang, do đó việc ấn định này làm bảng Anh định giá quá cao. Hơn nữa, đây là chế độ bản vị hối đoái vàng khi rất nhiều NHTW đã thay đổi cơ cấu dự trữ quốc tế chuyển từ vàng sang ngoại tệ. Sự dịch chuyển này một phần là do thương mại và đầu tư quốc tế của Mỹ tăng và đô la ngày càng được sử dụng nhiều trong giao dịch quốc tế. Sự quay trở lại chế độ bản vị vàng không kéo dài được lâu. Cuộc Đại suy thoái kinh tế vào năm 1929 đã làm sụp đổ hệ thống ngân hàng trên thế giới và làm tan biến mọi lòng tin và khả năng các quốc gia tiếp tục duy trì việc chuyển đổi các đồng tiền ra vàng. Gánh nặng đè lên nước Anh và một cuộc hỗn loạn đã xảy ra vào ngày 21/09/1931, buộc nước Anh và các nước khác phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và việc chuyển đổi đồng tiền của nước mình sang vàng, tiếp sau là Mỹ vào năm 1933. Kết quả là sự sụp đổ của hệ thống tài chính và thương mại quốc tế đã để lại một vết hằn sâu sắc cho thế hệ tiếp theo. 8 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  9. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế 1.4. IMS sau chiến tranh thế giới thứ 2 (1944 – 1990s) 1.4.1. Hệ thống Bretton Woods 1944 – 1971  Sự ra đời của hệ thống tiền tệ Bretton Woods 1944 Những cuộc thương thuyết đầu tiên về tái thiết IMS sau chiến tranh Thế giới thứ 2 giữa Mỹ và Anh được tiến hành vào đầu năm 1941. Sau chiến tranh, Hội nghị tiền tệ quốc tế bao gồm 44 nước diễn ra ở Bretton Woods, New Hampshire đã phê chuẩn hệ thống Bretton Woods.  Đặc trưng và hoạt động của hệ thống tiền tệ Bretton Woods 1944 o Hệ thống chế độ tỷ giá cố định nhưng có thể điều chỉnhchế độ bản vị đồng USD. o Hình thành hai tổ chức quốc tế mới là Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD).  Những tác động tích cực của chế độ Bretton Woods  Sự sụp đổ của chế độ Bretton Woods bao gồm hai điểm chính: o Những áp lực phá vỡ và những cố gắng. o Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods được chính thức công bố vào ngày 15/8/1971. Năm 1914, đại chiến xảy ra. Các nước bắt buộc sử dụng chế độ thả nổi. Mỹ tham gia chậm hơn nên có lạm phát thấp hơn các nước Châu Âu, tăng sức cạnh tranh thương mại, làm vàng đổ vào Mỹ, dự trữ vàng của Mỹ tăng lên nhanh chóng. Việc các nước quay lại chế độ bản vị vàng không được ổn. Tháng 7 năm 1944 Hội nghị Tài chính – tiền tệ quốc tế tại Thành phố Bretton Woods (Mỹ) khai mạc với mục đích quy định một trật tự tiền tệ quốc tế. Hội nghị kết thúc với một thỏa ước quốc tế quan trọng mang tên hệ thống tiền tệ Bretton Woods với những nội dung sau:  Đơn vị tiền tệ quốc tế là USD. Đô la Mỹ là đồng tiền chuẩn, được sử dụng làm phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế. Việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế và ngoại thương không hạn chế. Tỷ giá trao đổi cố định giữa đồng tiền các nước được tính thông qua bản vị vàng thế giới với giá vàng được chuẩn hóa và cố định. Vàng được bán đi, mua lại hoặc vay mượn lẫn nhau giữa ngân hàng trung ương các nước, để có thể bán ra hoặc mua vào trong thị trường nội địa kịp thời nhằm giữ giá đồng tiền không đổi. Quy định giá vàng là 35 USD đổi được 1 ounce vàng.  Các nước thành viên đồng ý góp vốn để thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế nhằm mục đích cho các nước thành viên vay vốn vào những lúc cần thiết để can thiệp, giữ đồng tiền nước mình không biến động quá với tiêu chuẩn nói trên. Thỏa ước về IMF là phần cốt lõi của hệ thống Bretton Woods. Thỏa ước này đã được đa số các nước phê chuẩn và IMF bắt đầu hoạt động năm 19945. IMF bao gồm những quy định rõ ràng để hướng dẫn, chỉ đạo những chính sách tiền tệ quốc tế và có trách nhiệm tăng cường thực hiện những quy định đó. Sau đó đã thành lập Ngân hàng Thế giới. Ngân hàng này chịu trách nhiệm tài trợ cho những dự án phát triển. Thực chất Bretton Woods là thỏa thuận hướng về việc giữ giá đồng tiền các nước theo giá vàng và chống lạm phát giá cả. Hệ thống Bretton Woods được thực hiện năm 1946. TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 9
  10. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế Theo hệ thống này, mỗi quốc gia xây dựng chính sách ngang giá tương ứng với đồng Đô la Mỹ và một giá vàng, tính bằng đô la không biến đổi là 35 USD/ounce. Có thể mô tả hệ thống Hối đoái Bretton Woods như sau:  Đô la Mỹ  Vàng  Các đồng tiền đổi ra USD,  Không trực tiếp đổi ra vàng Chỉ có duy nhất USD đổi trực tiếp ra vàng Định giá 35 USD/ounce:  Mác Đức  Bảng Anh  France Pháp Các nước thành viên duy trì dự trữ quốc tế chính thức của họ một cách rộng rãi dưới hình thức vàng hoặc các tài sản bằng đô la và có quyền bán đô la cho Cục dự trữ liên bang Mỹ lấy vàng theo giá chính thức. Vì vậy hệ thống đó là bản vị hối đoái vàng, trong đó đô la là đồng tiền chủ yếu. Các quốc gia đều có trách nhiệm giữ vững tỷ giá hối đoái trong dao động 1% so với ngang giá đã được thỏa thuận bằng cách mua hoặc bán ngoại hối khi cần thiết. Các tỷ giá hối đoái cố định được duy trì bởi sự can thiệp chính thức trong các thị trường trao đổi quốc tế. Tại sao BWS lại sụp đổ? Hệ thống BWS hoạt động với thành công rõ ràng và đáng ghi nhận trong suốt những năm 1947 đến 1971 chỉ xảy ra một số lần điều chỉnh đột xuất. Việc giải thích sự sụp đổ của BWS thường tập trung vào vấn đề thanh khoản và sự thiếu vắng một cơ chế điều chỉnh. BWS chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi các NHTW còn lòng tin để nắm giữ USD làm dự trữ và lòng tin vào USD chỉ tồn tại chừng nào các NHTW Mỹ còn tiếp tục đổi USD ra vàng với giá $35/ounce. Khi thương mại quốc tế phát triển sẽ làm tăng dự trữ ngoại hối quốc tế, mà chủ yếu là USD. Dự trữ ngoại hối quốc tế tăng chỉ có thể xảy ra khi CCTTQT của Mỹ thâm hụt và CCTTQT của các nước khác thặng dư, hơn nữa, do CCTTQT thặng dư, nên để duy trì sức cạnh tranh thương mại quốc tế buộc các nước khác phải mua vào đồng USD để ngăn ngừa đồng bản tệ lên giá. Điều dễ nhận thấy rằng, sau một thời gian nhất định thì số tài sản nợ của Mỹ với phần thế giới còn lại tăng lên nhanh chóng, kết quả là tài sản nợ của Mỹ tăng nhanh hơn lượng và Mỹ khai thác bổ sung vào dự trữ, nói cách khác với mức giá $35/ounce thì tổng tài sản nợ của nước Mỹ đã vượt tổng tài sản có bằng vàng. Nhanh chóng ổn định và cải thiện cán cân thương mại, USD đã biến thành dự trữ quốc tế quen thuộc và vì nó hoàn toàn tốt khi dùng để mua hàng hóa, kỹ thuật và công nghệ của Mỹ cho nên không cần thiết phải dùng USD đổi ra vàng. Quan hệ thương mại với Mỹ ngày càng tăng, các nước khác có khuynh hướng bành trướng dự trữ USD của họ. Sự bành trướng tiền tệ diễn ra cùng với việc USD bị hút ra nước ngoài để tìm nguồn đầu tư khác có lãi suất cao hơn tại Mỹ. Mặt khác, vào những năm 1960 cán cân thương mại bị thâm hụt, chi phí của Mỹ để duy trì căn cứ quân sự ở nước ngoài và chi phí cho cuộc chiến tranh của Mỹ tại 10 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  11. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế Việt Nam rất lớn. USD phát hành ra nước ngoài ngày càng nhiều nên sức mua của USD ngày càng giảm sút. Mỹ cố duy trì việc bán vàng với giá cố định 1 ounce vàng bằng 35 USD cho nên USD bị mất giá, các nước đồng minh không chấp hành tỷ giá cố định. Trước tình hình đó Mỹ tuyên bố phá giá đồng USD và Mỹ tuyên bố rút khỏi Hiệp ước Bretton Woods và xóa bỏ cam kết 1ounce vàng bằng 35 USD. 1.4.2. Hệ thống tiền tệ quốc tế hậu Bretton Woods  Sự ra đời của Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) Mặc dù trong những năm 1960s, hệ thống tiền tệ quốc tế chưa chịu một áp lực thực sự căng thẳng nào, tuy nhiên thực tế cho thấy rằng dự trữ quốc tế tăng không kịp với tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế, làm nổi lên mối lo ngại rằng tăng trưởng thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế thế giới có nguy cơ bị kìm hãm. Hơn nữa, cơ chế tạo dữ trữ quốc tế theo BWS là quá phụ thuộc vào mức độ thâm hụt CCTTQT của Mỹ, cơ chế này có thể làm BWS sụp đổ. Qua phân tích tình hình, các nước thành viên IMF đã nhóm họp với nhau để thảo luận tìm ra các giải pháp nhằm tăng bổ sung nguồn dự trữ quốc tế cho các nước thành viên. Kết quả của những cuộc thảo luận thận trọng dẫn đến “Sửa đổi lần thứ nhất các điều khoản của IMF vào năm 1967”. Nội dung của lần sửa đổi này bao gồm: trao quyền cho IMF thiết lập tài khoản rút vốn đặc biệt để bổ sung vào hệ thống hạn mức tín dụng của IMF có tên gọi là “Quyền rút vốn đặc biệt – Special Drawing Right–SDR”. Không giống các hạn mức tín dụng là phải có tiền ký quỹ làm vật bảo đảm, giá trị của SDR như là tài sản dự trữ được hình thành trên cơ sở được các nước thành viên chấp nhận là phương tiện thanh toán giữa các NHTW với IMF. Theo kế hoạch, mỗi thành viên của IMF được phân bổ một số lượng SDR nhất định và tỷ lệ thuận với hạn mức tín dụng tại IMF. Giá trị ban đầu của SDR được xác định bằng 1/3 ounce vàng, tức tương đương với $1. Trong hạn mức được phân bổ, các quốc gia có thể rút SDRs vào bất cứ thời điểm nào khi CCTTQT gặp khó khăn hoặc có nhu cầu bổ sung vào nguồn vốn dự trữ của mình. Khác với khi rút hạn mức tín dụng, khi rút SDRs không cần tham khảo ý kiến IMF, không có bất kỳ điều kiện nào kèm theo và không là đối tượng phải hoàn trả. Các quốc gia rút SDR phải trả lãi suất còn các quốc gia nhận SDRs thì được nhận lãi suất. Tháng 7/1976, giá trị của SDR thay đổi từ $1 sang phương pháp xác định theo rổ tiền tệ của 16 đồng tiền, và vào tháng 1 năm 1981 giá trị của SDR được xác định lại bằng rổ tiền tệ của 5 đồng tiền chính là USD, DEM, JPY, FRF và GBP. Vào tháng 11 năm 1975, các nước công nghiệp đã nhóm họp tại Rambouillet để thỏa thuận sửa đổi các điều khoản của IMF nhằm hợp pháp hóa hoạt động cho chế độ tỷ giá thả nổi. Những chi tiết của “Sửa đổi lần thứ hai các điều khoản của IMF được soạn thảo tại cuộc họp hàng năm của IMF tại Jamaica vào tháng 1 năm 1976. Các nước thành viên đã chính thức công bố hợp pháp hóa hoạt động cho chế độ tỷ giá thả nổi. Ngoài ra, để kết thúc sứ mệnh của giá vàng chính thức, hội nghị đề ra mục tiêu tăng cường vị thế của SDR trong dự trữ quốc tế và công bố chính thức rằng SDR trở thành tài sản dự trữ quốc tế chính. TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 11
  12. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế  Sự ra đời của Liên minh Châu Âu (EU) và hệ thống tiền tệ Châu Âu (EMS) o Các hình thức liên kết kinh tế: Khu vực mậu dịch tự do; Liên minh thuế quan; Thị trường chung; Liên minh kinh tế; Liên minh tiền tệ. o Quá trình hình thành liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu. Cộng đồng kinh tế Châu Âu được thành lập từ năm 1957 theo Hiệp ước Rôma. Khi mới thành lập gồm có 6 thành viên, 1972 có thêm 6 thành viên nữa.Năm 1995 Liên minh Châu Âu có thêm 3 thành viên đưa tổng số thành viên lên 15 thành viên. Năm 1979 Hệ thống tiền tệ Châu Âu được hình thành với những nội dung sau: ECU là đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực của các nước Châu Âu. Giá trị của ECU dựa trên sức mua của những đồng tiền tham gia rổ tiền tệ. Các thành viên thực hiện cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt với biên độ dao động là 0,25% so với tỷ giá hối đoái chính thức. Việc điều chỉnh các quan hệ tiền tệ quốc tế giữa các nước thành viên được tiến hành thông qua Quỹ hợp tác ngoại hối Châu Âu. Năm 1991 Liên minh tiền tệ Châu Âu bắt đầu đi vào hoạt động, đồng EURO ra đời và tồn tại song song với các đồng tiền quốc gia thông qua tỷ giá chuyển đổi được công bố dưới dạng tiền ghi sổ. o Liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu chính thức ra đời ngày 1/1/1999.  Điều kiện tham gia vào liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu o Lạm phát thấp, không vượt quá 1,5% so với mức trung bình của ba nước có mức lạm phát thấp nhất. o Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3%GDP. o Nợ công dưới 60% GDP và biên độ dao động tỷ giá giữa các đồng tiền ổn định trong hai năm theo cơ chế chuyển đổi (ERM). o Lãi suất (tính theo lãi suất công trái thời hạn 10 năm trở lên) không quá 2% so với mức trung bình của 3 nước có lãi suất thấp nhất. Tháng 1 năm 2002 tiền mặt được đưa vào trong lưu thông, tiền của các quốc gia bị loại khỏi trong lưu thông và nhường chỗ cho việc sử dụng thống nhất một loại tiền đó là EURO chính thức được lưu hành trong 12 quốc gia thành viên gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, TBN, BĐN. Liên minh tiền tệ châu Âu – Lợi ích và Chi phí Lợi ích Chi phí  Kích thích phát triển thương mại trong nội  Mất quyền tự chủ trong hoạch định chính bộ EU. sách tiền tệ.  Các yếu tố sản xuất được phân bổ hiệu quả  Mất quyền tự chủ trong chính sách kinh tế hơn trong EU. vĩ mô.  Tiết kiệm dự trữ ngoại hối và lợi ích từ phát  Bất bình đẳng khu vực. hành tiền.  Chi phí thời kỳ quá độ.  Tăng cường thanh khoản cho thị trường tài chính. 12 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  13. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế  Hệ thống tiền tệ quốc tế ngày nay o Hệ thống tiền tệ quốc tế được đặc trưng bởi sự hợp tác đa phương của các nước dựa trên chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, xu thế toàn hội nhập và cầu hóa của các nước. o Hoạt động của các định chế tài chính quốc tế được tăng cường và mở rộng trên nhiều lĩnh vực: đời sống kinh tế – xã hội của các nước. o Sự phát triển và ổn định của hệ thống tiền tệ châu Âu mở ra khả năng hợp tác tiền tệ trong các khu vực và trên thế giới: Đông Nam Á và Châu Á. 1.5. Các tổ chức tài chính quốc tế Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Quỹ tiền tệ quốc tế (tiếng Anh: International Monetary Fund, viết tắt IMF) là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tài chính khi có yêu cầu. Trụ sở chính của IMF đặt ở Washington, D.C., thủ đô của Hoa Kỳ. a) Tổ chức và mục đích IMF được mô tả như "Một tổ chức của 185 quốc gia", làm việc nuôi dưỡng tập đoàn tiền tệ toàn cầu, thiết lập tài chính an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế, đẩy mạnh việc làm và tăng trưởng kinh tế cao, và giảm bớt đói nghèo. Vào năm 1930, khi hoạt động kinh tế ở những nước công nghiệp chính thu hẹp, nhiều nước bắt đầu áp dụng tư tưởng trọng thương, cố gắng bảo vệ nền kinh tế của họ bằng việc hạn chế nhập khẩu. Để khỏi giảm dự trữ vàng, ngoại hối, một vài nước cắt giảm nhập khẩu, một số nước phá giá đồng tiền của họ, và một số nước áp đạt các hạn chế đối với tài khoản ngoại tệ của công dân. Những biện pháp này có hại đối với chính bản thân các nước đó vì như lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của Ricardo đã chỉ rõ mọi nước đều trở nên có lợi nhờ thương mại không bị hạn chế. Lưu ý là, theo lý thuyết tự do mậu dịch đó, nếu tính cả phân phối, sẽ có những ngành bị thiệt hại trong khi các ngành khác được lợi. Thương mại thế giới đã sa sút nghiêm trọng, khi việc làm và mức sống ở nhiều nước suy giảm. IMF đã đi vào hoạt động ngày 27 tháng 12 năm 1945, khi đó có 29 nước đầu tiên ký kết nó là những điều khoản của hiệp ước. Mục đích của luật IMF ngày nay là giống với luật chính thức năm 1944. Ngày 1 tháng 3 năm 1947 IMF bắt đầu hoạt động và tiến hành cho vay khoản đầu tiên ngày 8 tháng 5 năm 1947. Từ cuối đại chiến thế giới thứ 2 cho đến cuối năm 1972, thế giới tư bản đã đạt được sự tăng trưởng thu nhập thực tế nhanh chưa từng thấy. (Sau đó sự hội nhập của Trung Quốc vào hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy đáng kể sự tăng trưởng của cả hệ thống). Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, lợi ích thu được từ tăng trưởng đã không được chia đều cho tất cả, song hầu hết các nước tư bản đều trở nên thịnh vượng hơn, trái ngược hoàn toàn với những điều kiện trong khoảng thời gian trước của những nước tư bản trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 13
  14. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế Trong những thập kỷ sau chiến tranh thế giới hai, kinh tế thế giới và hệ thống tiền tệ có thay đổi lớn làm tăng nhanh tầm quan trọng và thích hợp trong việc đáp ứng mục tiêu của IMF, nhưng điều đó cũng có nghĩa là yêu cầu IMF thích ứng và hoàn thiện cải tổ. Những tiến bộ nhanh chóng trong kỹ thuật công nghệ và thông tin liên lạc đã góp phần làm tăng hội nhập quốc tế của các thị trường, làm cho các nền kinh tế quốc dân gắn kết với nhau chặt chẽ hơn. Xu hướng bây giờ mở rộng nhanh chóng hơn số quốc gia trong IMF. Ảnh hưởng của IMF trong kinh tế toàn cầu được gia tăng nhờ sự tham gia đông hơn của các quốc gia thành viên. Hiện IMF có 184 thành viên, nhiều hơn bốn lần so với con số 44 thành viên khi nó được thành lập. Nguồn vốn của IMF là do các nước đóng góp, các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật Bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%). Tổng vốn của IMF là 30 tỷ Dollar Mỹ (1999). b) Lịch sử IMF Năm 1944, các đồng tiền Châu Âu bị mất hết Vàng bảo chứng trong Chế độ Bản vị Vàng (Régime Etalon-Or). Vì vậy Mỹ triệu tập Hội Nghị Tiền tệ Bretton Woods 1944. Hội nghị lập Quỹ Tương trợ Tiền tệ (Caisse d’Entraide Monétaire) gọi tắt là là FMI. Đây là Quỹ hỗ trợ tiền tệ giữa các thành viên gồm chính yếu là Mỹ và Châu Âu. Mục đích căn bản của Quỹ là hỗ trợ về tiền tệ cho quốc gia thành viên bị khủng hoảng về tiền tệ. Vì Châu Âu kiệt quệ do Thế chiến II, nên khi thành lập Quỹ tương trợ này, Mỹ đóng vào dần dần, IMF đặt thêm mục đích thứ 2 là giúp đỡ những Chương trình Phát triển Kinh tế cho những nước nghèo. Nhưng đây không phải là mục đích chính yếu từ khi thành lập FMI. Việc thành lập IMF và mục đích chính hoạt động của nó là giữa Mỹ và Châu Âu. Mỹ đóng góp rất nhiều vào IMF, nhưng không muốn đứng đầu để bị công kích là sử dụng Quỹ như phương tiện thống trị. Mỹ dành cho Châu Âu điều hành, bởi lẽ chính Châu Âu mới có những đồng tiền mạnh mang tầm ảnh hưởng đến những cựu thuộc địa và thương mại quốc tế. Cái truyền thống này đã có từ khi thành lập IMF với mục đích tiền tệ của nó. c) IMF vì nước giàu, Ngân hàng Thế giới (WB) vì nước nghèo? Mục đích thành lập IMF là tạo một Quỹ tương trợ về Tiền bạc khi có khủng hoảng hay một nước có đồng tiền yếu đi do kinh tế đi xuống. Trong lúc ấy IMF cho vay quỹ tương trợ để nâng đỡ. Trong suốt những năm trường IMF làm việc với những nước giàu khi gặp khủng hoảng. Quỹ IMF thóat thai từ một hội nghị về tiền tệ, đặt mục đích chính là cứu giúp tiền tệ, chứ không đặt mục đích chính là cứu giúp những nước nghèo về xã hội hay về phát triển kinh tế. Ngân hàng Thế giới đặt mục đích giúp những nước nghèo về xã hội hay phát triển kinh tế. Mỗi tổ chức làm việc theo mục đích đã định. Không thể phê bình lẫn lộn giữa hai tổ chức. Ngân hàng thế giới (WB) Ngân hàng Thế giới (World Bank) là một tổ chức tài chính quốc tế nơi cung cấp những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn. Ngân hàng Thế giới tuyên bố mục tiêu chính của mình là giảm thiểu đói nghèo. Ngân hàng Thế giới khác với Nhóm Ngân hàng Thế giới, trong đó Ngân hàng Thế giới bao gồm hai cơ quan: Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD) và Hội 14 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  15. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế Phát triển Quốc tế (IDA), trong khi Nhóm Ngân hàng Thế giới còn bao gồm thêm ba cơ quan khác: Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư (ICSID) và Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA). Ngân hàng Châu Âu (ECB) Tổ chức của ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) theo mô hình của ngân hàng trung ương Đức (Bundesbank) và Landesbank (Đức). Điều hành ngân hàng là ban giám đốc, đứng đầu là Chủ tịch và hội đồng các thống đốc bao gồm thành viên của ban giám đốc và đại diện các ngân hàng trung ương trong thuộc hệ thống các ngân hàng trung ương Châu Âu (ESCB). a) Ban giám đốc điều hành Ban điều hành của ECB gồm 6 người hoạch định các chiến lược cho chính sách của ngân hàng. Họ được chỉ định bằng quyết định đồng thuận của các thành viên khu vực đồng Euro. Như một mặc định không thành văn, bốn thành viên của ban điều hành phải là các đại điện của ngân hàng trung ương Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha. b) Chủ tịch Năm 1999, Wim Duisenberg – cựu chủ tịch ngân hàng trung ương Hà Lan, cựu bộ trưởng tài chính Hà Lan được bầu làm chủ tịch đầu tiên của Ngân hàng trung ương Châu Âu. Người thay thế ông vào tháng 11 năm 2003 là Jean-Claude Trichet – cựu thống đốc ngân hàng trung ương Pháp. Hiện nay, làm phó cho Jean-Claude Trichet tại ECB là Lucas Papademos – nhà kinh tế học người Hi Lạp. c) Hệ thống các ngân hàng trung ương Châu Âu Hệ thống các ngân hàng trung ương Châu Âu (ESCB) bao gồm ECB và các ngân hàng trung ương của 27 thành viên Liên minh Châu Âu. Bởi lý do này mà cơ quan quản lý tiền tệ của khu vực đồng Euro được gọi là Eurosystem, nó bao gồm ECB và các thống đốc của các ngân hàng quốc gia khu vực đồng Euro. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Ngân hàng Phát triển châu Á (tiếng Anh: The Asian Development Bank; viết tắt: ADB) là một thể chế tài chính đa phương cung cấp các khoảng tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp các nước châu Á xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội. ADB được thành lập vào năm 1966, có trụ sở chính tại Manila, và chủ tịch là một người Nhật Bản. a) Lịch sử phát triển  Những năm 1960: o 1963: Liên Hợp Quốc đã quyết định thiết lập thể chế tài chính để tăng cường sự phát triển kinh tế và hợp tác. o 1965: Tổng thống Philippin là Diosdado Macapagal đem đến sự đột phá cho khu vực của trụ sở chính đầu tiên ở Manila. o 1966: ADB được thành lập ở Manila vào ngày 12/12 với 31 thành viên để phục vụ phần lớn khu vực nông thôn. TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 15
  16. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế o 1967: ADB phê duyệt dự án hỗ trợ kĩ thuật đầu tiên để giúp đỡ sản xuất thức ăn ngũ cốc.  Những năm 1970: o 1970: Với mục đích mở rộng hoạt động, ADB thúc đẩy nguồn tài nguyên thêm nữa từ các tổ chức song phương và đa phương khác. o 1972: ADB chuyển đến trụ sở chính mới ở trước vịnh của Manila. o 1974: Quỹ phát triển Châu Á được thiết lập để cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các thành viên nghèo nhất của ADB. o 1978: ADB tập trung cải thiện đường xá và cung cấp điện.  Những năm 1980: o 1980: Tiến đến hành động chú tâm đến các vấn đề xã hội như giới tính, môi trường, giáo dục và sức khoẻ. o 1981: Ý thức được cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 2, ADB tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án năng lượng. o 1985: Chính sách mới chú tâm đến nhu cầu liên quan đến phụ nữ tích cực hơn trong tiến trình hội nhập. o 1986: Thúc đẩy hỗ trợ bộ phận tư nhân, với khoản vay đầu tiên không có đảm bảo của chính phủ với Pakistan.  Những năm 1990: o 1991: ADB chuyển đến trụ sở chính mới thường trú ở Ortigs, mà ngay sau đó nổi lên như một khu vực thương mại và tài chính của Manila. o 1992: ADB bắt đầu xúc tiến sự hợp tác khu vực, tiến gần hơn đến sợi dây liên kết giữa các Quốc gia trong khu vực Greater Mekong. o 1997: Nguyên Cộng hoà Liên Xô cũ của Trung Á gia nhập ADB, trong khi đó, một cuộc khủng hoảng tài chính đã làm rung chuyển Châu Á. o 1999: ADB chấp nhận giảm đói nghèo là mục tiêu hàng đầu và phê duyệt một số chính sách bước ngoặt.  Những năm 2000: o 2001: ADB thúc đẩy cơ cấu xã hội chiến lược dài hạn đển hướng dẫn hoạt động xuyên suốt đến 2015. o 2002: ADB giúp đỡ các nước hậu chiến như Afghlistan, Timor Leste. o 2004: ADB bổ nhiệm bà Khempheng Pholseno của Lào PDR làm phó chủ tịch nữ đầu tiên. b) Chức năng  Chức năng của ADB là hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng, phát triển xã hội, quản lý kinh tế tốt.  Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng: tăng trưởng kinh tế không tự nhiên có tính bền vững và thường làm gia tăng mất công bằng. Để tăng trưởng bền vững và công bằng, cần có sự can thiệp trong khi vẫn đảm bảo một sự phát triển thân thiện với thị trường. 16 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
  17. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế  Phát triển xã hội: giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng để giảm thiểu những rủi ro trong quá trình phát triển kinh tế.  Quản lý kinh tế tốt: thực hiên các chính sách kinh tế một cách có trách nhiệm, có sự tham gia, có khả năng dự đoán, và minh bạch, chống tham nhũng. c) Các mục tiêu hoạt động  Để thực hiện được chức năng nói trên, ADB đề ra các mục tiêu cho hoạt động của mình, bao gồm: bảo vệ môi trường, hỗ trợ giới và phát triển, phát triển khu vực tư nhân, hỗ trợ hợp tác khu vực.  Bảo vệ môi trường: người nghèo ở thường bị buộc phải sống ở những khu vực có điều kiện môi trường bất lợi. Muốn xóa nghèo thì phải bảo vệ môi trường.  Hỗ trợ giới: ở nhiều nước, phần lớn người nghèo là phụ nữ. Hỗ trợ phụ nữ phát triển là một biện pháp xóa nghèo.  Hỗ trợ khu vực tư nhân: khuyến khích cải cách và hoàn thiện môi trường chính sách để tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân, hỗ trợ sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, cho vay và hỗ trợ kỹ thuật cho các xí nghiệp tư nhân và thể chế tài chính tư nhân.  Khuyến khích hợp tác và liên kết khu vực: khuyến khích sự hợp tác giữa các chính phủ để phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy thương mại và đầu tư. d) Cơ cấu tổ chức  Về cơ cấu tổ chức, cơ quan ra quyết định cao nhất của ADB là Ban Thống đốc do mỗi quốc gia thành viên đóng góp một đại diện. Đến lượt nó ban Thống đốc lại tự bầu ra trong số họ 12 thành viên của Ban Giám đốc và các cấp phó của họ. 8 trong số 12 thành viên này là đại diện của các quốc gia trong khu vực (các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương) và số còn lại là từ các quốc gia ngoài khu vực.  Ban Thống đốc còn bầu ra chủ tịch Ngân hàng, là người đứng đầu Ban Giám đốc và điều hành ADB. Mỗi chủ tịch giữ cương vị của mình trong một nhiệm kì kéo dài 5 năm và có thể được tái đắc cử. Theo truyền thống và vì Nhật Bản là một trong những cổ đông lớn nhất của ADB, cho nên chủ tịch của ADB đã luôn là người Nhật. Chủ tịch đương nhiệm của ADB là Haruhiko Kuroda.  Trụ sở của ngân hàng ADB đặt tại 6 ADB Avenue, thành phố Mandaluyong, Metro Manila, Philippine, và có văn phòng đại diện trên khắp thế giới. Hiện ADB có khoảng 2400 nhân viên, đến từ 53 trên tổng số 67 quốc gia thành viên (theo web ADB.org tính đến 2/2007) và gần một nửa số nhân viên của họ là người Philippine. TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205 17
  18. Bài 1: Hệ thống tiền tệ quốc tế Tóm lược cuối bài Sau khi học xong bài này, sinh viên đã nắm được:  Tổng quan về hệ thống tiền tệ quốc tế và sự phát triển lịch sử của hệ thống tiền tệ, sự ra đời các đồng tiền chung.  Sự hình thành các tổ chức tài chính quốc tế. 18 TXNHQT05_Bai1_v1.0015105205
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2