intTypePromotion=1

Báo cáo khoa học: " NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG SINH KHỐI ARTEMIA SỐNG ĐỂ ƯƠNG CÁ CHẼM (Lates calcarifer)"

Chia sẻ: Linh Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
73
lượt xem
20
download

Báo cáo khoa học: " NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG SINH KHỐI ARTEMIA SỐNG ĐỂ ƯƠNG CÁ CHẼM (Lates calcarifer)"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Điều dưỡng biển-bass (Lates calcarifer) trong ao đất (50m2 / ao) được thực hiện ở Vĩnh Châu Trạm thực nghiệm của Đại học Cần Thơ tại tỉnh Sóc Trăng. Thử nghiệm được conduced với 3 mặt hàng thực phẩm khác nhau (Điều trị I: 100% sinh khối Artemia sống ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo khoa học: " NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG SINH KHỐI ARTEMIA SỐNG ĐỂ ƯƠNG CÁ CHẼM (Lates calcarifer)"

  1. Tạ p chí Khoa họ c 2008 (2):106-112 Tr ường Đạ i họ c Cần Th ơ NGHIÊN CỨ U SỬ DỤNG SINH KHỐI ARTEMIA SỐNG ĐỂ ƯƠ NG CÁ CHẼM (Lates calcarifer) Trầ n Hữu Lễ 1 , Nguyễn Vă n Hòa 1 và Dương Th ị Mỹ Hận 1 ABS TRACT Nursing of sea-bass (Lates calcarifer) in earthen pond (50m2 /pond) was carried out in Vinh Chau Experimental Station of Can Tho University at Soc Trang province. Experiment was conduced with 3 different food items (Treatment I: 100% live biomass Artemia; Treatment II: 50% live biomass Artemia + 50% trash fish; Treatment III: 100% trash fish). Fish were stocked at density of 20 ind/m2 with initial weight of 0.3 ±0.1 g/inds. The results indicated that live biomass Artemia was a very favourite food of seabass during 4 week-nursing, fish weight in average was 4.5 ±0.6; 3.8 ±0.7; and 2.0 ±0.4 g/ind in Treatment 1, 2 and 3, respectively. Survival rates of fish were higher than 80 % and not significantly difference among treatments (p>0.05). K eywords: Sea-bass, Artemia biomass, earthen pond Title: Study on the use of Artemia biomass in nursing seabass (Lates calcarifer) TÓM TẮT Thí nghiệm ương giống cá Ch ẽm (Lates calcarifer) đ ược th ực hiện trong ao đ ấ t (50m 2 /ao) tạ i Trạ i Th ực Nghiệm Vĩnh Châu (Khoa Th ủ y sả n, Đạ i h ọ c Cần th ơ), Tỉnh Sóc Tră ng với 3 nghiệm th ức th ức ă n khác nhau là: 100% Artemia sinh kh ố i tươi sống (NT1), 50 % Artemia sinh kh ố i tươi số ng và 50 % cá tạp (NT2); 100% cá tạp (NT3). Mậ t đ ộ ương là 20 con/m2 với kh ố i lượng cá ban đ ầ u là 0,3 ±0,1g/con. Kết qu ả sau 30 ngày ương cho thấ y Artemia sinh kh ố i tươi số ng là lo ạ i th ức ă n rấ t đ ược ưa thích của cá Ch ẽm, tố c đ ộ tă ng trưởng của cá khác biệt có ý ngh ĩa thố ng kê (p80% và không khác biệt có ý ngh ĩa thố ng kê (p>0,05). Từ khóa: Cá Ch ẽm, Artemia sinh kh ối tươi sống, cá tạp, ao đất 1 GIỚ I THIỆU Cá Chẽm (Lates calcarifer) là loài có giá trị k inh t ế c ao, phẩm chất thịt ngon, giàu dưỡng chất, nên t ừ lâu cá Chẽm được xem là món ăn ư a chuộng củ a người Việt Nam và các nước trên thế giới. Giống cá Chẽm được bán t ại Đồng bằng Sông Cử u Long hiện nay chủ y ếu là do đ ánh bắt t ừ t ự nhiên, với kích c ỡ t hả nuôi không đồng đều do vi ệc thu gom giống không cùng thời gian, nên hi ệu quả không cao trong nuôi thương phẩm, vì đây là loại cá dữ , chúng ăn thịt lẫn nhau do đó hao hụt trong qui trình nuôi. Hiện nay, t ại Vũng Tàu Việt Nam (Công ty TNHH Tinh Anh, M ạnh Phát) và t ại Đại học Nha Trang đã tiến hành nghiên cứ u và sản xuất thành công giống cá Chẽ m nhân t ạo với giá thành rẻ h ơn giá cá Chẽm của Thái Lan gần 50%. Đây là một trong nhữ ng thành công trong việ c sản xu ất giống cá nhân t ạo ở Vi ệt Nam và đã góp phần đáp ứ ng nhu c ầu giống cá Chẽm trong nuôi thương phẩm loài cá này của cả nước. Hiện t ại, phần lớn các quốc gia kể cả Việt Nam, trong các hệ t hống ư ơng nuôi cá Chẽm đa số đều sử dụng cá t ạp để l àm thứ c ăn, lo ại thứ c ăn này khó b ảo quản, ch ất lượng dinh dưỡng rất khác nhau và không chủ động được do phụ t huộc vào rất lớn vào mùa vụ đã hạn chế sự p hát triển của nghề nuôi. Vì vậy, việc tìm ra loài sinh vật làm thứ c ăn t ươi sống để t hay thế cá t ạp là thật sự cần thiết. 1 T rung tâm Ứng dụng và chuyển giao công nghệ thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học C ần Thơ 106
  2. Tạ p chí Khoa họ c 2008 (2):106-112 Tr ường Đạ i họ c Cần Th ơ Trong khi đó khả năng sản xuất sinh khối Artemia t ươi sống t ại vùng ruộng muố i ven biển Sóc Trăng - B ạc Liêu khá dồ i dào, mùa vụ kéo dài t ừ t háng 01 đến tháng 07 hàng năm. Sinh khối Artemia có thể được sản xuất t ừ các ao nuôi chuyên hoặc sản phẩm thu t ỉa hay t ận thu từ các ao chuyên nuôi Artemia để t hu trứ ng bào xác. Việ c sử dụng sinh khối t ươi sống trong ư ơng nuôi, không nhữ ng gi ải quy ết được nguồn thứ c ăn t ươi sống cần thiết cho cá Chẽm, hạn chế đượ c tình trạng ô nhiễm môi trường do sử dụng cá t ạp, mà còn t ăng thêm thu nhập cho người sản xuất Artemia (nhờ t iêu thụ cả hai sản phẩm là trứ ng bào xác và sinh khối). 2 PHƯƠ NG PHÁP NGHIÊN CỨ U 2.1 Đị a điể m nghiên cứu T hí nghiệ m được thự c hiện t ại Trại thự c nghiệm Vĩnh Châu, thuộc Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ (ấp Biển Dưới, xã Vĩnh Phước, huy ện Vĩnh Châu, t ỉnh Sóc Trăng). 2.2 Vật li ệu nghiên cứu Cá Chẽm thí nghiệm là cá hương 45 ngày tuổi, được cung c ấp bởi cơ sở ư ơng giống cá Chẽm t ại Huy ện Vĩnh Châu. Con giống có khối lượng ban đ ầu là 0,3± 0,1g và chiều dài 22,7± 2,0 mm. Artemia sinh khối t ươi sống và cá t ạp, thu trự c tiếp t ừ các ao nuôi t ại khu vự c của Trại Thự c Nghiệm Vĩnh Châu được dùng làm thứ c ăn để ư ơng cá. Cho ăn 2 lần/ngày (7 giờ và 17 giờ) vớ i t ỷ lệ 100% trọng lượng thân cá trong tuần thứ nhất, sau đó gi ảm còn 60% vào tuần thứ hai và 40% vào tuần thứ ba trở đi (Kungvankij et al., 1986). 2.3 Bố trí thí nghi ệ m 2 T hí nghiệ m được bố t rí gồm 9 ao đất (50m /ao), bố t rí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 loại thứ c ăn khác nhau, t ương ứ ng với 3 nghiệm thứ c (NT) và 3 lần lặp lại. M ật độ t hả giống cá Chẽm là 20 con/m2. Các nghiệ m thứ c được bố t rí như sau: NT1: 100% Artemia sinh khối t ươi sống; NT2: 50 % Artemia sinh khối t ươi sống và 50 % cá t ạp; NT3: 100% cá t ạp. 2.4 Các thông số theo dõi - Các chỉ t iêu môi trường: Nồng độ muối đo mỗi ngày vào lúc 7 giờ. Nhiệt độ, pH kiểm tra 2 lần/ngày lúc 7 gi ờ và 14 gi ờ. Độ t rong kiể m tra lúc 14 gi ờ mỗi ngày . N-NH3 và N-NO2 t hu mẫu 3 ngày/lần. - Chỉ t iêu sinh học: Chiều dài thân cá (L): Đo bằng thước kẻ, với độ chính xác 1 mm. Khối lượng c ơ t hể cá (W): Sử dụng cân đi ện t ử , với độ chính xác 0,01 g. Khối lượng thứ c ăn cho cá: Cân bằng cân điện t ử , với độ chính xác 0,01 g. - Các công thứ c tính toán và phương pháp xử lý số liệu: Tỷ lệ sống (Survival rate) SR: Số cá thể cuố i SR (%) = ----------------- x 100 Số cá thể đầu T ốc độ t ăng trưởng t ương đối (specific growth rate) SGR: 107
  3. Tạ p chí Khoa họ c 2008 (2):106-112 Tr ường Đạ i họ c Cần Th ơ Ln Wf – Ln Wi SGR(%/ ngày) = --------------------- x100 T Trong đó: Wf: khối lượng cuối Wi: khối lượng đầu T : thời gian nuôi(ngày) T ốc độ t ăng trưởng tuy ệt đối (daily weight gain) DWG: Wf – Wi DWG (g / ngày) = ----------- T Hiệu quả kinh t ế: L ợi nhuận = T ổng thu - T ổng chi - Phương pháp tính toán: Số li ệu được tính theo giá trị t rung bình của 3 lần lập lại ở mỗ i nghiệm thứ c và độ lệch chuẩn trên chương trình M icrosoft excel và xử lý thống kê (ANOVA một nhân t ố và phép thử Duncan) bằng chương trình Statistica 6.0. 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Các yế u tố môi trườ ng 3.1.1 Các yếu tố thủy lý trong ao ư ơng T rong quá trình thự c nghiệm ư ơng cá Chẽm t ại Trại thự c nghiệm Vĩnh Châu t ỉnh Sóc Trăng nă m 2007 cho thấy nhiệt độ t rung bình ở c ác ao ư ơng cá Ch ẽm biến động t ừ 27,7- o 31,6 C (Bảng 1) và có xu hướng giảm dần t ừ t uần thứ 1 đến tuần thứ 4, do thời gian bắt đầu thả giống là vào đầu mùa mư a (tháng 6-7). Tuy nhiên, sự biến động của nhi ệt độ là không lớn và hoàn toàn phù hợp với sự p hát triển của cá Chẽm. Theo Katersky và Carter o (2005) cho rằng nhiệt độ t hích hợp cho cá Chẽ m sinh trưởng t ừ 27-36 C. Độ t rong trung bình của 3 nghiệ m thứ c biến động t ừ 22,7-25,3 cm (Bảng 1), màu nước trong các ao ư ơng thường có màu xanh - vàng và sự biến động này có xu hướng gi ảm dần đến cuối đợt ư ơng. Giá trị biểu hiện này hoàn toàn nằm trong khoảng thích hợp cho các ao nuôi cá và chứ ng t ỏ rằng lượng thự c vật phù du phát triển rất phong phú, là môi trường t ốt để duy trì thứ c ăn tự nhiên và ổn định môi trường nước. Qua kết quả cho thấy ở NT1 (cho ăn b ằng Artemia sinh khối t ươi sống) độ t rong ít biến động hơn so v ới NT2 (50% cá t ạp + 50% Artemia t ươi sống) và NT3 (100% cá t ạp). Trong suốt quá trình ư ơng cá, độ sâu của các ao luôn được giữ ở mứ c khoảng 70-72 cm. Theo khuy ến cáo độ sâu thích hợp để ư ơng cá Chẽ m t ừ 50-80 cm (Kungvankij & ctv. , 1986). Do vậy, độ sâu được duy trì ở các ao ư ơng trong t ừ ng nghiệ m thứ c là phù hợp cho sự sinh trưởng của cá. B ảng 1: Các yếu tố th ủ y lý trong ao ươ ng Cá ch ẽm Nghiệ m thứ c Nhiệt độ sáng Nhiệt độ chiều Độ t rong (cm) Độ sâu (cm) o (oC) ( C) 27,7± 1,6 31,6± 3,0 24,8± 4,6 70,2± 2,3 NT1 NT2 27,7± 1,6 31,6± 3,0 22,7± 5,0 71,8± 2,6 NT3 27,7± 1,5 31,5± 3,1 25,3± 5,8 69,7± 2,1 1 08
  4. Tạ p chí Khoa họ c 2008 (2):106-112 Tr ường Đạ i họ c Cần Th ơ 3.1.2 Các yếu tố thủy hóa trong ao ư ơng Kết quả t hí nghiệ m cho thấy, sự biến động v ề độ m ặn củ a các ao ư ơng cá Chẽ m không có sự chênh lệch đáng k ể giữ a các l ần đo đạ c số liệu trong cùng một thời điểm và cũng có xu hướng giảm dần t ừ khi mới thả giống đến cuối đợt thí nghiệm. Điều này cũng giống như sự biến động về nhiệt độ như đã nêu trên, t ứ c là phù hợp với điều kiện thời tiết tự nhiên t ại địa phương. Độ mặn biến động trung bình của 3 nghiệm thứ c t ừ 14,8-15,6‰ (Bảng 2), sự biến động này cho thấy hoàn toàn phù hợp với sự sinh trưởng của cá Chẽ m vì cá Chẽm là loài cá rộng muối, chúng có đặ c điể m là di cư ra bi ển nơi có nồng độ muố i cao (30- 32‰) đ ể sinh sản và cá con có khả năng xâm nhập sâu vào vùng nước ngọt để sinh trưởng (Bhatia & Kungvankij, 1971). Qua kết quả cho thấy sự biến động pH trung bình của 3 nghiệ m thứ c dao động t ừ 8,58- 8,76 vào buổi sáng và 8,73-8,85 vào buổi chiều (B ảng 2). Sự biến động của NT2 và NT3 là khá cao, do t ảo phát triển khá mạnh trong ao, đ iều này chứ ng t ỏ các ao ở NT2 và NT3 rất giàu dinh dưỡng do có sử dụng thứ c ăn cá t ạp, so với NT1 thì pH luôn duy trì ở mứ c ổn định do sử dụng thứ c ăn là Artemia sinh khối t ươi sống. Tuy nhiên, sự biến động này vẫn nằm trong kho ảng thích hợp cho sự sinh trưởng của cá, theo Boyd (1998) thì pH thích hợp trong ao nuôi cá t ừ 6,5-9 và ở ao nước l ợ t hường ở mứ c 8-9. Qua kết quả cho thấy hàm lương N-NH3 dao động t ừ 0,07-0,13 (Bảng 2) và có xu hướng t ăng dần t ừ đầu đến cuối đ ợt thí nghiệ m. Theo Kungvankij e t al. (1986), hàm lượng N- NH3 t hích hợp cho môi trường sống của cá Chẽm khi N-NH3
  5. Tạ p chí Khoa họ c 2008 (2):106-112 Tr ường Đạ i họ c Cần Th ơ 5. 0 60 Artemia10 0% 4. 0 Trọng lượ ng (g) Chiều dài (mm) 50 Ca tap 50 %+Artemia 5 0% Ca tap 10 0% 40 3. 0 30 2. 0 20 1. 0 10 0. 0 0 0 1 2 3 4 0 1 2 3 4 Tuần Tuần Hình 1: T ốc đ ộ tăng trưở ng củ a cá Ch ẽm sau 30 ngày ươ ng T ốc độ t ăng trưởng tuy ệt đối (DWG) trung bình v ề t rọng lượng củ a cá trong 3 nghiệm thứ c dao động t ừ 0,06-0,34g/ngày và chiều dài là 0,52-0,92 mm/ngày, t ốc độ t ăng trưởng t ương đối (SRG) trung bình dao động t ừ 5,6-13,9 %/ngày, khác biệt có ý nghĩa thông kê (p0,05). 3.3 Tỷ l ệ sống của cá Kết quả cho thấy tỷ lệ sống củ a cá Chẽm ư ơng không có sự chênh l ệch lớn giữ a 3 nghiệm thứ c, tỷ lệ sống trung bình củ a 3 nghiệ m thứ c dao động t ừ 80-86% (Bảng 3) và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết quả về tỷ lệ sống của cá Chẽ m khi ư ơng trong ao đất và sử dụng thứ c ăn là Artemia sinh khối t ươi sống khá cao và khả quan hơn so với tỷ lệ sống củ a nhi ều tác gi ả đã thự c hiện như : 42,13 % (Nguy ễn Trọng Nho, 2004) khi ư ơng trong ao đất; 65,3-91,3 % (Khư u Phương Quế, 2006) khi ư ơng trong giai và 56,66- 96,66 % (Phan Quốc Thoại, 2000) khi ư ơng trên bể. Khi so sánh t ỷ lệ sống trung bình của t ừ ng nghi ệm thứ c thì ở NT1 (Cho ăn 100% Artemia sinh khối t ươi sống) có t ỷ lệ sống khá đồng đều nhau hơn so với NT2 và NT3. 110
  6. Tạ p chí Khoa họ c 2008 (2):106-112 Tr ường Đạ i họ c Cần Th ơ 3.4 Hi ệ u quả kinh tế Chi phí chủ y ếu cho thí nghiệm gồm chi phí giống và chi phí thứ c ăn chiếm 90,2% ở NT1, 86,8% ở NT2 và 82,5% ở NT3, riêng chi phí thứ c ăn chiếm 55% ở NT1, 42,4% ở NT2, 19,6% ở NT3. (1000 đồng) B ảng 4: Hiệu qu ả kinh tế Nghiệ m T ổng chi phí T ổng thu Lợi nhuận Lợi nhuận 2 (50 m2) (50 m2) (1000 m2) thứ c (50 m ) c 2,580b ± 51 1,085c ± 70 21,700c ± 1,409 1,494 ± 24 NT1 1,207b ± 29 2,490b ± 120 1,282b ± 149 25,640b ± 2,988 NT2 NT3 1,011a ± 07 1,600a ± 60 588a ± 65 11,760a ± 1,308 Giá trị thể hiệ n là số trung bình ± độ lệ ch chuẩn. Các số liệ u cùng nằm trong một c ột có mang ký tự giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa (p>0,05). Hiệu quả k inh t ế t rong các ao ư ơng cá Chẽm phụ t huộc rất nhiều vào t ỷ lệ sống và t ốc độ t ăng trưởng của cá, vì t ỷ lệ sống càng cao và t ốc độ t ăng trưởng càng nhanh sẽ làm cho giá thành cá giống t ăng, kéo theo t ổng thu t ăng. Cá Chẽm giống được bán ở đ ịa phương vùng ven biển Sóc Trăng - B ạc Liêu vớ i giá 2.000đ/con (loại 3-4 cm) và 3.000 đ/con (loại 2 > 4-6 cm). M ứ c lợi nhuận của mô hình khá cao t ừ 11.760.000-25.640.000 đ/1.000m . Qua 2 kết quả cho thấy ư ơng cá Chẽm trong ao đất, mật độ ư ơng 20 con/m khi sử dụng thứ c ăn là 50% Artemia sinh khối t ươi sống + 50% Cá t ạp băm nhuy ễn đạt hiệu quả kinh t ế cao nhất 25.640.000 đ/1000m2. 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 4.1 Kế t luận - Cá Chẽm đạt t ăng trưởng t ốt nhất (L = 50,3± 2,0 mm và W = 4,5± 0,6 g) khi sử dụng thứ c ăn 100 % Artemia sinh khối t ươi sống, so với (L = 46,9± 2,9 mm và W = 3,8± 0,7 g) ở n ghiệ m thứ c cho ăn Artemia sinh khố i 50 % + cá t ạp 50 %, và (L = 38,4± 2,2 mm và W = 2± 0,4 g) ở n ghiệm thứ c cho ăn 100 % cá t ạp. - Tỷ lệ sống của cá Chẽ m khá cao và khác biệt không có ý ngh ĩa thống kê. Nghiệm thứ c cho ăn Artemia sinh khối 100% đạt t ỷ lệ sống cao nh ất (86± 1,7 %), kế đến là NT2 (Cho ăn Artemia sinh khối t ươi sống 50 % + Cá t ạp 50 %) đạt 83± 4,0%, cuối cùng là NT3 (Cho ăn 100 % cá t ạp) đạt 80± 3,0. 2 2 - Hiệu quả k inh t ế (được tính trên diện tích 1.000 m với mật độ ư ơng 20 con/m ) ở NT2 là cao nhất = 25.640.000± 2.988.000 đ, kế đến là NT1 = 21.700.000± 1.409.000 đ, và thấp nhất ở NT3 = 11.760.000± 1.308.000 đ. 4.2 Đề Xuất Cần tiếp t ục có thêm nhữ ng nghiên cứ u về sử dụng sinh khối Artemia t ươi sống trong ư ơng giống cá Chẽm vớ i nhiều mật độ ư ơng khác nhau, nhi ều dạng sinh khối khác nhau (ví dụ: phơi khô, đông lạnh…) hoặ c thứ c ăn t ự chế (theo t ỉ lệ p hối trộn sinh khối khác nhau) nhằm tìm ra mô hình có mật độ ư ơng phù hợp, dạng sinh khối thích hợp và mang lại hi ệu quả kinh t ế c ao nhất. LỜ I CẢM TẠ Trong quá trình th ực hiện đề tài chúng tôi luôn nh ận được sự nhiệt tình giúp đỡ, động viên khích lệ của Ban Giám Đố c Trung tâm Ứng Dụng và Chuy ển Giao Công Ngh ệ, Ban Ch ủ 1 11
  7. Tạ p chí Khoa họ c 2008 (2):106-112 Tr ường Đạ i họ c Cần Th ơ Nhiệm Khoa T h ủy Sản, Ban Giám Hiệu T r ường Đai Họ c Cần Th ơ đã cấp kinh phí và t ạo điều kiện cho chúng tôi th ực hiện đề t ài này. T ôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành. Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành biết ơn các bạn đồ ng nghiệp tại T r ại Th ực nghiệm Vĩnh Châu – Sóc T răng đã tham gia giúp đỡ chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Bhatia, U. and P. Kungvankij. 1971. Distribution and abundance of seabass fry in coastal area of the provinces facing Indian Ocean.Phuket Mar. Fish. Stn. Annu. Rep. 1971. 14 p. Boyd, Claude E. 1998. Water Quality for Pond Aquacuture. 37p. Catacutan M.R. and R.M. Coloso. 1995. Effect of diettary protein to energy ratio on growth, survival, and body composition of juvenile Asian seabass, Lates calcari fer. Aquaculture 131: 125-133. Katersky Robin, Carter. 2005. Growth efficency of juvenile barramundi, Lates calcari fer, at high temperatures, Aquaculture 250: 775-780. Khưu Phương Quế. 2006. Thử nghiệm ương cá Chẽm (Lates calcari fer) từ giai đoạn cá hương lên cá giống bằng các loại thức ăn tươi sống khác nhau tại Công ty TNHH Hòn Mê – Kiên Giang. Luận văn tốt nghiệp đại học. Khoa Thủy S ản - Trường Đại Học Cần Thơ. Kungvankij P., B.J. Pudadera., JR, L.B. Tiro, JR and I.O. Potestas. 1986. Sinh học và kỹ thuật nuôi cá Chẽm (Lates calcari fer Block, 1970). Nguyễn Thanh Phương dịch . Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. Nguyễn Trọng Nho và T ạ Khắc T ường. 2004. Nghiên cứu kỹ thuật nuôi cá con và nuôi thương phẩm cá Chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis Cuvier & Valenciennes, 1828) tai Khánh Hoà. Pairoj Sirimontaporn and Siri Tookwinas. 1988. Seabass (Lates calcari fer) culture in Thai Lan. Training Manual 88/3 (RAS/86/024). Robin S., Katersky and Chris G. Carter. 2005. Growth effici ency of juvenile barramundi, Lates calcari fer, at high temperatures. Aquaculture 250: 775-780. Trần Minh Phú., Trần Lê Cẩm Tú và Trần Thị T hanh Hiền. 2006. Thực nghiệm nuôi thâm canh cá rô đồng (Anabas testudineus) bằng thức ăn viên với các hàm lượng đạm khác nhau. T ạp chí khoa học, số đặc biệt chuyên đề thủy sản (Quyển 2): 104-109. 112
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2