ViÖn §Þa chÊt B¸o c¸o tæng hîp ®Ò tµi: Nghiªn cøu biÕn ®éng cöa s«ng vµ m«i tr−êng trÇm tÝch Holocen hiÖn ®¹i vïng ven bê Ch©u thæ s«ng Cöu Long, phôc vô ph¸t triÓn bÒn v÷ng kinh tÕ - x· héi Chñ nhiÖm ®Ò tµi; NguyÔn §Þch Dü

8415

Hµ néi - 2010

Báo cáo đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven biển châu thổ Sông Cửu Lòng, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội”

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

PHẦN 1. CÁC HỢP PHẦN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI VÙNG CỬA

SÔNG VEN BIỂN CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG ............................... 25

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG

NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 26

1. 1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN ................................................................... 26

1.1.1. 1.1.2. 1.1.3. Vị trí địa lý .................................................................................. 26 Đặc điểm khí hậu, khí tượng....................................................... 29 Đặc điểm thủy văn ...................................................................... 32

1.1.4. Đặc điểm hải văn......................................................................... 35

1. 2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI .................................................... 37

1.2.1. Xã hội .......................................................................................... 37

1.2.2. 1.2.3. Kinh tế ......................................................................................... 43 Đặc điểm rừng ngập mặn ............................................................ 66

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT-ĐỊA MẠO VÙNG NGHIÊN

CỨU ............................................................................................. 75

2. 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH - ĐỊA MẠO............................................... 75

2.1.1. 2.1.2. Đặc điểm địa hình ....................................................................... 75 Đặc điểm địa mạo ....................................................................... 76

2. 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT ................................................................... 98

2.2.1. 2.2.2. Địa tầng ....................................................................................... 98 Kiến tạo ..................................................................................... 100

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 111

3. 1. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN ............................................................... 111

3. 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................ 112

3.2.1. Tổ hợp phương pháp địa chất - địa mạo: .................................. 112

3.2.2. 3.2.3. Tổ hợp phương pháp địa hoá, địa vật lý: .................................. 113 Tổ hợp phương pháp bản đồ viễn thám-GIS: ........................... 113

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3.2.4. Tổ hợp phương pháp nghiên cứu thuỷ - thạch động lực ven biển:

3.2.5. 3.2.6. 114 Tổ hợp phương pháp điều tra xã hội học .................................. 114 Phương pháp tổng hợp: ............................................................. 115

PHẦN 2. BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN-HIỆN ĐẠI VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỨU LONG ........................................................................................................... 116

CHƯƠNG 4: DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG ĐÁ CỔ ĐỊA LÝ ........................................................................... 117

4. 1. DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN TRONG HOLOCEN............. 117

4.1.1. Đường bờ biển vào cuối Pleistocen-đầu Holocen .................... 117

4.1.2. Thời gian bắt đầu biển tiến........................................................ 117 4.1.3. Mực nước biển cao nhất trong Holocen.................................... 119 Đặc điểm và tốc độ dao động mực nước biển........................... 120 4.1.4.

Dao động mực nước hiện đại .................................................... 124 Dao động mực nước biển trong Holocen-hiện đại vùng ven bờ

4.1.5. 4.1.6. châu thổ sông Cửu Long ........................................................................... 126

4. 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT HOLOCEN - HIỆN ĐẠI VÙNG NGHIÊN CỨU............................................................................................. 129

4.2.1. 4.2.2. 4.2.3.

Ranh giới Pleistocen – Holocen tại khu vực nghiên cứu.......... 129 Thang địa tầng Holocen vùng nghiên cứu ............................... 131 1bđ) .... Thống Holocen, phụ thống dưới- Hệ tầng Bình Đại (amQ2 ................................................................................................... 135 2hg .. 138 Phụ thống Holocen giữa - Hệ tầng Hậu Giang (m, am)Q2 Thống Holocen, phụ thống Holocen trên - Hệ tầng Cửu Long (a, 3cl ........................................................................ 151

4.2.4. 4.2.5. am, amb, ab, mb, m) Q2 4.2.6. Ứng dụng địa tầng phân tập trong thành lập bản đồ địa chất Holocen – hiện đại vùng nghiên cứu......................................................... 158

4. 3. TƯỚNG ĐÁ CỔ ĐỊA LÝ THỜI KỲ HOLOCEN - HIỆN ĐẠI . 165

4.3.1. Tướng đá cổ địa lý thời kỳ đầu Holocen sớm........................... 165

ii

4.3.2. Tướng đá cổ địa lý thời kỳ cuối Holocen sớm - đầu Holocen giữa ................................................................................................... 171

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

4.3.3. Tướng đá cổ địa lý thời kỳ Holocen muộn ............................... 174

CHƯƠNG 5: BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG..................................................................................... 182

5. 1. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỘNG VÙNG CỬA

SÔNG ........................................................................................................... 182

5.1.1. Các nhân tố tác động nội sinh ................................................... 182

5.1.2. 5.1.3. Các nhân tố tác động ngoại sinh ............................................... 183 Tác động nhân sinh ................................................................... 187

5. 2. BIẾN ĐỘNG VÙNG CỬA SÔNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG

CỬU LONG TRONG HOLOCEN - HIỆN ĐẠI...................................... 188

5.2.1. Bồi tụ - Xói lở bờ sông.............................................................. 188

5.2.2. Diễn thế Cửa sông, đường bờ ven biển châu thổ sông Cửu Long.. ................................................................................................... 191

5. 3. BIẾN ĐỘNG CHẾ ĐỘ THUỶ THẠCH ĐỘNG LỰC ................ 260

5.3.1. 5.3.2. Cơ sở lý luận ............................................................................. 260 Đặc điểm chế độ thủy thạch động lực....................................... 261

5. 4. BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ BIỂN, BỜ SÔNG VÀ VÙNG CỬA

SÔNG DO tác đỘng nhân sinh, PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG...... 273

5. 5. BIẾN ĐỔI CỔ ĐỊA LÝ THỜI KỲ HOLOCEN - HIỆN ĐẠI .... 276

CHƯƠNG 6: BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN-HIỆN ĐẠI VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG ........................................................................................... 279

6. 1. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN HIỆN ĐẠI VÙNG NGHIÊN CỨU ....................................................................... 279

6. 2. BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VEN BỜ TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH TƯỚNG ........................................................................................................ 291

6.2.1. Biến động cửa sông................................................................... 291

iii

6.2.2. Biến động đường bờ biển.......................................................... 291

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 7: BẢN ĐỒ DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN-HIỆN ĐẠI VÙNG VEN

BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG ....................................................... 293

7. 1. CƠ SỞ KHOA HỌC DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG .............. 293

7.1.1. 7.1.2. Cơ sở tài liệu ............................................................................. 293 Cơ sở khoa học.......................................................................... 294

7. 2. NỘI DUNG DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG ............................. 294

7.2.1. 7.2.2. Nội dung dự báo........................................................................ 294 Các yếu tố trong dự báo xu thế biến động ................................ 294

7. 3. DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG VÙNG CỬA SÔNG, ĐƯỜNG BỜ BIỂN VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG (TỪ CỬA TIỂU ĐẾN CỬA TRANH ĐỀ) .................................................................. 298

7.3.1. 7.3.2. Các kiểu đường bờ biển ............................................................ 298 Dự báo xu thế phát triển biến động........................................... 299

7. 4. DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH.... ........................................................................................................... 304

7.4.1. Các dạng di chuyển của hạt trầm tích ....................................... 304

7.4.2. 7.4.3. Các kiểu nguồn gốc trầm tích vùng nghiên cứu ....................... 304 Kịch bản nước biển dâng trong tương lai ................................. 305

7. 5. BẢN ĐỒ DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÀ MÔI

TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN - HIỆN ĐẠI VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG .............................................................. 310

7.5.1. 7.5.2. 7.5.3. Nguyên tắc thành lập................................................................. 310 Nội dung thể hiện ...................................................................... 310 Chú giải bản đồ ......................................................................... 310

PHẦN III. CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC, SỬ DUNG HỢP LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ GIẢM NHẸ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KT -XH VÙNG VEN BỜ

CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG .............................................................. 316

CHƯƠNG 8: CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC SỬ DỤNG HỢP LÝ

iv

NGUỒN TÀI NGUYÊN VÙNG NGHIÊN CỨU ..................................... 317

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

8. 1. NHỮNG BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC HOẠT

ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI....................................................................... 317

8. 2. CÁC GIẢI PHÁP ............................................................................ 321

8.2.1. 8.2.2. Phát triển rừng ngập mặn .......................................................... 321 Phát triển nuôi trồng thủy sản ................................................... 329

8.2.3. 8.2.4. 8.2.5. Phát triển du lịch sinh thái......................................................... 333 Giải pháp lấn biển ..................................................................... 337 Phát triển giao thông ................................................................. 339

8.2.6. 8.2.7. 8.2.8. Giải pháp quy hoạch dân cư ven biển ....................................... 351 Các giải pháp phát triển vùng cửa sông ven biển ..................... 356 Giải pháp phát triển các khu công nghiệp, các cụm dịch vụ tổng

hợp vùng ven biển ..................................................................................... 365

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 390

v

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 394

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Lượng bức xạ tại các tỉnh (calo/cm2/ngày) ................................ 30

Bảng 1.2. Độ ẩm trung bình năm tại trạm 4 tỉnh (%) ................................. 30

Bảng 1.3. Tần suất bão và ATNĐ ở phía Nam Biển Đông (1961-1980) (%)32

Bảng 1.4. Vận tốc dòng chảy lớn nhất tại một số trạm trên sông Cửu Long34

Bảng 1.5. Hàm lượng bùn cát tại một số trạm đo trên sông Cửu Long . 35

Bảng 1.6. Dân cư các tỉnh vùng nghiên cứu ............................................... 37

Bảng 1.7. Diễn biến dân số các tỉnh vùng nghiên cứu (người) .................. 38

Bảng 1.8. Cơ cấu dân số trong các tỉnh vùng nghiên cứu (người) ............. 38

Bảng 1.9. Cân đối Lao động trong các tỉnh vùng nghiên cứu (người) ....... 38

Bảng 1.10. Số trường, lớp học, giáo viên và học sinh mẫu giáo tính đến

30/9/2006..................................................................................................... 40

Bảng 1.11. Số trường phổ thông các tỉnh tính đến 30/9/2006 .................... 40

Bảng 1.12. Số lớp học phổ thông các tỉnh tính đến 30/9/2006................... 40

Bảng 1.13. Số học sinh phổ thông các tỉnh tính đến 31/12/2006 (người) .. 41

Bảng 1.14. Số học sinh phổ thông thuộc các dân tộc ít người tính đến

31/12/2006 .................................................................................................. 41

Bảng 1.15. Số thư viện và số sách do địa phương quản lý ......................... 42

Bảng 1.16. Số cơ sở khám, chữa bệnh thuộc sở Y tế năm 2006 ................ 42

Bảng 1.17. Số cán bộ y tế năm 2006 .......................................................... 43

Bảng 1.18. Số trang trại phân theo địa phương (trang trại) ............................. 44

Bảng 1.19. Diện tích cây lương thực có hạt phân theo địa phương (nghìn ha)................................................................................................................ 45

Bảng 1.20. Diện tích cây lúa phân theo địa phương (nghìn ha) ................. 45

Bảng 1.21. Sản lượng lúa cả năm của các địa phương ............................... 46

Bảng 1.22. Diện tích cây mía phân theo địa phương (nghìn ha) ................ 46

Bảng 1.23. Diện tích cây lạc phân theo địa phương (nghìn ha) ................. 46

vi

Bảng 1.24. Đàn trâu phân theo địa phương (nghìn con)............................. 47

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1.25. Đàn bò phân theo địa phương (nghìn con)............................... 47

Bảng 1.26. Đàn lợn phân theo địa phương (nghìn con).............................. 47

Bảng 1.27. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản của các địa phương ................... 48

Bảng 1.28. Sản lượng thuỷ sản của các địa phương ................................... 49

Bảng 1.29. Diện tích và sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản ............. 49

Bảng 1.30: Khối lượng hàng hoá luân chuyển theo đường thuỷ của vận tải

địa phương................................................................................................... 55

Bảng 1.31. Doanh thu và khách du lịch (Đơn vị: triệu đồng)..................... 65

Bảng 1.32. Dự báo về GDP và doanh thu du lịch (không tính kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu)................................................................... 66

Bảng 1.33. Diện tích đất ngập nước ven biển, RNM và đầm nuôi thủy sản67

Bảng 1.34. Tương quan giữa sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn và sự mở rộng diện tích nuôi tôm nước lợ ở một số tỉnh năm 2002. ................... 67

Bảng 2.1. Đặc điểm phân bồ và kích thước các giồng vùng ven biển cửa sông Cửu Long............................................................................................ 79

Bảng 2.2. Kích thước các dải đồng bằng tính theo đường nối Cửa Tiểu-

Cửa Tranh Đề.............................................................................................. 80

Bảng 2.3. Chiều rộng các đồng bằng triều (ĐBT) trong đới gian triều (km)81

Bảng 4.1: Mực nước biển và tuổi tuyệt đối trong Pleistocen muộn- Holocen. .................................................................................................... 119

Bảng 4.2: Mực nước biển và tốc độ dâng giai đoạn từ cuối Pleistocen đến

nay. ............................................................................................................ 123

Bảng 4.3. Thang địa tầng Holocen vùng nghiên cứu................................ 134

Bảng 5.1: Thống kê chiều dài, mức độ xói lở, bồi tụ bờ dọc theo các nhánh

sông Cửu Long, đoạn gần cửa sông, từ năm 1965 đến năm 2006........... 189

Bảng 5.2. Diễn biến phát triển đới bờ khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại (1965 -2001)197

Bảng 5.3. Diễn biến phát triển đới bờ tại khu vực Cửa Ba Lai (1965- 2001), ........................................................................................................ 199

vii

Bảng 5.4: Diễn biến phát triển đới bờ tại khu vực Cửa Hàm Luông (1952-2001),205

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 5.5: Diễn biến phát triển bờ tại khu vực cụm Cửa Cổ Chiên-Cung hầu (1952-

2001)........................................................................................................... 211

Bảng 5.6: Tổng quát quá trình phát triển các Cửa sông thuộc nhánh sông Tiền qua các giai đoạn khác nhau (1952-2001)........................................ 214

Bảng 5.7: Diễn thế đường bờ tại khu vực Cửa Định An-Tranh Đề (1952- 2006),......................................................................................................... 232

Bảng 5.8. Phân bố độ sâu lòng dẫn và theo chiều dài lòng dẫn tương ứng

tính từ cửa sông về phía biển (*)............................................................. 246

Bảng 7.1. Tổng quát quá trình phát triển các cửa sông thuộc nhánh sông

Tiền ........................................................................................................... 300

Bảng 7.2. Diễn biến phát triển bờ tại cửa Định An – Tranh Đề (1952-

2006), ........................................................................................................ 302

Bảng 7.3: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999 ............ 306

Bảng 8.1. Diện tích rừng tự nhiên và đất trống đồi núi trọc tại thời điểm

1/7/1990 (ha) ............................................................................................. 323

Bảng 8.2. Đất lâm nghiệp phân theo mục đích sử dụng (2007) ............... 324

Bảng 8.3. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản* (nghìn ha) ............... 329

Bảng 8.4. Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản* (nghìn ha) ............... 330

Bảng 8.5. Tổng số hộ nuôi trồng thủy sản ................................................ 332

Bảng 8.6. Diện tích đất tự nhiên (ha)........................................................ 338

Bảng 8.7. Biến động các đơn vị hành chính của các huyện ven biển....... 338

viii

Bảng 8.8. Dự kiến lượng hàng hoá qua cảng huyện tại Trà Vinh ............ 343

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1.Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu........................................................ 28

Hình 2.1. Bản đồ địa mạo vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long.............. 93

Hình 2.2. Bản đồ địa mạo cửa Tranh Đề .................................................... 94

Hình 2.3. Bản đồ địa mạo cửa Định An...................................................... 95

Hình 2.4. Bản đồ địa mạo cửa Hàm Luông ................................................ 96

Hình 2.5. Sơ đồ tân kiến tạo và địa động lực hiện đại vùng ven bờ châu thổ

Sông Cửu Long ......................................................................................... 103

Hình 2.6. Sơ đồ tân kiến tạo và phân vùng tân kiến tạo ........................... 104

Hình 4.1: Diễn biến mực nước biển trung bình toàn cầu (IPCC, 2007)... 125

Hình 4.2: Diễn biến mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu ................ 126

Hình 4.3: Sơ đồ thể hiện dao động mực nước biển trong Holocen VCN. 128

Hình 4.4. Mặt cắt địa chất ven biển châu thổ Sông Cửu Long................. 129

Hình 4.5. Cột địa tầng lỗ khoan Bến Tre 3 ............................................... 137

Hình 4.6. Bản đồ địa chất Holocen vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long164

Hình 4.7. Bản đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ đầu Holocen sớm ............. 170

Hình 4.8. Bản đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ cuối Holocen sớm - đầu Holocen giữa ............................................................................................. 173

Hình 4.9. Bản đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Holocen muộn.................. 181

Hình 5.1. Diễn biến xói lở-bồi tụ ở khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại (1965- 1983) ......................................................................................................... 201

Hình 5.2. Diễn biến xói lở-bồi tụ ở khu vực Cửa Ba Lai (1965-1983) .... 201

Hình 5.3: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Hàm Luông (1952-1965)206

Hình 5.4: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Hàm Luông (1965-1983)206

Hình 5.5: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Hàm Luông (1990-2001)207

Hình 5.6: Diễn biến xói lở-bồi tụ Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu (1952-1965)212

Hình 5.7: Diễn biến xói lở-bồi tụ Cửa Cổ Chiên- Cung Hầu (1965-1983)213

ix

Hình 5.8: Diễn biến xói lở-bồi tụ Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu (1990-2001)213

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 5.9: Diễn biến xói lở-bồi tụ đoạn bờ sông Hậu giai đoạn 1965-1983218

Hình 5.10: Diễn biến xói lở-bồi tụ đoạn bờ sông Hậu giai đoạn 1983-1990218

Hình 5.11: Diễn biến xói lở-bồi tụ đoạn bờ sông Hậu giai đoạn 1990-2001219

Hình 5.12: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1952- 1965........................................................................................................... 222

Hình 5.13: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1965-

1983........................................................................................................... 223

Hình 5.14: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1983- 1990........................................................................................................... 223

Hình 5.15: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1990- 2001........................................................................................................... 224

Hình 5.16: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 2001- 2006........................................................................................................... 225

Hình 5.17: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1952-

1965........................................................................................................... 229

Hình 5.18: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1965-

1983........................................................................................................... 229

Hình 5.19: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1983- 1990........................................................................................................... 230

Hình 5.20: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1990- 2001........................................................................................................... 230

Hình 5.21: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 2001- 2006........................................................................................................... 231

Hình 5.22. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu

Long .......................................................................................................... 235

Hình 5.23. Bản đồ biến động đường bờ vùng cửa Tranh Đề.................... 236

Hình 5.24. Bản đồ biến động đường bờ vùng cửa Định An ..................... 237

Hình 5.25. Bản đồ biến động đường bờ vùng cửa Hàm Luông................ 238

Hình 5.26. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu

x

Long giai đoạn 1952 – 1965 ..................................................................... 239

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 5.27. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu

Long giai đoạn 1965 – 1983 ..................................................................... 240

Hình 5.28. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long giai đoạn 1983 – 1989 ..................................................................... 241

Hình 5.29. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long giai đoạn 1989 – 2001 ..................................................................... 242

Hình 5.30. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu

Long giai đoạn 2001- 2006 ....................................................................... 243

Hình 5.31. Sơ đồ tuyến mặt cắt định hình ven bờ châu thổ sông Cửu Long249

Hình 5.32. Mặt cắt biến động địa hình cửa sông Cửa Đại-Cửa Tiểu ....... 250

Hình 5.33. Mặt cắt biến động địa hình cửa sông Cổ Chiên...................... 251

Hình 5.34. Mặt cắt biến động địa hình cửa sông Định An – Tranh Đề.... 252

Hình 5.35. Mặt cắt dọc hệ thống sông Tiền.............................................. 253

Hình 5.36. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu thổ

sông Cửu Long, trong gió mùa Tây Nam V=5m/s [5] ............................. 268

Hình 5.37. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu thổ

sông Cửu Long, trong gió mùa Tây Nam V=13m/s [5] ........................... 268

Hình 5.38. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, trong gió mùa Đông Bắc V=5m/s [5] ............................ 269

Hình 5.39. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, trong gió mùa Đông Bắc V=13m/s[5] ........................... 269

Hình 6.1. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long ......................................................................................... 287

Hình 6.2. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng cửa Tranh Đề ...... 288

Hình 6.3. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng cửa Định An ....... 289

Hình 6.4. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng cửa Hàm Luông .. 290

Hình 7.1Phạm vi ngập khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản nước dâng 65cm (Bộ TNMT, 2009). ........................................................ 307

Hình 7.2. Phạm vi ngập khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản

xi

nước dâng 75cm (Bộ TNMT, 2009). ........................................................ 308

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 7.3. Phạm vi ngập khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản

nước dâng 100 cm (Bộ TNMT, 2009) ...................................................... 309

Hình 7.4. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long .............................................. 312

Hình 7.5. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng cửa Tranh Đề............................................................................. 313

Hình 7.6. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm

tích vùng cửa Định An .............................................................................. 314

Hình 7.7. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm

tích vùng cửa Hàm Luông......................................................................... 315

Hình 8.1. Sơ đồ phân bố rừng ngập mặn vùng đồng bằng Nam Bộ......... 322

Hình 8.2. Vị trí kênh tắt Quan Chánh Bố - huyện Duyên Hải, Trà Vinh . 348

xii

Hình 8.3. Kênh tắt Quan Chánh Bố nhìn từ ảnh vệ tinh........................... 349

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

xiii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Châu thổ sông Cửu Long hay còn gọi là châu thổ sông Mê Kông là một

trong các châu thổ lớn trên thế giới. Châu thổ này có một vai trò đặc biệt quan

trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Vùng ven bờ và các cửa

sông của châu thổ sông Cửu Long có một vị trí hết sức quan trọng đối với

phát triển KT-XH và an ninh quốc phòng, không chỉ đối với vùng nghiên cứu,

mà còn đối với cả khu vực đồng bằng Nam Bộ và đối với cả nước trong quá

trình hội nhập quốc tế với các nước ở khu vực Đông Nam Á thuộc khối Asean,

cũng như với các nước khác trên thế giới. Điều đó khẳng định vị thế chính trị, KT-

XH và an ninh quốc phòng của vùng nghiên cứu.

Trong vùng nghiên cứu có chín cửa sông: cửa Tranh Đề, Bát Xắc, Định

An, thuộc tỉnh Sóc Trăng. Cửa Cung Hầu thuộc tỉnh Trà Vinh, cửa Cổ Chiên,

Hàm Luông, Ba Lai, cửa Đại thuộc tỉnh Bến Tre. Cửa Tiểu của sông Mỹ Tho

hay sông Tiền thuộc tỉnh Tiền Giang. Nơi đây là vùng đất sinh sống của hơn 5

triệu cư dân, một vùng phát triển kinh tế-xã hội quan trọng của các tỉnh ven biển, đòi

hỏi cần phải tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện.

Vấn đề biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng ảnh hưởng trực

tiếp tới vùng các cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long. Việt Nam được

coi là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nghiêm trọng

nhất trên thế giới.

Xuất phát từ những điều nêu trên, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho

triển khai Đề tài: “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích

Holocen-hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển

bền vững kinh tế-xã hội”, mã số KC09.06/06-10. Đây là một trong những đề

1

tài KH CN trọng điểm cấp Nhà nước thuộc chương trình “Khoa học và Công

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế-xã hội”, mã số KC09/06.10

2. Tính pháp lý của đề tài

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích

Holocen-hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển

bền vững kinh tế-xã hội”, mã số KC09.06/06-10 được thành lập trên các

quyết định sau:

- Quyết định số 1678 /QĐ-BKHCN ngày 27 tháng 7 năm 2006 của Bộ

trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc phê duyệt các tổ chức và cá nhân

trúng tuyển chủ trì thực hiện đề tài thuộc Chương trình khoa học và công

nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010 “Khoa học và công nghệ

biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội”, mã số KC.09/06-10.

- Quyết định số 2206/QĐ-BKHCN ngày 09 tháng 10 năm 2006 của Bộ

trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc phê duyệt nội dung và kinh phí

các đề tài đã trúng tuyển thuộc Chương trình khoa học và công nghệ trọng

điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010 “Khoa học và công nghệ biển phục

vụ phát triển bền vững kinh tế-xã hội”, mã số KC.09/06-10.

- Hợp đồng nghiên cứu Khoa học và phát triển Công nghệ số

6/2006/HĐ-ĐTCT-KC09/06.10, ký giữa Chương trình KC.09/06-10 và văn

phòng Các chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà Nước với Viện Địa chất-

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và chủ nhiệm đề tài, ngày 7/5/2007.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu của đề tài:

- Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quá trình biến động môi trường trầm tích

Holocen-hiện đại ở vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long với quy mô phát

2

triển, biến dạng hình thể, biến động không gian các cửa sông và xu thế phát triển.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên

nhiên (rừng ngập mặn....) và giảm nhẹ tác động của thiên tai đối với phát triển

kinh tế-xã hội vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long.

Nhiệm vụ của đề tài:

- Nghiên cứu đặc điểm địa chất-địa mạo, tân kiến tạo-địa động lực hiện

đại và trần tích Holocen-hiện đại vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long.

- Nghiên cứu đặc điểm môi trường trầm tích vùng cửa sông ven biển

châu thổ sông Cửu Long.

- Hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội tại các vùng cửa sông ven biển châu

thổ sông Cửu Long.

- Nghiên cứu biến động cửu sông và môi trường trầm tích Holocen-hiện

đại vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long.

- Đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên

nhiên và giảm nhẹ tác động của thiên tai đối với phát triển kinh tế-xã hội các

cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long.

4. Khu vực nghiên cứu

Vùng cửa sông và ven biển châu thổ sông Cửu Long thuộc phạm vi 4

tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng, từ kinh độ 106o06’ đến

107o01’ vĩ độ 9o15’ đến 10o19’, với tổng chiều dài đường ven biển vào khoảng hơn 155km và tổng diện tích vùng nghiên cứu là 6.021km2. Khu vực

nghiên cứu bao gồm phần đất liền ven biển và phần ngập nước ven biển. Đối

với phần ngập nước ven biển, vùng nghiên cứu khống chế ở độ sâu 20m nước

trở vào. Từ độ sâu lớn hơn 20m nước chiều dày trầm tích Holocen là không

đáng kể nên không nghiên cứu. Đối với phần đất liền ven biển, quá trình biến

3

động cửa sông diễn ra trong phạm vi 5-10 km, tùy từng vùng. Do vậy phạm vi

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nghiên cứu của đề tài được xác định: Tính từ đường bờ biển về phía biển tới

độ sâu 20m nước, về phía lục địa phụ thuộc vào tích chất của từng cửa sông

(9 cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long) vào sâu 10-15 km (Hình 1.1).

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu vùng cửa sông ven biển là nghiên cứu nơi tranh chấp giữa đất

liền và biển cả, nơi có tiềm năng to lớn về nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng là

nơi xảy ra và tiềm ẩn nhiều tai biến thiên nhiên với những hiểm họa khó lường.

Vùng cửa sông ven biển có một vị thế chính trị, KT-XH và an ninh quốc phòng

cực kỳ quan trọng trong phát triển KT-XH và bảo vệ chủ quyền lãnh hải đối với

nước Việt Nam. Vì vậy, xuất phát từ chiến lược phát triển khoa học về biển của

nước ta là tập trung nghiên cứu tổng hợp toàn diện được quan tâm đặc biệt, được

đầu tư thích đáng nhằm khai thác tối đa tài tiềm năng giàu có và phát triển bền

vững kinh tế xã hội.

Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen-hiện đại

vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững KT-XH có ý

nghĩa khoa học và thực tiền.

- Về ý nghĩa khoa học, những kết quả thu được của tề tài là những đóng

góp đáng trân trọng cho nhận biết về quy luật phát triển và biến động cửa sông

theo thời gian và không gian. Mặt khác, những kết quả đó bổ sung cho ngân hàng

dữ liệu về khoa học nói chung và khoa học về vùng tranh chấp giữa biển và lục

địa nói riêng.

- Về ý nghĩa thực tiễn, những kết quả thu được của đề tài giúp cho các nhà

quy hoạch phát triển hoặc tổ chức lãnh thổ có được những cơ sở khoa học cho các

dự án. Một điều nữa là cơ sở cảnh báo có tính quy luật của biến đổi khí hậu, hiện

4

trạng nước biển dâng nhằm có các giải pháp thích ứng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

6. Tồng quan về tình hình nghiên cứu

Vùng cửa sông ven biển là một vùng có hệ sinh thái đặc thù. Đây là nơi

giao thoa, hòa trộn giữa môi trường lục địa và môi trường biển, là nơi tranh

chấp giữa đất liền và biển cả, là nơi ẩn chứa nhiều tiềm năng to lớn tài nguyên

thiên nhiên và cũng là nơi xảy ra nhiều tai biến thiên nhiên với những hiểm

họa khó lường. Vùng cửa sông ven biển là bàn đạp để con người tiến ra biển.

Nhận thức được tầm quan trọng của vùng cửa sông ven biển trong vấn đề phát

triển kinh tế-xã hội, trên thế giới, đối với các Quốc gia có đường bờ biển, việc

nghiên cứu các điều kiện tự nhiên vùng cửa sông ven biển được quan tâm đặc

biệt, đầu tư thích đáng nhằm khai thác tối đa tiềm năng giàu có và phát triển

bền vững kinh tế-xã hội.

Khái niệm chung: Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về cửa

sông ven biển. Trong những công trình nghiên cứu đó khái niệm và định

nghĩa về đới bờ (Coastal Zone) hay còn gọi là đới tương tác hiện tại giữa biển

và lục địa đã được xác lập một cách tương đối. Đới bờ là một dải tiếp giáp

giữa đất liền và biển, không rộng lắm, có bản chất độc đáo, tạo nên một lớp

vỏ cảnh quan của Trái đất và là nơi xảy ra mối tương tác rất phức tạp giữa

thạch quyển, thuỷ quyển, khí quyển và sinh quyển (Lymarev V.I). Đới bờ

cũng là hệ tự nhiên mở phức tạp, đa dạng và cũng rất độc đáo thể hiện rõ rệt

và đầy đủ nhất mối tác động qua lại lẫn nhau giữa 5 quyển của trái dất: Thạch

quyển, thuỷ quyển, khí quyển, sinh quyển và trí quyển. Theo quan điểm một

số nhà nghiên cứu, giới hạn dưới của đới bờ là độ sâu mà sóng bắt đầu bị biến

dạng, cũng như địa hình và trầm tích đáy bắt đầu bị biến đổi. Độ sâu đó được

xác định bằng 1/2 chiều dài bước sóng. Giới hạn về phía lục địa của đới bờ

được xác định là đường sóng leo cao cực đại. Theo luật biển Quốc tế (1982),

đới bờ được định nghĩa là vùng biển đặc quyền kinh tế với chiều rộng 200 hải

5

lý tính từ bờ ra phía biển. Nội dung của định nghĩa này thực tế chỉ mang tính

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

pháp lý để khẳng định chủ quyền vùng biển của các Quốc gia có biển. Tại Hội

nghị về khai thác và sử dụng tài nguyên đới bờ được tổ chức vào tháng 6 năm

1972 tại Woods Hole, đới bờ được xác định là một dải rộng tiếp giáp giữa

biển và lục địa có ranh giới phía lục địa là giới hạn ảnh hưởng của thuỷ triều

và ranh giới phía biển được mở rộng ra tới rìa lục địa tương ứng với độ sâu

khoảng 200m. Năm 1996, chương trình “Quản lý tài nguyên và môi trường”

của Malaysia lại cho rằng “Đới bờ là một hệ sinh thái giàu có về thực vật

cũng như các quá trình vật lý; có động lực mạnh và một môi trường nhạy cảm

hơn bất cứ nơi nào trên trái đất; là vùng đất và biển mở rộng về phía biển

10km và về phía đất liền cũng 10km”. Qua đó, thấy rằng hiện nay khái niệm

về đới bờ chưa thống nhất về phạm vi không gian của nó. Vì vậy việc định

nghĩa và xác định ranh giới cho đới bờ phục vụ cho các mục đích khác nhau

là hết sức mềm dẻo và đa dạng, phụ thuộc vào mục đích sử dụng nó. Đới bờ

gồm 3 hợp phần: vùng biển, bãi và vùng đất phía sau bãi. Trong phạm vi đới

bờ, nơi gặp nhau giữa biển và lục địa là đường bờ. Có tác giả hiểu đường bờ

là vị trí trung bình nhiều năm của đường triều cường hoặc có tác giả hiểu là

đường trung bình giữa triều cường và triều kiệt. Trong những công trình này

còn có những khái niệm về bờ, sườn bờ ngầm, đường mực nước, bãi, vách

sóng vỗ, miền đất thấp, cồn cát ven bờ, cồn cát ngầm, rãnh hoặc máng, cửa

sông,… Từ những khái niệm nêu trên, các nhà nghiên cứu trong nhiều công

trình đã tiến hành nghiên cứu một cách bài bản, đặc biệt là những công trình

của Leontrev O.K (1975, 1977), Leontrev I.O (1985), Belosapkov A.V (1988),

Zenkovic V.P (1963), Nhikiphorov L.G (1964, 1977), Berd E.F (1977).

Đối với vùng cửa sông, từ những khái niệm về không gian của đới bờ

nêu trên, việc xác định không gian vùng cửa sông cũng có những quan điểm

khác nhau: Không gian của vùng cửa sông được một số tác giả xác định theo

6

độ muối của nước, dao động trong khoảng 1‰-4‰, hoặc theo thảm thực vật

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ngập mặn hoặc theo ảnh hưởng của thuỷ triều. Vì vậy việc xác định không gian của

vùng cửa sông là hết sức linh động, phụ thuộc vào mục tiêu của từng nhiệm vụ.

Những ý tưởng của các tác giả trên có thể được xem như tiếp tục phát

triển ý tưởng của Palmer H.R (1834), Reynolds W.J. (1889-1890), Penk

(1894) về bờ biển, về động lực phát triển địa hình ở đới bờ, về sự di chuyển

bồi tích và sự biến đổi địa hình ở đới bờ. Năm 1919, Johnson đã tổng hợp

nhiều kết quả nghiên cứu ở khu bờ, đã cho ra đời cuốn sách nổi tiếng đầu tiên

về hình thái và động lực bờ biển. Năm 1946, Zenkovic V.P đưa ra những luận

điểm cơ bản của lý thuyết về nguồn gốc và sự phát triển của các dạng địa hình

tích tụ bờ biển với hàng loạt nhân tố mới tạo nên các dạng địa hình tích tụ.

Những thập kỷ cuối thế kỷ 20 với những phương tiện hiện đại như ảnh

viễn thám, lặn ngầm có thiết bị, địa chấn nông phân giải cao, các máy móc đo

đạc nhanh chóng, chính xác và máy vi tính,… đã giúp con người rất nhiều trong

khảo sát, tính toán và đã giải quyết được nhiều vấn đề của thực tiễn thuộc đới bờ.

Đới bờ (đường bờ biển và vùng cửa sông ven biển) là nơi nhạy cảm nhất,

rất dễ phản ảnh với những thay đổi từ bên ngoài (thay đổi mực nước biển, tác

động của con người, tác động của các quá trình địa chất,…), là nơi tài nguyên

thiên nhiên rất đa dạng bao gồm tài nguyên sinh vật và các dạng tài nguyên

khác. Địa hình và vị trí của đới bờ cũng được xem như là một loại tài nguyên

đặc biệt, là nơi tập trung đông dân cư, có nhiều cơ sở kinh tế-văn hoá-xã hội

quan trọng và là bàn đạp cho con người tiến ra vùng biển khơi.

Đới bờ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, cho nên

việc đầu tư thích đáng cho những nghiên cứu về địa chất, địa chất thuỷ văn,

địa chất công trình, thủy-thạch động lực và địa chất tai biến,… là mối quan

tâm hàng đầu của chính phủ nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Hà

Lan, Nhật Bản… phục vụ cho việc phát triển kinh tế-xã hội vùng ven biển.

7

Đặc biệt nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã tiến hành hàng loạt nghiên

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cứu với sự đầu tư kinh phí lớn để nghiên cứu địa chất, địa chất công trình, địa

chất môi trường (địa chất tai biến) vùng cửa sông Châu Giang, cửa sông

Hoàng Hà,… phục vụ phát triển bền vững.

- Những nghiên cứu về địa chất-địa mạo, thuỷ-thạch động lực, chế độ

thuỷ-hải văn, khí tượng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở đới bờ:

+Trầm tích Holocen-hiện đại và biến động vùng cửa sông ven biển đã

được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập đến trong các công trình

nghiên cứu về châu thổ từ những năm đầu thế kỉ 20. Bởi lẽ vùng cửa sông ven

biển là một hợp phần của châu thổ nên các thành tạo Holocen và biến động

cửa sông được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu kinh điển về châu

thổ Mississippy của Barrell, 1912, 1914, Johnstons, 1921, 1922, Trowbridge,

1930, Russell, 1936, Fisk, 1944. Những công trình này đã đặt nền móng cho

các công trình tiếp theo của Coleman & Gagliano, 1964, Wright & Coleman, 1973,

1975, Galloway, 1975, David R.A, 1978, Reading H.G. 1985, Elliott, 1965, 1986…

Cấu trúc châu thổ, đặc điểm tướng trầm tích và tiến hóa các thành tạo

Holocen vùng cửa sông ven bờ các châu thổ lớn trên thế giới như: châu thổ

sông Rhine, châu thổ sông Niger, châu thổ sông Mahakam, châu thổ sông

Hoàng Hà….đã được đề cập đến trong các công trình của Fisk & Mc Farlan et

al., 1954, Fisk, 1955, 1961, Elliott, 1974, 1986, Reading H.G, 1965, 1986. Đó

là những công trình mang tính kinh điển về quá trình tiến hóa cửa sông ven

biển của các châu thổ trong Holocen. Elliott trong công trình “Châu thổ”,

1986, đã phân tích quá trình dịch chuyển các thùy châu thổ liên quan tới quá

trình phát triển cửa sông ven biển của châu thổ sông Mississippy.

+Elliott (1986), dựa vào động lực sóng, thủy triều và dòng ven bờ đã

phân chia vùng ven bờ thành các kiểu bờ khác nhau .Đặc biệt David R.A &

Ethington R.L, 1976 trong công trình “Bờ và quá trình trầm tích ven bờ”,

8

Elliott, 1986 trong công trình “Đường bờ lục nguyên” đã phân tích chi tiết

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

quá trình thành tạo và tiến hóa các đê cát, giồng cát ven bờ (beach sand

ridges) trong các đồng bằng cát ven bờ (chenier plain). Các thành tạo này có

nhiều điểm chung với các thành tạo cát ven bờ của châu thổ sông Cửu Long.

+David R.A, 1978 đã phân tích tỉ mỉ điều kiện sinh thái và quá trình phát

sinh phát triển của vùng đầm lầy ven biển cửa sông (salt mashes). Đây là một

trong các công trình tiêu biểu về hệ thống đầm lầy cửa sông ven biển.

+Dao động mực nước biển trong Holocen-một tác nhân quan trọng trong

quá trình tiến hóa trầm tích Holocen-hiện đại vùng cửa sông ven biển được đề

cập đến trong những công trình của Van Straaten, 1959, C Baeteman, 1984,

1992, Pirazzoli, 1987 , David, 1987, Tooley, 1979, 1987 , Morner, 1984,

1985, Shennan, 1983, Jelgersma 1966, 1986, Kidson, 1982, Zhao Shongling,

1986, Huang Zhenguo, 1984, 1987….Trong các công trình nêu trên, biến

động và tiến hóa môi trường trầm tích Holocen-hiện đại vùng cửa sông ven biển

được xem xét dưới góc độ mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển trong

Holocen.

Các tổ chức Quốc tế như CCOP, IGCP đã có những công trình nghiên

cứu về địa chất vùng biển và bờ biển Đông và Đông Nam Á (trong đó có Việt

Nam) đã đề cập tới đặc điểm địa chất tầng mặt vùng ven biển, tai biến địa

chất và quản lý tổng hợp bờ biển. Chương trình thành lập bản đồ địa chất của

ESCAP vùng biển, trong đó có Biển Đông, mà ranh giới tới đường bờ biển

hiện tại của Việt Nam được tiến hành đồng bộ.

Trong vùng Đông Nam Á các nước như Indonesia, Philippin, Malaisia,

Thái Lan, Brunei, Đông Timor đã và đang có những dự án nghiên cứu thềm

lục địa nói chung, vùng ven biển với sự đầu tư lớn và buớc đầu đã có những

kết quả nhất định trong việc phát triển kinh tế-xã hội. Những kết quả nghiên

cứu đã giúp các Quốc gia này có những biện pháp hữu hiệu trong công tác

9

quản lý dải ven biển, đặc biệt đối với các dạng tai biến địa chất trên biển.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trong những năm cuối thế kỷ 20 Thái Lan đã triển khai nghiên cứu về biến

động đường bờ, sự dao động mực nước biển và khảo sát đặc điểm trầm tích

đới bờ (trầm tích đáy) ở tỷ lệ lớn vùng Adang Rawi và Tarutao…

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lí tổng hợp đới

ven bờ như Clark, 1992, 1996, Mazlin B. Mokhtar, 2003. Nagothu Udaya

Sekhar, 2005, Harvey, 1999, 2001 [76,77]….

Tại Việt Nam các công trình nghiên cứu liên quan tới dải ven bờ, đường

bờ, vùng cửa sông ven biển của các tác giả tập trung theo các hướng sau đây:

Nghiên cứu địa chất-địa mạo vùng cửa sông:

- Phần lục địa ven bờ:

Trên phạm vi cả nước, một cách tổng quan có các công trình nghiên cứu

liên quan đến trầm tích Holocen và vùng cửa sông ven bờ như sau:

Trong công trình “Vài đặc điểm về các trầm tích trẻ Nam Việt Nam”, Lê

Đức An và các cộng sự (1981) đã đề cập tới những đặc điểm của các thành

tạo trầm tích trẻ ở Nam Việt Nam, đặc biệt về các giồng cát phân bố ở vùng

ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Chúng được phân tích dưới góc độ của

mối tương quan giữa địa mạo và trầm tích trẻ.

Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Công Mẫn (1996) trong dự án “Quy hoạch

phát triển đê biển Việt Nam 2010-2020”, đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề

“Đặc điểm địa chất-địa mạo và tai biến xói lở, bồi tụ đường bờ biển Việt

Nam, phục vụ định hướng phát triển đê biển Việt Nam 2010-2020”. Tập thể

tác giả đi từ phân loại các kiểu đường bờ biển, các kiểu cửa sông ven biển

theo UNESCO để phân tích quá trình xói lở, bồi tụ đường bờ và vùng cửa

sông trên phạm vi cả nước, tính toán quá trình, tốc độ xói lở, bồi tụ theo tư

liệu lịch sử và dự báo quy luật xói lở, bồi tụ đường bờ biển và vùng cửa sông

10

ven biển. Tính chất cơ lý của các thành phần trầm tích phân bố tại đường bờ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

biển và vùng cửa sông ven biển cũng được nghiên cứu. Ngoài ra các tác giả

còn đề xuất các giải pháp kỹ thuật xây dựng đê biển. Trong đề tài này, đặc

điểm địa mạo-địa chất của vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long

được đề cập đến dưới góc độ thành phần trầm tích, các dạng đường bờ và các

kiểu cửa sông, các số liệu về xói lở, bồi tụ tương đối chi tiết, chúng được thể

hiện dưới dạng bản đồ, tỷ lệ 1:250.000. Bên cạnh đó là những bản đồ địa

chất-khoáng sản của các tỉnh có đường bờ biển và các cửa sông ven biển ở tỷ

lệ 1: 200.000 và 1:50.000.

Trong luận án tiến sĩ “Lịch sử tiến hóa trầm tích Holocen châu thổ Sông

Hồng” và các công trình công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước, Doãn

Đình Lâm (2003) [36] đã thiết lập 3 giai đoạn tiến hóa của châu thổ Sông

Hồng trong Holocen: giai đoạn estuary-vũng vịnh, giai đoạn châu thổ và giai

đoạn aluvi. Tác giả cũng đã xác lập 11 đơn vị tướng trầm tích Holocen cho

đồng bằng Sông Hồng.

Trong luận án Tiến sĩ về tiến hoá địa chất vùng cửa sông Bạch Đằng

trong Holocen, Trần Đức Thạch (1993) đã phân chia quá trình tiến hoá vùng

cửa sông Bạch Đằng trong Holocen thành các giai đoạn và xác lập các đơn vị

tướng trầm tích Holocen cho vùng cửa sông Bạch Đằng.

Trong chương trình hợp tác giữa Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

và Cục Địa chất Nhật Bản các nhà khoa học đã quan tâm đến các thành tạo

Holocen của châu thổ Sông Hồng. Các kết quả nghiên cứu của các tác giả

như: Tanabe S., Saito Y., Toan N.Q., Lan V.Q…đã nêu lên được quá trình

tiến hoá các trầm tích Holocen cũng như dao động đường bờ trong Holocen

của châu thổ Sông Hồng.

Trong phạm vi toàn quốc, bản đồ địa chất Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ

1:500.000 và thuyết minh do Nguyễn Đức Tâm, Đỗ Tuyết làm chủ biên đã

11

được thành lập năm 1995.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Với sự chủ biên của Ngô Quang Toàn, Nguyễn Thành Vạn, bản đồ Đệ tứ

và vỏ phong hoá Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 và thuyết minh đã được xuất bản.

Cùng với hai bản đồ trên, các bản đồ địa chất, địa chất môi trường, địa

chất thuỷ văn, địa chất công trình của các đô thị ven biển ở tỷ lệ 1:25.000

thuộc chương trình: “Điều tra địa chất đô thị” cũng đã được thành lập. Trong

những công trình này, các thành tạo trầm tích Holocen-hiện đại được nghiên

cứu về địa tầng, diện phân bố, thành phần vật chất, cổ sinh. Ngoài ra, các

đường bờ biển cổ cũng đã được các tác giả nghiên cứu thể hiện, có thể sử

dụng trong việc thiết lập lịch sử phát triển địa chất trong Holocen-hiện đại cho

vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long. Mặc dù, các thành tạo trầm

tích Holocen-hiện đại trong đo vẽ bản đồ địa chất-khoáng sản chưa được quan

tâm đúng mức, song tổng hợp những tài liệu hiện có cho phép phác hoạ được

những nét cơ bản nhất về biến động đường bờ và vùng cửa sông ven biển

trong Holocen-hiện đại.

Đối với vùng châu thổ Sông Cửu Long, trầm tích Holocen-hiện đại vùng

cửa sông ven biển được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu dưới đây:

Trong công trình “Bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1: 200.000 loạt tờ

đồng bằng Nam Bộ” Nguyễn Ngọc Hoa và nnk (1996) [121] đã thiết lập các

hệ tầng: Hậu Giang, Cửu Long, Bình Chánh, U Minh, Cần Giờ,…Các hệ tầng

này được thiết lập dựa vào phạm vi phân bố của chúng theo cách phân chia

đồng bằng Nam Bộ thành 3 hợp phần: Đông Bắc, trung tâm và Tây Nam. Các

thành tạo trầm tích Holocen-hiện đại ít được quan tâm trong công tác đo vẽ

bản đồ địa chất và khoáng sản. Song những kết quả đo vẽ thể hiện trên bản đồ

cho phép nhận biết quy luật phát triển và phân bố các thành tạo trầm tích

Holocen-hiện đại. Thông qua các kiểu nguồn gốc của các thành tạo này cho

phép sử dụng chúng nhằm nhìn nhận sự thay đổi môi trường trầm tích trong

12

Holocen-hiện đại tại đồng bằng Nam Bộ. Đối với vùng ven biển (đường bờ và

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cửa sông) những kết quả đo vẽ bản đồ ít nhiều cho phép sử dụng chúng trong

nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại.

Trong các công trình nghiên cứu về châu thổ sông Mê Kông ở vùng Bến

Tre, Sóc Trăng, Cà Mau, bằng các phương pháp phân tích trầm tích, cổ sinh,

tuổi tuyệt đối…, Nguyễn Văn Lập, Tạ Thị Kim Oanh, Tanabe, Tateishi,

Kobayashi, Saito (2002, 2003, 2004, 2005) [93,94,95,96,97] đã phác họa lịch

sử phát triển địa chất của đồng bằng Nam Bộ trong Holocen qua nghiên cứu,

phân tích các lỗ khoan, các mặt cắt địa chất, cũng như tổng hợp các kết quả

phân tích tuổi C14. Những công trình này có hàm lượng khoa học khá cao.

Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử (1997), đã công bố các phức hệ

Foraminifera trong các thành tạo trầm tích Holocen đồng bằng Nam Bộ.

Những phức hệ này là cơ sở để nghiên cứu, phân chia địa tầng các thành tạo

trầm tích Holocen-hiện đại vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long.

Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ (2002, 2004, 2005) [58,59,60,61,62],

Nguyễn Địch Dỹ (2004, 2005) [22,23], đã công bố các công trình về những

vấn đề về địa tầng, cổ địa lý đồng bằng Nam Bộ trong kỷ Đệ tứ. Trong luận

án tiến sĩ về đồng bằng Nam Bộ, Đinh Văn Thuận (2005) đã tổng hợp những

tư liệu về cổ sinh, đặc biệt đã xây dựng được các phức hệ sinh thái bào tử

phấn hoa, cho phép tái thiết lập môi trường tích tụ trầm tích trong Holocen.

Nguyễn Huy Dũng, Ngô Quang Toàn (2004) [17] trong công trình:

“Phân chia địa tầng Neogen-Đệ tứ và nghiên cứu cấu trúc địa chất đồng

bằng Nam Bộ”, đã đề cập tới đặc điểm trầm tích, cổ sinh và cổ địa lý Holocen

đồng bằng Nam Bộ, gồm đồng bằng sông Đồng Nai và đồng bằng sông Cửu

Long. Các thành tạo trầm tích Holocen được các tác giả chia thành 3 khoảng

tuổi: Holocen sớm-giữa, Holocen giữa-muộn và Holocen muộn với 9 kiểu

nguồn gốc khác nhau. Việc phân chia địa tầng như trên cần được nghiên cứu

13

bổ sung và chính xác hoá trong việc phân chia địa tầng Holocen-hiện đại vùng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nghiên cứu.

Những công trình nêu trên đã đề cập tới vấn đề biến đổi môi trường trầm

tích và lịch sử phát triển địa chất Holocen châu thổ sông Cửu Long, trong đó

có vùng ven biển (đường bờ và cửa sông) thuộc phạm vi nghiên cứu của đề

tài. Vì vậy, đề tài này có thể kế thừa những kết quả nêu trong các công trình

đó dưới góc độ tổng quan, mặt khác sẽ chính xác hoá những vấn đề liên quan

tới biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen-hiện đại vùng nghiên cứu.

- Vùng ven bờ biển:

Trầm tích Holocen vùng cửa sông ven biển đã được đề cập đến trong

một loạt công trình nghiên cứu. Đặng Ngọc Thanh và nnk, từ năm 1976 đến

2000 trong các chương trình nghiên cứu biển: Thuận Hải-Minh Hải (1976-

1980), 48-06 (1981-1985), 48B (1986-1990), KT-03 (1991-1995), KHCN-06

(1996-2000); các vấn đề về địa mạo thềm lục địa Việt Nam, địa chất, trầm

tích tầng mặt, quá trình xói lở đường bờ và vùng cửa sông,…đã được nghiên

cứu và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Nguồn tư liệu này được lưu trữ

tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Lưu Tỳ và nnk, 1983 với đề tài: “Địa mạo thềm lục địa Đông Dương và

vùng kế cận”, đã đề cập một cách khái lược tới đặc điểm địa mạo, các quá

trình địa mạo-địa chất ven biển và đường bờ biển cổ.

Phạm Huy Tiến, Trần Nghi, 1999 đã thành lập bản đồ địa chất Đệ tứ

thềm lục địa Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 thuộc chương trình Biển KT-03.

Trần Nghi, 1995-2000 đã tiến hành nghiên cứu, thành lập bản đồ các

thành tạo Pliocen-Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam tỷ lệ 1: 1.000.000 thuộc đề tài

KHCN-06-11.

Trần Nghi và nnk, 2000, đã thành lập bản đồ tướng đá-cổ địa lý thềm lục

14

địa Việt Nam, tỷ lệ 1:1.000.000 thuộc đề tài KHCN-06-11.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bản đồ tướng đá-cổ địa lý phần Đông Nam thềm lục địa Việt Nam, tỷ lệ

1:250.000 thuộc đề tài KC-09-17, đã được thành lập dưới sự chủ biên của

Trần Nghi, 2005.

Trong bài báo: “Quy luật chuyển tướng lòng sông cổ của trầm tích

Neogen muộn-Đệ tứ trong mối quan hệ với hoạt động kiến tạo vùng đồng

bằng Nam Bộ” -Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, số 3 (T5), 2005. 1-9.

Trần Nghi đi từ nghiên cứu trầm tích dưới góc độ tướng đá để nhìn nhận hoạt động

địa động lực cũng như mối quan hệ của chúng trong phạm vi sông Hậu, sông Tiền.

Đặc điểm tướng đá, cổ địa lý và lịch sử phát triển địa chất vùng lãnh hải

Việt Nam trong Holocen cũng đã được Trần Nghi đề cập tới trong bài: “Đặc

điểm tướng đá, cổ địa lý và lịch sử phát triển địa chất Pliocen-Đệ tứ vùng

lãnh hải Việt Nam”-Tuyển tập Báo cáo kỷ niệm 60 năm thành lập Cục Địa

chất và khoáng sản Việt Nam [43].

Có thể xem những kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên về cơ bản

đã phác hoạ được những nét chính về lịch sử phát triển địa chất Pliocen-Đệ tứ

thềm lục địa Việt Nam, xác định được quy luật phân bố các thành tạo trầm

tích Đệ tứ theo không gian và thời gian, thiết lập được môi trường tích tụ trầm

tích cũng như lịch sử tiến hoá trầm tích Đệ tứ ở thềm lục địa Việt Nam.

Đặng Văn Bát và nnk, 2000 đã thành lập bản đồ địa mạo thềm lục địa

Việt Nam tỷ lệ 1: 1.000.000. Đây là sản phẩm của đề tài KHCN-06-11. Bản

đồ này được xây dựng theo nguyên tắc hình thái, nguồn gốc và động lực. Kết

quả của đề tài đã phác hoạ được các dạng địa hình, địa mạo thềm lục địa Việt Nam..

Đặng Văn Bát và nnk, 2005 đã thành lập bản đồ địa mạo phần Đông

Nam thềm lục địa Việt Nam tỷ lệ 1:250.000 thuộc đề tài KC-09-17. Trong

công trình này các tác giả đã phân chia thềm lục địa Việt Nam thành 3 đới:

15

trong, giữa và ngoài với các dạng địa hình. Từ những công trình này đề tài sẽ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

kế thừa những kết quả liên quan tới vùng ven biển (đường bờ và cửa sông)

châu thổ sông Cửu Long.

Năm 2001, Viện Địa lý triển khai đề tài cấp Nhà nước KHCN-5B:

“Nghiên cứu dự báo, phòng chống sạt lở bờ biển Miền Trung (từ Thanh Hoá

đến Bình Thuận)”. Trong giai đoạn 2001-2005, Phạm Huy Tiến, Nguyễn Văn

Cư trong đề tài cấp Nhà nước “Dự báo hiện tượng xói lở-bồi tụ bờ biển, cửa

sông và các giải pháp phòng tránh” mã số KC-09-05 thuộc chương trình KC-

09 do Phạm Huy Tiến làm chủ nhiệm, đã nghiên cứu, dự báo quá trình xói lở,

bồi tụ bờ biển, cửa sông trên toàn quốc [56]. Những kết quả của đề tài là

những tư liệu quý cho việc nghiên cứu, dự báo xói lở, bồi tụ đường bờ, cửa

sông vùng châu thổ sông Cửu Long.

Những công trình liên quan tới biến động cửa sông và môi trường trầm

tích Holocen-hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long nêu trên còn

mang tính tách biệt giữa vùng lục địa và biển, mặc dù vùng cửa sông là

vùng hết sức nhạy cảm, chịu sự tương tác của cả sông và biển. Năm 1995,

Trần Nghi, Nguyễn Biểu trong bài báo: “Những suy nghĩ về mối quan hệ

giữa địa chất Đệ tứ phần đất liền và thềm lục địa Việt Nam” (Tuyển tập các

công trình nghiên cứu địa chất-địa vật lý, tập 1) đã vạch ra mối quan hệ có

tính nhân quả, mối quan hệ tương tác của các thành tạo trầm tích Đệ tứ nói

chung, các thành tạo trầm tích Holocen-hiện đại nói riêng.

Năm 1996 tham gia dự án Việt Nam V/A “Nghiên cứu hiện tượng nước

biển dâng”, Nguyễn Địch Dỹ, Vũ Cao Minh đã thực hiện đề tài nhánh:

“Nghiên cứu các chuyển động tương đối giữa đất liền và biển dọc bờ biển

Việt Nam”. Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích xu thế diễn biến

đường bờ biển và vùng cửa sông trong Holocen, phương pháp tính tốc độ sụt

lún dựa trên chiều dày trầm tích, phương pháp phân tích đặc điểm trầm tích

16

bãi biển hiện đại. Đối với phần phía Nam, do không có số liệu đo đạc định

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

lượng và phân tích bán định lượng nên kết quả có tính định tính là chủ yếu.

Kết quả đã phác họa những nét cơ bản về lịch sử thay đổi đường bờ biển

trong Holocen như sau: Khoảng 7000 năm đến 4000-4500 năm trước đây,

biển tiến khá sâu vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ và hầu như toàn bộ đồng

bằng Nam Bộ bị ngập chìm dưới mực nước biển. Khoảng 2000 năm trước

đây, đợt biển tiến trở lại xâm nhập chủ yếu ở vùng ven biển đồng bằng Bắc

Bộ, đồng bằng Nam Bộ. Từ khoảng 1000 năm trở lại đây xu hướng biến lấn

lại được tiếp tục tới ngày nay.

Đối với vùng biển ven bờ châu thổ Sông Cửu Long thì công trình của

Nguyễn Biểu và nnk (2001) với báo cáo tổng hợp: “Điều tra địa chất và tìm

kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ Việt Nam (0-30m nước), tỷ lệ

1:500.000” là một trong những công trình tiêu biểu [10]. Trong công trình

này, các thành tạo Holocen đã được phân chia thành 3 phân vị. Đặc điểm trầm

tích Holocen và quy luật phân bố trong vùng biển nông đã được đề cập đến.

Đây là công trình được Trung tâm Địa chất và khoáng sản Biển tiến hành

trong 10 năm, với quy mô và hệ thống nhiều chuyên đề và bản đồ như: Bản

đồ địa chất trước Đệ tứ, địa chất Đệ tứ, địa hình - địa mạo, thuỷ - thạch động

lực, trầm tích tầng mặt, cấu trúc kiến tạo, dị thường xạ phổ, vành trọng sa, dị

thường địa hoá, phân bố dự báo khoáng sản, bồi tụ-xói lở, địa chất môi

trường, các bản đồ trường địa vật lý cho phạm vi cả nước (từ 0 đến 30 m

nước). Đặc biệt, lần đầu tiên những nghiên cứu về thuỷ-thạch động lực của đề

án đã phác họa được những nét cơ bản về môi trường trầm tích cũng như sự

biến động vùng cửa sông ven biển. Đề án này đã thực hiện hàng loạt các

tuyến địa chấn nông phân giải cao vùng biển nông trên toàn lãnh hải Việt

Nam nói chung và cửa sông Cửu Long nói riêng. Cho đến nay, trong phạm vi

cửa sông và ven bờ Cửu Long, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển đã

17

tiến hành đo trên 40 tuyến địa chấn nông phân giải cao, khoan 3 lỗ khoan sâu

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ven bờ và tiến hành khảo sát, lấy mẫu tại hàng trăm trạm (xem phụ lục kèm

theo). Tuy nhiên các tuyến địa chấn này chỉ mới tiến hành trong phạm vi từ

10m nước trở ra, còn trong phạm vi từ 10m nước trở vào bờ chưa được tiến

hành. Hiện tại, trong phạm vi vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng, Trung tâm

Địa chất và Khoáng sản Biển sẽ triển khai đề án: “Khảo sát, đánh giá tiềm

năng tài nguyên khoáng sản vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng, tỷ lệ 1:100.000” do

TS. Vũ Trường Sơn làm chủ nhiệm.

Các công trình liên quan tới nội dung nghiên cứu động lực, thuỷ-thạch

động lực vùng cửa sông ven biển của các tác giả Trịnh Việt An (2000, 2001,

2005), Nguyễn Mạnh Hùng (2000, 2004), Trần Hồng Lam (2001), Nguyễn

Văn Cư, và nnk (1990, 1995, 1999), Phạm Quang Sơn (2002, 2005), Nguyễn

Bá Quỳ (1994) trong các dự án, đề tài thuộc các chương trình về nghiên cứu

sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển đều đã đề cập tới những vấn đề về động lực,

thuỷ-thạch động lực vùng cửa sông ven biển.

Nguyễn Ngọc Thuỵ, năm 1995 đã thực hiện đề tài “Thuỷ triều biển

Đông và sự dâng lên của mực nước biển ven bờ Việt Nam” (KT-03-03).

Trong công trình này tác giả đã đề cập tới những đặc điểm về thuỷ triều biển

Đông, tác nhân quan trọng đối với động lực, thuỷ - thạch động lực vùng ven

bờ biển (đường bờ và cửa sông). Mặt khác, với những số liệu quan trắc trên

vùng biển Việt Nam, tập thể tác giả đã xem xét sự dâng lên của mực nước

biển ven bờ Việt Nam dưới góc độ do hiệu ứng nhà kính.

Đinh Văn Thuận, 2002, trong chuyên đề “Dao động mực nước biển

trong kỷ Đệ tứ ở dải ven biển Việt Nam” đã tổng hợp khá đầy đủ về vấn đề

dao động mực nước đại dương thế giới trong Đệ tứ và dao động mực nước

biển trong kỷ Đệ tứ Việt Nam và các vùng lân cận.

Về vấn đề dao động mực nước đại dương ở Việt Nam đã được các tác

18

giả như: Lê Đức An (1996), Trần Nghi (1996, 2001, 2004) [44,45,46], Trần

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đức Thạnh (1993, 1996), Doãn Đình Lâm, W.Boyd (2001), Nguyễn Thế

Tiệp, Nguyễn Ngọc (1993), Nguyễn Ngọc Thuỵ (1993), Nguyễn Thế Tiệp

(1998), Nguyễn Địch Dỹ (1987) ,... đề cập đến trong hàng loạt các công trình

công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước. Qua đó, những kết quả về dao

động mực nước biển trong Holocen ở Việt Nam của các thời kỳ 8000-7000

năm, 7000-4000 năm, 4000-3000 năm, 3000-2000 năm và 2000 năm cách

ngày nay đã được làm sáng tỏ. Các tác giả cũng đã xây dựng chi tiết sơ đồ dao

động mực nước biển trong thời kỳ Holocen ở Việt Nam gồm: 1 đợt biển tiến

với quy mô lớn vào thời kỳ 6000-5000 năm, 2 đợt biển tiến nhỏ trong giai

đoạn 3000-2000 năm và từ 1000 năm tới ngày nay.

Trần Nghi trong những năm từ 2001 đến 2005 đã thành lập bộ bản đồ

tướng đá-thạch động lực vùng biển ven bờ Vũng Tàu-Cà Mau, tỷ lệ

1:500.000; Bà Rịa-Vũng Tàu, tỷ lệ 1:100.000. Nội dung và kết quả của những

công trình này giúp ích cho việc nghiên cứu biến động vùng cửa sông của

châu thổ Sông Cửu Long.

Trên đây là những công trình cơ bản nhất, liên quan tới các thành tạo

trầm tích Holocen- hiện đại cũng như sự biến động cửa sông vùng ven biển

trên toàn quốc nói chung và khu vực cửa sông Cửu Long nói riêng. Các tác

giả đã nhìn nhận sự biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen-hiện

đại vùng ven biển Việt Nam nói chung và vùng ven bờ châu thổ sông Cửu

Long nói riêng có mối quan hệ nhân quả với dao động mực nước biển trong

Holocen. Nhìn chung, tuy đã đạt được một số kết quả đáng kể trong nghiên

cứu về đới bờ và cửa sông Việt Nam, nhưng đối với vùng cửa sông Cửu

Long-một trong hai khu vực cửa sông lớn nhất Việt Nam thì mức độ nghiên

cứu còn chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của thực tế đặt ra, nhất là vấn đề biến

động cửa sông và môi trường trầm tích trong tương lai gần.

19

Trong những năm từ 2006-2010 có nhiều công trình đã công bố những

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

vấn đề về địa tầng phân tập áp dụng cho vùng nghiên cứu (Nguyễn Biểu và

nnk, 2009); Hình thái cấu trúc Pleiocen-Đệ Tứ thềm lục địa Việt Nam (Mai

Thanh Tân và nnk, 2008); Địa tầng các trầm tích Neogen-Đệ tứ ở đồng bằng

Nam Bộ (Ngô Quang Toàn và nnk, 2008); Khái quát về cổ địa lý trong kỷ Đệ

tứ ở đồng bằng Nam Bộ (Nguyễn Địch Dỹ và nnk, 2008) [24]; Vị thế và dự

báo xu thế phát triển các cửa sông vùng châu thổ sông Cửu Long (Nguyễn

Địch Dỹ và nnk, 2008, 2010) [25,26]; Quá trình phát triển đồng bằng sông

Cửu Long trong Holocen được đề cập đến trong các công trình của (Tạ Kim

Oanh, Nguyễn Văn Lập, 2008); (Muracami F. và nnk, 2004); Những nguy cơ

thiệt hại, thích ứng và khả năng phục hổi đối với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

(Nguyễn Hữu Linh, 2007); (Nguyễn Thế Tưởng, Bùi Đình Khước, 2009); Đề

cập đến các công trình này liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới mục tiêu và

nhiệm vụ của đề tài KC09.06/06-10.

7. Khối lượng công tác thực hiện

Toàn bộ kết quả thực hiện đề tài được trình bày trong báo cáo tổng kết

và 13 đề tài nhánh. Đề tài đã thu thập tư liệu, xử lý, tổng hợp tài liệu, thực

hiện các chuyến khảo sát thực địa trên đất liền và ngoài biển trong 2 mùa

(mùa lũ và mùa cạn). 5 lỗ khoan máy với 300m khoan và 40 lỗ khoan tay đã được thực hiện. Đề tài đã thực hiện các loại phân tích bao gồm: 14C- 40 mẫu;

độ hạt: 300 mẫu; Khoáng vật sét: 20 mẫu; Vi cổ sinh: 150; BTPH: 150; Tảo:

70; Thạch học trầm tích: 100 mẫu; Chỉ tiêu địa hóa môi trường: 150 mẫu; Độ

đục: 300; Độ muối: 300; Thành phần vật liệu lơ lửng: 50; Kim loại nặng: 50.

Đề tài đã tiến hành đo địa chấn nông phân giải cao, đo sâu hồi âm và lấy các

loại mẫu khác nhau. Kết quả nghiên cứu được trình bày cô đọng trong báo cáo

tổng hợp của đề tài KC09.06/06-10. Báo cáo tổng hợp gồm 3 phần và 8

chương. Các số liệu và báo cáo được số hóa và lưu dưới dạng cơ sở dữ liệu.

20

Sản phẩm của đề tài thể hiện trên bảng 1.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1. Khối lượng công tác thực hiện

TT 1 Số lượng 1

2 1

3 1

1 4

1 5

1 6

7 1

1

1

1

8 9 10

1bộ 11

12 13 14 15 16 Tên tài liệu Bản đồ địa mạo vùng nghiên cứu (1:200.000) Bản đồ địa mạo 3 cửa sông (1:50.000): Hàm Luông, Định An, Tranh Đề Bản đồ địa chất Holocen vùng nghiên cứu (1:200.000) Sơ đồ Tân kiến tạo-địa động lực hiện đại vùng nghiên cứu, tỷ lệ 1:200.000 Bản đồ tướng đá cổ địa lý vùng nghiên cứu thời kỳ Holocen sớm (1:200.000) Bản đồ tướng đá cổ địa lý vùng nghiên cứu thời kỳ Holocen giữa (1:200.000) Bản đồ tướng đá cổ địa lý vùng nghiên cứu thời kỳ Holocen muộn (1:200.000) Bản đồ biến động hình thái đường bờ và cửa sông vùng nghiên cứu (tỷ lệ 1: 200.000) và 1:50.000 cho 3 cửa sông Bản đồ môi trường trầm tích hiện đại vùng nghiên cứu, tỷ lệ 1:200.000, và tỷ lệ 1:50.000 cho 3 cửa sông Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, tỷ lệ 1:200.000 và tỷ lệ 1:50.000 cho 3 cửa sông Bộ tư liệu đo đạc khảo sát biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen-hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long Các báo cáo đề tài nhánh và chuyên đề, Báo cáo tổng kết đề tài, báo cáo tóm tắt Các bài báo Tham gia đào tạo sau đại học CSDL (CD) 1bộ 1 bộ 5 2-3 1

8. Cá nhân và cơ quan tham gia, phối hợp nghiên cứu

Cơ quan chủ trì: Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TSKH Nguyễn Địch Dỹ

Thư ký đề tài: TS Doãn Đình Lâm

21

Các tác giả chính:

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

1. PGS.TSKH Nguyễn Địch Dỹ, Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam

2. TS Doãn Đình Lâm, Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam

3. TS. Phạm Quang Sơn, Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam

4. TSKH Nguyễn Biểu, Tổng hội ĐCVN

5. PGS.TS Chu Văn Ngợi, Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

6. PGS. TS Nguyễn Hoàng Trí, Đại học Sư phạm Hà Nội

7. PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Viện Cơ học, Viện KH&CN Việt Nam

8. PGS.TS Nguyễn Ngọc Khánh, Viện Phát triển bền vững vùng Trung

Bộ-Viện KHXH Việt Nam

9. TS. Vũ Văn Vĩnh, Liên đoàn BĐĐC Miền Nam, Cục ĐC&KS VN

10. ThS. Đinh Xuân Thành, Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

11. ThS. Vũ Văn Hà, Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam

12. ThS. Nguyễn Trọng Tấn, Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam

Các cơ quan tham gia:

1. Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam

2. Tổng hội ĐCVN

3. Tổng cục môi trường

4. Viện ĐC&ĐVL Biển- Viện KH&CN Việt Nam

5. Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

6. Viện Cơ học-Viện KH&CN Việt Nam

7. Trung tâm Hải văn

8. Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ-Viện KHXH Việt Nam

22

9. Trung tâm viễn thám-Liên đoàn bản đồ địa chất Miền Nam

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

10. Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển-Tổng cục Biển và Hải đảo

Việt Nam-Bộ TN&MT

11. Đại học Mỏ- Địa chất

12. Đại học Sư phạm Hà Nội

Danh sách cán bộ tham gia:

1. Viện Địa chất-Viện KH&CN Việt Nam: PGS.TSKH Nguyễn Địch

Dỹ, TS Doãn Đình Lâm, ThS Vũ Văn Hà, TS Đinh Văn Thuận, ThS Nguyễn

Trọng Tấn, TS Nguyễn Xuân Huyên, TS Phạm Quang Sơn, TS Mai Thành

Tân, KS Đặng Minh Tuấn, CN Nguyễn Minh Quảng, KS Lê Đức Lương, CN

Nguyễn Công Quân, CN Trịnh Thị Thanh Hà, ThS Phan Đông Pha, ThS

Hoàng Văn Thà, ThS Nguyễn Chí Dũng, CN Lê Minh Châu, KS Nguyễn

Thúy Hạnh, ThS Nguyễn Công Tuyết, ThS Nguyễn Tiến Công, CN Nguyễn

Trung Thành, KS Lê Thị Ninh, CN Hà Thị Xuân Thu, CN Nguyễn Thị Khang.

2. Tổng hội ĐCVN: TSKH Nguyễn Biểu

3. Tổng cục môi trường: TS Nguyễn Thị Hồng Liễu

4. Viện ĐC&ĐVL Biển: ThS Nguyễn Quốc Hưng

5. Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN: PGS.TS Chu Văn Ngợi,

PGS.TS Nguyễn Văn Vượng, ThS Đinh Xuân Thành, ThS. Nguyễn Thị Thu

Cúc, ThS. Nguyễn Trần Hà Vũ, ThS. Nguyễn Văn Nguyên, NCS Lương Thị

Thu Hoài, CN Nguyễn Thị Huyền Trang.

6. Viện Cơ học, Viện KH&CN Việt Nam: PGS. TS Nguyễn Mạnh Hùng,

ThS Nguyễn Văn Mơi, TS Nguyễn Thị Việt Liên.

7. Trung tâm Hải văn: ThS Nguyễn Anh Tuấn, ThS Hoàng Trung Thành,

CN Hồ Đắc Thành, CN Lưu Quang Hải, CN Bùi Mạnh Hà.

23

8. Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ-Viện KHXH Việt Nam:

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

PGS.TS Nguyễn Ngọc Khánh, ThS Nguyễn Hồng Anh, ThS Nguyễn Xuân

Hòa, ThS Lê Văn Hà.

9. Liên đoàn bản đồ địa chất Miền Nam: TS Vũ Văn Vĩnh.

10. Đại học Mỏ- Địa chất: GS. TSKH Phạm Năng Vũ

11. Đại học sư phạm Hà Nội: PGS. TS Nguyễn Hoàng Trí, PGS. TS Đỗ

Văn Nhượng, ThS Nguyễn Khắc Thành, ThS Phạm Văn Đức, ThS Nguyễn

Thị Thu Hà, CN Phí Thị Ngọc Diệp, CN Vũ Thế Hà.

12. Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển: KS Trịnh Thanh Minh

Lời cảm ơn

Tập thể tác giả chân thành cám ơn Bộ Khoa học và Công nghệ, Văn

phòng các Chương trình, Ban chủ nhiệm chương trình “Khoa học và Công

nghệ Biển phục vụ phát triển bền vững KT-XH” mã số KC09/06-10, Viện

Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Địa chất đã quan tâm chỉ đạo, động

viên giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi để đề tài tiến hành đúng kế hoạch. Các tác

giả chân thành cảm ơn các đơn vị phối hợp nghiên cứu có hiệu quả trong quá

trình thực hiện đề tài. Chúng tôi xin cảm ơn các nhà khoa học, các bạn đồng

nghiệp … đã góp ý kiến quý báu, giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thu thập

24

tài liệu, hội thảo, tổng kết báo cáo.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

25

PHẦN 1. CÁC HỢP PHẦN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG

1. 1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

NGHIÊN CỨU

1.1.1. Vị trí địa lý

Vùng nghiên cứu nằm ở phía Đông Nam Tây Nam Bộ, thuộc vùng ven

biển của 4 tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng (Hình 1.1).

Vùng nghiên cứu giới hạn trong khoảng tọa độ:

A: 106° 37' 36.5" 10° 19' 15.2"

B: 107° 1' 17.4" 10° 19' 11.4"

C: 106° 21' 53.8" 9° 15' 44.9"

D: 106° 6' 35.6" 9° 19' 49.3"

E: 106° 6' 39.4" 9° 39' 24.1"

Với vị trí này, vùng nghiên cứu chiếm lĩnh toàn bộ lối ra vào vùng châu

thổ Cửu Long bằng đường thuỷ, từ vùng biển Đông rộng lớn tiếp nối với

Campuchia và lên tận Lào. Dưới sông, qua hệ thống sông Tiền và sông Hậu,

cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt, có thể tới mọi miền của đồng bằng

sông Cửu Long. Ngược dòng sông Hậu có thể giao thương với Campuchia và

với Lào. Xuôi dòng sông Hậu ra biển có thể giao lưu quốc tế. Một số cảng

như Đại Ngãi, Tranh Đề và sân bay Sóc Trăng nếu được khơi thông và nâng

cấp, có thể nối vùng đất ngập nước này với các vùng khác trong cả nước và

quốc tế. Giữa các dòng sông có nhiều cù lao trù phú, đặc biệt là Cù Lao Dung

có vị thế lớn cho phát triển KT-XH.

Vùng châu thổ sông Cửu Long không chỉ có vị trí về văn hoá, về kinh tế,

mà còn là vị trí chiến lược về quân sự. Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, quân Xiêm

26

muốn chiếm đất Gia Định phải đánh chiếm Mỹ Tho, vì thế mà có trận Rạch

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Gầm-Xoài Mút. Năm 1861, sau khi đánh chiếm thành Gia Định, quân Pháp

dùng hai ngả đường để tiến đánh thành Định Tường (nay là thành phố Mỹ

Tho). Năm 1967 cũng tại Mỹ Tho, quân Mỹ hoàn thành căn cứ quân sự cấp

sư đoàn mang tên “Đồng Tâm” là căn cứ quân sự lớn nhất của quân viễn

chinh Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long. Tuy tất cả mưu đồ của ba kẻ xâm

lược trên đều thất bại trước truyền thống quật cường của khối đoàn kết dân

tộc Việt, nhưng có thể thấy, về mặt quân sự, địa bàn có một vị trí chiến lược

27

rất quan trọng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

28

Hình 1.1.Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Với đường bờ biển dài hàng trăm kilômét, vùng châu thổ sông Cửu Long và nhất là vùng cửa sông rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển: thủy hải sản, nông lâm ngư nghiệp biển, công nghiệp hướng biển, thương cảng, cảng cá,

dịch vụ cảng biển, xuất nhập khẩu, du lịch biển, vận tải biển.

Với vị trí địa lý này, vùng nghiên cứu đã được thiên nhiên dành tặng

những ưu đãi rất lớn về sông (mạng lưới sông suối dày đặc); có tiềm năng to

lớn về kinh tế biển, có ~240km đường bờ biển với vùng Biển Đông rộng lớn.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng to lớn mà thiên nhiên ban tặng thì vùng

nghiên cứu phải hứng chịu nhiều thiên tai như bão, gió chướng, triều cường,

nước dâng,... gây xói lở, bồi lấp cửa sông, phá hủy các công trình cầu cảng,

phá vỡ cấu trúc sinh thái ven biển, gây không ít khó khăn cho hoạt động sản

xuất, an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế.

1.1.2. Đặc điểm khí hậu, khí tượng

Vùng nghiên cứu có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo, không

chịu ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nhưng lại bị tác động mạnh mẽ của gió

Đông Nam từ biển thổi vào.

Nắng: Nằm ở vĩ độ thấp của vùng nhiệt đới, mặt trời chiếu sáng quanh

năm, đã tạo nên cảm giác ban ngày dài hơn ban đêm. Mùa khô dài đến 6 - 7

tháng, ít mây nên rất dồi dào về ánh sáng. Vì mùa khô nắng nhiều nên còn gọi

là mùa nắng, trong đó, Tiền Giang là nơi có tổng số giờ nắng trong năm cao

nhất vùng (2.709 giờ). Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 3 (298 giờ).

Tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 9 (165 giờ). Mùa nắng trung bình

mỗi ngày có gần 10 giờ nắng, mùa mưa giờ nắng trong ngày giảm xuống còn

khoảng 5,5 giờ.

29

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 26,0 đến 27,6OC, khá ổn định. Biên độ nhiệt trung bình giữa các thông số biến thiên từ 3 đến 5OC. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối vào tháng 4 (36,7OC); nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối vào

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tháng 1 (18,5OC). Tổng nhiệt trong năm trung bình đạt 9857OC. Số giờ nắng

trong năm trung bình từ 2236 đến 2788 giờ.

Bức xạ: Lượng bức xạ ở khu vực lớn và ổn định. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình ngày lớn nhất vào tháng 3 (548 calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (397 calo/cm2/ngày).

Bảng 1.1. Lượng bức xạ tại các tỉnh (calo/cm2/ngày)

9 10 11 12 Năm

444 441 440 431 418 410 406 397 413 412 407 403 402 401 402 397 397 390 391 391 8 398 398 398 398 7 411 412 404 403 5 447 447 440 432 4 510 510 503 489 3 548 541 534 521 2 519 512 506 494 1 450 448 468 434

6 TT Trạm 416 Mỹ Tho 1 410 Tân An 2 416 Bến Tre 3 408 Cần Thơ 4 Nguồn: số liệu niên giám thống kê các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh 2006.

Với chế độ nắng, bức xạ, nhiệt như vậy, cây trồng có thể phát triển

quanh năm. Trong nông nghiệp có thể gieo trồng ba vụ lúa trong năm, nếu có

điều kiện về đất và nước, chuyển dịch thời vụ ít có ảnh hưởng tới năng suất và

sản lượng. Cần chú ý rằng với một môi trường như vậy, sâu bệnh cũng có

điều kiện để phát triển.

Độ ẩm: Sự chênh lệch độ ẩm qua các tháng không lớn. Độ ẩm trung bình

tháng thay đổi từ 76,7% (tháng 3) đến 87,3% (tháng 9), sai biệt tối đa của độ

ẩm trung bình giữa các tháng là 10,6%. Độ ẩm trung bình năm 82,7%; độ ẩm

tối cao trung bình năm 93,2%; độ ẩm tối thấp trung bình năm 65,2%.

Bảng 1.2. Độ ẩm trung bình năm tại trạm 4 tỉnh (%)

Tỉnh

Trạm Tiền Giang Mỹ Tho Bến Tre? Bến Tre Trà Vinh Càng Long Sóc Trăng (TB nhiều năm) 2000 85 83 # # 2002 80 82 84 # 2003 84 84 85 # 2004 85 84 85 # 2005 83 84 86 # 2006 83 84 84 83,4

30

Nguồn niên giám thống kê các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh 2006;

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

# - không có số liệu

Mưa: lượng mưa trung bình trong năm ở vùng nghiên cứu đạt 1403mm,

được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và vùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến

tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa tập trung

trong mùa mưa tới 85,6% tổng số lượng mưa cả năm, với số ngày mưa trung

bình đạt từ 110-150 ngày. Lượng mưa tập trung vào tháng 10 chiếm 17,3%

lượng mưa cả năm. Các tháng mùa khô đều ít mưa. Đặc biệt là tháng 1 và

tháng 2 rất ít mưa, lương mưa dưới 20mm/tháng.

Gió: theo số liệu của trạm quan trắc Côn Đảo, căn cứ vào các hoa gió và

các bảng tần xuất, được tính trung bình từ chuỗi quan trắc dài ngày. Chế độ

gió ở đây được phân thành hai mùa rõ rệt; Mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây

Nam. Mùa gió Đông Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mùa gió

Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9. Mùa gió Đông Bắc chủ yếu thịnh

hành hướng gió Đông Bắc (NE) và Đông (E). Tần xuất hướng gió này theo

các tháng dao động từ 66 - 86%. Mùa gió Tây Nam chủ yếu thịnh hành hướng

gió Tây Nam (SW) và Tây (W), Tần xuất giữa các tháng dao động 42-85%.

Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng giao thời, hướng và tốc độ gió luôn thay đổi.

Tháng 1 là tháng đặc trưng cho mùa gió Đông Bắc còn tháng 7 là tháng đặc

trưng cho mùa gió Tây Nam.

Theo “Báo cáo kết quả khảo sát và tính toán các yếu tố khí tượng thuỷ

văn vùng cửa Định An” của Trung tâm Khảo sát, Nghiên cứu, Tư vấn Môi

trường biển. - Hà nội 1995; vùng biển ngoài khơi gió có tốc độ trung bình

năm là 4,4m/s. Thời kỳ ổn định của gió mùa Đông Bắc tốc độ trung bình

tháng dao động từ 4,7-5,9m/s. Mùa gió Tây Nam từ 2,7-4,9m/s. Tốc độ cực

đại quan trắc được đến 30m/s. Hai tháng giao thời, tháng 4 và tháng 10 tốc độ

nhỏ hơn, xấp xỉ 3m/s.

31

Thời tiết đặc biệt: bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) rất ít khi đổ bộ trực

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tiếp vào khu vực, mà chỉ ảnh hưởng khi có bão hoặc ATNĐ hoạt động ở Nam

biển Đông hoặc đổ bộ vào khu vực miền Trung. Khi có tình thế thời tiết trên,

ở khu vực gió không mạnh nhưng có nhiều mưa. Ở Nam biển Đông, bão và

ATNĐ đều có khả năng xuất hiện vào tất cả các tháng trong năm, nhưng tập

trung nhiều vào các tháng 9, 10, 11 và 12, các tháng 1, 2, 3, 4 và 5 khả năng

xuất hiện nhỏ (nhỏ hơn 5%)

Bảng 1.3. Tần suất bão và ATNĐ ở phía Nam Biển Đông (1961-1980) (%)

Tháng 6 Tần suất xuất hiện % 6,3 7 5,1 8 3,8 9 12,7 10 16,4 11 12 31,6 10,1

1.1.3. Đặc điểm thủy văn

a. Mạng lưới sông suối.

Vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long thuộc hạ lưu lưu vực sông Mê

Kông. Khi chảy qua biên giới Việt Nam-Campuchia, dòng sông Mê Kông

chia ra hai nhánh lớn là sông Tiền và sông Hậu, trong đó sông Tiền vận

chuyển khoảng 70% lượng nước và bùn cát, sông Hậu vận chuyển khoảng

30% tổng lượng nước và bùn cát lơ lửng của cả hệ thống Mê Kông. Bên trong

lãnh thổ Việt Nam nước giữa hai nhánh sông lớn được phân chia và điều hoà

lại, một phần nước sông Tiền chảy sang sông Hậu qua nhánh sông Vàm Nao

(thuộc địa phận tỉnh An Giang), do vậy trước khi chảy ra biển lượng nước

trên sông Tiền và sông Hậu xấp xỉ như nhau, độ chênh lệch lưu lượng nước

giữa hai nhánh sông lớn này không lớn, ít khi vượt quá 2%.

Trước đây nước sông Mê Kông chảy ra biển Đông thông qua 9 cửa sông,

gồm nhánh sông Tiền chia nước qua 6 cửa (cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai (đã

đắp đập), cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Hàm Luông) và nhánh sông Hậu

chia nước qua 3 cửa (Định An, Bát Sắc (đã bồi lấp), Tranh Đề), vì vậy đoạn

sông Mê Kông chảy trên đất Việt Nam có tên là Cửu Long (Chín con rồng).

32

Nhưng hiện nay, cửa Ba Lai (thuộc sông Tiền) đã ngừng chảy do có đập và

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cống Ba Lai ngăn lại (năm 1999), cửa chính Bát Sắc (thuộc sông Hậu) đã

ngừng hoạt động từ nhiều năm qua do Cù Lao Dung phát triển bồi tụ mạnh và

cửa sông đã bị bồi lấp đầy. Như vậy, về thực chất hiện nay dòng sông Cửu

Long chỉ còn 7 cửa sông đang hoạt động là: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm

Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu (thuộc sông Tiền), cửa Định An, cửa

Tranh Đề (thuộc sông Hậu).

Mạng lưới sông, kênh, rạch phát triển mạnh mẽ trong vùng đồng bằng

sông Cửu Long. Mật độ mạng lưới thuộc vào loại lớn nhất trên lãnh thổ nước ta, dao động từ 2 đến 4km/km2.

b. Chế độ dòng chảy

Chế độ dòng chảy đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng mạnh của

nhiều yếu tố tác động: dòng chảy sông Mê Kông, thủy triều biển Đông, thủy

triều biển Tây-vịnh Thái Lan và chế độ mưa ở đồng bằng. Nguồn nước chảy về sông Cửu Long là khá lớn, hằng năm có khoảng 422 tỷ m3 nước từ thượng

nguồn cộng với lượng nước mưa trung bình năm cung cấp cho sông Cửu Long khoảng 67 tỷ m3. Tổng lượng nước hằng năm ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 500 tỷ m3.

Dòng chảy sông Mê Kông có hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt. Ở

thượng lưu mùa lũ bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng XI, mùa kiệt bắt

đầu từ tháng XII và kết thúc vào tháng V. Biển Hồ có vai trò điều tiết dòng

chảy ở hạ lưu PhnôngPênh, tuy thế ở hạ lưu vẫn còn sự tương phản sâu sắc

giữa mùa lũ và mùa kiệt, lưu lượng giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất vẫn

chênh lệch rất lớn. Vào mùa lũ, lưu lượng tăng cao đột ngột và đạt trung bình từ 20.000 đến 30.000m3/s, trong đó vào mùa khô lưu lượng giảm nhỏ và chỉ còn khoảng 2.000-4.000m3/s, bằng 10-20% lưu lượng các tháng mùa lũ.

33

- Mùa lũ: So với lũ ở vùng thượng lưu, lũ đồng bằng sông Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

diễn ra hiền hòa hơn. Do tác dụng điều tiết của Biển Hồ và khi về đến đồng

bằng lại có dòng chảy tràn bờ nên mực nước lũ ở Tân Châu, Châu Đốc dâng

từ từ. Lũ lên và xuống với cường suất nhỏ, trung bình 5-7cm/ngày. Những

trận lũ lớn và sớm cũng chỉ đạt 10-12 cm/ngày. Cường suất lũ lớn nhất trong

thời đoạn ngắn cũng chỉ đạt 20-30cm/ngày. Tốc độ truyền lũ chậm 1,5-2km/h,

nếu gặp kỳ triều cường tốc độ truyền lũ giảm đi rõ rệt, vì vậy khả năng thoát

lũ kém. Một đặc điểm nổi bật là lũ đồng bằng sông Cửu Long là lũ một đỉnh.

Đỉnh lũ xuất hiện vào cuối tháng IX đến nửa đấu tháng X. Tháng VIII cũng

thường xất hiện đỉnh phụ, bởi sau đỉnh này vào tháng IX lũ hoặc bị hạ thấp

đôi chút hoặc gần lằm ngang hay tăng chậm hơn so với kỳ trước và sau đó.

Tháng có dòng chảy lớn nhất ở Tân Châu là tháng IX, sớm hơn 1 tháng so với

Châu Đốc.

Dòng chảy lũ không những có lưu lượng lớn, tổng lượng lũ lớn, mực

nước lũ cao, thời gian lũ kéo dài ngày, hàm lượng bùn cát lớn, mà còn một

yếu tố quan trọng khác đó là lưu tốc dòng chảy mùa lũ rất lớn vmax= 1,5-3,0

m/s. Lưu tốc dòng chảy lũ đã vượt nhiều lần so với lưu tốc cho phép không

xói [v0] của điều kiện đất nền lòng sông và mái bờ, tạo khả năng tải cát của

dòng nước trong mùa lũ rất lớn.

Bảng 1.4. Vận tốc dòng chảy lớn nhất tại một số trạm trên sông Cửu Long

Địa điểm Tân Châu Châu Đốc Sa Đéc Mỹ Thuận Vĩnh Long Cần Thơ

Vmax(m/s) 1,86 2,45 2,0 2,7

2,11 2,40 Mùa cạn: Tuy dòng chảy giảm dần từ tháng X năm trước đến tháng IV

năm sau nhưng mùa cạn bắt đầu từ XII kéo dài tới tháng VI, chia làm hai giai

đoạn:

- Từ tháng X đến tháng II: lưu lượng cơ bản lớn, rút nhanh.

34

- Từ tháng III đến tháng IV: là những tháng kiệt nhất, lưu lượng sông ít

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

thay đổi. Tháng có dòng chảy nhỏ nhất là tháng IV.

Lưu lượng bình quân mùa cạn sông Mê Kông khoảng 6.000m3/s, đặc biệt là các tháng III, IV lượng nước bình quân chỉ đạt 2.000m3/s. Nguồn nước duy

nhất đổ vào đồng bằng sông Cửu Long là lượng nước của sông Mê Kông ,

những tháng kiệt, lưu lượng thượng nguồn tương đối ít mà lòng sông Cửu

Long rộng và sâu, độ dốc lòng sông nhỏ, địa hình bằng phẳng, vì vậy ảnh

hưởng của thủy triều đối với sông Cửu Long là rất mạnh vào mùa kiệt.

c. Dòng chảy cát bùn của sông Cửu Long.

Hàm lượng bùn cát trên sông Cửu Long nói chung là nhỏ, tuy vậy do

tổng lượng dòng chảy lớn nên khối lượng bùn cát hằng năm của sông Cửu Long có thể đạt trên dưới 200.106 triệu tấn/năm.

Bảng 1.5. Hàm lượng bùn cát tại một số trạm đo trên sông Cửu Long

Hàm lượng bùn cát Tân Châu Châu Đốc Vàm Nam Cần Thơ Kg/m3 0,43 0,74 2,15 0,7 Mỹ Thuận 0,51

Hàm lượng bùn cát của sông Tiền lớn hơn sông Hậu, hàm lượng bùn cát

của trạm Tân Châu lớn gấp 4-5 lần trạm Châu Đốc. Hàm lượng bùn cát đầu

mùa lũ lớn hơn cuối mùa lũ.

Đường cấp phối hạt của bùn cát lơ lửng và bùn cát lắng không đều.

Đường cấp phối hạt bùn cát sông và cát lơ lửng của sông Tiền lớn hơn sông

Hậu và cấp hạt nhỏ dần dọc theo sông. Đường kính hạt cát lòng sông tại Mỹ

Tho tương đương với đường kính hạt cát lơ lửng tại Tân Châu.

1.1.4. Đặc điểm hải văn

a. Chế độ thủy triều

Vùng ven biển Nam Bộ chế độ bán nhật triều không đều lại trở lên rõ rệt.

Hầu hết các ngày trong tháng có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống với chênh

35

lệch rõ rệt giữa các độ cao nước ròng. Độ lớn triều trong vùng khoảng 3-4 m

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

trong kỳ nước cường và 1,5-2m vào kỳ nước kém. Tốc độ thủy triều ở khu

vực này lên xuống khá nhanh, có thể đạt 0,5-0,6 m/giờ. Biên độ triều lớn nhất

quan sát được ở Vũng Tàu và có xu hướng giảm dần về phía mũi Trà Vinh.

Tại các cửa sông lớn trong vùng chế độ thủy triều diễn ra phức tạp hơn, đặc

biệt vào mùa mưa do lượng nước sông đổ ra biển lớn nên mực nước tại đây

tăng lên.

b. Chế độ sóng

Sóng biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình động

lực ven bờ, đặc biệt là vận chuyển trầm tích. Nói chung vùng biển nghiên cứu,

chế độ sóng phù hợp hoàn toàn với chế độ gió.

Tháng 1 là tháng đặc trưng cho gió mùa Đông Bắc, sóng tập trung chủ

yếu vào hướng Đông Bắc (chiếm 86,69%). Độ cao sóng trong gió mùa Đông

Bắc khá lớn. Tính trung bình có khoảng 6% số trường hợp quan trắc được độ

cao sóng từ 2m trở lên (cấp V trở lên).

Tháng 7 là tháng đặc trưng cho mùa gió Tây Nam, trường sóng tập trung

vào các hướng Tây và Tây Nam chiếm 44,11% và 36,41% tổng số trường hợp tương

ứng. Độ cao sóng cũng nhỏ hơn so với gió mùa Đông Bắc trong tháng 1.

Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng đặc trưng cho thời kỳ chuyển tiếp giữa

hai mùa gió nên có tần suất xuất hiện phân bố tương đối rộng theo tất cả các hướng.

c. Chế độ mực nước

Chế độ mực nước ở đây được quyết định bởi chế độ thuỷ triều. Các quá

trình thuỷ thạch động lực khác nhau có liên quan đến mực nước, như nước

dâng do bão, lũ ....

Tính chất thuỷ triều ở vùng biển ven bờ đồng bằng sông Cửu Long thuộc

loại hỗn hợp triều, thiên về bán nhật triều. Hầu hết số ngày trong tháng có hai

36

lần nước lên và hai lần nước xuống với sự chênh lệch đáng kể của hai độ lớn

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

triều trong ngày. Độ lớn triều trong kỳ nước cường có thể đạt tới trên dưới

3m. Kỳ nước cường thường xảy ra vào thời kỳ trăng non và trăng tròn (tức là

1. 2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI

vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch).

1.2.1. Xã hội

a. Dân số, dân tộc

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, một số gia đình chạy

loạn trong chiến tranh lần lượt trở về quê cũ, một số lính ngụy được học tập

cải tạo, phần lớn được trở về gia đình làm ăn sinh sống. Từ miền Bắc, hầu hết

cán bộ tập kết trở về quê tiếp tục công tác, một số bộ đội chuyển ngành.

Những biến động và xáo trộn về dân cư và dân số trong chiến tranh dần dần

được ổn định. Từ năm 1976 đến nay, dân cư và dân số ở khu vực tương đối

ổn định và có sự phát triển bình thường.

Cộng đồng dân cư tại Tiền Giang gồm các dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer,

Chăm, các dân tộc khác đã từng sinh sống ở Việt Nam và người nước ngoài.

Bảng 1.6. Dân cư các tỉnh vùng nghiên cứu

Tỉnh

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Diện tích tự nhiên (km2) 2.481,8 2.3565,7 2.225,15 3.310 Dân số (nghìn người) 1.717,4 1.358,3 1.008,6 1.302,6 Mật độ dân số (người/km2) 692 576 455 394 Nguồn Lao động (người) 936.694 911.857 734.404

Nguồn: tổng hợp từ Niên giám thống kê các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre,

Trà Vinh, Sóc Trăng năm 2006.

Dân số trong vùng phát triển tương đối nhanh trong những năm đầu, sau

khi chiến tranh kết thúc. Sau đó, vào thế kỷ XXI, tốc độ tăng dân số dần đi

37

vào ổn định theo kế hoạch phát triển dân số của cả nước và của vùng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1.7. Diễn biến dân số các tỉnh vùng nghiên cứu (người)

2002 2001 2004 2005 2006

986.985

Tỉnh 2003 Tiền Giang 1.633.972 1.649.036 1.664.838 1.681.558 1.698.851 1.717.427 1.308.216 1.319.020 1.337.872 1.345.637 1.351.472 1.358.314 Bến Tre Trà Vinh 996.056 1.008.609 1.018.285 1.028.569 1.039.319 1.209.599 1.226.667 1.243.982 1.257.397 1.272.249 1.287.338 Sóc Trăng Nguồn: Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng, 2007.

Có thể thấy rằng, dân số của các tỉnh vùng cửa sông Cửu Long tăng theo

tỷ lệ tăng tự nhiên, không chịu ảnh hưởng của tăng dân số cơ học, tức là

không có sự di cư từ các miền đất khác đến đây. Kể cả khi các tỉnh này thành

lập các khu, cụm công nghiệp thì sức hút lao động từ nơi khác đến cũng

không đáng kể.

Có thể thấy điều đó qua biến động của dân số và lao động nông nghiệp.

Bảng 1.8. Cơ cấu dân số trong các tỉnh vùng nghiên cứu (người)

Dân số năm 2006

Tỉnh Tổng Nam Nữ Tăng tự nhiên/1000 dân Thành thị Nông thôn

12.10 8,13 12,87

Tiền Giang 1.717.427 256.543 1.460.884 832.008 885.419 Bến Tre 1.358.314 132.588 1.225.726 658.861 699.453 896.087 505.399 541.727 Trà Vinh 1.047.126 151.039 Sóc Trăng 1.287.338 237.383 1.049.955 658.768 628.570 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng 2006

Bảng 1.9. Cân đối Lao động trong các tỉnh vùng nghiên cứu (người)

Tỉnh

Tổng nguồn đang làm việc Lao động năm 2006 Nông-lâm nghiệp Thuỷ sản Công nghiệp Xây dựng

625.385 16.752 452.614 58.640 373.177 69.572

21.753 16.553 8.002 79.326 50.393 27.057

38

Tiền Giang 1.278.610 936.694 692.688 911.857 Bến Tre 574.718 780.746 Trà Vinh Sóc Trăng Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng 2006

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Như vậy, dân số khu vực tập trung chủ yếu vào các vùng nông thôn, dân

số thành thị chiếm một phần không nhiều, tỷ lệ nam thường thấp hơn nữ,

riêng chỉ có ở Sóc Trăng, tỷ lệ nam cao hơn nữ. Điều này cho thấy nông

nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế khu vực, chủ yếu là nông

nghiệp truyền thống. Vì vậy, hiện tượng nông nhàn vẫn còn phổ biến.

Tỷ lệ cao trong cơ cấu dân số của lứa tuổi từ 19 tuổi trở xuống phản ánh

thành phần dân số sống phụ thuộc ở khu vực rất cao, nó đặt ra nhiều vấn đề về

trường lớp, khu vui chơi và công ăn việc làm cho những thanh niên đến tuổi

Lao động v.v…

Số người già từ 60 tuổi trở lên ở đây chiếm tỷ lệ trung bình so với khu

vực (7%), song đây là vấn đề đang đặt ra những yêu cầu về phục vụ, giải trí, khám

chữa bệnh và những vấn đề bảo vệ sức khỏe để nâng cao tuổi thọ của người dân.

b. Giáo dục

Sự nghiệp giáo dục của các tỉnh vùng cửa sông ven biển châu thổ sông

Cửu Long đã và đang được quan tâm phát triển, từ giáo dục mần non đến

trung học cơ sở, phổ thông trung học, các chính sách cho con em dân tộc thiểu

số cũng được quan tâm.

Tính đến 30/09/2006, tỉnh Tiền Giang có tổng số 496 trường học các

cấp, 9.388 lớp học với 323.334 học sinh. Trong đó, học sinh phổ thông chiếm

88% tổng số học sinh trong tỉnh.

Cho đến nay giáo dục tiểu học đã được phổ cập ở tất cả các tỉnh. Mặc dù

vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long có đặc điểm là dân tộc nhưng

sự phát triển chung về giáo dục-đào tạo đã đạt được nhiều tiến bộ. Điều đó đã nâng

39

cao dân trí và phát huy trí lực của các cộng đồng dân cư trong vùng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1.10. Số trường, lớp học, giáo viên và học sinh mẫu giáo tính đến 30/9/2006

Tỉnh Trường học (trường) Lớp học (lớp) Giáo viên (người)

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 111 161 82 169 1.207 1.056 856 1.190 1.329 1.114 840 906 Học sinh (nghìn người) 38,5 31,2 22,4 30,4

Nguồn: Niên giám thống kê 2006

Bảng 1.11. Số trường phổ thông các tỉnh tính đến 30/9/2006

Tỉnh Tổng số PTCS Trung học

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 385 366 332 409 Tiểu học THCS 119 135 91 95 231 191 217 280 Chia ra THPT 29 40 21 14 5 - 3 13

1 - - 7 Nguồn: Niên giám thống kê 2006

Bảng 1.12. Số lớp học phổ thông các tỉnh tính đến 30/9/2006

Tỉnh Tổng số

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 8.181 6.740 5.399 7.554 Tiểu học 4.455 3.378 3.156 4.867 Chia ra THCS 2.641 2.329 1.548 1.929 Trung học 1.085 1.033 695 758

40

Nguồn: Niên giám thống kê 2006

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1.13. Số học sinh phổ thông các tỉnh tính đến 31/12/2006 (người)

Tỉnh Tổng số

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 284.834 227.577 161.863 221.892 Tiểu học 133.950 97.641 78.826 119.952 Chia ra THCS 105.260 87.365 55.699 71.766 Trung học 45.624 42.571 27.338 30.174

Nguồn: Niên giám thống kê 2006

Số học sinh phổ thông là con em các dân tộc ít người đến trường ngày

một gia tăng, tập trung ở hai tỉnh là Trà Vinh (47.236 học sinh) và Sóc Trăng

(66.171 học sinh)

Bảng 1.14. Số học sinh phổ thông thuộc các dân tộc ít người tính đến 31/12/2006

Tỉnh

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng số (người) 0 0 47.236 66.171 Tiểu học 0 0 25.943 41.092 Chia ra THCS 0 0 15.661 19.567 Trung học 0 0 5.632 5.512

Nguồn: Niên giám thống kê 2006

Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp

năm sau cao hơn năn trước. Đây là dấu hiệu đáng mừng của giáo dục các tỉnh

đồng bằng ven biển châu thổ sông Cửu Long.

Tính đến hết năm 2006, tổng số sinh viên đại học và cao đẳng ở Tiền

Giang là 2.298 người, ở Bến Tre là 2.944 người, ở Trà Vinh là 4.425 người và

ở Sóc Trăng là 1.470 người.

Văn hoá cũng phát triển trên toàn vùng, đáp ứng phần nào nhu cầu xem,

đọc, nghe, nhìn của đồng bào, nhưng chưa phải là đã phát triển kịp tiến độ

41

phát triển xã hội.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1.15. Số thư viện và số sách do địa phương quản lý

Tỉnh

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Số thư viện 9 9 8 9 Số sách (nghìn bản) 290,0 130,6 113,7 209,6 Số rạp chiếu phim 4 4 1 1 Số rạp hát - - 1 -

Nguồn: Niên giám thống kê 2006.

c. Y tế

Công tác y tế chăn sóc sức khỏe cho người dân ở các tỉnh ven biển đồng

bằng sông Cửu Long đã và đang được chú trọng. Mạng lưới chăm sóc sức

khoẻ cộng đồng phát triển đều khắp trên địa bàn các tỉnh ven biển đồng bằng

sông Cửu Long, hầu như không còn điểm trắng về cơ sở khám chữa bệnh ở

các vùng đồng bào dân tộc ít người. 100% các xã đều có trạm y tế, đội ngũ

bác sỹ, y tá ngày càng được bổ sung phát triển cả về số lượng và chất lượng,

điều đó đã làm gia tăng sức khoẻ nguồn nhân lực cho toàn vùng, đáp ứng yêu

cầu chương trình phát triển về thể lực do Trung ương đề ra. Tuy vậy, sự phát

triển của mạng lưới chăm sóc sức khoẻ cộng đồng còn chưa phù hợp với tốc

độ phát triển dân cư trong vùng cũng như nhu cầu mở rộng các điểm dân cư,

nhất là ở các điểm khai khẩn hoang mới ngoài đê.

Bảng 1.16. Số cơ sở khám, chữa bệnh thuộc sở Y tế năm 2006

Chia ra

Tỉnh Trạm y tế Số giường

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng số Bệnh viện 12 10 9 11 199 178 103 128 Phòng khám 17 8 14 12 Bệnh viện Đ dưỡng - - - - 3.016 2.310 1.400 1.846

42

169 160 80 105 Nguồn: Niên giám thống kê 2006

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1.17. Số cán bộ y tế năm 2006

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Bác sỹ 691 805 399 461 Y sỹ 779 734 544 511 Y tá 785 659 474 447 Nữ hộ sinh 245 202 199 186

Nguồn: Niên giám thống kê 2006.

Công tác phòng bệnh đã được thực hiện tốt, trên toàn vùng đã khống chế

và cơ bản thanh toán được các bệnh dịch nguy hiểm như cùm gia cầm H5N1;

sốt rét, sốt phát ban, thương hàn, tiêu chảy cấp, v.v. không xảy ra các bệnh

dịch lớn. Hàng năm thực hiện tiêm chủng mở rộng phòng ngừa 6 bệnh cho trẻ

em dưới 6 tuổi đạt trên 98%; trên 90% trẻ em dưới 2 tuổi được cân định kỳ

theo chương trình theo dõi suy dinh dưỡng trẻ em.

1.2.2. Kinh tế

a. Nông, lâm, ngư nghiệp

Vùng cửa sông châu thổ sông Cửu Long lấy nông nghiệp làm ngành sản

xuất chính. Sản xuất nông nghiệp đã có từ ngàn đời nay và là nguồn thu nhập

chính của người dân trong vùng.

Phát triển nông nghiệp trong vùng tập trung vào cây lúa, chính vì vậy đã

tạo cho vùng thế mạnh sản xuất và xuất khẩu gạo ra khu vực và quốc tế. Hàng

năm, đồng bằng sông Cửu Long xuất khẩu 50% lượng gạo trong cả nước.

Một thế mạnh nữa của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng cửa

sông ven biển sông Cửu Long nói riêng là nuôi trồng thủy sản. Chính thế

mạnh này đã làm giầu, làm cho vị thế vùng đất trù phú này được nâng lên rõ

rệt. Điều này thể hiện ở lượng tôm xuất khẩu ra nước ngoài, chiếm 60% lượng

tôm xuất khẩu của cả nước. Ngoài ra, từ đây còn xuất đi các mặt hàng như

43

lạc, cà phê, hạt điều, đậu nành, vừng, trứng muối, lông vịt, v.v.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hiện nay, ngoài mô hình sản xuất hộ gia đình là chủ yếu. Mô hình trang

trại nông nghiệp và thuỷ sản hộ gia đình đã xuất hiện nhiều, tạo nên sức bật

cho sản xuất hàng hoá tập trung, nhưng cũng đã dần dần thay thế sản xuất

truyền thống, tạo nên những tác động đến việc sử dụng nước và phần nào đó

tác động đến dòng chảy của các con sông, các kênh rạch trong vùng. Số lượng

và cơ cấu trang trại thay đổi theo từng năm, nhưng xu thế tăng là chính. Trong

đó Sóc Trăng là tỉnh phát triển mạnh nhất về sản xuất nông nghiệp trang

trại với 4.757 trang trại trong năm 2005, ước tính 2006 là 6.270 trang trại

Chính việc giao đất giao rừng đến tận tay người dân, cơ chế bảo vệ rừng

ngập mặn xen lẫn với nuôi trồng thủy sản không hợp lý đã tác động tiêu

cực tới rừng ngập mặn như mất diện tích rừng ngập mặn, giảm thành phần

loài động thực vật rừng ngập mặn.

Bảng 1.18. Số trang trại phân theo địa phương (trang trại)

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 420 813 2.246 2002 307 658 786 2.167 2003 1.079 3.374 1.641 2.794 2004 1.360 3.206 2.546 4.757 2005 1.989 3.308 2.584 4.757

Sơ bộ 2006 2.213 3.479 2.601 6.270 Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006 [21]

Cơ cấu trang trại mỗi địa phương có những đặc điểm riêng, tuỳ thuộc và

cơ cấu sản xuất và xu thế phát triển hàng hoá nông sản của từng tỉnh, chủ yếu

phụ thuộc vào dòng hàng nông sản xuất khẩu. Nhưng có thể thấy xu thế phát

triển các trang trại nuôi trồng thuỷ sản là mạnh nhất, vì vùng cửa sông Cửu

Long là nơi tập trung cao nhất nguồn nguyên liệu thuỷ sản cho các cơ sở chế

biến, sau đó đến các trang trại chăn nuôi và trồng cây hàng năm. Riêng tỉnh

Sóc Trăng không chỉ có số lượng trang trại nhiều nhất mà còn là nơi có số

lượng trang trại trồng cây hàng năm lớn nhất, điều này phù hợp với tập quán

44

sản xuất truyền thống của đồng bào dân tộc cư trú nơi đây.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Cây hàng năm trên địa bàn tập trung chủ yếu vào cây có hạt, đảm bảo

cho lượng thóc hàng hoá xuất khẩu liên tục trên thị trường.

Bảng 1.19. Diện tích cây lương thực có hạt phân theo địa phương (nghìn ha)

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 285,0 102,4 239,6 373,1 2002 268,2 100,7 239,3 357,4 2003 264,0 96,3 241,4 351,4 2004 262,5 91,3 240,6 317,8 2005 255,3 84,3 237,6 324,4 Sơ bộ 2006 251,3 82,6 233,6 327,3

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006

Trong tổng diện tích cây có hạt, diện tích lúa (cả năm) chiếm tỷ lệ đáng

kể, chiếm đến 98-99%. Mặc dù diện tích có giảm xuống theo quá trình công

nghiệp hóa, cây lúa vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nông nghiệp ở vùng cửa

sông Cửu Long.

Bảng 1.20. Diện tích cây lúa phân theo địa phương (nghìn ha)

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 282,4 101,6 237,0 370,4 2002 265,0 99,6 235,8 354,9 2003 260,8 95,5 236,2 349,6 2004 259,4 90,5 235,6 315,2 2005 251,9 83,5 232,4 321,6 Sơ bộ 2006 247,7 81,8 228,2 324,4

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006 [21]

Mặc dù diện tích trống lúa có giảm do quá trình công nghiệp hóa, tuy

nhiên kĩ thuật trồng, chăm sóc, con giống được nâng cao; do đó sản lượng lúa

gạo ổn định trong nhiều năm trở lại đây; góp phần ổn định lương thực cho

đồng bằng sông Cửu Long và cho cả nước. Ổn định lương thực rất quan trọng

bởi lẽ lúa gạo không chỉ là hàng hoá xuất khẩu của vùng nói riêng và của

đồng bằng Cửu Long nói chung mà lúa gạo còn giữ vai trò đảm bảo an ninh

lương thực cho cả nước, điều này nói lên vị trí và vị thế của lúa gạo vùng cửa

45

sông Cửu Long.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 1.21. Sản lượng lúa cả năm của các địa phương

Sản lượng lúa (Tấn) Tỉnh 2001 2004 2003 2002 2005

341.391 368.173 380.949 392.075

ước 2006 Tiền Giang 1.287.594 1.285.349 1.268.002 1.315.267 1.303.231 1.214.252 Bến Tre 379.637 332.464 902.173 1.005.886 1.045.617 1.033.804 1.028.815 1.029.791 Trà Vinh Sóc Trăng 1.525.771 1.642.833 1.610.254 1.526.035 1.634.205 1.602.155 Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006 [21]

Ngoài ra, cây mía bãi của vùng cũng có vai trò khá quan trọng trong đời

sống nông nghiệp, diện tích cây mía phát triển theo nhu cầu nguyên liệu mía

đường của một số nhà máy đường phân bố trong vùng. Từ năm 2000 đến

nay, diện tích cây mía khá ổn định.

Bảng 1.22. Diện tích cây mía phân theo địa phương (nghìn ha)

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 0,7 12,9 5,3 10,2 2002 0,3 12,8 8,2 13,0 2003 0,3 11,2 7,6 11,1 2004 0,4 9,8 7,0 10,3 2005 0,4 8,9 6,3 11,0 Sơ bộ 2006 0,4 9,7 6,8 13,0

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006 [21]

Ngoài mía, trong cơ cấu cây hàng năm, cây lạc (đậu phộng) cũng có diện

tích tương đối ổn định, đây là cây nguyên liệu cho một số cơ sở chế biến bánh

kẹo truyền thống của địa phương trong vùng.

Bảng 1.23. Diện tích cây lạc phân theo địa phương (nghìn ha)

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 0,4 1,6 0,2 2002 0,1 0,5 2,1 0,1 2003 0,3 0,3 2,4 0,1 2004 0,3 0,3 2,8 0,1 2005 0,3 0,4 3,6 0,1 Sơ bộ 2006 0,2 0,3 3,4 0,1

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006 [21]

46

Chăn nuôi trong vùng tập trung vào các đàn gia súc và gia cầm. Theo số

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

liệu thống kê từ năm 2000 đến 2006, đàn trâu không còn chiếm ưu thế trong

đàn gia súc như trước đây và số lượng con giảm dần.

Bảng 1.24. Đàn trâu phân theo địa phương (nghìn con)

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 0,9 5,4 7,6 3,1 2002 0,9 3,6 4,0 1,5 2004 0,6 2,8 2,9 1,4 2003 0,8 3,3 3,7 1,4 Sơ bộ 2006 0,5 1,7 2,5 2,2

2005 0,6 2,9 2,8 1,5 Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006

Trong khi đó đàn bò tăng nhanh và trở thành hàng hoá chủ lực giảm

nghèo cho các hộ đồng bào các dân tộc trên địa bàn.

Bảng 1.25. Đàn bò phân theo địa phương (nghìn con)

Tỉnh 2000 2002 2003 2004 2005

Sơ bộ 2006 63,5 162,7 141,8 25,3 Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 11,0 43,7 50,5 3,3 16,9 64,5 71,6 5,2 22,6 73,3 80,8 8,0 30, 96,1 98,1 12,4 40,8 124,3 117,9 17,6

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006

Đàn lợn (heo) cũng tăng đáng kể, phát triển những trang trại nuôi heo

quy mô vừa. Điều này cho thấy, khả năng cung ứng nguồn thức ăn đảm bảo

cho sự phát triển của đàn gia súc và những gia súc hàng hoá (bò, lợn) tăng

nhanh, trong khi đàn trâu giảm xuống.

Bảng 1.26. Đàn lợn phân theo địa phương (nghìn con)

Tỉnh Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 429,1 280,8 225,2 224,7 2002 464,6 288,5 282,5 236,3 2004 495,4 315,4 349,6 273,8 Sơ bộ 2006 553,2 325,8 351,5 303,0

47

2003 2005 486,4 517,8 312,1 199,8 397,8 370,5 277,2 256,1 Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2006

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Ngoài gia súc, khu vực cửa sông Cửu Long cũng là nơi phát triển mạnh

đàn gia cầm. Tuy nhiên, số liệu thống kê cũng cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ

của dịch cúm gia cầm đối với đàn gia cầm trong vùng. Hiện nay đang có

những dấu hiệu phục hồi, nhưng chưa có sự đảm bảo chắc chắn, điều quan

trọng là bảo đảm nguồn giống sạch và quy trình nuôi đúng quy định phòng

dịch. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của môi trường nước cho phát triển gia cầm tại

khu vực không chỉ liên quan đến các địa phương đầu nguồn trong lãnh thổ

Việt Nam, mà còn liên quan đến lưu vực quốc tế mà vùng cửa sông lại là

vùng cuối nguồn nước.

Ngoài sản xuất cây lương thực, các diện tích rau đậu, cây ăn quả cũng

được trồng trên địa bàn, nhưng chỉ có diện tích vườn tạp là khá hơn.

Tuy vậy, diện tích vườn tạp trong các hộ gia đình không nhiều, một phần

do diện tích cây hàng năm (lúa) chiếm ưu thế, phần khác vì đây là nơi đất

thấp, hay bị ngâp nước, khó phát triển vườn cây ăn quả. Diện tích vườn cây

ăn quả chỉ phát triển trên những vùng đất giồng cao.

Đứng sau diện tích trồng lúa là diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản,

một thế mạnh của vùng cửa sông Cửu Long. Theo số liệu thống kê từ năm

2000 đến năm 2006 cho thấy, diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh trong

khu vực nghiên cứu đang có xu hương tăng (Bảng 1.27).

Bảng 1.27. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản của các địa phương

Diện tích (nghìn ha) Tỉnh

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 2000 8,4 29,3 52,6 54,0 2002 9,6 36,0 25,2 100,6 2003 10,8 37,7 30,2 112,3 2004 11,9 41,1 32,5 118,8 ước 2006 12,7 40,6 55,6 120,2

2005 12,1 42,3 38,7 118,7 Nguồn: Niên giám thống kê 2006

48

Theo số liệu thống kê cho thấy, sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

sản của các tỉnh khu vực nghiên cứu đều tăng ổn định, điều này tỷ lệ thuận

với tăng diện tích nuôi trồng. Sản lượng thủy sản năm 2006 đạt 142.710 tấn

(Tiền Giang), 142.105 tấn (Bến Tre).

Bảng 1.28. Sản lượng thuỷ sản của các địa phương

Tỉnh Sản lượng (tấn) 2003 2004 2001 2002 2005

Tiền Giang 105.672 109.632 117.626 125.956 136.041 127.714 134.200 129.049 132.272 137.381 Bến Tre 94.000 105.331 112.022 134.444 139.376 Trà Vinh 72.596 100.943 65.120 51.880 Sóc Trăng 56.003

Sơ bộ 2006 142.710 142.105 133.987 113.950 Nguồn: KT-XH SócT răng sau 15 năm tái lập 2007

Cụ thể sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản trên địa bàn các

tỉnh được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.29. Diện tích và sản lượng khai thác, nuôi trồng thủy sản

Năm 2002 2003 2004 2005 2006

TỈNH TIỀN GIANG

65.575 67.525 67.499 71.582 71.500

55.818 4.900 52.717 6.696 51.113 5.825 51.199 5.302 52.094 3.982

3.564 3.591 3.736 3.364 3.654

3.482 74 2.702 888 3.148 580 2.948 407 3.103 538

40.493 46.510 54.721 61.095 67.556

16.091 2.876 26.365 6.297 20.125 4.322 36.205 7.998

49

1. Sản lượng khai thác hải sản - Cá - Tôm 2. Sản lượng thủy sản nước ngọt - Cá - Tôm 3. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng - Cá - Tôm Tổng số 41.569 8.273 109.632 117.626 125.956 136.041 142.710

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

TỈNH BẾN TRE

63.081 62.950 71.751 74.039 75.699

59.111 59.408 68.396 70.589 74.270

46.143 5.078 7.890 45.106 4.633 9.669 53.286 4.510 10.600 53.205 3.761 13.890 53.484 4.046 16.740

3.970 3.542 3.355 3.180 1.429

3.388 556 26 2.753 770 19 2.230 1.111 14 2.233 935 12 913 516 -

71.119 66.099 60.521 63.342 69.264

I. Sản lượng thuỷ sản khai thác 1. Sản lượng hải sản (nước mặn, lợ) - Cá - Tôm - Thủy sản khác 2. Sản lượng thủy sản nước ngọt - Cá - Tôm - Thủy sản khác II. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng - Cá - Tôm - Thủy sản khác 9.848 13.698 42.553 12.033 21.400 27.088 20.029 25.089 18.224 31.968 23.446 13.850

8.661 11.231 51.227 TỈNH TRÀ VINH

65.157 63.898 68.255 65.477 58.008

50.209 49.736 53.932 54.046 47.126

16.157 8.738 25.314 15.166 8.748 25.822 9.716 7.500 36.716 11.416 9.091 33.539 12.685 9.381 25.059

14.949 14.162 14.323 11.430 10.882

3.660 2.182 9.017 3.505 1.930 8.726 5.312 1.590 7.422 3.568 642 7.221 4.402 581 5.900

40.174 48.124 66.189 73.900 75.980

50

I. Sản lượng thuỷ sản khai thác 1. Sản lượng hải sản (nước mặn, lợ) - Cá - Tôm - Thủy sản khác 2. Sản lượng thủy sản nước ngọt - Cá - Tôm - Thủy sản khác II. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng - Cá - Tôm - Cua 27.903 4.928 387 31.312 9.574 1.128 45.666 14.884 1.610 47.587 19.688 1.875 47.404 24.142 2.375

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Thủy sản khác 6.955 6.110 4.030 4.750 2.059

TỈNH SÓC TRĂNG 56.003 24.980 65.120 25.250 72.596 100.943 113.950 24.743 24.435 25.178

7.328 9.120 6.217 4.800 7.127

23.695 30.750 41.201 71.708 82.080 Tổng số 1. Sản lượng hải sản 2. Sản lượng thủy sản nước ngọt 3. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, trà Vinh 2006;

KT-XH SócT răng sau 15 năm tái lập 2007

Có thể nhận thấy tại các địa phương, sản lượng khai thác biến động

không nhiều xung quanh một mức cố định tương đối thì sản lượng nuôi trồng

ở các tỉnh tăng mạnh trong những năm gần đây. Các đầm, đìa nuôi tôm cua,

cá ốc v.v. đều phân bố ven các sông rạch lớn, nhất là ven khu vực 9 cửa sông

và vùng ngập triều ven biển, điều này có ảnh hưởng nhất định đến dòng chảy

và động lực bồi xói của các dòng sông, vì các dòng lũ không được dàn sang

hai bên bờ mà chảy mạnh ra cửa biển, đưa lượng nước phù sa ra bồi đắp nên

các bãi, các cồn nổi phía ngoài cửa sông, nhưng lại xói mạnh hai bên bờ sông.

b. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Để phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại các tỉnh thuộc

vùng nghiên cứu, các cấp chính quyền địa phương đã có những chủ trương

kêu gọi đầu tư như khuyến khích ưu đãi đầu tư hoặc ban hành quy chế quản lý

và sử dụng quỹ khuyến khích đầu tư. Mặt khác, tiến hành chuẩn bị kết cầu hạ

tầng nhằm đáp ứng mặt bằng cho các nhà đầu tư hoặc tập trung triển khai xây

dựng một số khu, cụm công nghiệp. Thí dụ như: cụm công nghiệp Vàm Láng-

huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang, khu công nghiệp Giao Long tỉnh Bến

Tre; Cụm công nghiệp Cổ Chiên, tỉnh Trà Vinh; cảng Đại Ngãi, đô thị Tranh

51

Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đối với thủ công nghiệp, làng nghề cũng được quan tâm phát triển như:

sản xuất bánh kẹo, chế biến thủy sản, sản xuất chỉ xơ dừa, các sản phẩm mĩ

nghệ ở Bến Tre, duy trì tồn tại 8 làng nghề hiện nay ở Trà Vinh như nghề dệt

chiếu, đan lát, chế tạo công cụ đơn giản, khai thác sản xuất vật liệu… Tại Sóc

Trăng, phát triển tiểu thủ công nghiệp thông qua hoạt động của công ty tư

nhân nhỏ nhằm chế biến chuối, đồ hộp, thực phẩm, vật liệu xây dựng.

c. Giao thông vận tải

Vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long theo cách gọi dân gian

là một vùng sông nước, do đó hoạt động giao thông thuỷ trên các sông ngòi,

kênh rạch của vùng cửa sông Cửu Long là đặc trưng của hệ thống giao thông

ở đây, đặc trưng này có từ ngàn xưa, là truyền thống giao thông và vận

chuyển hàng hoá của vùng. Đây cũng là một trong những hoạt động lâu dài và

có tác động tích dồn ảnh hưởng đến lắng đọng phù sa, xói lở bờ và lòng dẫn.

Các tuyến vận tải thuỷ liên quan chặt chẽ đến các luồng lạch và có ảnh

hưởng đến quá trình tự nhiên trên các dòng sông, các kênh rạch. Các hệ thống

đường thuỷ lại liên quan nhiều đến các cảng sông, cảng biển.

Hệ thống sông Tiền và sông Hậu, cũng như các nhánh kênh rạch khác

trong khu vực có khả năng phục vụ nhiệm vụ vận tải cho các loại tàu thuyền hầu

như quanh năm. Các đoạn tuyến đường thuỷ chủ chốt ảnh hưởng đến vùng ven biển

cửa sông (cho phép tàu sông 200-300 DWT) lưu thông thuận tiện như sau:

- Kênh Chợ Gạo: từ vàm kênh Chợ Gạo (sông Vàm Cỏ) đến vàm Kỳ

Hoà (sông Tiền) dài 11,7 km;

- Sông Tiền: từ vàm kênh Giao Hoà đến biên giới Cam Pu Chia dài

khoảng 190 km;

- Kênh Giao Hoà - Chẹt Sậy-Mỏ Cày; từ vàm kênh Giao Hoà qua Bến

52

Tre, Mỏ Cày đến vàm kênh Mỏ Cày (sông Cổ Chiên) dài 32 km;

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Kênh Chợ Lách dài 7,4 km;

- Kênh Lấp Vò-Sa Đéc: từ vàm rạch Sa Đéc đến vàm rạch Lấp Vò (sông

Hậu) dài 17,4 km;

- Sông Mang Thít: từ vàm kênh Chợ Lách (sông Tiền) qua sông Cổ Chiên-

sông Mang Thít-kênh Tắt-cù Lao Mây đến vàm Cái Côn (sông Hậu) dài 16 km;

- Kênh Cái Sắn: từ vàm Cái Sắn (sông Hậu) qua kênh Rạch Sỏi đến ngã ba

kênh Tắc Ráng - ông Hiển-Tà Niên (TX Rạch Giá) qua Kiên Lương đến Hà Tiên;

- Luồng Định An là luồng quan trọng để tàu có trọng tải lớn qua lại. Đây

là luồng được nhận định là tương đối ổn định ứng với độ sâu có thể đảm bảo

cho tàu trọng tải 5000 tấn ra vào. Nhưng muốn cho tàu có tải trọng 10.000 tấn

đầy tải ra vào thì phải nạo vét với chiều dài 1,5 km;

- - Luồng cửa Tiểu (sông Tiền) bị sa bồi nặng, khó nạo vét, chỉ có thể

cho tàu 3000 tấn trở xuống ra vào.

Các sông ngòi, kênh rạch trên vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể

cho các phương tiện trên 100 tấn ra vào thì sông chiếm 35%, rạch chiếm 9%

và kênh chiếm 56%. Vì vậy vai trò của các kênh là rất lớn, sau đó đến các

dòng sông. Khối lượng hàng hoá vận chuyển trên đường thuỷ hàng năm tăng

khoảng 13,5%. chiếm 65-70% về tấn vận chuyển hàng hoá và 70-78% về tấn

hàng hoá luân chuyển.

Theo báo cáo khảo sát của Phân viện Khảo sát quy hoạch thuỷ lợi Miền

Nam năm 2000[3] thì vùng cửa Trần Đề hiện nay bị sa bồi nặng nên rất nông,

chỉ cho tàu 200-300 tấn thông qua mà thôi. Trên bình diện chung, khu vực

không có những cảng lớn như cảng Cần Thơ hay cảng Quy Nhơn, Nha Trang,

nhưng hệ thống cảng sông và cảng biển loại vừa của vùng cửa sông Cửu Long

và trên các dòng sông, dòng kênh chính khá phát triển. Vùng cửa sông có hai

53

cảng quan trọng là cảng Trần Đề và cảng Đại Ngãi, đi theo hai cảng này là hai

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

khu công nghiệp Trần Đề và Đại Ngãi (Vàm Tấn). Nhưng tại vùng cửa Trần

Đề quá trình bồi lắng diễn ra liên tục. Những năm gần đây, do các vùng An

Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ bị lở mạnh, vật liệu được đưa xuống

vùng ven biển Sóc Trăng, gây hiện tượng bồi liên tục ở cửa Trần Đề. Hai cửa

Định An và Trần Đề là bồi tụ, xói lở và vai trò của nó còn rất nhiều vấn đề.

Trong các cửa biển, cửa Định An được xem là phức tạp nhất, đã có ý

kiến là vét sâu thêm cửa Định An để khai thác tiềm năng kinh tế Mỹ Tho; sau

đó đến phương án 2 là nạo vét kênh Láng Sắc; rồi cuối cùng thì dự án Nhật lại

tiến hành khoét cửa Định An.

Ngoài hệ thống sông chính, hệ thống kênh rạch trên địa bàn là những

tuyến giao thông nội vùng quan trọng, nhiều kênh rạch tham gia vào hệ thống

giao thông ngoại vùng, liên kết với các hệ thống sông chính (các cửa sông

lớn), làm thành mạng giao thông hữu hiệu từ bao đời nay trên miền đất cửa

sông đồng bằng sông Cửu Long.

Cùng với hệ thống các tuyến vận chuyển trên sông, các cảng sông và đầu

nối giao lưu là các cảng biển đã hợp thành một mạng chung, tạo nên tiềm

năng kinh tế giao thông của toàn vùng. Ví dụ, vùng cửa sông Định An nằm

giữa Sóc Trăng và Trà Vinh, tàu bè thường xuyên qua lại để vào cảng Cần

Thơ, nhưng vấn đề đặt ra là hiện nay vùng cửa ven biển sông Cửu Long nói

chung là đang bị bồi lắng mạnh, quá trình bồi lắng mạnh, có thể nhận thấy

biến động đường bờ chỉ trong vòng 3-4 năm nay, bờ biển dịch dần ra phía

ngoài đến vài chục mét.

Khối lượng vận chuyển hàng hóa của khu vực nghiên cứu cũng như

đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu bằng đường thủy. Theo số liệu thống kê,

việc luân chuyển hàng hoá tập trung cao ở hai tỉnh Tiền Giang và Sóc Trăng

tức là tập trung vận chuyển hàng hoá theo hai con đường này lên sông Tiền và

54

sông Hâu, và vai trò của sông Tiền là lớn hơn cả. Nhất là khu vực từ cửa Đại

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

chạy ngược theo dòng Mỹ Tho lên sông Tiền.

Bảng 1.30: Khối lượng hàng hoá luân chuyển theo đường thuỷ của vận tải địa phương.

Tỉnh Khối lượng (triệu tấn)

Tiền Giang 2000 148,1 2001 155,5 2002 169,7 2003 188,1 2004 190,8

Bến Tre 61,8 64,9 57,4 68,5 73,8

Trà Vinh 34,1 40,0 36,4 38,9 43,4

Sóc Trăng 96,7 105,0 105,0 110,0 128,0

Nguồn: Niên giám thống kê 2006

Hàng hoá chính của vùng là nông-hải sản và được vận chuyển chủ yếu

bằng đường thuỷ. Khoảng 65% khối lượng hàng hoá trong khu vực được vận

chuyển bằng các phương tiện thuỷ trên các kênh rạch của vùng. Ngoài việc

vận chuyển hàng hoá, giao thông thuỷ còn vận chuyển khoảng 70% số lượng

hành khách đi lại trên vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và nhất là ở

khu vực cửa sông nói riêng.

d. Thông tin liên lạc

Trước năm 1992, mạng lưới thông tin liên lạc của hầu hết các tỉnh Nam

Bộ rất ít được đầu tư, thiết bị lạc hậu không đồng bộ. Sau 1993 trong chiến

lược hiện đại hóa mạng lưới thông tin liên lạc của cả nước, ngành thông tin

liên lạc của các tỉnh ven biển sông Cửu Long được đầu tư trang thiết bị hiện

đại. Hiện nay, các tỉnh này là một trong những tỉnh trong đồng bằng sông Cửu

Long có hệ thông bưu chính viễn thông được trang bị hiện đại, công nghệ cao

và chất lượng đồng bộ, nối mạng hoàn chỉnh đến các tỉnh, thành phố trong

55

nước và quốc tế.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

e. Thương mại, dịch vụ, du lịch

Trên toàn vùng đồng bằng Sông Cửu Long có nhiều điểm du lịch ý nghĩa

quốc gia và quốc tế, Cần Thơ có bến Ninh Kiều, chợ nổi Phụng Hiệp, Phong

Điền, Cà Mau có hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau, sân chim Vĩnh Thành

(Vĩnh Lợi), Tân Khánh (Ngọc Hiển), Kiên Giang có đảo Phú Quốc, An Giang

có núi Sam, Tiền Giang có cù Lao Thới Sơn, Tân Phong, chợ nổi Cái Bè, Bến

Tre có sân chim Ba Tri, Đồng Tháp có vườn cò Tháp Mười, vườn sếu Tam

Nông, Sóc Trăng có chùa Dơi....

Bên cạnh hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: giao thông thủy và bộ,

khách sạn, nhà hàng... đang được tăng cường phát triển, các loại hình du lịch

cũng phát triển đa dạng, bao gồm:

- Du lịch cảnh quan thiên nhiên trên trên sông, trên biển, cù lao, cồn cát.

- Du lịch di tích lịch sử, khảo cổ, văn hóa - nghệ thuật.

- Du lịch vui chơi - giải trí.

- Du lịch an dưỡng nghỉ mát.

- Du lịch kết hợp kinh tế.

Các địa phương trong vùng có tiềm năng cao về du lịch tự nhiên và nhân

văn, đó là các điểm di tích, các thắng cảnh, các lễ hội tầm quốc gia:

- Tỉnh Tiền Giang:

+ Hội Vàm Láng (xã Kiển Phước, huyện Gò Công Đông); hội Tứ Kiệt

(xã Thanh Hoà, huyện Cai Lậy).

+ Di tích văn hoá Óc Eo Gò Thành (xã Tân Thuận, huyện Chợ Gạo); di

tích lịch sử Rạch Gầm-Xoài Mút (xã Kim Sơn, huyện Châu Thành); Các chùa

Vĩnh Tràng (Tp Mỹ Tho); chùa Hội Thọ (ấp Mỹ Hưng, huyện Cái Bè), chùa

56

Linh Thứu (xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành), chùa Thanh Tước (xã Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Thuận, TX Gò Công); đình Long Hưng (xã Long Hưng, huyện Châu Thành),

đình Tân Hiệp, (xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành), Luỹ Pháo Đài (xã Phú

Đông, TX Gò Công), di tích Ấp Bắc (xã Tân Phú, huyện Cai Lậy).

+ Lăng Trương Định, lăng Hoàng Gia (TX Gò Công), mộ Thủ Khoa

Huân (huyện Chợ Gạo), Mỹ Tho đại phố.

+ Các danh thắng: Cồn Thới Sơn, trại nuôi rắn Đồng Tâm, Đồng Tháp

Mười, chợ nổi Cái Bè và cù Lao Tân Phong.

- Tỉnh Bến Tre:

+ Hội đình Phú Lễ (xã Phú Lễ, huyện Ba Tri); hội tế cá Ông (huyện

Bình Đại, huyện Ba Tri).

+ Chùa Hội Tôn (xá Quới Sơn, huyện Châu Thành), chùa Tuyên Linh

(xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày), chùa Viên Minh (TX Bến Tre).

+ Làng du kích Đồng khởi (huyện Mỏ Cày), mộ Nguyễn Đình Chiểu,

mộ Võ Trường Toản, mộ Phan Thanh Giản (huyện Ba Tri), khu tưởng niệm

bà Nguyễn Thị Định.

+ Các danh thắng: Cồn Phụng (cồn Đạo Dừa, xã Tân Thạch huyện

Châu Thành), cồn Qui (huyện Châu Thành), cồn Ốc (cồn Hưng Phong, xã

Hưng Phong, huyện Giồng Trôm), cồn Tiên (xã Tiên Long, huyện Châu

Thành), sân chim Vàm Hồ (huyện Ba Tri), vườn cây ăn trái Cái Mơn (chợ Lách).

- Tỉnh Trà Vinh:

+ Lễ hội Nghinh Ông (lễ hội cúng biển Mỹ Long xã Mỹ Long, huyện

cầu Ngang); các lễ hội hàng năm của bà con Khơ me Nam Bộ như lễ đón năm

mới, lễ cúng ông bà, lễ cúng trăng, lễ dâng bông, lễ dâng phước.

+ Chùa Hang (xã Đa Lộc, huyện Châu Thành), chùa Âng, chùa Sam-

57

rông-ek (xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành), chùa Cò (chùa Gồng lớn, xã

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đại An, huyện Trà Cú), chùa Lưỡng Xuyên (chùa Long Phước, TX Trà

Vinh), chùa Di Đà (chùa Tiên Châu, xã Bình Lương, huyện Châu Thành)

+ Đền thờ Bác Hồ (xã Long Đức, TX Trà Vinh).

+ Các danh thắng: Cồn Nghêu (cồn Nạnh, xã Mỹ Long, huyện Cầu

Ngang), ao Bà Om (ao Vuông, xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành), bãi biển

Ba Động (xã Trường Long Hoà, huyện Châu Thành.

- Ttỉnh Sóc Trăng:

+ Lễ hội Ok om bok và hội đua ghe ngo, hội tế Thần Linh của đồng bào

Khơ me Nam Bộ.

+ Chùa Kh’leang, chùa Dơi (chùa Mã Tộc hay chùa Ma-ha-tuc

(TX Sóc Trăng)

+ Bảo tàng văn hoá Sóc Trăng, căn cứ tỉnh uỷ Sóc Trăng (xã Mỹ

Phước, huyện Mỹ Tú).

+ Các danh thắng: Chùa Đất sét (Bửu Sơn tự), cồn Mỹ Phước(còn gọi

là cồn Công Điền hay cồn Bùn), hồ nước ngọt (TX Sóc Trăng), vườn cò Thanh

Trị (xã Tân Long, huyện Thanh Trị), khu du lịch Bình An (TX Sóc Trăng).

Trong các lĩnh vực hoạt động du lịch, du lịch sinh thái thực sự mới được

phát triển cách đây không lâu và đang là một trong những hướng phát triển

kinh tế có thế mạnh trong vùng cửa sông Cửu Long; Song là sự phát triển còn

chưa cân xứng với tiềm năng hiện có bởi nhiều nguyên nhân. Trong đó

nguyên nhân chủ yếu là thị trường khách du lịch là rất hạn chế và cơ sở hạ

tầng cho hoạt động du lịch là rất thấp kém, việc quy hoạch phát triển du lịch

và du lịch sinh thái chưa có quy hoạch, tự phát, dẫn tới thiếu đầu tư cho hoạt

động kinh tế trong lĩnh vực này.

58

Số doanh nghiệp làm thương mại, du lịch và dịch vụ trong cả 4 tỉnh mới

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tăng được 217 cơ sở, trung bình tăng khoảng 20 cơ sở/năm/huyện và chủ yấu

là tăng số doanh nghiệp làm thương mại và dịch vụ, mỗi năm tăng chừng trên

dưới 1.000 người làm công việc này, còn các cơ sở doanh nghiệp du lịch là

không đáng kể.

Xét về phát triển du lịch của từng địa phương cho thấy:

- Tiền Giang:

Tiềm năng du lịch của tỉnh Tiền Giang là vô cùng to lớn với các địa

điểm du lịch nổi tiếng như thành phố Mỹ Tho, huyện Tân Thành, Gò Công

hay cù lao Thái Sơn…

Có thể thấy rằng ngành du lịch Tiền Giang rất nhạy bén với thị trường,

biết khai thác tâm lý hiếu kỳ, thích khám phá cái mới lạ, cái đẹp về cảnh

quan, không gian và con người của du khách bằng việc cụ thể như: nâng chất

lượng dịch vụ du lịch, phát huy thời cơ có thêm cầu Rạch Miễu nối hai bờ

Tiền Giang và Bến Tre; tỉnh Tiền Giang đang đầu tư trên 64 tỉ đồng tương

đương trên 3,8 triệu USD từ nguồn vốn ADB trong khuôn khổ Dự án phát

triển du lịch tiểu vùng sông Mekong (gọi tắt là dự án Mekong) để kiện toàn

cơ sở vật chất hạ tầng đáp ứng nhu cầu về du lịch sinh thái miệt vườn trong

giai đoạn mới.

Từ nguồn vốn trên, tỉnh tập trung cho hai công trình trọng điểm là Bến

tàu thủy du lịch Thành phố Mỹ Tho và Dự án cải thiện môi trường Thành phố

Mỹ Tho. Trong đó, Bến tàu thủy du lịch tọa lạc trên diện tích 1,18 ha tại

Phường 1 (Tp Mỹ Tho) ven sông Tiền với kinh phí trên 25,1 tỉ đồng bao gồm

nhiều hạng mục công trình như: bờ kè, cầu tàu, bến phao, sân nội bộ, bãi đỗ

xe và nhiều thiết bị nội thất hiện đại khác. Dự án cải thiện môi trường Thành

phố Mỹ Tho có tổng vốn gần 39 tỉ đồng được triển khai tại xã Tân Lập 1,

59

huyện Tân Phước, nơi có bãi đổ rác của Thành phố Mỹ Tho và các huyện lân

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cận. Dự án được triển khai trên diện tích gần 84 ha gồm những hạng mục

chính như làm nhà vệ sinh di động, 300 thùng chứa rác, nhà điều hành, các hố

chôn lấp rác thải hợp vệ sinh và bảo đảm môi sinh môi trường...

Tiền Giang tiến hành kết hợp du lịch sinh thái với quảng bá non nước

vùng Nam Bộ. Thiên nhiên và con người Tiền Giang mang đặc trưng của nền

văn minh sông nước Nam Bộ, với những di sản di tích văn hóa lịch sử có giá

trị như: Lăng Trương Định, chùa Vĩnh Tràng, đình Long Hưng…xưa kia và

ngày nay Khu di tích cách mạng Ấp Bắc và nhiều di tích khác, hàng năm đã

thu hút hang vạn lượt khách tham quan.

Cùng với xu thế phát triển du lịch trong khu vực và cả nước, khách du

lịch đến với Tiền Giang năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt, những

năm gần đây, khách du lịch quốc tế đến với Tiền Giang với tốc độ bình quân

15%/năm. Với tốc độ tăng ổn định như vậy, tỉnh Tiền Giang là một trong

những địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long thu hút du khách đến tham

quan, du lịch nhiều nhất.

Với tiềm năng phong phú, đa dạng và nhu cầu du lịch ngày càng cao,

tỉnh Tiền Giang đang phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái sông

nước miệt vườn kết hợp du lịch văn hóa trên cả 3 vùng sinh thái. Đó là vùng

sinh thái nước ngọt, sinh thái ngập mặn và vùng sinh thái ngập phèn.

Du khách đến với Khu du lịch sinh thái Cù Lao Thái Sơn sẽ đắm say với

vườn cây trái quanh năm 4 mùa đơm hoa kết trái. Cùng với đó, nhiều kênh

rạch chạy đan xen tạo một không gian thoáng mát, yên lành, để rồi lắng nghe

âm hưởng đàn ca tài tử với thưởng thức các loại trái cây đặc sản như: xoài cát

Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, sầu riêng Ngũ Hiệp, thanh long Chợ Gạo

.v.v.v. Mỗi điểm tham quan du lịch, du khách hãy đừng quên uống trà mật

ong và trò chuyện với người dân bản địa để cảm nhận một cách tinh tế sự kỳ

60

diệu một vùng non nước Nam Bộ.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đến với khu du lịch chợ nổi Cái Bè, du khách được chứng kiến một nếp

sống thương hồ của những cư dân sống bằng nghề mua bán trên sông từ thuở

xưa, nay được tái hiện bằng hình ảnh của những chiếc thuyền, ghe chở đầy

hoa trái. Ngoài những nét nhộn nhịp của không khí chợ, thì chợ nổi Cái Bè

còn tiềm ẩn bên trong một tinh thần cộng đồng, hào phóng của cư dân vùng

sông nước Mê Kông. Nối tour với chợ nổi Cái Bè, du khách đến với khu vườn

trái cây để tận hưởng sự êm ả với không khí trong lành của miệt vườn, tìm

hiểu cuộc sống, sinh hoạt, cùng phương thức làm vườn của người dân cù lao

Tân Phong; tham quan làng nghề truyền thống của cộng đồng dân cư sống

ven sông với những nghề như làm bánh tráng, cốm, kẹo…và tham quan

những ngôi nhà cổ đã tồn tại hàng trăm năm.

Trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, huyện Gò Công Đông giàu tiềm năng du

lịch biển hơn cả, huyện Gò Công Đông có 32 km bờ biển, ngoài các khu vực

gần bờ có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn là cồn Ông Mão, bãi biển Tân

Thành, huyện còn có hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bổ ven biển và gần các

cửa sông Soài Rạp, Vàm Cỏ Đông, Cửa Tiểu; đặc biệt có rừng phòng hộ chạy

dọc ven biển khoảng 20 km với nhiều hệ động-thực vật sinh sống.

Tại vùng sinh thái ngập mặn Tân Thành, du khách có thể tham quan các

di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia với các lăng: Hoàng Gia, Đốc Phủ Hải,

Trương Định…sau đó thưởng thức các món ăn đặc sản biển Tân Thành và các

dịch vụ nghỉ mát, tắm biển. Trong tương lai không xa, khu du lịch biển Tân

Thành huyện Gò Công Đông với quy mô 80ha, sẽ nối tuyến du lịch này với

khu du lịch biển Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh và bãi biển Vũng Tàu tạo

thành một quần thể du lịch khép kín phục vụ du khách.

Về lịch sử, bãi biển Tân Thành đã hình thành từ trước giải phóng, chưa

được đầu tư, khai thác đúng mức nên chưa thu hút được du khách. Trong

61

những năm gần đây đã được đầu tư bước đầu như xây dựng bờ kè theo công

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nghệ mới tại khu vực biển Tân Thành; Hiện tiếp tục thi công thêm 200m

nhằm bảo vệ đê biển và phục vụ du khách; Các ngành chức năng đang có ý

tưởng xây dựng Trung tâm Thông tin du lịch tại đây với kinh phí trên 3,5 tỷ đồng.

Có thể nói, lượng khách du lịch đến biển Tân Thành ngày càng Đông, chiếm tỷ lệ

trên 50% tổng lượng khách nội địa toàn tỉnh (bình quân trên 200.000 người/năm).

Về điều kiện tự nhiên, tuy hạn chế nước biển không trong xanh như

Vũng Tàu và biển các nơi khác, nhưng bù lại biển Gò Công có rất nhiều

chủng loài thuỷ hải sản, khí hậu mát mẽ, gió biển trong lành, nhất là vào mùa

gió chướng tháng giêng đến tháng 3 hàng năm, đây là nơi lý tưởng để phát

triển du lịch sinh thái, vui chơi, giải trí vào những ngày cuối tuần, lễ, tết.

Để tạo điều kiện thuận lợi phục vụ khách tham quan cũng như giới thiệu

quảng bá, mời gọi các nhà đầu tư, công tác nghiên cứu lập qui hoạch chi tiết

khu vực dọc theo bờ biển này cần được các ngành chức năng thực hiện sớm.

Việc lập qui hoạch chi tiết xây dựng khu du lịch sinh thái biển Tân Thành là

bước đầu khẳng định vị trí du lịch đã được mọi người biết đến từ lâu nhưng

vẫn còn ngủ yên, chưa được khai thác đúng mức, đúng tầm, nhằm phát huy

hiệu quả tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương.

Gắn với biển là rừng ngập mặn, rừng nguyên sinh, nối với Cồn Ngang,

Lũy Pháo Đài (huyện Tân Phú Đông), có thể nói, ngoài những đóng góp

nguồn lợi đáng kể từ kinh tế biển, biển Tân Thành còn là loại hình du lịch

thiên nhiên hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên và các giá trị

lịch sử, văn hoá sở tại. Đồng thời, góp phần phát triển cộng đồng như tạo

công ăn việc làm, tiêu thụ sản phẩm đặc biệt kêu gọi người dân địa phương

cùng làm du lịch, nhất là tạo mọi điều kiện để các ngành, các doanh nghiệp

cùng bỏ vốn đầu tư xây dựng phát triển khu du lịch biển Tân Thành, tạo thành

một tour du lịch sinh thái, gắn tham quan các di tích lịch sử, văn hoá, làng

62

nghề truyền thống mới lạ và thực sự làm hài lòng du khách sau một chuyến đi

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

du lịch đúng nghĩa.

Bên cạnh đó, tại huyện Gò Công còn nổi tiếng với những làng nghề:

- Nghề làm mắm tôm chà ở Gò Công: được mệnh danh là món Tứ Cung,

một trong 52 món cung đình được chúa Nguyễn chuyên dùng. Món này được

làm từ tôm bạc nghệ xay nhuyễn, ướp gia vị rồi phới nắng, mang một hương

vị đặc trưng của quê biển Gò Công.

- Làng nghề thủ công mỹ nghệ: chủ yếu là nghề đóng tủ thờ ở Gò Công,

được làm bằng gỗ quý, trải qua 3 công đoạn chính: khắc, lộng, chạm trổ.

Nghề này đòi hỏi tay nghề cao, khéo léo của những người thợ trong từng

đường cưa mũi đục. Sản phẩm mang trong mình cả một niềm tâm huyết và

giá trị nghệ thuật độc đáo.

Cho đến 9 tháng đầu năm 2008, về hoạt động du lịch, lượng khách du

lịch đến Tiền Giang là 598,6 ngàn lượt, đạt 76,1% kế hoạch năm, tăng 17,5%

so với cùng kỳ năm 2007; trong đó khách quốc tế là 344,2 ngàn lượt, đạt

69,4% kế hoạch năm, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2007. Doanh thu ước đạt

khoảng 1.527 tỷ đồng. Do luồng khách du lịch quốc tế đến TP Hồ Chí Minh

tăng mạnh và Tiền Giang là điểm đến đầu tiên của vùng đồng bằng sông Cửu

Long nên thuận lợi cho việc hút khách.

Riêng tháng 2/2009, khách tham quan du lịch trong tháng ước đạt 70,4

ngàn lượt khách, tăng 0,9% so với tháng trước và giảm 4,2% so cùng kỳ.

Trong đó, khách du lịch quốc tế đạt 42,5 ngàn lượt khách, tăng 4,4% so với

tháng trước và giảm 11% so cùng kỳ. Tổng doanh thu du lịch trong tháng đạt

190,1 tỷ đồng, tăng 19,5% so cùng kỳ.

- Bến Tre:

Là một tỉnh nằm ven biển cuối nguồn sông Cửu Long được hợp thành từ

63

3 cù lao lớn: Minh, Bảo, An Hóa; do phù sa 4 nhánh sông lớn bồi tụ: sông

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Tiền, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên nên Bến Tre có thế mạnh phát triển

kinh tế du lịch.

Thế mạnh về du lịch của Bến Tre là cảnh sắc thiên nhiên, sông nước hữu

tình với cửa Đại-cửa sông lớn nhất của 9 nhánh Cửu Long hai chiều nước

chảy, với cửa Hàm Luông mênh mông bát ngát; nhiều cồn, bãi đất phù sa mới

bồi tụ, đất tốt, trồng cây ăn trái sum suê, không khí mát mẻ trong lành, yên tĩnh.

Ngành du lịch Bến Tre ra đời không sớm (năm 1983) và mãi đến năm

1990 mới bắt đầu ổn định, đẩy mạnh hoạt động. Từ chỗ là một Công ty du

lịch, chủ yếu kinh doanh lữ hành nội địa và một số dịch vụ khác, đến nay Bến

Tre có 2 doanh nghiệp nhà nước về du lịch và gần 20 doanh nghiệp tư nhân

hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh khách sạn.

Trong việc hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển ngành du lịch Bến

Tre đến năm 2020, nhất là du lịch sinh thái và du lịch văn hoá lịch sử. Bến

Tre đẩy mạnh xã hội hoá phát triển du lịch, xây dựng các tuyến, điểm du lịch

đặc thù của tỉnh như khu du lịch Cồn Phụng, các xã ven sông huyện Châu

Thành, Mỹ Thạnh An-Thị xã, Hưng Phong-Giồng Trôm; củng cố và thực hiện

các dự án phát triển du lịch của huyện Chợ Lách và Ba Tri. Có cơ chế khuyến

khích phát triển mạnh du lịch dân doanh, đồng thời kêu gọi các nhà đầu tư

xây dựng các dự án du lịch qui mô khá và hiện đại. Nâng cao chất lượng dịch

vụ các nhà hàng, khách sạn hiện có; tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ quản

lý nhà nước và cán bộ kinh doanh du lịch. Phấn đấu doanh thu du lịch tăng

bình quân 20%/năm.

- Trà Vinh:

Du lịch là hoạt động dịch vụ quan trọng đang có sự phát triển mạnh trên

64

phạm vi cả nước và ở các địa phương do đời sống ngày càng được nâng cao

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

và mở rộng quan hệ quốc tế. Tốc độ tăng trưởng ngành du lịch tỉnh đạt 18%

thời kỳ 1994-2000.

Giá trị gia tăng ngành du lịch còn nhỏ và chiếm tỷ trọng trong GDP dịch

vụ rất thấp.

Bảng 1.31. Doanh thu và khách du lịch (Đơn vị: triệu đồng)

1997 1998

1993 1995 3619,9 6606,1 31640 2000 1999 34373 19150 20300

Doanh thu du lịch Trong đó: Dịch vụ du lịch Khách (lượt) Khách lưu trú Khách quốc tế Khách nội địa 2382,3 4546,1 43800 30000 18000 9200 802 533 17198 8667 6313 62000 29863 1180 28683

6067 7300 6350 65000 67000 80000 34373 33500 36000 1880 1570 1400 32973 31930 34120 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Trà Vinh năm 2000.

Doanh thu và khách du lịch tăng qua các năm. Tuy nhiên còn thấp, do số

lượng khách đến còn ít, thời gian lưu trú ngắn (khách quốc tế 2 ngày và khách

nội địa 1, 5 ngày). Ngoài số khách lưu trú, lữ hành do ngành du lịch phục vụ

còn một lượng khách không nhỏ tự tổ chức đến Trà Vinh tham quan, dự lễ

hội, thăm thân nhân. Tốc độ tăng doanh thu du lịch trung bình năm đạt 25,2%

thời kỳ 1996 - 2000.

Về khu du lịch, vui chơi giải trí, tham quan có: Đền thờ Bác Hồ được mở rộng và tôn tạo lại ngày càng quy mô và đẹp hơn; Khu văn hóa du lịch Ao Bà

Om, nhà bảo tàng văn hóa Khmer, Khu du lịch tắm biển Ba Động và một số đền, chùa văn hóa Khmer.

Ngoài ra ngành du lịch đang đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho khách

du lịch đến Trà Vinh ngày càng tăng.

Về chất lượng nhìn chung các cơ sở lưu trú đều đảm bảo tiện nghi tối

65

thiểu cho việc nghỉ ngơi của khách.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trong định hướng đến năm 2010, Trà Vinh sẽ hướng tới nguồn khách đa

dạng, khách trong nước chủ yếu là khách Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam

Bộ, Nam Trung Bộ. Khách quốc tế phần lớn là khách khu vực Châu Á-Thái

Bình Dương, Tây Âu, Bắc Mỹ. Dự báo đến năm 2010 doanh thu du lịch sẽ

tăng 17,5% so với năm 2000.

Bảng 1.32. Dự báo về GDP và doanh thu du lịch (không tính kinh doanh

thương mại và xuất nhập khẩu)

Đơn vị 2000 2005 2010

Tốc độ tăng % 2006- 2001- 2010 2005

5,826 2,688 2,48 0,658 3,97 1,62 1,857 0,493

3,4 4,09 0,99 7,35 15,27

1. Giá trị sản xuất (94) Tỷ đồng - Khách sạn - Ăn uống - Dịch vụ khác 2. Giá trị tăng thêm - Khách sạn - Ăn uống - Dịch vụ khác 3. Doanh thu du lịch - Khách sạn - Ăn uống - Dịch vụ khác “ “ “ “ “ “ “ “ “ “ “ 2,688 4,004 0,658 12,5 28,42 5,94 13,14 12,0 5,15 1,41 3,28 8,48 19,22 7,88 8,88 2,46 34,2 5,94 13,14 7,92 17,78 3,23 1,41 16,5 17,18 13,83 16,47 16,4 16,0 17,11 14,96 15,75 17,11 14,62 16,47 17,85 17,21 17,44 17,39 17,77 18,3 16,77 19,97 17,5 17,21 17,55 18,39

1.2.3. Đặc điểm rừng ngập mặn

a. Hiện trạng RNM

Diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam được công bố vào các năm

1943 (408.500 ha), 1962 (290.000 ha), 1982 (252.000 ha) và năm 2000

(155.290 ha). Trong vòng 57 năm qua, diện tích RNM Việt Nam đã giảm mất

253.210 ha. Theo số liệu năm 2000, diện tích RNM chỉ bằng 38% so với năm

1943. Điều này cho thấy tốc độ mất rừng ngập mặn ở Việt Nam là rất cao, khoảng

66

4.400ha/năm. Tính đến 12/2005, diện tích rừng ngập mặn cả nước là 155 000 ha.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Theo tài liệu của Moran (1949), diện tích rừng ngập mặn thuộc khu vực

đồng bằng sông Cửu Long khoảng 50,000 ha thì đến nay chỉ còn hơn 1/3 diện

tích. Mặt khác, rừng tự nhiên nguyên sinh hầu như không còn, đa số là rừng

trồng (62%) còn lại là rừng thứ sinh nghèo hoặc rừng mới tái sinh trên bãi

bồi. Trước đây, vùng cửa sông Cửu Long có nhiều loài thủy hải sản có giá trị

gắn liền với sự tồn tại của rừng ngập mặn, đến nay sau tác động của chiến

tranh và khai thác không hợp lý, rừng ngập mặn tại bốn tỉnh ven biển vùng

nghiên cứu chỉ còn 19,238 ha (Bảng 1.33).

Bảng 1.33. Diện tích đất ngập nước ven biển, RNM và đầm nuôi thủy sản

Tỉnh

Tiền Giang Diện tích đất ngập nước ven biển (ha) 2,828 Diện tích RNM hiện có (ha) 560 Diện tích không có RNM (ha) 120 Diện tích đầm nuôi thủy sản (ha) 2,148

Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng cộng 36,276 39,070 34,834 113,008 7,153 8,582 2,943 19,238 9,023 55,007 6,423 70,573 20,100 8,481 25,468 56,197

Bảng 1.34. Tương quan giữa sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn và sự mở

rộng diện tích nuôi tôm nước lợ ở một số tỉnh năm 2002.

Tỉnh Diện tích RNM(ha) Độ che phủ (%)

Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Bạc Liêu Cà Mau Diện tích tự nhiên (ha) 213.500 222.600 322.300 252.100 519.500 3.797 6.002 9.106 3.990 58.285 1.64 2.60 11. Diện tích nuôi tôm (ha) 34.392 30.996 53.000 108.000 244.000 Tỷ lệ % đất nông nghiệp 14.85 13.92 12.54 39.04 47.0

Quyết định số 2490/QĐ/BNN-KL ban hành ngày 30/7/2003 của Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc công bố diện tích rừng và đất lâm

67

nghiệp toàn quốc năm 2002 do Thứ trưởng Bùi Bá Hồng ký.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hậu quả của việc phá rừng ngập mặn rất nghiêm trọng, làm mất đi nguồn

đa dạng sinh học phong phú của hệ sinh thái RNM, làm mất nơi cư trú, sinh

đẻ của nhiều loài thuỷ sản, chim, thú,... phá vỡ chuỗi thức ăn trong hệ sinh

thái RNM. Mặt khác phá rừng ngập mặn sẽ làm giảm khả năng phòng hộ to

lớn của RNM ven biển, làm thay đổi môi trường đất và nước gây ảnh hưởng

trực tiếp đến việc khôi phục rừng và giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Tuy

nhiên, trong những năm gần đây nhận thức của người dân về vai trò của RNM

đã được nâng cao, cộng với nỗ lực của nhiều dự án trong nước và quốc tế,

nhiều vùng RNM đã được trồng mới và bảo tồn khá tốt.

b. Quần xã thực vật RNM chính ở vùng cửa sông

Vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long có điều kiện thuận lợi cho RNM

hình thành và phát triển. Mùa mưa lưu lượng nước lớn, nhưng mùa khô trùng

với thời kỳ nước triều cường, lại chịu tác động của gió mùa Đông Bắc

(gió chướng) nên cây ngặp mặn thường phân bố dọc theo các bờ sông

vào sâu trong đất liền.

Các quần xã rừng ngập mặn thuộc vùng cửa sông Ba Lai:

Một số quần thể và quần xã điển hình như sau:

- Quần thể Bần trắng (Sonneratia alba) tiên phong trên các bãi lầy mặn

hẹp phía ngoài cửa sông.

- Quần xã Mắm trắng (Avicennia alba)-Bần trắng (S. alba) ở phía sau

quần thể tiên phong, trên đất ngập triều trung bình cùng với các loài khác như

Đưng (R. Mucronata), Vẹt tách (Bruguiera parviflora) mọc rải rác.

- Quần xã Mắm trắng (A. Alba)-Mắm lưỡi đòng (A. Officinalis) dọc cửa

sông hướng vào nội địa, nơi ngập triều trung bình cao. Ngoài ra còn có các

68

loài như Đưng, Dà vôi, Xu ổi.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Quần xã Cóc vàng (Lumnitzera racemosa)-Xu ổi (Xyrocarpus

granatum) trên đất chỉ ngập khi triều cao, thường cùng mọc với các loài khác

như Dà vôi, Dà quánh, Mắm quăn.

- Quần xã Giá (Excoecaria agolocha)-Tra (Hibicus teliaceus) trên đất

cao ít khi ngập triều, cùng với các loài khác như Tra biển (Thespesia

populnea), Mớp sát (Cerbera odolens), Chà là (Pheonix paludosa), Sam biển

(Sesuvium portulastrum).

Sự phân bố các rừng ngập mặn ở những cửa sông thuộc Sông Tiền

(cửa Đại, cửa Tiểu, cửa Hàm Luông).

RNM ở đây bao gồm các loài cây nước lợ và cây ưa độ muối rộng, thành

phần cây rừng tương tự như ở sông Ba Lai, các quần xã chủ yếu bao gồm:

- Quần thể Bần chua (S. caseolaris) tiên phong trên đất mới bồi phía

ngoài cửa sông.

- Quần xã Bần chua (S. caseolaris)-Mắm trắng (Avicennia alba) trên đất

ngập triều trung bình. Các loài khác như Mắm lưỡi đòng rải rác, vài chỗ có

Dừa nước, mùa khô do nước mặn, cây thường bị cháy lá và bị sâu phá.

- Quần xã Dừa nước (Nypa fruticans)-Mái dầm (Cryptcotoryne ciliata)

phân bố dọc triền sông phía đất liền cùng với các loài khác như Ô rô gai, Cói.

- Quần xã Cóc kèn (Derris trifoliata)-Cỏ mui (Wedelia biflora) trên đất

ít ngập triều. Ngoài ra còn có các loài khác như Ô rô gai (Acanthus

ilicifolius), Sậy (Phragmites karka).

Các quần xã rừng ngập mặn lưu vực sông Cổ Chiên:

Sông Cổ Chiên có lưu lượng tương đối lớn (28%, Q = 650 m3/s về mùa

khô), nhưng khi ra đến cửa sông, nước chảy chậm tạo thành các đảo (cù lao)

69

và tách sông thành hai nhánh đổ ra hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu. Tác động

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

của nước triều mạnh và sâu hơn sông Hàm Luông nên nồng độ muối cao hơn,

ít thay đổi hơn các cửa sông khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cây

ngập mặn, đặc biệt là Mắm trắng phát triển mạnh. Loài này cùng với Mắm

lưỡi đòng phát triển thành quần xã dày đặc, cây cao khoảng 10m. Đây là loại

rừng phòng hộ bảo vệ bờ sông chống xói lở rất hiệu quả. Ở các bãi đang bồi,

Bần trắng (Sonneratia alba) thường là loài cây tiên phong, sau đó Mắm trắng

định cư, tạo ra quần xã tiên phong hướng về phía biển. Phía sau là quần xã

hỗn hợp, trong đó có Đưng và rải rác có Đước cùng với Dà quánh.

c. Những đặc trưng sinh học, sinh thái cơ bản.

Các loài cây RNM vùng cửa sông Cửu Long thích nghi với các điều kiện

sinh thái hết sức thuận lợi về khí hậu, nước triều, độ mặn của nước, bãi bùn

lầy... Nhưng sự phân bố và thành phần các loài cây có nơi khác nhau tùy từng

điều kiện môi trường khác nhau. Một trong những điều kiện môi trường chi

phối sự khác biệt này chính là điều kiện đất đai và địa chất, đó chính là những

đặc điểm cụ thể của từng nhóm đất. Cụ thể như sau:

• Thực vật trên đất bùn mặn: Nhóm đất này phân bố từ tỉnh Tiền Giang

đến tỉnh Trà Vinh dọc theo vùng biển của đồng bằng sông Cửu Long. Do địa

hình thấp, nên khu vực này thực sự dễ bị tổn thương mạnh bởi sự xâm mặn và

chịu thiệt hại trong khoảng thời gian 5 đến 7 tháng trong một năm. Nước mặn

có thể xâm nhập vào lớp đất cơ sở và đến gần lớp đất bề mặt bởi hoạt tính

mao dẫn vào mùa khô.

Khu vực khu cửa Hàm Luông, đê cát ngập nước từ năm 1968 nay đã

được bồi tụ, nổi cao thành đồng bằng triều cao, rộng tới 1km, phát triển thực

vật ngập mặn. Đê cát ngập nước phát triển mạnh ở bờ phải, tính đến độ sâu

2m, rộng 1,5-3,5km, dài trên 20km. Sự phát triển của đê cát này đẩy lòng dẫn

của sông Hàm Luông về phía Đông Bắc, tăng cường xói ngầm ở khu vực này.

70

Ở bờ trái cửa sông Hàm Luông, đê cát ngập nước kém phát triển, hẹp và ngắn,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

rộng 0,3-1km, dài khoảng 7km. Trong điều kiện như vậy, hầu hết các loài cây

ngập mặn đều có thể phát triển, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của từng loài

khác nhau phụ thuộc vào khả năng thích nghi với biên độ muối dao động khá

cao giữa mùa khô và mùa mưa, ước tính khoảng 808,749 ha (21% diện tích

của đồng bằng sông Cửu Long).

Trong khi đó ở khu vực cửa Định An, theo bản đồ địa hình UTM

1/1000.000 năm 1968, đê cát ngập nước ở bờ phải và bờ trái đối xứng nhau,

dài hơn 9 km, rộng 0,3 -1,6 km, lòng chảy sông còn tiếp tục dưới mực nước

biển khoảng 20 km. Bờ phải là đê cát ngập nước và đới gian triều, bờ trái là

đới triều cao phát triển thực vật ngập mặn chủ yếu là Bần, rộng 8-9 km. Như

vậy, so với khu Tây Nam cửa Định An, bờ biển ở khu Đông Bắc cửa Định An

phát triển nhanh hơn về phía đông 8-9 km. Điều đó cho thấy lượng bồi tích

qua cửa Cung Hầu và Cổ Chiên có thể lớn hơn rất nhiều so với lượng bồi tích

qua cửa Định An và Tranh Đề. Thực vật rừng ngập mặn cũng đa dạng do các

yếu tố địa chất, địa mạo chi phối.

• Thực vật trên đất chua phèn: Nhóm đất này có thể thấy nhiều ở vùng

rừng ngập mặn ven biển bị chặt phá làm đầm nuôi tôm ở các tỉnh Bến Tre,

Trà Vinh. Sau một vài vụ thu hoạch, năng suất tôm suy giảm và đất trở nên

chua phèn, hầu hết các cây ngập mặn đều không thích nghi được và để khôi

phục lại hệ thực vật này thì phải mất đến 5-10 năm sau. Loại đất này rất phổ

biến ở đồng bằng sông Cửu Long có thể gặp tại Đồng Tháp Mười, tứ giác

Long Xuyên, và tỉnh Cà Mau. Có 2 loại đất nhiễm axit sunfuaric, một loại có

tên là đất nhiễm axit sunfuaric tiềm tàng (PAS) và thứ hai là đất nhiễm axit

thực. Tràm là loài cây thích nghi rất tốt với loại đất này.

• Thực vật trên các giồng cát: Nhóm đất này phân bố suốt ven biển của

các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng. Trong suốt quá trình

71

thành tạo, đồng bằng sông Cửu Long chịu sự bồi tụ do phù sa từ trong sông ra

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

và các dòng chảy mang chúng từ biển vào. Theo thời gian, bờ biển cũ của mỗi

giai đoạn bồi tụ tạo thành các doi cát, phía trong các doi cát này một số đầm

lầy lưu thông với nước triều thường xuyên thì tạo điều kiện cho RNM phát

triển rất tốt, chẳng hạn như ở Cù Lao Dung, Sóc Trăng và Trà Vinh.

Thành phần loài và phân bố

Các kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 25 loài thực vật thuộc 19 họ thực

vật. Các họ thực vật có nhiều loài là: họ Cỏ (Poaceae, 6 loài), họ Đước

(Rhizophoraceae, 7 loài), họ Cói (Cyperaceae, 4 loài) và Cà phê (Rubiaceae, 7

loài). Những họ thực vật quan trọng tạo thành các quần xã trong thảm thực

vật RNM, có giá trị về mặt cảnh quan, môi trường và kinh tế là: họ Đước

(Rhizophoraceae), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Bần (Sonneratiaceae),

họ Cau dừa (Arecaceae), họ Bàng (Combretaceae).

Các cửa sông vùng châu thổ nhận lượng phù sa lớn nên các bãi triều

rộng, số loài cây ngập mặn phong phú với những loài ưu thế là Mắm trắng,

Mắm lưỡi đòng, Đước đôi, Đưng, Vẹt tách (Bruguiera parviflora). Ở dải ven

biển ngoài phân bố của Đước (R. apiculata) chiếm ưu thế, một số loài cây

chịu mặn cao như Mắm biển (A. marina), Vẹt trụ (B. cylindrica) cũng phát

triển khá tốt. Trên những vùng đất cao ven sông ít khi ngập triều hoặc chỉ

ngập nông khi triều cường thì Chà là (Phoenix paludosa) phát triển mạnh

(nhờ sinh sản bằng chồi), nhiều nơi tạo thành quần thể thuần loại. Ở những

vùng đất cao gần biển thì Giá lại là loài chiếm ưu thế. Xen kẽ với Giá là Dà

quánh (Ceriop decandra).

Có thể nói các loài cây rừng ngập mặn chủ yếu như: Đước đôi

(Rhizophora apiculata), Dà đen (Ceriops decandra), Dà vôi (Ceriops tagal),

Vẹt tách (Bruguiera parviflora), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Vẹt đen

(Bruguiera sexangula), Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica), Mắm trắng (Avicennia

72

alba), Cóc trắng (Lumnitzera racemosa), Dừa nước (Nypa fructican), Giá

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

(Excoecaria agallocha)... đóng vai trò chủ đạo cấu trúc nên các quần xã trong

thảm thực vật RNM cửa sông Cửu Long.

Ngoài các loài cây RNM thực thụ như trên, còn có các loài cây tham gia

rừng ngập mặn thường sống trên đất ngập triều cao (một số sống cả ở vùng

nước ngọt), thành phần loài thay đổi tùy theo vùng địa lý và theo địa hình,

chúng cùng với loài cây rừng ngập chủ yếu hình thành nên thảm thực vật

RNM. Bên cạnh đó là các loài cây nhập cư phát tán từ nội địa, mọc ven các

bờ đất cao của kênh, rạch, ven đường. Các loài này thường chỉ làm tăng tính

đa dang sinh học, có ý nghĩa phủ xanh hơn là có vai trò quan trọng trong cấu

trúc thảm thực vật RNM.

Sự phân bố của các loài cây RNM chủ yếu phụ thuộc vào tính chất hóa

lý của đất, cường độ và thời gian ngập triều, độ mặn của thủy triều. Dựa vào

độ mặn của nước, có 3 nhóm loài thực vật ở RNM vùng của sông Cửu Long:

- Cây ngập mặn sống ở vùng nước có độ mặn từ 5-18‰ như: Bần chua

(Sonneratia caseolaris), Vẹt đen (Bruguiera sexangula), Dừa nước (Nypa fructican).

- Cây ngập mặn sống ở vùng nước mặn có độ muối từ 18-40‰ như: Sam

biển (Sesuvium portulacastrum), Ô rô (Acanthus ilicifolius), Mắm (Avicennia

sp.), Đước đôi (Rhizophora apiculata), Dà (Ceriops spp.), Vẹt (Bruguiera

sp.), Mắm trắng (Avicennia alba), Cóc trắng (Lumnitzera racemosa), Bần

(Sonneratia alba, S. ovata).

- Cây sống ở cả môi trường nước lợ và mặn như: Bần (Sonneratia sp),

Giá (Excoecaria agallocha), Chà là (Phoenix paludosa).

Cấu trúc các kiểu thảm thực vật RNM

Các quần xã RNM ven biển của sông Cửu Long được nghiên cứu đại

diện tại khu bảo tồn thiên nhiên Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, bao gồm cả rừng tái

73

sinh tự nhiên và rừng trồng. Rừng tự nhiên còn được bảo vệ từ những năm

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

1993-1995, hiện đã có tuổi 12-14 năm. Mật độ thân ở đường kính D1,3m ≥ 10

cm của các kiểu rừng không cao. Rừng Mắm có mật độ thân đo được là 12 thân/100m2, hay 1,200 thân/ha, cao hơn so với rừng Đước (1,000 thân/ha) và

rừng Hỗn giao (1,100 thân/ha).

Cây của rừng hỗn giao có đường kính trung bình 12,69 cm, lớn hơn một

chút so với rừng Đước (10,48 cm) và rừng Mắm (10,67 cm) thuần loại. Độ

cao của phân nhánh trung bình của rừng Đước là 6,64 m, cao hơn so với rừng

Mắm (5,42 m) và rừng Hỗn giao (4,68 m). Chỉ số tán trung bình của rừng hỗn

giao là 4,98 m, cao hơn với rừng Đước (4,39 m) và rừng Mắm (4,45 m). Kết

quả cho thấy không có sự vượt trội hơn hẳn về cấp kính, chiều cao giữa các

kiểu rừng trong khu vực nghiên cứu. Điều này cho thấy rừng đang ở trạng thái

phục hồi khá đồng đều với độ đáng tin khoảng 95% của các giá trị trung bình

của đường kính ngang ngực (DBH), chiều cao, chiều cao phân cành, chỉ số

74

tán cây của 3 kiểu rừng nghiên cứu.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2. 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH - ĐỊA MẠO

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT-ĐỊA MẠO VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Đặc điểm địa hình

Vùng nghiên cứu có địa hình thấp, khá bằng phẳng. Nhìn từ vũ trụ, Bến

Tre như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng

bằng sông Cửu Long là mức độ bằng phẳng rất cao. Độ chênh cao tuyệt đối

giữa điểm thấp nhất và điểm cao nhất chỉ là 3,5 m. Phần đất cao nhất gặp ở

Chợ Lách đến Châu Thành, nằm về phía bắc và tây bắc của thành phố Bến

Tre. Đây là khu vực của cồn sông cổ được lũ hằng năm đem phù sa phủ lấp

lên. Độ cao tuyệt đối có nơi đạt trên 5 m, nhưng đa số từ 3 đến 3,5 m. Một

phần đất cao nữa nằm theo các bờ biển cổ, với những gờ bờ biển cổ, gọi là

giồng, có độ cao tuyệt đối từ 2 đến 5 m. Đa số địa danh cao đều mang thêm từ

giồng ở phía trước, như Giồng Trôm, Giồng Tre, Giồng Mù U, v.v...

Phần đất thấp gồm có 2 loại, đó là các lòng máng của những dòng sông

cổ và mới, đã bị lấp hoàn toàn hoặc từng phần bởi trầm tích hiện nay. Ví dụ

như Phước An, Phước Tú ở huyện Châu Thành, hoặc Phong Phú, Phú Hòa ở

huyện Giồng Trôm. Loại thứ hai là những vũng mặn cổ, nay cũng đã được lấp

đầy từng phần như xóm Chợ Cũ của huyện Ba Tri, Mỹ Hòa ở huyện Giồng

Trôm. Loại địa hình này chỉ có độ cao từ 1 đến 1,5 m, đa số bị ảnh hưởng

triều rất mạnh. Ví dụ: ở xóm Rạch Vọp, ảnh hưởng triều xảy ra mỗi ngày, tạo

nên một loại trầm tích keo hóa gọi là trầm tích đồng thủy triều.

Cuối cùng là những vùng đất trũng thật thấp, luôn luôn ngập nước ở mực

triều trung bình, gồm có đất đầm mặn và bãi thủy triều. Loại này không vượt

quá cao độ 0,5 m. Diện tích chung có tính giới hạn, nằm cạnh ven biển. Đất

đầm mặn phát triển nhiều ở huyện Bình Đại nhưng trở nên ít đi ở huyện Ba

75

Tri và kém phát triển ở huyện Thạnh Phú.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Địa hình ở Trà Vinh mang tính chất đồng bằng ven biển với các giồng

cát, chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía

biển, các giồng này càng cao và càng lớn. Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ

thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt nên địa hình khá phức tạp. Các vùng trũng

xen kẹp với các giồng cao, xu thế dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Nhìn

chung, cao trình phổ biến là từ 0,4-1,0 m, chiếm 66% diện tích đất tự nhiên.

Địa hình cao nhất (>4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long

Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải). Địa hình

thấp nhất (<0,4m) tập trung tại các cánh đồng trũng xã Tập Sơn, Ngãi Xuyên,

Ngọc Biên (Trà Cú); Thanh Mỹ (Châu Thành); Mỹ Hòa, Mỹ Long, Hiệp Mỹ

(Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải).

Do vậy, khác với các địa phương khác trong vùng, tại Trà Vinh đã hình

thành nền sản xuất nông nghiệp khá đa dạng và phong phú với cơ cấu màu

lương thực, thực phẩm dưới đất thấp cộng với cây ăn trái phát triển trên các

giồng cát. Cây lúa chiếm ưu thế ở các vùng trung bình-thấp, một số vùng

trũng ven sông có thể nuôi tôm tự nhiên.

2.1.2. Đặc điểm địa mạo

Trên địa hình hiện tại, vùng nghiên cứu thuộc 2 đơn vị địa hình lớn là

đồng bằng châu thổ và biển nông ven bờ. Ranh giới giữa chúng là các đoạn

đường bờ với 9 cửa sông hiện tại nối tiếp nhau, trải dài khoảng 155km,

phương chung Đông Bắc-Tây Nam, cong lồi về phía Đông Nam.

Đồng bằng châu thổ cao 0,5-2m, không bị ngập hoặc bị ngập nước cục

bộ, ngập không thường xuyên do triều hoặc do lũ. Trên đồng bằng, xen kẽ các

giồng cát ( sand bars) là các dải đồng bằng thấp trũng với các lạch triều, các

đoạn lạch triều, tuổi trẻ dần về phía biển. Khoảng cách giữa 2 giồng cát 1,9-

4,9km, trung bình 2,4km. Cắt ngang các giồng cát là các nhánh của sông Cửu

76

Long. Các sông này có bề rộng 400-2700m, trung bình 1000-1500m, sâu 5-

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

13m, thường nông hơn ở khu vực cửa sông. Dọc theo chúng phát triển các

cù lao (braided bars), dài từ 3 đến 32km, rộng 300-500m đến 2500-4500km

và các bãi ngầm. Các dạng địa hình này về cơ bản đã ổn định, có tuổi Holocen

giữa-muộn, tuy nhiên các dạng địa hình giồng cát lại đang chịu tác động

mạnh mẽ từ chính con người.

Phần biển nông ven bờ là phần ngập nước với bề mặt nghiêng thoải và

rất thoải về phía biển; cụ thể: dốc trung bình 0,5‰ trong khoảng sâu 0-2m,

0,7‰ trong khoảng sâu 2-6m, 2,7‰ trong khoảng sâu 6-10m, 1,9‰ trong

khoảng sâu 10-20m và 1,2‰ trong khoảng độ sâu 0-20m. Với độ dốc như

vậy, đồng bằng gian triều, nếu lấy tới độ sâu 2m, rộng trung bình 7,5km, có

chỗ tới 15km; đới chịu tác động của sóng, tính tới độ sâu 20 m, rộng trung

bình đến 19km, có chỗ rộng đến 32km.

Từ 0m đến 18-20m nước sâu là chế độ thạch động lực hiện đại, quá trình

lắng đọng trong khu vực này là quá trình phân dị trầm tích từ hệ thống sông

Cửu Long. Ở độ sâu 18-20m, địa hình tương đối bằng phẳng, chiụ tác động

của sóng và các dòng hải lưu, xâm thực hoặc bồi tụ.

Các dạng địa hình ngập nước là các vùng chưa ổn định do tác động khác

nhau và không ổn định của sông, sóng và thủy triều. Các vùng cửa sông đều

cùng chịu ảnh hưởng của chúng nhưng ưu thế với dòng chảy sông, thủy triều

thuộc về các Cửa Tranh Đề, Cửa Định An, Cửa Cổ Chiên; sóng, thủy triều-Cửa

Hàm Luông, Cửa Đại; thủy triều, sóng-Cửa Tiểu, Cửa Ba Lai, cửa Mỹ Thạnh.

Vùng ngập nước cửa sông, có 3 nhóm địa hình chính: deta, bãi biển-

đồng bằng rìa delta, sườn delta. Các yếu tố này đều có thể biến đổi, trước hết

là do dòng chảy sông thay đổi và kế tiếp là quan hệ sông, sóng, thủy triều thay

đổi. Thay đổi này đã được thấy rất rõ khi nghiên cứu biến đổi địa hình trong

77

chuyên đề đặc điểm địa mạo vùng ven bở châu thổ sông Cửu Long.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2.1.2.1 Địa hình lục địa ven biển tuổi Holocen muộn, thời sớm-giữa

Đồng bằng tích tụ do sóng và thủy triều là chủ (số 1.1 trên bản đồ địa

mạo tỷ lệ 1/200.000)

Trên bề mặt đồng bằng sông Cửu Long, dấu tích tác động của sóng và

thủy triều tuổi Holocen giữa-muộn là các giồng cát nguồn gốc biển và các dải

đồng bằng thấp nguồn gốc biển-đầm lầy xen kẽ với chúng. Các yếu tố địa

hình này được thành tạo trong thời kỳ biển lùi Holocen giữa-muộn, kế tiếp

nhau, trẻ dần về phía biển. Tốc độ biển lùi tính từ giồng Cai lậy (tuổi

4500±110 năm), từ giồng Trà Vinh (tuổi 4500±110 năm) là 12-13,3m/năm

Các giồng cát, dạng đơn hoặc phân nhánh, dài một vài km đến 28 km,

rộng thường gặp 0,4-1km, cao phổ biến 1,5-3,5 m, cong lồi về phía Đông Nam. Các

giồng này thường được cấu tạo bởi cát xốp, dày một vài mét đến 15m.

Giồng cát phát triền với mật độ cao hơn (1,9-2,1km/ giồng) ở các

vùng Ba Lai-Định An, thấp hơn vùng Cửa Đại-Ba Lai, thấp nhất ở vùng

Tranh Đề- Mỹ Thạnh.

Các dải đồng bằng thấp giữa các giồng có dạng trũng, gần như cùng

phương với phương của các giồng kề liền, rộng 1,5-5km, cao 0,7-2m. Trầm

tích cấu tạo đồng bằng thường là sét, sét pha, sét kẹp các lớp cát mỏng đến

dày màu đen, xám đen, nâu đen, chảy, dẻo chảy, giàu di tích hữu cơ, dày một

vài mét đến 13-18m . Theo mặt cắt ngang, đồng bằng có dạng trũng lòng

chảo, phần thấp nhất là các lạch triều, các đoạn lạch triều. Các lạch triều

thường kéo dài theo phương kéo dài của dải đồng bằng, nối với các nhánh

sông Cửu Long là chính. Theo các lạch triều vẫn có hoạt động của dòng triều

hiện đại; các bộ phận địa hình thấp của đồng bằng, vẫn bị ngập triều, ngập lũ

cục bộ. Trên các trầm tích biển-đầm lầy hoặc xen kẽ với chúng có thể bắt gặp

78

các tích tụ từ phù sa sông-bột sét màu nâu.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 2.1. Đặc điểm phân bồ và kích thước các giồng vùng ven biển cửa sông Cửu Long

Các giồng Kích thước một số giồng đại diện

Vùng

Dài (km) Rộng (km) Số lượng Chu vi (km) Rộng đới bờ nghiê n cứu (km) D.tí ch (km 2)

1 9 Bắc Cửa Tiểu

Cửa Đại- Ba Lai

Ba Lai-H.Luông 13 26.63 20.5 Khoảng cách tb giữa 2 giồng (km) 1.9 3.0 2.1 Số lượn g giồng 1 4 2 4 1 2 18 7 3.04 0.46 6.7 1.1 17 13.7 1.35 51 7.46 0.61 10.7 2.9 5.2 0.49 10 18 17.7 0.75 21 55 7 9 10

2.0 4 9.7 0.56 20.4 4.4 9 H. Luông-C. Chiên 18

1.9 4 28.4 2 58.5 17 Cung Hầu –Đ.An 31.6

4.9 29. 6 6 T. Đề -Mỹ Thạnh 29.5

2.6 2 16 0.5 32.5 7.2 11 Nam Mỹ Thạnh 29

Như vậy, theo phương Tây Bắc-Đông Nam, đồng bằng có dạng lượn

sóng thoải, bước sóng dài 2-5km, biên độ trung bình 1-2m, cao cực đại ứng

với đỉnh giồng, thấp cực tiểu ứng với phần thấp của đồng bằng-lạch triều.

Các dải đồng bằng nguồn gốc biển-đầm lầy ở các vùng gian sông cũng

79

có kích thước khác nhau.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 2.2. Kích thước các dải đồng bằng tính theo đường nối Cửa Tiểu-

Cửa Tranh Đề

Vùng Rộng theo chiều ngang (km), phương ĐBTN

Bắc C.Tiểu C.Tiểu-C.Đại C.Đại-C.BaLai C.Ba Lai-C.Hàm Luông C.Hàm Luông-C.Cổ Chiên C.Cổ Chiên-C.Cung Hầu C.Cung Hầu-C.Định An C.Định An-C.Tranh Đề C.Tranh Đề-C.Mỹ Thạnh Nam C.Mỹ Thạnh Rộng theo hướng nhô ra biển (km), hướng ĐN 1.5 5.7 13.8 10 17.2 7.7 23.5 2.9 0.9 5.7

9 5.6 9.8 17 11.2 3.8 35.2 9.7 13.5 >12 Bảng 2.2 cho thấy: tích tụ, hay tốc độ bồi tụ, lấn biển hình thành các dải

đồng bằng liên quan với các cửa sông Cửu Long khác nhau là khác nhau; lớn

nhất ở dải đồng bằng C. Cung Hầu-C. Định An, tiếp sau nhỏ hơn là dải đồng

bằng Hàm-Luông-Cổ Chiên, Cửa Đại-Ba Lai.

Phần ngoài cùng, giáp với biển của các đồng bằng do triều và sóng đều

có các dải đồng bằng triều cao. Dải đồng bằng này là phần thấp nhất, trẻ nhất

trong dãy các dải đồng bằng tích tụ do sóng và thủy triều thuộc avandelta

Holocen giữa-muộn. Chúng thường bị ngập khi nước triều dâng cao. Trên bản

đồ UTM tỷ lệ 1/100.000 năm 1965, các dải này tương ứng với các dải phát

triển rừng ngập mặn ven biển. Nay các dải rừng này đã bị chặt phá nhiều, thay

vào đó là những vuông tôm hoặc những vùng đất hoang. Ở các đoạn giữa các

80

các sông khác nhau, bề rộng của chúng cũng khác nhau (

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

81

Bảng 2.3).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 2.3. Chiều rộng các đồng bằng triều (ĐBT) trong đới gian triều (km)

Dải đổng bằng triều Đồng bằng triều cao Đồng bằng triều giữa, (đến độ sâu 2m)

Bắc C.Tiểu Cù Lao Hòa Đông C. Đại-Ba Lai Ba Lai- Hàm Luông Hàm Luông- Cổ Chiên Hòa Minh Cung Hầu-Định An Cù Lao Dung Tranh Đề -Mỹ Thạnh Nam Mỹ Thạnh 0 0.3 8 1-2.6 1.5-3.5 6.2 1.5 0.7 2.8 12 13.5 5.5-8 6-7.6 4.2 7 2.7 9.5 10.5 4.3

Chú ý: 1)- Dải đồng bằng triều cao giữa các cửa sông C. Đại-Ba Lai,

Cung Hầu-Định An có bề rộng lớn nhất; 2)- Nơi đồng bằng triều cao có

chiều rộng nhỏ thì đồng bằng triều giữa lại có bề rộng lớn và lớn nhất; 3)-

Tổng chiều rộng của 2 dải đồng bằng triều cao và đồng bằng triều giữa

các cửa sông tương đương nhau. Như vậy có thể nghĩ rằng ở những nơi đồng

bằng triều cao có chiều rộng lớn hơn là vùng vừa mới được bồi tụ mạnh hơn,

một phần đáng kể của các đồng bằng gian triều đã chuyển thành đồng bằng

triều cao nhanh hơn, tốc độ lấn biển của đường bờ ở đây trong thời gia qua

là lớn hơn.

∗ Sông và các cù lao dọc sông (số 1.2; 1.3 trên bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000)

Sông Hậu: về phía cửa sông, lòng sông mở rộng dần, cù lao có kích

thước lớn dần, lớn nhất là tổ hợp Cù Lao Dung, dài 37 km, rộng 5-10km. Tổ

hợp này gồm 3 cù lao kề liền, gần như song song với nhau: Cù Lao Dung, cù

lao Cồn Cộc và cù lao Tròn. Cù Lao Dung ở trung tâm, lớn nhất. Cù Lao Cồn

Cộc ở phía Đông Bắc Cù Lao Dung, dài 16 km, rộng 1,5km. Cù lao này bị

ngăn cách với Cù Lao Dung bởi Khem Bang Co, rộng 200-400m. Cù lao Tròn

82

ở phía Tây Nam; dài 22,5 km, rộng 1,5-2,5 km bị ngăn cách với Cù Lao Dung

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

bởi lạch rộng 20-350m, sâu cạn không đều. Ở những đoạn lạch hẹp, cạn, cù

lao Tròn đang ghép nối với Cù Lao Dung.

Khi hình thành Cù Lao Dung, tại đới sông phân nhánh (gồm cả dòng

chảy và cù lao) có bề rộng 8-18 km, rộng dần về phía cửa sông.

Sông Tiền: chảy gần như song song với sông Hậu trên chiều dài khoảng

85km. Tới Vĩnh Long, sông Tiền phân thành 2 nhánh: S. Cổ Chiên và S. Mỹ

Tho. Sông Mỹ Tho sau khi đổi hướng đột ngột 2 lần trên chiều dài khỏang

20km, đến Châu Thành đã phân thành 3 nhánh sông: S. Mỹ Tho, S Ba Lai và

S. Hàm Luông. Các sông này, sau khoảng 10-17km chảy theo hướng Đông,

lại gần như đột ngột đổi sang hướng Đông Nam. Từ Châu Thành, sau khi

chảy tiếp 25 km, đến An Cư, sông Mỹ Tho lại phân thành 2 nhánh chảy theo

hướng Đông: S.Cửa Tiểu và S.Mỹ Tho (đoạn đổ ra Cửa Đại).

Sông Mỹ Tho (đoạn An Cư-Cửa Đại): chảy hướng Đông Đông Nam,

Trước khi phân nhánh, sông rộng 1,2km. Giữa 2 nhánh là tổ hợp cù lao Hòa

Đông, dài 33 km, rộng 2,8-5,3km. Trong tổ hợp này, cù lao Hòa Đông là cù

lao lớn nhất. cù lao Tảo và cù lao Nở nhỏ hơn (dài 7-15 km, rộng 0,5-1km ) phát

triển ở phía Nam cù lao Hòa Đông. Hai cù lao này ngăn cách với cù lao Hòa

Đông bởi nhánh sông Cửa Đại nhỏ, chiều rộng 150-400m, sâu 1-3m. So với

chiều ngang và độ sâu của sông Mỹ Tho thì nhánh sông Cửa Đại nông và nhỏ

hơn hẳn, có xu hướng cạn dần. Theo xu hướng này cù lao Tảo và cù lao Nở sẽ

dần dần nối nhập với cù lao Hòa Đông.

Sau 15 km chảy hướng Đông, Sông Cổ Chiên chảy khá ổn định theo

hướng Đông Nam trên chiều dài, tính tới biển khoảng 55km. Hướng và đường

chảy của sông này, về cơ bản, vẫn theo hướng và đường chảy của sông Tiền,

nên sông có thể nhận được nhiều hơn về lượng nước và bồi tích từ sông

Tiền. Cù Lao Hòa Minh là cù Lao sát cửa sông Cổ Chiên, dài 36 km, rộng 2-

83

5-3,3km. Đuôi cồn là bãi ngập nước, tính đến độ sâu 2m, còn kéo dài 4,2km.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đới sông phân nhánh trên đoạn này rộng 5,8-9,5km.

Sông Hàm Luông: cũng có các cù lao nhưng không nhiều và kích thước

không lớn. Cách cửa sông 14 km về phía thượng lưu, có 01 cù lao phát triển

cùng với sông phân nhánh, dài 4,2km, rộng 1,7km.

Các cù lao được thành tạo trong các sông, ở phần trên cửa sông, bắt đầu

là từ các bãi ngầm. Khi được hình thành, chúng thường nằm giữa sông, phân

đôi dòng chảy, dài tới 15-37 km, chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng. Theo lý

thuyết, trầm tích tạo cù lao ở phần dưới là hạt thô, tướng lòng, thành phần chủ

yếu là cát, cát bột; chuyền lên trên là hạt mịn, tướng bãi bồi, thành phần chủ

yếu là bột, sét bột; ở phần đầu cù lao hạt thô hơn ở phần đuôi của cù lao. Trên

thực tế, các cù lao (braided bars) phát triển ở gần cửa sông còn chịu ảnh

hưởng của thủy triều; phần đuôi của các cù lao thường bị ngập triều, ở đây có

các bộ phận tương ứng với các đồng bằng triều cao, đồng bằng gian triều và

đồng bằng triều thấp, bề rộng tính chung tới 4-10km. Tích tụ ở các phần này

thường là bột sét, sét xám đen, nâu nhạt, bề dày thấy được ở lỗ khoan LK1-

AT trên Cù Lao Dung là ~ 18m.

Phân tích hình thái các dải đồng bằng giữa các sông, sông và cù lao thấy

rằng: 1)- Trên từng dải đồng bằng gian sông, các giồng và đường bờ hiện đại

uốn cong gần như song song với nhau; 2)-Các nhánh sông Cửu Long liên tục

là ranh giới dạng tuyến khá ổn định phân cách các dải đồng bằng gian sông;

3)-Các cửa sông, cù Lao sông đều lấn biển cùng với sự lấn biển của các

đường bờ giữa các cửa sông nhưng chậm hơn so với sự lấn biền của các

đường bờ từ 2800m đến 9200m. Như vậy, trong VNC, sự hình thành, phát

triển của các dải đồng bằng, dòng chảy, cù lao vừa có tính độc lập tương đối

vừa liên quan với nhau. Trong quá trình hoạt động, dòng chảy, một mặt, tự

phân nhánh, tạo cù lao, kéo dài, biến đổi lòng dẫn, cửa sông, cù lao, kéo dài

84

chúng về phía biển; mặt khác, là nguồn cung cấp vật liệu chính để tạo ra các

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

delta của sông và các đồng bằng rìa delta, dịch chuyển đường bờ về phía biển.

Các đồng bằng giữa các nhánh sông Cửu Long không phải bị chia bởi các

nhánh sông Cửu Long sau khi chúng được thành tạo mà được thành tạo cùng

với sự nối dài của các nhánh sông, cửa sông Cửu Long về phía biển.

2.1.2.2 . Địa hình đáy biển ven bờ, tuổi Holocen muộn, thời muộn (hiện

đại)

∗ Các đơn vị địa mạo thành tạo trong đới sóng vỗ

- Delta được thành tạo do sông, thủy triều và sóng (số 2.1.1 trên bản đồ

địa mạo tỷ lệ 1/200.000).

Có 3 delta được thành tạo do sông, thủy triều và sóng: delta cửa sông Cổ

Chiên - Cung hầu (gọi tắt là delta Cổ Chiên), delta cửa sông Định An (gọi tắt

là delta Định An), delta cửa sông Tranh Đề (gọi tắt là deltaTranh Đề).

Về mặt hình thái, delta được thành tạo do sông, thủy triều và sóng có

dạng quạt với các yếu tố dòng chảy dạng nan quạt còn được thấy rõ ít nhiều

trên diện phân bố của chúng. Cùng với dòng chảy sông, các dòng triều

được tăng cường, dài 18 -30 km từ cửa sông, phát triển tới độ sâu 5-6m.

Ảnh hưởng của sóng có tính chất cục bộ, tạo các val, các trũng nhỏ trên

các thùy thuộc rìa trong của delta.

Delta Cổ Chiên được tạo ra bởi 2 cửa sông Cổ Chiên và Cung Hầu, rộng 270 km2. Trục delta dài 29km. Đáy delta rộng 31 km. Đỉnh delta là nơi hội

lưu và cùng chảy ra biển của 2 dòng chảy thuộc S.Cổ Chiên, rộng 7km. Bề

mặt delta cao (-) 1 đến (-) 6m, bị chia cắt bởi các dòng triều, nghiêng rất thoải

về phía biển và về phía dòng triều. Do ảnh hưởng của dòng chảy sông, trong

khoảng dài 18 km theo trục delta có 3 bãi cát ngầm: Bãi Hòa Minh dài

3500m, rộng 3200m; Bãi Ấp Bàu dài 10 400 m, rộng 4 600m; Bãi Cồn Dược

dài 7 900m, rộng 1200m. Theo bản đồ UTM tỷ lệ 1/100.000 năm 1965, ngoài

85

3 bãi ngầm trên, ở bờ trái còn có đê thiên nhiên rộng 1,5-3km, kéo dài 13 km

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

về phía biển; có 2 bar nhỏ chạy song song với bãi Cồn Dược; có 2 bar nhỏ

chắn ngang cửa sông và bãi Cồn Dược ở vị trí cách cửa sông 18km. Ở khu

vực cửa sông, dòng triều sâu 5-10m. Từ vị trí cách cửa sông 18km về phía

biển, dòng triều nông dần, sâu 7-3m. Hiện trạng này cho thấy, từ cửa sông cho

đến 18km cách cửa sông, hoạt động của sông và sông kết hợp với dòng triều

chiếm ưu thế; từ vị trí 18km cách cửa sông về phía biển, sông không còn giữ

vai trò thống trị, dòng triều yếu hơn, sóng bắt đầu thể hiện rõ vai trò của

mình, thay cho quá trình xâm thực theo dòng triều là chủ đạo là quá trình bồi

tụ-xâm thực yếu theo dòng triều và tích tụ tạo địa hình do sóng.

Delta Định An: rộng 190 km2. Trục delta dài 30km. Đáy delta rộng 18

km. Bề mặt delta cao (-)1 đến (-)10m, bị chia cắt mạnh bởi dòng chảy sông và

các dòng triều. Theo bản đồ UTM tỷ lệ 1/100.000 năm 1965, phần cửa sông

sâu 3,5-5 m trên chiều dài trên 12 km. Trên bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000,

dòng chày sông, dòng triều phần cửa sông ở thời điểm tháng 12/2007 sâu 7-

10m, phần xâm thực dọc theo sông và dòng triều chiếm khoảng 1/3 diện tích của

delta; các đoạn dòng triều phát triển ở phía Tây Nam của delta không bị lấp đầy

mà sâu dần đến độ sâu 10m; delta Định An có thể được xem delta phá hủy- bồi tụ.

Delta Tranh Đề: rộng 352 km2. Trục delta dài 30km. Đáy delta rộng 33

km. Lòng sông rộng 1,78km. Bề mặt delta cao (-)1 đến (-)6m, bị chia cắt bởi

dòng chảy sông và các dòng triều. độ sâu 6-10 m, nông dần về phía biển.

Delta Tranh Đề phát triển cân đối, rõ ràng với 2 khu xâm thực do sông và

dòng triều là chủ yếu ở khu vực đỉnh và bồi tụ - xâm thực ở phần còn lại của

delta; các dạng địa hình do sóng tạo ra phổ biến hơn trên các thủy delta.

- Delta được thành tạo do sông, sóng và thủy triều (số 2.1.2 trên bản đồ

địa mạo tỷ lệ 1/200.000)

Delta được thành tạo do sông, sóng và thủy triều phân bố ở cửa sông

86

Hàm Luông (Delta Hàm Luông). Nó được đặc trưng bởi các dạng địa hình do

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

sông và sóng tạo ra chiếm ưu thế, dòng triều bị lấn át hoặc bị gián đoạn địa

phương bởi các yếu tố địa hình do sóng tạo ra.

Delta Hàm Luông: rộng 217 km2, trục delta dài 23 km, đáy delta rộng

21 km. Dòng chảy nơi đỉnh delta rộng 2km. Bề mặt delta cao -1m đến -5m,

nghiêng thoải phía biển. Dòng triều có bề ngang và chiều sâu không ổn định.

Chiều ngang có chỗ rộng tới 3,9-9,5km. Với chiều sâu 5-12 m, dòng chảy bị

ngắt đoạn do đáy dòng bị nâng lên bởi val ngầm (cao (-)2m đến (-)6 m) được

tạo ra do sóng chắn ngang dòng chảy ở vị trí cách cửa sông 16-17km. Trên bề

mặt delta các val và lạch được tạo ra do sóng khá phát triển, dài 4-7km,

phương Bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam. Trong sườn của dòng triều, ở các đoạn

có chiều ngang rộng trên 3 km cũng phát triển các val ngầm và lạch trũng do

sóng tạo ra với phương gần như vuông góc với phương của dòng triều.

Delta cửa Đại: rộng 127 km2, trục delta dài 21,5 km, đáy delta rộng 15,4

km. Dòng chảy nơi đỉnh delta rộng 2,2km. Bề mặt delta cao -1m đến -5m,

nghiêng thoải phía biển. Dòng triều có bề ngang và chiều sâu không ổn định.

Dọc theo chúng có nhiều val ngầm và lạch trũng phương kinh tuyến, á kinh

tuyến đến Đông Bắc Tây Nam. Từ km 13 đến km 19 cách cửasông là trũng

bào xói, rộng 5,4-6,8km, sâu 8-23 km; trong đó phần sâu nhất 18-23 m là

trũng rộng 500m, dài 5,6km phương Đông Bắc-Tây Nam chặn ngang dòng

chảy ở vị trí cách cửa sông 16km. Từ km 19km đến 23,2km cách cửa sông,

lòng dẫn cạn dần từ 8 đến 4m. Trên bề mặt delta các val và lạch được tạo ra

do sóng khá phát triển, dài 4-7km, phương Bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam.

Trong sườn của dòng triều, ở các đoạn có chiều ngang rộng trên 3 km cũng

phát triển các val ngầm và và lạch trũng do sóng tạo ra với phương gần như

vuông góc với phương của dòng triều.

- Delta được thành tạo do thủy triều, sóng chiếm ưu thế (số 2.1.3 trên

87

bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Có 3 delta được thành tạo do sóng và thủy triều chiếm ưu thế: delta cửa

sông Cửa Tiểu (gọi tắt là delta Cửa Tiểu), delta cửa sông Ba Lai (delta Ba

Lai), delta cửa sông Mỹ Thạnh (delta Mỹ Thạnh). Các delta này có đặc điểm

chung là phát triền đến độ sâu 1-2m ở cửa sông nhỏ, diện tích nhỏ (23-42 km2), được thành tạo do thủy triều nhưng có thể bị biến cải cục bộ do sóng.

Delta Cửa Tiểu: rộng 42km2, trục delta dài 10 km, đáy delta rộng 15 km.

Lòng dẫn cửa sông rộng 750 m. Bề mặt delta phát triển đến độ sâu (-)5m, hầu

như không bị chia cắt. Dòng triều cắt qua bãi biển rộng 9km. Vật liệu bồi tích tạo

delta một phần là do sông đưa tới, một phần đáng kể là từ bãi biển nơi dòng triều

cắt qua và vật liệu lơ lửng trong đới sóng vỗ, lên xuống của thủy triều.

Delta Ba Lai: rộng 35 km2, trục delta dài 8km, đáy delta rộng 12 km.

Lòng dẫn cửa sông rộng 400m. Bề mặt delta phát triển đến độ sâu (-)1m hòa

nhập vào đồng bằng rìa delta. Bề mặt này hầu như không bị chia cắt. Dòng

triều cắt qua bãi biển rộng 4 km. So với delta Cửa Tiểu, delta này có chung

nguồn gốc, kiểu thánh tạo.

Delta Mỹ Thạnh: rộng 23km2, trục delta dài 6km. Lòng dẫn cửa sông

rộng 440m. Bề mặt delta phát triển đến độ sâu (-)1,5m. Bề mặt này hầu như

không bị chia cắt. Delta không trực tiếp nhận vật liệu từ sông Cửu Long,

nhưng lại nằm cách cửa Tranh Đề 5-7 km, dòng triều tạo delta cắt qua bãi

biển rộng 4 km. Nó cũng được thành tạo trong đới hoạt động của triều có tác

động của sóng. Như vậy, so với delta Cửa Tiểu, delta Ba Lai, delta Mỹ Thạnh

cũng có chung nguồn gốc và kiểu thánh tạo.

- Bãi biển được thành tạo do sóng, thủy triều chiếm ưu thế (số 2.1.4 trên

bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000)

Trong vùng nghiên cứu bãi biển được thành tạo do sóng, thủy triều

88

chiếm ưu thế tạo thành các dải rộng 1-6,5km kề liền về phía Đông Nam

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

đường bờ hiện đại nối các cửa sông. Chúng thường có dạng cong lồi về phía

biển, song song hoặc gần song song với các giồng cát trên advandelta. Mặt bờ

nơi chúng phân bố tính đến độ sâu 2m rộng 4,2-12 km, trung bình 7,2 km;

dốc 0,2-0,5‰. Theo tương quan với mực triều lên xuống, bãi biển được phân

chia, mô tả trong báo cáo này tương ứng với dải đồng bằng gian triều. Theo lý

thuyết [7], đồng bằng gian triều bị ngập khoảng 1/2 thởi gian của chu kỳ triều,

vật liệu được vận chuyển theo kiểu trượt đáy và lơ lửng, trầm tích gồm cát,

cát xen kẹp với bùn. Phần giáp với bờ thường gặp là cát, cát lẫn nhiều mảnh

vò sò ốc. Ở phía Nam Cửa Cung Hầu, ở đoạn bờ giữa cửa sông Hàm Luông

và Cổ Chiên; ở phía Bắc và Nam cửa Mỹ Thạnh, cát phân bố trên khoảng

rộng từ vài trăm mét đến hơn 1km. Trong VNC cát được thành tạo ở các bãi

biển thường có điểm xuất phát từ các đê ngầm-bán lộ thiên, các thùy cửa sông

nơi cát được tập trung. Một phần do tác động của dòng chảy sông nhưng chủ

yếu do tác động của sóng, kết hợp với thủy triều, một phần cát ở cửa sông

đã được tải lên bãi, di chuyển dọc theo đường bờ.

- Bãi biển được thành tạo do sông, thủy triều chiếm ưu thế (số 2.1.5 trên

bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000)

Bãi biển được thành tạo do sông vả thủy triều chiếm ưu thế phân bố ở

phần đuôi các cù lao lớn như Cù Lao Dung và cù lao Hòa Minh. Tính đến độ

sâu 2m, bãi rộng 7,3-9,5km, dốc 0,2-0,3‰. Do nằm ngay vị trí chịu ảnh

hưởng mạnh của dòng chảy sông và bãi rất thoải nên ảnh hưởng của sóng đối

với bãi không đáng kể. Tích tụ ở đây là bùn sét chảy, nhão, cát. Bùn sét có thể

gặp ngay ở mép bờ hoặc trải rộng trên bãi. Ở trên bề mặt, cát có thể gặp ở những

phần khác nhau của bãi, nằm cách xa bờ một vài trăm mét hoặc một vài km.

Do cù lao có phần đuôi nằm ở cửa sông nơi dòng triều bắt đầu đi vào

trong các sông nên cấu trúc lớp phủ trầm tích tạo cù lao không hoàn toàn

89

giống với cấu trúc lớp phủ trầm tích ở đuôi các cù lao sông khác. Đuôi cù lao

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cũng sẽ gồm các trầm tích hạt thô, hoặc thô mịn phân lớp xiên chéo phức tạp.

Do tác động của thủy triều, cụ thể là dòng triều mà đuôi cù lao không

phải được bồi tụ hoàn toàn, xen kẽ với bồi tụ có quá trình xâm thực cục bộ

của sông và dòng triều. Vì vậy so với các bãi biển được tạo ra do sóng và

thủy triều nối hai cửa sông, bồi tụ là chính, bãi biển ở đuôi các cù lao sông bồi

tụ yếu hơn và dịch về phía biển chậm hơn. So với đường bờ nối cửa sông kề

liền, đường bờ ở Cù Lao Dung còn nằm sâu hơn trong đất liền 8,9km, đường

bờ ở cù lao Hòa Minh - 6,2km.

- Đồng bằng rìa delta được thành tạo do sóng, thủy triều chiếm ưu thế

(số 2.1.6 trên bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000 )

Đồng bằng rìa delta được thành tạo do sóng, thủy triều chiếm ưu thế

tương ứng với dải đồng bằng triều thấp, là phần tiếp tục của bãi biển đến độ

sâu (-)5-(-) 6m. Theo hướng kéo dài của đường bờ hiện đại, chúng thuộc phần

rìa của các delta nên thường bị ngắt đoạn bởi sự phân bố, phát triển của các

delta. Chúng không chịu tác động trực tiếp bởi dòng chảy sông và dòng triều

cửa sông nhưng lại là khu vực bị ngập trong suốt chu kỳ triều, ngập triều lâu

và sâu nhất, là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự dao động của thủy

triều, sự di chuyển của đới sóng vỗ bờ và đới sóng vỡ. Do vậy, trong chúng có

thể xảy ra đồng thời các quá trình khác nhau: thành tạo các bar cát, gợn sóng

cát song song hoặc gần song song với đường bờ hiện tại ở các đới sóng vỗ;

phân dị trầm tích về phía biển do sóng vỗ bờ; tích tụ và phân dị trầm tích về

phía bờ (phân dị ngược) từ các vật liệu lơ lửng. Các quá trình này cũng di

dịch theo hướng, theo mức lên xuống của thủy triều và nguồn bồi tích do sông

cung cấp. Tích tụ sẽ được tăng cường vào mùa mưa, mặt đồng bằng sẽ được

bồi đắp, nâng cao hơn khi dòng chảy sông và lượng vật liệu do sông cung cấp

dồi dào. Vào mùa khô, lượng vật liệu do sông cung cấp giảm hẳn, tích tụ bị

90

suy giảm; sóng, thủy triều vẫn hoạt động, thay vào quá trình tích tụ là chủ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

yếu, có thể là quá trình tác động tái phân bố trầm tích hoặc xâm thực, mài

mòn hạ thấp bề mặt của đồng bằng.

Hiện tại, ở thời điểm tháng 12/2007, với đồng bằng rìa delta được thành

tạo do sóng, thủy triều chiếm ưu thế, phổ biến là các dải đồng bằng rộng 4-6

km, nghiêng hướng Đông Nam, dốc 0,2-1,3‰, trung bình 0,7‰. Riêng đoạn

cửa sông Cồn Chung đến delta Định An, trên chiều dài 16km, đồng bằng thu

hẹp, chiều ngang chỉ còn rộng 1,1-1,8km và dốc hơn, từ 2,9-4,5‰.

∗ Các đơn vị địa mạo thành tạo trong đới sóng biến dạng, phá hủy

Đới sóng biến dạng, phá hủy được tính trong khoảng sâu từ 5 đến 18 -

22m. Thuộc VNC, trong đới này có 3 đơn vị địa mạo sau:

- Sườn delta được thành tạo do sông, sóng, thủy triều chiếm ưu thế (số

2.2.1 trên bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000)

Sườn delta được thành tạo do sông, sóng, thủy triều chiếm ưu thế phân

bố trong khoảng sâu (-)5-(-)6m đến (-)10-(-)11m. Chúng tạo thành dải khá

liên tục từ cửa Ba Lai đến cửa Định An, dài 100km, rộng 2-3km, dốc 1,7-

2,5‰, dốc gấp 10 lần so với độ dốc chung của các delta hiện đại trong VNC.

Tuy còn có các yếu tố vi địa hình do dòng triều tạo ra trên bề mặt sườn delta

nhưng về cơ bản, dải sườn này đã chặn ngang sự phát triển, kéo dài của các

dòng triều và các delta cửa sông về phía biển. Riêng ở rìa Bắc và Nam của

delta Định An, nó có kích thước rộng hơn (đến 5-6km), thoải hơn (dốc 0,8-

1,0‰), bị delta Định An chia cắt, làm gián đoạn.

Từ các đặc điểm nêu trên có thể thấy: 1)- Động lực vùng cửa sông có

thay đổi rõ rệt bắt đầu từ độ sâu (-)5-(-)6m; 2)-Có thể có sự giao hội của các

yếu tố dòng chảy, sóng, thủy triều ở nơi phân bố của sườn delta. Kết quả của

sự giao hội này, một mặt, làm yếu đi tác dụng vận chuyển của chúng; mặt

91

khác, gây lắng đọng đối với các vật liệu lơ lửng và các vật liệu di chuyển theo

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

các dòng triều. Trầm tích ở đây sẽ có ưu thế là hạt mịn với thành phần chủ

yếu là bùn, sét; 3)- Cùng với sự giao hội của các yếu tố dòng chảy, sóng,

thủy triều có thể còn có sự tham gia của dòng vận chuyển vật liệu đáy dọc

bờ. Trong trường hợp này, trầm tích có thể là hạt mịn- bùn, sét xen kẹp với

các lớp cát, cát bột mỏng.

Ở vùng cửa Định An, sườn delta mở rộng, dạng nêm lấn sâu hơn về phía

cửa sông. Nó đã bị dòng triều và delta hiện đại phát triển đến độ sâu (-)10m

cắt qua. Điều này cho thấy: 1)-Delta Định An rất trẻ, trẻ hơn cả sườn delta;

2)- Dòng triều hiện đại ở cửa Định An rất mạnh, có thể là mạnh nhất trong số

các dòng triều thuộc các nhánh sông Cửu Long. Trên bản đồ địa mạo lệ

1/200.000, hiện tượng này cũng xuất hiện ở cửa Soài Rạp.

- Sườn delta được thành tạo do sóng chiếm ưu thế (số 2.2.2 trên bản đồ

địa mạo tỷ lệ 1/200.000)

Sườn delta được thành tạo do sóng chiếm ưu thế phân bố trong khoảng

sâu từ (-)10-(-)11m đến (-)18-(-)20m. Chúng kéo dài thành một dải liên tục

từ phía Bắc Cửa Soài Rạp ngang qua cửa Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thạnh,

rộng 4-8km, trung bình 5,5km; dốc 1,3-2,5 ‰, trung bình 1,9‰. Trên bề mặt

sườn, đã xuất hiện các val ngầm chạy dọc theo hướng kéo dài của sườn và

nhiều khe xói phát triển theo hướng dốc của sườn.

Về mặt hình thái: trên nhiều đoạn từ độ sâu (-)5-(-)6m đến (-)18-(-)20m

là một dải sườn ít khác biệt nhau, rộng 6-13km, trung bình 7,4km; dốc 1,2-2,5

‰, trung bình 2,0‰, không có ranh giới khác biệt giữa 2 dải sườn qua độ sâu

(-)10-(-)11m. Như thế, có thể xem chúng như một sườn, trên đó có thể có các

trầm tích delta hiện đại. Yếu tố này đã được Vũ Văn Phái, 2007 [53] xếp vào

prodelta, là bề mặt tích tụ nghiêng thoải do tác động của sóng biển. Tuy vậy,

sự khác biệt của 2 dải sườn lại thể hiện ở chỗ: 1)-Tuổi của 2 dải sườn khác

92

nhau theo quan hệ với các dòng triều, đặc biệt là dòng triều cửa Soài Rạp và

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Cửa Hàm Luông: sườn thấp hơn có tuổi trẻ hơn; 2)-Dòng triều về cơ bản đã

chấm dứt khi tới độ sâu (-)10-(-)11m. Điều đó có nghĩa là từ (-)10-(-)11m trở

xuống vai trò của dòng chảy sông và thủy triều không còn đáng kể; tác động

của sóng, vì vậy sẽ có ưu thế hơn; 3)-Tuy hoạt động của dòng triều không

đáng kể nhưng vật liệu do chúng mang tới khu vực có độ sâu (-)10-(-)11m

vẫn được trôi nổi, lan tỏa trên một khoảng cách nhất định, gần hơn và có thể

tập trung hơn trong một đới có chiều rộng nhất định. Do kề liền với dải sườn

có độ sâu (-)10-(-)20m, phạm vi phân bố của đới này có thể tương ứng với

phạm vi phân bố của dải sườn có độ sâu này. Lắng đọng từ vật liệu lơ lửng sẽ

tạo ra ở đó các trầm tích bùn sét; 4)-Sự tồn tại của các khe rãnh trên sườn cho

phép nghĩ rằng: bề mặt sườn ngầm cũng chịu tác động bởi nước trên bề mặt

đáy chảy về phía biển như bề mặt sườn lộ thiên chịu tác động của nước chảy

bề mặt, trên đó, phát sinh và phát triển các khe rãnh xâm thực. Trên mặt sườn,

93

cùng với tích tụ, cũng có quá trình xâm thực, tái phân bố trầm tích.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

94

Hình 2.1. Bản đồ địa mạo vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

95

Hình 2.2. Bản đồ địa mạo cửa Tranh Đề

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

96

Hình 2.3. Bản đồ địa mạo cửa Định An

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

97

Hình 2.4. Bản đồ địa mạo cửa Hàm Luông

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Đồng bằng xói lở-tích tụ do sóng chiếm ưu thế (số 2.2.3 trên bản đồ địa

mạo tỷ lệ 1/200.000)

Đồng bằng xói lở-tích tụ do sóng chiếm ưu thế phân bố ở dưới độ sâu

18-20m, tiếp giáp về phía Tây Bắc với sườn delta được tạo ra do sóng chiếm

ưu thế. Bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000 chỉ thể hiện được một phần nhỏ diện

phân bố của chúng. Khi nghiên cứu vùng cửa biển Sóc trăng, Vũ Văn Phái,

2007 đã xác định đó là bề mặt xói lở -tích tụ bằng phẳng hiện đại do tác động

của sóng chiếm ưu thế [53]. Theo tác giả, bề mặt này phân bố đến độ sâu

25m, gần như nằm ngang. Cấu tạo bề mặt này là chủ yếu là vật liệu hạt thô

lẫn nhiều vụn vỏ sò ốc biển, dày 0,2-0,8m. Tỷ lệ vò sò ốc rất cao nhưng chưa

rõ nguồn cung cấp. Tác giả đã giả thiết là do sóng phá hủy, đưa phần mịn đi

xa và tích tụ tại chỗ vật liệu hạt thô với nhiều các mảnh vỏ sò ốc. Dưới chúng

là bề mặt phong hóa laterit loang lổ tuổi Pleistocen muộn (?).

Trong VNC, trên bình đồ địa hình đáy biển, ở độ sâu (-)20-(-)25m, xa

hơn về phía biển 10-30 km kể từ chân sườn delta, còn thấy các đoạn liên tục

hoặc không liên tục của các rãnh xâm thực hướng về phía biển; và 3 dải gờ

ngầm. Trên bình đồ, các đoạn rãnh xâm thực có thể nối với nhau thành những

dải liên tục với dòng triều hiện đại ngài cửa sông. Như vậy, những đoạn khác

nhau của dòng triều cửa sông kéo về phía biển, xa hơn chân sườn delta hiện

nay 10-30km. chúng bị ngắt quãng bởi gờ bồi tụ chắn ngang như sườn delta

(đơn vị địa mạo 2.2.1, 2.2.2). Các gờ ngầm kéo dài gần như song song với các

dải sườn delta, liên tục cắt qua các rãnh xâm thực hoặc bị ngắt quãng cũng bởi

các rãnh xâm thực. Hiện nay chưa thể giải thích được rõ ràng hiện tượng này.

Nhưng từ hiện tượng này có thể giả thiết: các yếu tố địa hình trên được thành

tạo trong cùng năm nhưng vào các thời kỳ khác nhau trong năm theo cách

thức thành tạo sườn delta. Cụ thể hơn là khi dòng chảy lũ cực đại, dòng triều

có thể tiến xa hơn về phía biển so với chân sườn delta hiện nay 10-30 km.

98

Dòng triều mạnh, ổn định sẽ kéo dài được lòng dẫn và thời gian tồn tại của

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

chúng. Khi dòng chảy lũ giảm, dòng triều bị thu ngắn khoảng cách hoạt động

về phía biển và cùng với giới hạn mới của dòng triều cũng xuất hiện một gờ

chắn cửa dòng triều mới nhưng gần cửa sông hơn. Cứ như vậy, dòng triều liên

tục bị ngắt đoạn và các gờ chắn liên tục được tạo ra khi dòng chảy sông liên

tục bị giảm dần về lưu lượng. Sườn delta (đơn vị địa mạo 2.2.2 và 2.2.3) có

thể là sản phẩm tương ứng với dòng chảy sông-dòng triều ở thời kỳ đầu mùa

khô (tháng 12/2007)…

Bản đồ địa mạo 3 cửa sông Tranh Đề, Định An và Hàm Luông tỷ lệ

2. 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT

1:50.000 được xây dựng cùng nguyên tắc như ở tỷ lệ 1:200.000 song chi tiết hơn.

2.2.1. Địa tầng

Trong phạm vi vùng nghiên cứu, các thành tạo trước Đệ tứ không lộ trên

bề mặt, chỉ gặp trong các lỗ khoan. Đối với các thành tạo Đệ tứ, lộ trên bề mặt

là những thành tạo trẻ, đa dạng về tướng và nguồn gốc.

Các thành tạo Đệ tứ

Thống Pleistocen

1bmh), hệ tầng Đất Quốc (aQ1

1cđc) và hệ tầng Mỹ Tho (amQ1

Minh (aQ1

2lt), hệ tầng Thủy Đông (amQ1

2-3tđ), hệ tầng Long Mỹ (mQ1

tầng Long Toàn (mQ1

(aQ1

Các thành tạo Pleistocen trên đất liền bao gồm các hệ tầng: hệ tầng Bình 1c mt), hệ 2-3tđg), hệ tầng Thủ Đức 3lm). Đề mô tả các phân vị địa tầng cũng như 3lm), phân bố tại vùng cấu kiến trúc Holocen-hiện đại, hệ tầng Long Mỹ (mQ1

3c lm)

nghiên cứu được xem như bề mặt mà các trầm tích Holocen phủ lên trên.

• Hệ tầng Long Mỹ (mQ1

Trầm tích hệ tầng Long Mỹ là các thành tạo hạt mịn chứa phong phú hóa

thạch biển.

99

Mặt cắt chi tiết của hệ tầng được thiết lập tại LK211 (huyện Long Mỹ,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tỉnh Hậu Giang) ở độ sâu 23-52m. Trên tờ Mỹ Tho, các trầm tích xếp vào hệ

tầng Long Mỹ gặp ở LK219 (20m-86m); LK31 (17m-80m).

Mặt cắt có chung đặc điểm: dưới là cát vừa đến mịn màu xám, xám vàng

loang lổ. Trong một vài lỗ khoan, đoạn giữa cát bột xen nhau. Bề dày hệ tầng

thay đổi 20-50m.

2hg)

Thống Holocen, phụ thống giữa

• Hệ tầng Hậu Giang (mQ2

2)

Cát hạt mịn lẫn bột sét. Bề dày 5-10m, có nơi 20-30m.

• Trầm tích biển đầm lầy (mbQ2

2-3

Nằm ở độ sâu 4-5m: bột sét mùn thực vật.

1)

2-3

• Holocen trung-thượng phần dưới (Q2

1: dưới các giồng cát (bờ cổ), rộng 1-2km,

- Trầm tích biển mQ2

2-31: sét bột xám xanh, nâu vàng, có độ

hẹp 200-300.

- Trầm tích sông biển amQ2

2-3

dẻo, mịn cao, dễ tạo hình.

2)

2-3

• Holocen trung-thượng phần trên (Q2

2): các giồng cát cao 0,5-0,7m, chủ yếu là cát.

2-3

- Trầm tích biển (mQ2

2): sét bột, sét màu xám.

3): bao gồm trầm tích biển, biển-đầm lầy, sông-

- Trầm tích sông biển (amQ2

3

3 đầm lầy Q2

1 và trầm tích biển, biển-đầm lầy, sông-đầm lầy Q2

2.

100

• Holocen thượng (Q2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

1-2 thuộc Holocen hạ-trung.

Ngoài ra, lộ ở đáy biển ven bờ trên diện nhỏ hẹp ở bãi cạn Hàm Luông, 1-2 và bãi cạn Tiền Giang và vịnh cổ Vũng Tàu là các trầm tích biển sông Q2

biển Q2

2.2.2. Kiến tạo

Vùng nghiên cứu chiếm một diện tích nhỏ ở cánh Tây Bắc của bồn trũng

Cửu Long. Bồn trũng Cửu Long được khống chế bởi hai hệ đứt gãy có

phương ĐB-TN và TB-ĐN. Bồn trũng Cửu Long có bề dày trầm tích

Kainozoi lớn (trên 4000m).

Bồn trũng Cửu Long được hình thành trên móng vỏ lục địa tuổi MZ bị

phá. Về cấu trúc, bồn trũng Cửu Long có cấu tạo hai tầng:

- Tầng móng là các thành tạo đa nguồn gốc tuổi trước Kanozoi, chúng lộ

ra ở những khối nâng (khối nâng Côn Sơn, khối nâng Đồng Nai-Vũng Tàu và

khối nâng Corat-Natuna).

- Tầng phủ bao gồm các thành tạo Kainozoi.

Vùng nghiên cứu các thành tạo tầng móng được bắt gặp ở một số lỗ

khoan. Tầng phủ có bề dày trên 2000m.

2.2.2.1 . Các hệ thống đứt gãy và cơ chế hoạt động trong Holocen

Vùng nghiên cứu nằm trong phạm vi khống chế của 3 đứt gãy sâu: đứt

gãy sông Hậu, đứt gãy Lộc Ninh-Vũng Tàu và đứt gãy Thuận Hải-Minh Hải

(Phan Thiết-Cà Mau).

Ba đứt gãy này hoạt động mạnh trong Kainozoi và đã chia khu vực ra 3

khối kiến trúc: khối nâng Đồng Nai-Vũng Tàu, khối sụt Sông Hậu-Sông Tiền

và khối nâng Hà Tiên-Kiên Giang. Trong phạm vi 3 khối phát triển các đứt

gãy bậc cao hơn có ảnh hưởng đến sự phát triển của nội khối.

Theo mức độ xuyên cắt sâu và ảnh hưởng của đứt gãy đến bình đồ kiến

101

trúc trong phạm vi vùng nghiên cứu, các hệ thống đứt gãy bao gồm:

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

* Các đứt gãy xuyên vỏ, độ sâu xuyên cắt 60km

• Đứt gãy Sông Hậu

Đứt gãy Sông Hậu hình thành vào đầu Kainozoi, đóng vai trò ranh giới

các địa mảng Đông Dương và Sunda. Đứt gãy phát triển theo hướng TB-ĐN,

dài trên 1000km, trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam dài 350km. Độ sâu ảnh

hưởng của đứt gãy đạt tới 50-60km. Đứt gãy cắm về Đông Bắc với góc dốc 70- 800. Mặt Moho, conrad và móng kết tinh ở hai cánh đứt gãy biến động tương

ứng (22-24-24-28km), 2km (10-12km) và 1km (2-3km). Dọc đứt gãy có biểu hiện hoạt động nước khoáng có nhiệt độ 31-37,50C (Cái Vôn 37,50C; Cầu Kè 310C; Mỹ Thới 360C). Động đất quan sát được với magnitude nhỏ hơn 4 độ

richter. Trong hiện đại, đứt gãy chuyển động theo cơ chế trượt bằng phải.

Đứt gãy Sông Hậu đã ảnh hưởng đến quá trình lắng đọng trầm tích. Bề

dày trầm tích giữa hai cánh trong Neogen muộn có sự phân dị rõ rệt (cánh 2nc) dày 60m trong khi cánh Đông Bắc bề dày Tây Nam hệ tầng Năm Căn (N2

đạt 107m. Trong Đệ tứ, hoạt động của đứt gãy Sông Hậu cũng thể hiện rõ cụ

thể là cánh Tây Nam sụt lún yếu (đáy Đệ tứ đạt độ sâu 160m (LKHG1), 162m

(LK99-I), cánh Đông Bắc đạt 276m (LK214A), 270 (LK99-II) (Hình 1. Mặt

cắt IV). Mặt khác, trong hiện đại dọc đứt gãy Sông Hậu ở cửa Tranh Đề và

cửa Định An cũng thể hiện sự khác biệt. Cửa Định An bị khoét đáy mạnh mẽ

hơn cửa Tranh Đề, quá trình Estuary xảy ra mạnh mẽ hơn. Điều đó có lẽ liên

quan đến sự sụt lún mạnh ở cửa Định An.

• Đứt gãy Thuận Hải-Minh Hải (Phan Thiết-Cà Mau)

Đứt gãy có độ sâu xuyên cắt 60km, kéo dài từ Phan Thiết đến Cà Mau

theo hướng ĐB-TN. Đứt gãy được xác định bằng tài liệu địa vật lý, đứt gãy cắm về ĐN với góc dốc 700. Đứt gãy được hình thành vào đầu Kainozoi và

ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành bể Cửu Long. Trong hiện đại,

102

đứt gãy chuyển động theo cơ chế trượt bằng trái và ghi nhận được một số

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

chấn tâm động đất: năm 1990 với M= 2,3; năm 1990 với M= 3,7, cách Vũng

Tàu 20km về phía Nam.

* Các đứt gãy cắt vỏ, độ sâu xuyên cắt đạt 30km

• Đứt gãy Sông Sài Gòn

Đứt gãy phát triển theo hướng TB-ĐN, độ sâu xuyên cắt đạt 20km, cắm về phía Tây Nam với góc dốc 60-800. Mặt Moho ở cánh Đông Bắc sâu 32km, ở cánh

Tây Nam sâu 29-30km. Đứt gãy là ranh giới giữa địa khối Sông Hậu- Sông Tiền.

Trong Kainozoi, cánh Đông Bắc nâng còn cánh Tây Nam sụt lún. Đứt gãy Sông

Sài Gòn hoạt động mạnh trong Đệ tứ tạo ra các bậc thềm, có dị thường khí Radon

và xảy ra động đất trong hiện tại. Đứt gãy Sông Sài Gòn thể hiện tính sụt bậc rõ

giữa hai cánh. Ở cánh Tây Bắc đáy của Đệ tứ ở độ sâu 116m và 118m, trong khi

đó ở cánh Tây Nam ở độ sâu 220m và 234m. Đứt gãy này ảnh hưởng lớn đến quá

trình lắng đọng trầm tích trong Kainozoi: trầm tích Neogen mỏng, nằm trên mặt

bào mòn của phức hệ granit Đèo Cả ở độ sâu 152m. Trong khi đó trầm tích

Neogen ở cánh Tây Nam dày và đang sụt sâu trên 1000m.

Trong pha hiện đại (Pliocen-Đệ tứ), nhiều tác giả cho rằng chúng chuyển

103

động theo cơ chế trượt bằng phải.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

104

Hình 2.5. Sơ đồ tân kiến tạo và địa động lực hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

105

Hình 2.6. Sơ đồ tân kiến tạo và phân vùng tân kiến tạo

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

• Đứt gãy Sông Cung Hầu

Đứt gãy Sông Cung Hầu phát triển theo hướng TB-ĐN. Trong Neogen,

cánh Đông Bắc nâng tương đối so với cánh Tây Nam, điều đó thể hiện rõ: bề 1ct) ở cánh Đông Bắc đạt 40m trong khi đó ở cánh dày hệ tầng Cần Thơ (N2

Tây Nam đạt 150m. Dọc theo đứt gãy, sát hai bên đứt gãy mặt đáy trầm tích

Đệ tứ sụt đạt 300m tại LK4 và 280 tại LK22MC.

Trong Holocen, cánh Tây Nam bề dày đạt 24,5m còn cánh Đông Bắc đạt

44,5m. Trong hiện đại, cũng như các đứt gãy khác thuộc hệ TB-ĐN, đứt gãy

Sông Cung Hầu chuyển động theo cơ chế trượt bằng phải. Ngoài ra, trong

hiện đại tại cửa sông Cung Hầu quá trình khoét đáy tại cửa sông hình thành

phễu đang diễn ra mạnh.

• Đứt gãy Cà Mau-Bảo Lộc

Đứt gãy phát triển theo hướng ĐB-TN, cắm về Tây Bắc, độ sâu xuyên

cắt đạt 35km. Bề dày trầm tích tuổi Neogen ở hai bên cánh đứt gãy có sự phân 1ct) đạt dị lớn: ở cánh Đông Nam của đứt gãy bề dày hệ tầng Cần Thơ (N2

50m, trong khi đó ở cánh Tây Bắc đạt 140m.

Trong Đệ tứ, cánh Đông Nam sụt lún mạnh hơn cánh Tây Bắc (đáy trầm

tích Đệ tứ ở LK22MC đạt 280m, còn ở LK218 đạt 234m). Đáy Đệ tứ có xu

hướng nổi cao dần về phía Đông Nam. Trong Holocen về dày trầm tích ít

phân dị.

Đứt gãy Cà Mau-Bảo Lộc đóng vai trò phân chia các khối và chuyển

động theo cơ chế trượt bằng trái.

• Đứt gãy Vĩnh Long- Tuy Hòa

Đứt gãy Vĩnh Long-Tuy Hòa phát triển theo phương ĐB-TN, độ sâu

106

xuyên cắt 30-40km, cắm về Tây Bắc.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Theo kết quả nghiên cứu các tài liệu lỗ khoan thấy rõ, trong Neogen bề

1ct) đạt 100m, hệ tầng Năm Căn (N2

dày trầm tích của các hệ tầng Cần Thơ và Năm Căn có sự phân dị: ở cánh Tây 2nc) đạt Bắc bề dày hệ tầng Cần Thơ (N2

80m, còn ở cánh Đông Nam hệ tầng Cần Thơ đạt gần 140m, hệ tầng Năm Căn

đạt 122m. Trong Đệ tứ, bề dày trầm tích phân dị yếu và móng Đệ tứ có xu

hướng nổi cao về Tây Bắc.

• Đứt gãy Gò Công-Mỹ Tho

Đứt gãy Gò Công- Mỹ Tho phát triển theo hướng á kinh tuyến, cắm về

phía Bắc, độ sâu xuyên cắt đạt 25-30km. Đứt gãy đóng vai trò ranh giới giữa

khối rìa Đông Bắc và khối trung tâm.

Đứt gãy Gò Công-Mỹ Tho gặp đứt gãy Sông Sài Gòn. Khối được mở

rộng về phía Tây Bắc và qua TP. Hồ Chí Minh các thành tạo Pleistocen lộ

trên mặt thành diện rộng. Ở cánh Tây Nam của đứt gãy, tại cửa Đại quá trình

khoét đáy tạo cửa sông hình phễu đang diễn ra mạnh. Trầm tích Holocen đạt

53,5m. So với các vùng khác, có thể cho rằng vùng cửa Đại đang sụt lún mạnh.

* Đứt gãy trong vỏ

Đứt gãy trong vỏ được xác lập trên cơ sở phân tích móng Đệ tứ và sự

phân bố trầm tích Đệ tứ. Thuộc đứt gãy kiểu này gồm đứt gãy Tranh Đề- Mỹ

Xuyên và đứt gãy ven bờ.

• Đứt gãy Tranh Đề-Mỹ Xuyên

Đứt gãy Tranh Đề- Mỹ Xuyên phát triển theo hướng ĐB- TN, là ranh

giới giữa khối sụt rìa Tây Nam và khối nâng tương đối ven bờ. Tại khối nâng

tương đối ven bờ có mặt móng Đệ tứ nhô cao ở độ sâu 160m. Ngoài ra, trong

107

khối này còn lộ ở một vài nơi các trầm tích Pleistocen.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

• Đứt gãy ven bờ phát triển theo hướng ĐB-TN, là ranh giới giữa khối

nâng tương đối dọc bờ và khối sụt ven bờ. Đứt gãy này thể hiện rõ trong phân

bố trầm tích Đệ tứ và sự thay đổi bề dày trầm tích trong Đệ tứ.

2.2.2.2 . Tân kiến tạo-địa động lực vùng nghiên cứu

Phân vùng tân kiến tạo-kiến tạo hiện đại dựa trên nguyên tắc lịch sử so

sánh. Nguyên tắc lịch sử so sánh dựa vào các cơ sở:

- Đặc điểm hình thái kiến trúc (đứt gãy, nếp uốn).

- Tổ hợp thạch kiến tạo (các thành tạo địa chất được hình thành trong

một bối cảnh kiến tạo xác định).

- Mối quan hệ theo không gian và thời gian của các hình thái kiến trúc và

các tổ hợp thạch kiến tạo.

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp tài liệu, vùng nghiên cứu nằm gọn trong

khối sụt Sông Tiền-Sông Hậu. Tuy nhiên, để có bức tranh tổng thể về bình đồ

kiến tạo, việc phân vùng tân kiến tạo-kiến tạo hiện đại tiến hành trên một

phạm vi rộng hơn và chia khu vực ra 3 khối.

Khối nâng Đồng Nai-Vũng Tàu (A)

Vùng nâng Đồng Nai-Vũng Tàu nằm trong giới hạn hai đứt gãy Lộc

Ninh- Vũng Tàu và đứt gãy Sông Sài Gòn. Theo hướng từ ĐB đến TN, có cấu

tạo sụt bậc. Trong phạm vi sơ đồ, thể hiện một phần của khối nâng này (ký

hiệu là AI).

Khối AI có các thành tạo móng là đá thuộc hệ tầng Đray Linh (J1đl), La

Ngà (J2ln), hệ tầng Long Bình (J3lb) và phức hệ Đèo Cả (γKđc2) gặp trong các

giếng khoan. Các thành tạo tầng phủ Kainozoi với bề dày mỏng 240m (tại

LK822) và 152m (tại LK821). Tại đáy biển mũi Vùng Tàu, các thành tạo

108

móng (γKđc2, Knt) bị trầm tích Holocen phủ lên với bề dày mỏng. Trong

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

phạm vi tờ bản đồ khối AI thuộc phần rìa khối nâng, nơi tiếp giáp với khối sụt

Sông Tiền-Sông Hậu. Do ảnh hưởng của quá trình hạ võng của khối sụt Sông

Tiền-Sông Hậu, phần rìa khối nâng bị lôi kéo vào quá trình võng hạ, điều đó

thể hiện rõ qua sự phân bố các thành tạo Neogen, Đệ tứ dọc theo đới rìa từ mũi Kỳ

Lân đến huyện Thống Nhất với khối lượng nhỏ và bề dầy không đáng kể.

Khối sụt Sông Tiền-Sông Hậu (B)

Vùng nghiên cứu nằm trọn trong khối sụt Sông Tiền-Sông Hậu. Khối sụt

Sông Tiền-Sông Hậu được giới hạn bởi hai đứt gãy: đứt gãy Sông Sài Gòn ở

Đông Bắc và đứt gãy Sông Hậu ở Tây Nam. Khối sụt Sông Tiền-Sông Hậu có

lịch sử phát triển gắn liền với lịch sử hình thành bể Cửu Long.

Khối sụt Sông Tiền-Sông Hậu có móng là các thành tạo tuổi trước

Kainozoi, bị phân cắt bởi các hệ thống đứt gãy phương TB- ĐN và ĐB-TN

thành các khối và có cấu trúc bậc rõ rệt với đặc điểm độ sâu của mặt móng

tăng từ rìa vào trung tâm. Các thành tạo tầng phủ ở trung tâm đạt bề dày trên

2000m, cấu tạo từ các thành tạo sông, sông- biển và biển theo nhịp. Các thành

tạo có ranh giới là bề mặt bào mòn, phong hóa.

Quá trình phát triển vùng sụt hạ chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi hoạt động

của các đứt gãy sâu, đứt gãy trong vỏ, làm phức tạp quá trình phát triển vùng

sụt hạ, làm cho bề dày của các hệ tầng thay đổi theo không gian và thời gian.

Trong hiện đại do ảnh hưởng của đứt gãy, hình thành một số vị trí sụt hạ và

nâng hiện đại.

Khối sụt Đông Nam (C)

Khối sụt Đông Nam phân bố ở Đông Nam đứt gãy Thuận Hải-Minh Hải,

có móng sụt sâu trên 2000m và độ sâu móng tăng dần theo chiều từ Tây Bắc

đến Đông Nam.

109

Khối sụt Đông Nam sụt lún mạnh trong Paleogen, Neogen và trong Đệ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tứ có sự phân dị tương đối rõ, cụ thể dọc ven bờ bề dầy trầm tích Đệ tứ đạt từ

162 đến 200m, một vài nơi lộ trầm tích Pleistocen muộn trên đáy biển và ở

đầu Tây Nam của khối hình thành vùng nâng hiện đại. Trong khi đó ở ngoài

khơi từ độ sâu 25m trở ra bề dày trầm tích Đệ tứ tăng đạt trên 250m.

2.2.2.3 . Địa động lực hiện đại.

Xét bình đồ cấu trúc hiện nay vùng nghiên cứu được khống chế bởi các

hệ thống đứt gãy sâu và bị phân cắt thành các khối bởi các đứt gãy bậc cao

hơn.

Trên cơ sở phân tích đặc điểm địa hình ven bờ phát triển các cửa sông

hình phiễu, bề dày trầm tích KZ và trầm tích Holocen khoanh định được trải

dọc bờ là nơi đang diễn ra vận động sụt lún hiện đại. Mặt khác, cũng trên cơ

sở phân tích sự biến đổi bề dầy trầm tích Đệ tứ và sự phân bố, diện lộ các

trầm tích Pleistocen muộn trên đáy biển, đã khoanh định được hai vùng nâng

hạ hiện đại (Hình 2.5, Hình 2.6).

Về đặc điểm hoạt động đứt gãy, các đứt gãy chủ đạo có phương TB-

ĐN và ĐB-TN đã trải qua hai pha chuyển động: pha sớm Eocen-Miocen, lực

nén ép tác động hướng Đông-Tây. Dưới trường lực đó, các đứt gẫy phương

TB-ĐN chuyển động theo cơ chế trượt bằng trái và các đứt gãy phương ĐB-

TN chuyển động theo cơ chế trượt bằng phải; pha muộn Pliocen-Đệ tứ với lực

nén ép phương Bắc-Nam, các đứt gãy phương TB-ĐN chuyển động theo cơ

chế trượt bằng phải và các đứt gãy phương ĐB-TN chuyển động theo cơ chế

trượt bằng trái.

Vận động khối tảng là nét đặc trưng của vùng nghiên cứu, trong hiện đại

hình thành dải sụt hiện đại và một số khối nâng hiện đại.

Hoạt động đứt gãy đã có ảnh hưởng lớn đến quá trình lắng đọng trầm

110

tích trong KZ và trong hiện đại. Những biểu hiện ảnh hưởng đó được thể hiện

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cụ thể theo từng thời kỳ. Hiện nay quá trình estuary hóa cửa sông, bề dày trầm

tích Holocen tăng là liên quan với vận động sụt lún, các biểu hiện nước nóng,

111

động đất, dị thường khí Radon là liên quan với các đứt gãy hoạt động.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP

3. 1. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN

NGHIÊN CỨU

- Tiếp cận hệ thống: Biến động cửa sông và môi trường trầm tích

Holocen hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long được nhìn nhận như

một sản phẩm của một hệ thống những tác nhân. Vùng ven biển châu thổ sông

Cửu Long là một hệ sinh thái lớn gồm nhiều tiểu vùng, trong đó bao gồm các

tiểu vùng cửa sông là những hệ sinh thái nhỏ với các đặc điểm về yếu tố tự

nhiên, kinh tế-xã hội tác động có tính nhân quả, tác động qua lại bởi vật chất

và năng lượng. Từ đó dẫn tới sự biến dạng về hình thể, biến động không gian

của các tiểu vùng cửa sông, quy định xu thế phát triển của chúng. Quản lý và

sử dụng tài nguyên dựa trên hệ sinh thái là tìm cách tốt nhất để con người sử

dụng hệ sinh thái có thể đạt được sự hài hoà giữa lợi ích thu được từ hệ sinh

thái với khả năng cung cấp của nó những lợi ích ở mức độ bền vững.

- Tiếp cận phát triển bền vững: Là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của đề

tài là những quan điểm về phát triển bền vững bao gồm khai thác và quản lý

tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao chất lượng môi trường

sống, phát triển kinh tế-xã hội trong khả năng giới hạn của các hệ sinh thái

vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long. Nói một cách khác, đó là sự

kết hợp các khía cạnh tự nhiên, kinh tế-xã hội, môi trường theo hướng phát

triển bền vững hơn.

- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp giữa khoa học về tài nguyên thiên nhiên,

môi trường và khoa học quản lý. Liên kết khoa học tự nhiên với khoa học xã

hội, với khoa học công nghệ, khoa học kinh tế và môi trường trong việc đề xuất

các giải pháp phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu.

112

- Tiếp cận giữa lý luận và thực tiễn: Từ những yêu cầu có tính lý luận về

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

sinh thái hệ thống nói riêng, về hệ thống nói chung với sự biến động cửa sông

và môi trường trầm tích Holocen hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu

Long, với khả năng thực tế tổ chức, các thể chế quản lý nhà nước theo ngành và

địa phương hiện hành. Qua đó nhằm chính xác hoá cũng như tính khả thi của

các đề xuất giải pháp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu…

Tiếp cận tổng hợp: Những kết quả nghiên cứu của đề tài được tổng hợp

3. 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

theo mục tiêu của đề tài.

Vùng cửa sông là một vùng có nhiều nét đặc thù riêng. Đây là vùng giao

thoa giữa môi trường sông và môi trường biển. Chính sự giao thoa này đã tạo

nên sự đa dạng, đặc thù môi trường trầm tích. Nhằm đạt được mục tiêu và nội

dung nghiên cứu đề ra phải lựa chọn hệ phương pháp nghiên cứu thích hợp.

Đề tài sử dụng một hệ phương pháp nghiên cứu bao gồm các tổ hợp phương

pháp dưới đây:

3.2.1. Tổ hợp phương pháp địa chất - địa mạo:

Vùng cửa sông ven biển là ranh giới giữa lục địa và biển, nơi đang diễn ra sự tranh chấp giữa lục địa và biển hàng ngày, hàng giờ. Sự tranh chấp đó được thể hiện qua quá trình bồi tụ, xói lở,…Mối tương tác sông - biển là nguyên nhân biến động đường bờ biển - cửa sông. Cường độ nhanh hay chậm phụ thuộc vào cấu tạo địa chất vùng và mối tương quan giữa tốc độ lắng đọng

và ngập chìm vùng cửa sông. Vì vậy việc lựa chọn tổ hợp phương pháp là cần thiết, bao gồm:

a. Phương pháp khảo sát địa chất-địa mạo, khoan lấy mẫu các loại, nghiên cứu mô tả các mặt cắt địa hình, địa chất, lấy mẫu trầm tích bở rời bằng các thiết bị chuyên dụng theo các tuyến mặt cắt cố định và các khoảng cách lấy

mẫu hợp lý phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ.

113

b. Các phương pháp nghiên cứu tân kiến tạo, địa động lực hiện đại: Tập thể

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tác giả tiến hành nghiên cứu cấu kiến tạo - địa động lực hiện đại vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng nghiên cứu phục vụ cho mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài.

c. Các phương pháp phân tích cổ sinh (nghiên cứu các nhóm: bào tử phấn hoa, tảo Diatomae, foraminifera, phục vụ cho việc thiết lập, phân chia địa tầng Holocen và khôi phục điều kiện tướng đá cổ địa lý);

d. Các phương pháp nghiên cứu trầm tích: phương pháp phân tích độ hạt (bằng rây và pipet), phương pháp phân tích thành phần vật chất trầm tích, phân

tích khoáng vật; phương pháp ATM (phân tích khoáng vật sét), các phương pháp phân tích môi trường trầm tích: Eh, pH, phương pháp Nhiệt-Rơnghen.

e. Phương pháp xác định tuổi tuyệt đối bằng C14.

3.2.2. Tổ hợp phương pháp địa hoá, địa vật lý:

a. Các phương pháp địa hoá:

- Phương pháp phân tích hoá

- Phương pháp ICP-MS phân tích nguyên tố vết và nguyên tố chính (hiện Viện Địa chất đang sử dụng máy ICP-MS).

b. Các phương pháp địa vật lý:

- Phương pháp địa chấn nông phân giải cao giải quyết những vấn đề liên quan

tới phân chia địa tầng, nghiên cứu tướng trầm tích, cấu trúc địa chất. Tập thể tác giả sử dụng nguồn phát sóng âm Sperker cải tiến của nhóm kỹ sư thuộc Liên đoàn Địa vật lý - Cục Địa chất khoáng sản Việt Nam.

3.2.3. Tổ hợp phương pháp bản đồ viễn thám-GIS:

Đây là tổ hợp phương pháp áp dụng trong nghiên cứu biến động đường bờ biển, vùng cửa sông theo các tư liệu ảnh viễn thám đa phổ phân giải cao, ảnh máy bay và bản đồ địa hình tỷ lệ khác nhau xuất bản từ năm 1927 đến nay với sự trợ giúp của các hệ thống xử lý ảnh số và bản đồ theo chuẩn hiện hành của

114

Nhà nước (VN - 2000). Từ kết quả của tổ hợp phương pháp này cho phép ghi nhận các thông tin biến động đường bờ biển, cửa sông theo không gian và thời gian, các nhân tố gây biến động và xu thế biến động.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3.2.4. Tổ hợp phương pháp nghiên cứu thuỷ - thạch động lực ven

biển:

Nghiên cứu thuỷ - thạch động lực cho phép hiểu biết về nguồn gốc cung cấp vật liệu, hướng vận chuyển bùn cát, xác lập vai trò các yếu tố vận

chuyển bùn cát (sóng, dòng chảy,…) và hướng tác động của chúng nhằm tìm các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên (rừng ngập mặn, nuôi trồng thuỷ hải sản,…) và giảm nhẹ tác động của thiên tai đối với vùng nghiên cứu.

a. Phương pháp đo đạc, khảo sát thực địa bằng các thiết bị máy đo dòng,

máy đo lưu tốc, dụng cụ đo sóng và các máy đo các yếu tố khí tượng (gió, nhiệt độ, khí áp, độ ẩm,…), máy đo sâu (máy đo hồi âm – Furuno, máy F 840 của Nhật Bản), máy định vị GPS, máy đo dòng chảy tức thời (CM-2X) của Nhật Bản; Máy kiểm tra chất lượng nước TOA(WQC – 20A) của Nhật Bản; Thiết bị lấy mẫu nước Batomet nhựa 5l; Dụng cụ khoan và lấy mẫu chất đáy, ống phóng trọng lực, cuốc lấy mẫu, gầu lấy mẫu đáy, máy đo độ đục, bùn cát

lơ lửng.

b. Phương pháp mô hình thuỷ lực, mô hình toán thuỷ văn trong tính toán dòng sóng, áp lực sóng, dòng bùn cát ven biển, mô hình tương tác dòng chảy - dòng bùn cát, phương pháp tính toán chế độ và xây dựng bản đồ.

3.2.5. Tổ hợp phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra theo phiếu (phỏng vấn cư dân vùng nghiên cứu

về kinh tế - xã hội);

Phương pháp chuyên gia

Trao đổi tham khảo các chuyên gia nghiên cứu sâu về quá trình biến động cửa sông và môi trường trầm tích trong Đệ tứ nói chung và Holocen

hiện đại nói riêng.

Phương pháp xử lý số liệu qua niên giám thống kê của địa phương, đối

115

chiếu với phương hướng phát triển trong những năm tới của địa phương vùng nghiên cứu.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3.2.6. Phương pháp tổng hợp:

Những kết quả thu được từ những tổ hợp phương pháp nghiên cứu

được tổng hợp thống nhất theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài,

tuân thủ theo các quan điểm tiếp cận của đề tài. Mặt khác kết quả của phương

116

pháp tổng hợp được thể hiện trong các sản phẩm của đề tài.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

PHẦN 2. BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN-HIỆN ĐẠI VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỨU LONG

117

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 4: DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG

4. 1. DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN TRONG HOLOCEN

ĐÁ CỔ ĐỊA LÝ

4.1.1. Đường bờ biển vào cuối Pleistocen-đầu Holocen

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau quá trình biển thoái vào cuối

Pleistocen – đầu Holocen: Haine (1972) cho rằng cuối Pleistocen – đầu

Holocen, mực nước biển hạ thấp ở độ sâu (-) 180m so với mực nước biển ngày

nay ở thềm Sunda; Lưu Tỳ, Nguyễn Thế Tiệp (1985, 1989)[63], cho là ~(-)70

- (-) 100m ở thềm lục địa phía nam, tương ứng với ~ (-) 45 – (-) 60m ở Vịnh

Bắc Bộ; Farbanks (1989) ~ (-) 120m ở thềm Sunda; Statteger K và nnk (1997)

~ (-)109m ở thềm Sunda cách đây 16.000 năm; Hanebuth (2000) ~ (-) 100m ở

thềm Sunda; Trịnh Thế Hiếu (1984), Schimanski A (2002), Nguyễn Biểu, 2001

~ (-)120- (-) 130, vào 18 ngàn năm BP; Nguyễn Thế Tiệp (2003) ~ (-)110m;

Trần Nghi (2005) ~ (-) 120 – (-) 140 m; Nguyễn Tiến Hải, Statteger K và nnk (2005) [27] đã kết hợp tướng trầm tích, địa trấn nông, tuổi C 14 đã xác định

đới đường bờ cổ nằm ở độ sâu (-) 80 – (-) 100m vào khoảng 15.000 năm.

Như vậy, theo những nghiên cứu trên, vào đầu Holocen vùng đồng

bằng sông Cửu Long là lục địa và mực nước biển thấp nhất ở khoảng độ sâu

(-) 80 đến (-) 120m. Tuy nhiên, trong khoảng dao động của mực nước ứng với

thời gian như vậy, độ sai số còn khá lớn.

4.1.2. Thời gian bắt đầu biển tiến

Đa số các nhà nghiên cứu cho là biển tiến Flandrian từ cuối Pleistocen

muộn đến Holocen sớm, nhưng tiến nhanh và đạt cực đại vào Holocen giữa.

Tuy nhiên những kết quả này mang tính định tính, chưa cụ thể.

Woofdroffe, 1993, 2000, Hunebuth et al, 2000 cho là mực nước biển

118

thấp nhất ở thềm lục địa Đông Nam Á ở độ sâu khoảng (-) 120m vào khoảng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

18 – 20 ky BP.

Nguyễn Tiến Hải, Statteger K. và nnk (2005) [27] trong báo cáo “Tiến

hóa đới ven biển, dao động mực nước và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên

(phù sa) trong Holocen thềm lục địa ven biển giữa châu thổ sông Mê Kông và

Nha Trang đông nam Việt Nam” cho là: trong thời gian cuối Pleistocen muộn

– đầu Holocen có các mực nước biển kế tiếp nhau theo hướng thời gian cổ

đến trẻ: mực nước ~ (-) 98,4m (thấp hơn mực nước ngày nay) vào 14.720 năm

BP; mực nước (-) 97,5m vào ~14130 năm BP và mức nước ~ (-) 60m ~

10.000 năm BP. Biển tiến Flandrian bắt đầu từ ~ 14.000 năm BP, khi đó mực

nước biển ở vị trí (-)98 – (-)100m nước (so với mực nước biển ngày nay).

Theo tài liệu địa chấn, trầm tích của sequence lấp đầy trong các thung

lũng do sông đào khoét đến độ sâu 65m từ mặt nước ở sông và kéo dài ra biển

trước cửa sông Hàm Luông hơi chệch lên phía bắc vùng Bến Tre (Mukarami,

nnk, 2004, Nguyễn Biểu, chủ biên, 2001 [10]), và một tập có phản xạ phân

lớp xiên dạng trầm tích của sông trên các đoạn tuyến ở cửa sông Định An,

Sóc Trang. Đáy của sequen bắt gặp trong các lỗ khoan BT2 và BT3 của đề tài

này vùng Bến Tre. Bên dưới mặt bất chỉnh hợp này khoảng độ sâu 54.5-62 m

có lớp sét màu xám sáng phớt hồng lốm đốm màu vàng, nâu đỏ, nghèo bào tử

phấn và vi cổ sinh. Tuổi C14 ở độ sâu 54m là 10.130 n. tr. Điều này cho thấy

vào khoảng 10.000, khu vực nghiên cứu duyên hải Tiền Giang – Sóc Trăng

vẫn chịu tác động của lục địa. Như vậy, mực nước ~ (-) 60m vào khoảng

10.000 năm BP là hợp lý (Bảng 4.1).

Nguyễn Biểu và nnk, 2001, trong báo cáo địa chất biển nông ven bờ (0-

30m nước) Việt Nam, đã phát hiện các trầm tích thuộc tướng đới đường bờ cổ

119

ở độ sâu (-) 60m và (-) 25- (-)30m nước.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 4.1: Mực nước biển và tuổi tuyệt đối trong Pleistocen muộn-Holocen.

STT Ngấn nước, thềm biển Tuổi tuyệt đối

1 Thềm biển Mê Kông cổ

2 Ngấn nước, thềm biển

3 Ngấn nước, thềm biển

5 Độ cao (m, so với ngày nay) (-)98.38 (-)97.49 (-)59.43 4 4 4 2 2 2 2.5 1.86 0.59 14720 ± 120 14130 ± 120 10130 ± 110 5680 ± 120 5570 ± 120 4870 ± 120 4500 ± 100 4150 ± 100 4200 ± 140 3100 ± 80 2120 ± 60 902 ± 64 4 Ngấn nước chùa hang Than bùn Kiên lương Than bùn U minh

Nguồn: bảng thống kê mẫu tuổi tuyệt đối tại đồng bằng sông Cửu Long

(báo cáo Nguyễn Huy Dũng)

Như vậy, có thể thấy vào cuối Pleistocen đầu Holocen sớm dao động

mực nước biển ở khu vực là biển tiến. Chế độ biển tiến Fladrian bắt đầu từ

cuối Pleistocen muộn (14720 ± 120, Bảng 4.1), tương ứng với vị trí mực

nươc biển ~ (-) 98,00m (so với mực nước ngày nay). Biển tiến tới gần vùng

nghiên cứu vào khoảng 10.000 năm trước, tương ứng với vị trí mực nước biển

~ (-) 60m (so với mực nước ngày nay).

Ở vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long đoạn Tiền Giang - Sóc Trăng,

ở lỗ khoan BT1, đã bắt gặp tập trầm tích đầm lầy lục địa: sét màu nâu, xám

sáng, xám vàng chứa nhiều mùn bã thực vật ở độ sâu 54,5 – 53,35m, tuổi

tuyệt đối 12070 n.tr.

4.1.3. Mực nước biển cao nhất trong Holocen

Lưu Tỳ, Nguyễn Thế Tiệp (1995), Nguyễn Thế Tiệp (1998), cho rằng

trong Holocen, biển tiến Flandrian đạt mức cao nhất đã tạo thềm 4-5m ở ven

120

rìa lục địa Việt Nam. Trịnh Nguyên Tính và nnk (1998) lại cho rằng mực

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nước biển đạt cao nhất trong Holocen giữa ( cách đây ~ 4000 – 5000 năm), độ

cao 10-15m ở Phan Thiết.

Nguyễn Thế Thôn, Nguyễn Thế Tiệp (1987) [66] trong bài “Các thềm

biển ở Đông Dương” đã đưa ra các mực thềm 1,5 - 4m có tuổi Holocen.

Nguyễn Văn Lập, và nnk 2002 cho rằng thời gian biển tiến cực đại ở

đồng bằng Sông Cửu Long vào khoảng 5.500 đến 5.000 năm cách ngày nay,

với mực nước biển cực đại khoảng +3,5m (so với mực nước hiện tại).

Đối sánh với tài liệu về dao động mực nước ở Miền Trung, nơi cách

vùng nghiên cứu không xa, Nguyễn Tiến Hải, Statteger K và nnk (2005) [27]

cho rằng độ cao cực đại mực nước biển trong Holocen đạt ~ 5m (cao hơn mực

nước biển hiện tại) vào thời gian 5.000 – 4.000 năm.

Theo kết quả Bảng 4.1 cho thấy độ cao cực đại của mực nước biển ở khu

vực nghiên cứu đạt ~ 4m ( cao hơn mực nước ngày nay) vào thời gian 5.000

đến 5.500 năm BP. Trong lỗ khoan LKBT3, tập trầm tích dày 12m bao gồm

các lớp sét, có tích tụ carbonat của tướng biển nông ven bờ ở độ sâu 34,0 – 22,0m. Kết quả phân tích 14C tại lỗ khoan BT3 như sau: độ sâu 32,8m là

7050 ± 230; độ sâu 30,7m là 6030 ± 195; độ sâu 22,7m là 5060 ± 175.

Sự có mặt của các ngấn nước có tuổi 5680 ± 120; 5570 ± 120, 4870 ±

120 (Bảng 4.1) ở độ cao ~ 4m ở Hà Tiên; ở phía bắc đồng bằng Sông Cửu

Long, trầm tích Pleistocen muộn lộ ra trên bề mặt với diện tích hạn chế có địa

hình khoảng + 3m đến + 4m và chìm dần về phía nam, đông nam, càng khẳng

định mực nước biển cực đại của biển tiến Fladrian ở độ cao ~ 4m ( so với

mực nước ngày nay).

4.1.4. Đặc điểm và tốc độ dao động mực nước biển

Đặc điểm chính của dao động mực nước trong Holocen – hiện đại ở

121

Việt Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long nói riêng theo những kết quả

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nghiên cứu hiện nay là xu thế biển tiến, nhưng tốc độ khác nhau trong những

thời gian khác nhau. Trong xu thế biển tiến, có thời gian mực nước biển hạ

thấp với biên độ dao động không lớn, rồi lại tiến; mặt khác có những thời

điểm dao động mực nước là không đáng kể (~ 0) và được coi là mực biển

dừng tương đối. Một thời điểm cũng được coi là dừng tương đối là khi chuyển

từ chế độ biển dâng sang chế độ biển hạ.

Về thời gian và mức độ dâng hạ mực nước biển của biển tiến Fladrian ở

Việt Nam nói chung, theo Lưu Tỳ, Nguyễn Thế Tiệp (1985) và Nguyễn Thế

Tiệp (1989) [63]: mực nước biển hạ xuống sau khi đạt độ cao nhất 4-5m trong

Holocen giữa và dừng lại ở ~ 1000 năm BP ở độ cao 1,5 – 3m. Trịnh Nguyên

Tính và nnk (1998) lại cho rằng, sau khi đạt độ cao trong Holocen giữa ( mực nước

cao 10-15m vào 4000 – 5000 năm BP), biển bắt đầu dừng và tiếp theo là thoái.

Các nghiên cứu mới đây ở vùng lân cận vùng nghiên cứu có nhiều thành

quả đáng kể trong nghiên cứu dao động mực nước biển ở Việt Nam. Theo

Nguyễn Tiến Hải, Statteger K và nnk (2005) [27] trong báo cáo “Tiến hóa đới

ven biển, dao động mực nước và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa)

trong Holocen thềm lục địa ven biển giữa châu thổ sông MeKong và Nha

Trang đông nam Việt Nam“ đã phác họa tốc độ biển tiến Flandrian ở vùng

biển Nam Trung Bộ như sau:

+ Biển bắt đầu dâng, nhưng tốc độ nhỏ ( ~1,5mm/năm) từ 17.000 năm

BP cho đến ~ 14.500 BP.

+ Từ thời gian ~14.500 đến ~ 10.000 năm BP: tốc độ biển tiến ~ 7,6

mm/năm.

+ Từ ~10.000 đến ~ 9.200 năm BP: tốc độ biển tiến 11,8mm/ năm.

+ Từ ~ 9.200 đến ~ 8.500 năm BP: tốc độ biển tiến ~ 3,3mm/ năm.

122

+ Từ ~8.500 đến ~ 8.200 năm BP: tốc độ biển tiến đạt 7,8mm/năm.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

+ Từ 8.200 đến ~ 6.400 năm BP: tốc độ biển tiến đạt ~ 6,7mm/năm.

+ Từ 6.4000 đến ~5.000 năm BP: tốc độ biển tiến ~ 11,3mm/năm.

Theo kết quả nghiên cứu của chuyên đề này, đồng bằng sông Cửu Long

nói chung không nằm ngoài phông chung của dao động mực nước biển ở Việt

Nam và các vùng lân cận. Kết quả tính toán cho thấy (Bảng 4.2), trong

khoảng 600 năm ( từ 14.720 -14.130 năm BP), tốc độ biển tiến không lớn đạt

~ 1,5 mm/ năm. Nhưng từ 14.130 – 10.130 năm BP ( cuối Pleistocen muộn

đầu Holocen) biển tiến nhanh và đạt mức ~ 9,5 mm/ năm. Từ 10.130 – 5.373

năm BP, biển tiến rất nhanh và đạt mức ~ 11,6mm/ năm. Từ 5.373 – 4.283

năm BP biển bắt đầu rút với tốc độ nhỏ ~1.83 mm/ năm. Từ 4.283 – 3.100

năm BP biển lại dâng trở lại, nhưng với biên độ và tốc độ nhỏ ( biển lấn) ~

0.43 mm/ năm. 3.100 – nay biển lùi từ từ trung bình ~ 0,7mm/ năm.

Thời gian biển dừng tương đối:

+ Khi thành tạo đường bờ ~ (-) 60m nước vào khoảng 10.000.

+ 9.000 – 8.000 năm BP, thành tạo đới đường bờ cổ ở đô sâu (-)25 – (-) 30m.

+ 5.500 – 5.000 năm BP, tạo thềm biển, ngấn nước cao ~ 4m.

+ 4.500 4.000 năm BP, tạo thềm biển, ngấn nước cao ~ 2m

123

+ 3.500 – 3.000 năm BP, tạo ngấn nước cao ~ 2,5m.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 4.2: Mực nước biển và tốc độ dâng giai đoạn từ cuối Pleistocen

đến nay.

STT Thời gian Dao động Tốc độ trung bình (mm/năm)

dâng

1 2 3 4 5 6 7 8 Thời điểm (Từ năm - đến năm) 14720 -14130 14130 - 10130 10130 - 5373 5373 - 4283 4283 - 3100 3100-2120 2120 - 902 902 - 0 590 4000 4757 1090 1183 980 1218 902 hạ dâng hạ hạ hạ 1.51 9.52 11.6 1.83 0.42 0.65 1.04 0.65

Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả từ trước đến nay và kết quả nghiên

cứu của đề tài đã làm sáng tỏ sơ đồ giao động mực nước biển trong Holocen -

hiện đại như sau:

+ Theo Nguyễn Biểu và nnk ( 2005) [11] tại nhiều nơi trên đáy biển

thềm lục địa Việt Nam gặp tổ hợp trầm tích đới bờ ở độ sâu 55-90 m trong

Holocen sớm. Tổ hợp trầm tích này được thành tạo trong thời gian mực nước

biển ở vị trí ~(-) 60m nước vào thời gian ~ 10.000 năm BP. Trong vùng

nghiên cứu ở độ sâu ~ 25-30 m nước hiện tại, tồn tại tập trầm tích tướng cát,

cát sạn, đê cát ven biển cổ, trầm tích sét, sét than bùn đầm lầy ven bờ bển cổ.

+ Trên lục địa, hệ thống ngấn nước, thềm biển ở độ cao 4m, vào khoảng

5.500 năm BP; 2,5m vào khoảng 3.100 năm BP, 2m có tuổi 4.500 năm BP là

dấu tích cho các thời kì biển dừng tương đối trong Holocen. Bên cạnh đó tại

cùng thời gian khoảng từ 7.000 năm BP đến 5.000 năm BP, vùng ven bờ châu

thổ sông Cửu Long, bắt gặp tập trầm tích khá dày ở LKBT3 (22-34m), BT2

(15-22m); TV (18 – 21m); ST(12,8-22m) bao gồm bột, sét tướng biển nông

124

ven bờ. Có tuổi 7050 ± 230 (32,8m), 5060 ± 175m (22,7m).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hệ thống giồng cát cổ ở đồng bằng Sông Cửu Long có tuổi trẻ dần theo

hướng ra biển (Giồng cát Cái Lậy - Nhị Quý: 4.550 năm BP; Giồng Đá, Kiên

Giang: 3.400 năm BP; Tân An, Long An: 2700 năm BP) là bằng chứng cho

thời gian biển lùi từ từ khoảng 3000 năm trước. Tốc độ bồi lấn trung bình của

tam giác châu ra phía biển trước 3.000 năm là 30-40m/ năm và 3.000 năm

trước đến nay là 10-20m/ năm. Minh chứng cho thời gian biển lùi từ từ với

tốc độ chậm ~ 0,78mm/ năm, từ 3000 năm trở lại đây là việc thành tạo lớp

than bùn khá dày ở U Minh, Kiên Giang ( 2-4m) có tuổi 2605 ± 74 (Kiên

Giang, sâu 4-5 m); 902 ± 64 ( U Minh, sâu 1m).

4.1.5. Dao động mực nước hiện đại

4.1.5.1 . Tốc độ mực nước dâng trong hiện đại

Dao động mực nước hiện đại đang là vấn đề nóng của quốc tế và Việt

Nam. Các nghiên cứu trước đây của các tác giả đều cho rằng mực nước biển

đang dâng trong giai đoạn hiện đại.

Nguyễn Thế Tiệp và nnk (1991) đã đưa ra số liệu cho rằng trong vòng

mấy thập kỷ qua mực nước biển có chiều hướng tăng trung bình 0,5 đến

1,6mm/năm. Sau khi dẫn ra hàng loạt các bờ biển từ Bắc đến Nam bị phá huỷ

và biển lấn sâu vào đất liền trong mấy chục năm qua, các tác giả kết luận

hiện tượng xói mòn vào các thành tạo biển được bồi đắp trước đó là một

bằng chứng biểu hiện một thời kỳ đang dâng cao của mực nước biển hay có

thể gọi là một thời kỳ biển tiến hiện đại đang diễn ra trên toàn Thế giới. Điều

này phù hợp với những kết luận của Uỷ ban môi trường thuộc Hội Địa Lý

Thế giới họp tại Pari (Pháp) vào tháng 8 năm 1984. Các số liệu đo đạc hải văn

tại một số trạm cũng phản ánh xu thế dâng cao mực nước biển hiện nay.

Tại trạm Hòn Dấu, qua số liệu đo đạc trong 34 năm (1957-1991) mực

nước biển dâng cao trung bình 2,24mm/ năm (Theo Nguyễn Ngọc Thụy

125

(1990); Nguyễn Ngọc Thụy, Bùi Minh Nhược (1993).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Theo IPCC, 2007 (Intergovermental Panel on Climate change), mực

nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ ngày càng cao. Hai

nguyên nhân chính làm tăng mực nước biển là sự giãn nở nhiệt của đại dương

và băng tan. Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kì 1961 – 2003 cho

thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 ± 0,5 mm/

năm, trong đó đóng góp giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12 mm/ năm và băng

tan 0,70 ± 0,05 mm/ năm. Số liệu đo đạc từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON

trong giai đoạn 1993 – 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung

bình toàn cầu là 3,1 ± 0,7 mm/năm, nhanh hơn đáng kể so với thời kì 1961 –

2003 (Hình 4.1).

Hình 4.1: Diễn biến mực nước biển trung bình toàn cầu (IPCC, 2007).

Ở Việt Nam, số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển cho

thấy tốc độ dâng lên của mực nước trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng

3mm/năm (giai đoạn 1993-2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên

thế giới. Trong khoảng 50 năm qua, mực nước tại trạm hải văn Hòn Dấu dâng

lên khoảng 20cm (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí

126

hậu, Bộ TNMT, 2008).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 4.2: Diễn biến mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu

Nguồn: kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam,

Bộ TNMT, 6/2009.

4.1.6. Dao động mực nước biển trong Holocen-hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long

Trước 14720 năm BP, mực nước biển ở đây hạ thấp tại vị trí ~ (-)100m

nước. Phần lớn lục địa Sunda trong đó có cả ĐBSCL lộ ra và chịu tác động

mạnh của quá trình phong hóa, bào mòn trầm tích Pleistocen muộn, làm cho

bề mặt địa hình lồi lõm, xẻ rãnh. Sự hạ thấp của mực nước biển làm thay đổi

mực xâm thực của sông Cửu Long dẫn đến quá trình, đào khoét lòng sông,

thành tạo thung lũng bóc mòn với trầm tích cát hạt thô-trung và sạn sỏi đã

được tìm thấy ở Bến Tre (LKBT3). Biển tiến dần đến độ sâu ~ (-) 98m vào

khoảng 14720 năm BP. Sau đó biển tiến với tốc độ ~1,5mm/s, đến 14.130

năm BP, mực nước ở vào khoảng ~ 97,5 (so với mực nước hiện tại). Sau đó

biển dâng với tốc độ nhanh ~ 9,5mm/ năm và đến khoảng 10.000 năm BP

mực nước biển thấp hơn hiện tại ~ 60 m (Hình 4.3). Biển tiến vào khu vực

127

nghiên cứu ở độ sâu (-) 25 – (-) 30m nước vào khoảng 9.000 – 8.000 năm BP.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Có lẽ đây là thời gian ngưng nghỉ tạm thời của mực nước biển để thành tạo

nên trầm tích đới đường bờ cổ còn sót lại ở độ sâu (-) 25- (-) 30m nước.

Biển tiếp tục tiến với tốc độ rất nhanh ~ 11,6mm/năm, và mực nước

biển đạt cực đại + 4m; vào thời gian 5000 – 5500 năm BP. Tại khoảng thời

gian này biển dừng tạm thời và hình thành ngấn nước ở Hà Tiên (độ cao ~

4m), các thềm biển độ cao 4-6m ở đảo Phú Quốc, Quần đảo Thổ Chu, Nam

Du,....

Sau khi biển tiến đạt cực đại trong Holocen giữa, ở đồng bằng sông

Cửu Long nói riêng, trên toàn Việt Nam nói chung, biển bắt đầu hạ thấp và

mực nước biển ~ 2m (so với mực nước biển hiện tại) vào thời gian khoảng

4500 – 4.000 năm BP, tốc độ hạ thấp mực nước biển ~ 1,8mm/ năm. Vào

khoảng thời gian này mực nước biển ngừng nghỉ tạm thời (4500-4000 năm

BP), thành tạo các ngấn nước, bậc thầm biển cao ~2m.

Sau thời kì ngưng nghỉ tạm thời, mực nước biển lại dâng lên từ từ với

tốc độ nhỏ ~ 0,4mm/ năm. Đây là đợt biển lấn nhỏ với biên độ không lớn, và

mực nước biển cực đại của đợt biển lấn này ~ 2,5m, vào khoảng 3500- 3000

năm BP (Hình 4.3). Mực nước tạm thời ngưng nghỉ để hình thành ngấn nước

có độ cao ~2,5m ở Chùa Hang (3100 ± 80). Sau đó mực nước biển bắt đầu hạ

thấp từ từ với tốc độ ~ 7,8mm/ năm; vào khoảng 1000 năm BP, mực nước

biển ~0,6m và đạt mức 0m nước như ngày nay. Tốc độ bồi lấn trung bình của

tam giác châu ra phía biển trước 3.000 năm là 30-40m/ năm và 3.000 năm

trước đến nay là 10-20m/ năm.

Hiện nay mực nước biển đang dâng trở lại và có thể đạt mực ~1m sau

128

khoảng 100 năm nữa. (theo kịch bản nước biển dâng, Bộ TN&MTVN, 2009).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 4.3: Sơ đồ thể hiện dao động mực nước biển trong Holocen VCN

Kết quả nghiên cứu cho phép đưa ra một số kết luận về dao động mực

nước biển trong Holocen ven biển ĐBSCL như sau.

+ Cuối Pleistocen, khoảng 15.000 năm BP mực nước biển ở vị trí ~(-) 100m.

+ Thời gian từ ~ 14.000 – 10.000 năm BP, biển tiến với tốc độ khá cao

~ 9,5mm/ năm và vị trí đương bờ biển vào khoảng ~ (-) 60m vào thời gian ~

10.000 năm BP. Biển tiến vào khu vực nghiên cứu ở độ sâu (-) 25 – (-) 30m

nước vào khoảng 9.000 – 8.000 năm BP.

+ Biển tiếp tục tiến nhanh vào lục địa với tốc độ ~ 11,6 mm/năm và đạt

cực đại ở độ cao ~ 4m vào thời gian khoảng 5.500 – 5.000 năm BP. Lúc này

mực nước biển ngưng nghỉ tạm thời để tạo thềm biển, ngấn nước cao ~ 4m.

+ Sau thời gian ngưng nghỉ biển bắt đầu từ từ rút khỏi lục địa với tốc

độ nhỏ ~ 1,8mm/ năm xuống tới độ cao ~ 2m, vào khoảng 4.500 – 4.000năm

BP. Lúc này mực nước biển tạm thời ngưng nghỉ để hình thành bậc thềm

biển, ngấn nước có độ cao ~ 2m.

+ Sau đó biển dâng lên với tốc độ nhỏ ~ 0,4mm/ năm, và đạt tới độ cao

129

~ 2,5m, vào khoảng 3.500- 3.000 năm BP, mực nước thời ngưng nghỉ và hình

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

thành ngấn nước có độ cao ~ 2,5m.

+ Từ ~ 3.000 – nay biển từ từ rút khỏi vùng nghiên cứu với tốc độ

chậm ~ 0,78mm/ năm cho đến đường bờ hiện tại.

+ Xu hướng biển tiến trong tương lai đã được khẳng đinh, có thể đạt

4. 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT HOLOCEN - HIỆN ĐẠI VÙNG NGHIÊN CỨU

mức ~ 1m vào khoảng 100 năm nữa.

4.2.1. Ranh giới Pleistocen – Holocen tại khu vực nghiên cứu

Các thành tạo trầm tích Pleistocen muộn ở đồng bằng Nam Bộ có nhiều nguồn gốc và phân bố ở khắp đồng bằng dưới độ sâu từ vài mét đến vài chục mét, đôi chỗ xuất lộ trên bề mặt tạo thành dải kéo dài từ Hồng Ngự đến Mộc

Hoá và men theo bờ phải sông Vàm Cỏ Đông từ Châu Thành đến Đức Huệ, 3 lộ một phần ở huyện Duyên Hải (thành phố Hồ Chí Minh) là các trầm tích aQ1 ngay trên mặt. Hầu hết các trầm tích Pleistocen muộn bị phủ bởi các các thành

tạo Holocen. Tại khu vực ven biển châu thổ Cửu Long, trầm tích Pleistocen muộn có bề dày trung bình khoảng 40-50m, đôi chỗ có bề dày lớn như vị trí

lòng sông cổ có bề dày trầm tích Pleistocen muộn đạt tới 70-80m.

Hình 4.4. Mặt cắt địa chất ven biển châu thổ Sông Cửu Long

Trong vùng nghiên cứu, các lỗ khoan sâu đều đạt tới độ sâu phân bố của

các trầm tích Pleistocen muộn. Ranh giới Pleistocen – Holocen vùng nghiên

130

cứu được xác định qua các lỗ khoan cho thấy tại khu vực sông Hậu ranh giới

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

này nằm ở độ sâu khoảng trên dưới 20m, nhưng tại khu vực sông Tiền thì ranh

giới này ở độ sâu trên dưới 50m. Điều đó cho thấy vào thời kỳ cuối Pleistocen

muộn khu vực cửa sông Tiền là vùng sụt lún và được lấp đầy bởi các trầm tích

Holocen sớm.

Các trầm tích Pleistocen muộn trong các lỗ khoan vùng nghiên cứu có

nguồn gốc sông biển và sông phân bố ở các độ sâu khác nhau.

Tại lỗ khoan LKST trầm tích Pleistocen muộn nằm dưới độ sâu 26,4m,

ranh giới Pleistocen – Holocen là bề mặt trầm tích bột sét màu xám trắng, vàng

loang lổ lẫn nâu đỏ có lẫn nhiều cát sạn, dày 1,9m. Dưới các thành tạo này là

các trầm tích bột sét màu nâu, nguồn gốc sông, có tuổi Pleistocen muộn. Ở độ

sâu 33,7-35m là cát hạt thô, nguồn gốc sông, tuổi Pleistocen muộn.

Tại lỗ khoan LKTV ranh giới Pleistocen – Holocen được xác định ở độ

sâu 24,3m là bề mặt trên cùng của tập trầm tích sét loang lổ màu xám vàng,

xám trắng chứa sạn laterit và mùn bã thực vật, với bề dày 3,4m.

Tại lỗ khoan LKBT1, ranh giới Pleistocen – Holocen nằm ở độ sâu

27,4 trên bề mặt của tập cát hạt trung màu xám ghi được xác định có tuổi

Pleistocen muộn, thông qua kết quả phân tích tuổi tuyệt đối của mẫu vỏ sò ốc

lấy trong tập trầm tích này, độ sâu lấy mẫu là 28m, tuổi tuyệt đối là 12.200 ±

110 năm BP.

3.

Tại lỗ khoan LKBT2, ranh giới Pleistocen – Holocen ở độ sâu 57,5m, 1 với ranh giới là bề mặt trên cùng của tập cát thô tướng lòng sông có tuổi Q2

tầng cát mịn có tuổi Q1

Tại lỗ khoan LKBT3, ranh giới Pleistocen – Holocen ở độ sâu 54,5m,

là bề mặt của tập sét màu vàng loang lổ chứa mùn thực vật. Kết quả phân tích

131

tuổi tuyệt đối của mẫu mùn thực vật lấy ở độ sâu 54m có tuổi 14Clà 10.130 ±

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

110 năm BP.

4.2.2. Thang địa tầng Holocen vùng nghiên cứu

Địa tầng Holocen – hiện đại vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu

Long, đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phân chia các phân vị trầm tích có

nguồn gốc và tuổi như dưới đây:

Holocen dưới nguồn gốc aluvi (aQ21); Holocen dưới– giữa nguồn gốc

aluvi, sông đầm lầy, biển, sông biển (a, m, am, ab Q21-2); Holocen giữa

nguồn gốc biển (mQ22); Holocen giữa – trên phần trên nguồn gốc sông biển

(amQ22-31); Holocen giữa-trên phần trên nguồn gốc sông biển (amQ22-32);

Holocen trên phần trên nguồn gốc aluvi (aQ231); Holocen trên phần trên

nguồn gốc aluvi (aQ232). Đặc biệt, đối với phân vị Holocen giữa nguồn gốc

biển được Nguyễn Ngọc Hoa và nnk (1991) gọi là hệ tầng Hậu Giang

(mQ22hg) [28]. Hệ tầng này có ở bản đồ địa chất – khoáng sản tỷ lệ 1:

200.000 tại các tờ Phú Quốc – Hà Tiên, Cà Mau – Bạc Liêu, Trà Vinh – Côn

Đảo, Long Xuyên, Mỹ Tho và tờ An Biên – Sóc Trăng. Hệ tầng Hậu Giang

được nhiều tác giả xếp vào Holocen dưới–giữa (Q21-2hg), tương ứng với hệ

tầng Bình Chánh (Q21-2bc) [121]. Hoàng Ngọc Kỷ (1994)[86] xếp loại sét

dẻo màu xám, sét than bùn màu tối đen, tương đồng với trầm tích biển trên

thềm biển bậc 1 (mQ21-2) hoặc trầm tích sông trên thềm bậc 1 (aQ21-2) vào

hệ tầng An Giang (mQ21-2ag) có tuổi Holocen dưới– giữa nguồn gốc biển.

Nguyễn Địch Dỹ và nnk (1995)[21] xếp hệ tầng Hậu Giang vào bậc Hải Hưng

(Q21-2) trong phạm vi cả nước (khái niệm bậc khu vực theo quy phạm địa

tầng Việt Nam), bậc này bao gồm hệ tầng Hậu Giang, Bình Chánh. Nguyễn

Huy Dũng và nnk (2004)[17] cũng sử dụng khái niệm bậc (bậc Hậu Giang)

cho các thành tạo Holocen dưới– giữa. Lê Đức An (2004) xếp các trầm tích

132

Holocen dưới–giữa vùng nghiên cứu vào hệ tầng Hậu Giang (Q21-2hg) [2].

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đối với trầm tích Holocen muộn, Nguyễn Ngọc Hoa và nnk (1996) sử

dụng hệ tầng Cửu Long (Q23cl) [121]. Lê Đức An (2004)[2], Hoàng Ngọc Kỷ

(2005) [35] xem hệ tầng Cửu Long có tuổi Holocen giữa – muộn với nguồn 2-3cl). Nguyễn Huy Dũng và nnk (2004) [17], gốc biển sông hỗn hợp (maQ2

gọi là bậc Cần Giờ tuổi Holocen giữa – muộn. Nguyễn Địch Dỹ và nnk

(1995)[21], gọi là bậc Thái Bình gồm hệ tầng Cần Giờ, Cửu Long tuổi

Holocen muộn. Trên đây trình bày khai quát lịch sử phân chia và xây dựng

thang địa tầng Holocen cho đồng bằng châu thổ sông Cửu Long theo các tác

giả khác nhau. Dưới đây tập thể tác giả trình bày thang địa tầng Holocen vùng

cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long trên cơ sở phân tích lịch sử phát triển địa chất, môi trường trầm tích, trật tự địa tầng, tuổi 14C, cổ sinh, tài liệu

địa chấn nông phân giải cao, địa tầng phân tập (Bảng 4.3) là kết quả nghiên

cứu của đề KC09.06/06-10 thời gian của các phân vị địa tầng Holocen theo

các tác giả đề tài KC09.06/06-10 như sau: Holocen sớm có khoảng tuổi từ

11.700 năm đến 8.000 năm BP; Holocen giữa từ 8.000 năm đến 3.000 năm

BP và Holocen muộn – hiện đại từ 3.000 năm BP đến nay. Vấn đề này, nhiều

tác giả có những phân chia khác nhau. Thí dụ, Nguyễn Địch Dỹ và nnk

(1995)[21], Holocen muộn có tuổi 2.000 năm BP; Doãn Đình Lâm (2003)

[26], trong luận án tiến sỹ của mình, lấy 3.000 năm BP làm ranh giới Holocen

giữa và Holocen muộn; Theo Nguyễn Huy Dũng và Ngô Quang Toàn (2004)

cũng lấy 3.000 năm BP cho tới ngày nay làm thời gian của Holocen muộn.

Mặc dù còn có những đề xuất khác, song đề tài KC09.06/06-10 phân chia

thời gian cho 3 phân vị địa tầng Holocen vùng nghiên cứu như trình bày ở

trên. Đặc biệt thang địa tầng Holocen – hiện đại vùng nghiên cứu, tập thể tác

133

giả lần đầu tiên thiết lập một hệ tầng mới – Hệ tầng Bình Đại.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Các căn cứ thiết lập phân vị địa tầng mới - Hệ tầng Bình Đại

Trong thang địa tầng Holocen vùng cửa sông ven bờ châu thổ sông Cửu

Long, tập thể tác giả tuân thủ quy phạm địa tầng Việt Nam (Cục địa chất Việt

Nam xuất bản, Hà Nội 1994) xây dựng nên thang địa tầng Holocen nêu trên.

Đặc biệt, tập thể tác giả xác lập một phân vị địa tầng mới theo điều 6.12, 6.13

của quy phạm địa tầng Việt Nam với chỉ tiêu dưới đây:

- Tên phân vị: Hệ tầng Bình Đại

1bđ

- Thời gian thành tạo: Holocen sớm (11.700 – 8.000 năm cách ngày nay)

- Ký hiệu: Q2

- Đặc điểm chung của phân vị: Trầm tích của hệ tầng từ dưới lên gồm sét

màu xám ghi, xám đen xen kẹp các lớp cát mỏng chứa bã thực vật, cát hạt

mịn màu xám vàng trên cùng là các lớp mỏng thực vật. Hệ tầng Bình Đại có

nguồn gốc sông biển.

- Tên hệ tầng Bình Đại không trùng với một tên phân vị địa tầng đã sử

dụng trong văn liệu địa chất Việt Nam nói chung và vùng nghiên cứu nói

134

riêng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 4.3. Thang địa tầng Holocen vùng nghiên cứu

Phụ i ổ u thống T

g n ố h T

g n ầ t ệ H

u ệ i h ý K

) p B m ă n (

l c 3

2

3 Q2

Q

Đặc điểm trầm tích Đặc điểm cổ sinh Nguồn gốc

y a n - 0 0 0 . 3

G N O L U Ử C

Sông biển, lục địa

I

g h 2

2

2 Q2

Q

N E C O L O H

Cát hạt trung màu xám nâu xen lớp sét màu xám sáng chứa nhiều vẩy mica và mùn bã thực vật. Sét màu nâu hồng có các thấu kính cát màu nâu nhạt.

0 0 0 . 3 - 0 0 0 . 8

G N A G U Ậ H

Sông biển, biển nông ven bờ và biển Sét màu nâu có tích tụ cacbonat chứa mảnh vụn vỏ sò ốc và bã thực vật. Sét xám xanh xen kẽ các thấu kính bột cát.

I

t b 1

2

1 Q2

Q

0 0 0 . 8

TảoDiatomeae: Cyclotella stylorum, Cyclotella striata, Centrophyceae sp. BT-PH: Gleichenia sp., Dicksonia sp., Osmunda sp. VCS: Haplophragmium agglutinas, Trochammia nitida. Tảo Diatomea: Cyclotella stylorum, Paralia sulcata, Cyclotella striata BT-PH: Lycopodium sp., Cyathea sp., Alsophium sp. VCS: Quinquelloculina oblonga, Bolovina dilatata, Trochammina sp., Globorotalia cultrata.

- 0 0 7 . 1 1

Ì

Ạ Đ H N B

Sét màu xám ghi, xám đen xen kẹp các lớp cát mỏng chứa bã thực vật, cát hạt mịn màu xám vàng.

l

0 0 0 .

3

1

3 Q1

Lục địa, sông

Q

5 2 1

Sét loang lổ có kết vón m laterit màu vàng và ít vẩy mica.

Ỹ M G N O L

biển, lục địa

N E C O T S I E L P

135

BT-PH: Polypodium sp., Cyathea sp., Tsuga sp. Tảo Diatomea: Centrophyceae sp., Cyclotella stylorum. BT-PH: Polypodium sp., Salvinia sp., Tsuga sp. VCS: Adellosina pulchella, Operculina complanata, Ammonia beccarii.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

1bđ)

4.2.3. Thống Holocen, phụ thống dưới- Hệ tầng Bình Đại (amQ2

Hệ tầng Bình Đại lần đầu tiên được tập thể tác giả của đề tài

KC09.06/06-10 (Nguyễn Địch Dỹ và nnk, 2009) thiết lập tại mặt cắt lỗ khoan

LKBT3 tại xã Bình Tri - huyện Bình Đại - tỉnh Bến Tre, tọa độ: X: 10001’21,2”, Y: 106042’00”.

Trầm tích của Hệ tầng Bình Đại trong vùng nghiên cứu chỉ gặp trong lỗ

khoan ở độ sâu từ 34 đến 57,5m. Bề dày của trầm tích thuộc hệ tầng Bình Đại

dao động từ 19,5m đến 22m.

Trầm tích của hệ tầng Bình Đại tại mặt cắt của lỗ khoan Bến Tre 3

phân bố ở độ sâu từ 34m đến 53,5m bao gồm 3 tập, từ dưới lên như sau:

Tập 1 từ 53,5m đến 44m gồm sét màu xám nâu, xám đen phân lớp ngang.

Trầm tích có chứa nhiều mùn bã thực vật, vảy serixit và tích tụ cacbonat màu

vàng. Thành phần độ hạt: sét chiếm 57,18; bột chiếm 38,35%; cát chiếm

4,47%, Md = 0,01; So = 3,53; Sk = 0,68. Kết quả phân tích 14C mẫu thực vật

tại độ sâu 53,55m có tuổi là 10.130 ± 110 năm BP. Ngoài ra trầm tích có chứa

vài mảnh vụn tảo Centrophyceace sp.; Bào tử phấn hoa: Cyathea sp., Pteris.

sp., Taxodium sp., Cycas sp.; Bề dày của tập là 9,5m.

136

Ảnh 4.1. Trầm tích hệ tầng Bình Đại tại lỗ khoan BT3, độ sâu (48,7-49m)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Tập 2 từ 44m đến 39m gồm cát - bột - sét màu xám xanh, xám đen lẫn sét

màu xám nâu, chứa nhiều bã thực vật và mảnh vỡ vỏ sò ốc. Thành phần độ

hạt: sét chiếm 24,69%; bột chiếm 35,77%; cát chiếm 39,55%. Md = 0,06; So

= 2,97; Sk = 0,4. Trầm tích có chứa bào tử phấn: Cyathea sp., Pteris sp.,

Polypodium sp., Acrotichum sp.; Vi cổ sinh: Pseudorotalia schroeteriana,

Rotalia calcar, Elphidium advernum, E.maccellum. Bề dày của tập là 5m.

Ảnh 4.2. Trầm tích hệ tầng Bình Đại tại lỗ khoan BT3, độ sâu (43,3-43,7m)

Tập 3 từ 39m đến 34m gồm cát - bột - sét màu nâu, xám đen có chứa vỏ sò

ốc. Thành phần độ hạt sét chiếm 15,52%; bột chiếm 38,42%, cát chiếm

38,41%; Md = 0,06; So = 3,56; Sk = 0,76. Trầm tích có chứa phong phú bào

tử phấn: Acrostichum sp., Polypodium sp., Osmunda sp., Taxodium sp.; Vi cổ

sinh: Elphidium advenum, Pararotalia sp., Asterorotalia sp.. Bề dày của tập

137

là 5m.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

VI?N Ð?A CH?T Ð? tài: KC09.06/06-10 C?T Ð?A T?NG T?NG H?P L? KHOAN B?N TRE 3

0 T?a d? X: 10 01'21,2''

0 Y: 106 42'00''

V? trí: Xã Bình Chi?n, huy?n Bình Ð?i, t?nh B?n Tre

Ð?c di?m c? sinh

Mô t? th?ch h?c

Ngu?n g?c

Tu?i C?t d?a t?ngChi?u dày

C

Gi?n d? ph?n tram d? h?t (sét, b?t, cát) 20% 80%

40%

60%

Thu?c t? l?

0-2m: Cát h?t trung màu xám nâu, xám den ch?a tàn tích th?c v?t.

1

2

T?o: Actinocyclus, Thalassiosira, Paralia sulcata

3

Sét B?t

Cát

2-6,6m: Sét màu xám nâu l?n ít cát, m?nh v? cây và ít v?n v? sinh v?t.

4

BT-PH: Polypodium sp., Lygodium sp., Pteris sp., Biota sp., Pinus sp.

5

Vi c? sinh: Trochamimina nitida, Ammonia japonica, pararotaba

6

g n o L u ? C g n ? t ? H

7

amQ29

6,6-8,0m: Cát b?t màu xám den có ít v?y mica phân b? r?i rác trong l? khoan.

8

T?o:Actinocyclus, Thalassiosira, Paralia sulcata

9

BT-PH: Lygodium sp., Cyathea sp., Dicksonia sp., Pteris sp.

8,0-10,6m: Sét b?t màu xám nâu xen k?p l?p cát m?n màu xám den ch?a ít m?nh v? sò ?c sinh v?t.

10

Vi c? sinh: Ammonia japonica, Quinqueloculina oblonga, Trochammina nitida

11

12

BT-PH: Gleichenia, Polypodium, Cyathea, Cyathea sp., Arancaria sp.

13

10,6-16,0m: Cát h?t m?n - b?t màu xám nâu xen k?p l?p sét ch?a ít m?nh v? sò ?c. Ð? h?t thô d?n t? trên xu?ng.

amQ28

Vi c? sinh: Rotalia calcar, Trichammina nitida, Asterorotala multispinose

14

15

16

17

T?o: Cyclotella stylorum, Thalassionema nitzschioides, Paralia sulcata; Bào t? ph?n hoa: Polypodium sp., Cyathea sp., Acrostichum sp., Xylocapus sp.; Vi c? sinh: Rotalia clear, Eponides sp., Globorotaba cultrata.

16m - 21m: g?m b?t-sét màu xám den, xám xanh xen k?p các l?p cát m?n, ch?a m?nh v?n v? sinh v?t và nh?ng ? mùn th?c v?t. Thành ph?n d? h?t: sét chi?m 19,93%; b?t chi?m 62,30%; cát chi?m 17,77%; Md = 0,03; So = 5,32; Sk = 0,26

g n a i G u ? H g n ? t ? H

n 18 e c o 19 l o H 20 g n 21 ? h T 22

23

24

25

26

mQ28

27

28

29

T?o: Cyclotella stylorum, Cyc. striata, Paralia sulcata, Thalassionema nitzschioides; Bào t? ph?n: Acrostichum sp., Polypodium sp., Osmunda sp., Taxodium sp.; Vi c? sinh: Elphidium macellum, Bolivina dilatata, Adellosina pulchella

21m - 34m g?m sét màu xám, xám ph?t h?ng ch?a m?nh v? v? sò ?c và mùn bã th?c v?t có tích t? cacbonat màu vàng d?ng h?ch. Thành ph?n d? h?t: sét chi?m 58,23%; b?t chi?m 31,10%; cát chi?m 10,58%; Md= 0,01; So = 3,77; Sk = 0,92

30

31

32

33

34

35

T?o: không có

36

34-39m: Cát h?t m?n màu xám xanh ch?a v? sò ?c. Ð? h?t thô d?n t? trên xu?ng du?i.

BT-PH: Acrostichum, Polypodium,osmunda, Taxodium

37

38

Vi c? sinh: Elphidium advenum, Pararotaba, asterorotaba

39

amQ27

40

T?o: không có

41

39-44m: Sét màu xám nâu, dan xen v?i b?t cát màu xám den ch?a nhi?u bã th?c v?t và m?nh v? v? sò ?c.

BT-PH: Cyathea sp., Pteris sp., Polypodium sp., Acrotichum sp.

42

43

Vi c? sinh: Pseudorotslis schroeteriana, Rotalia calcar, Elphidium advernum, Emaccellum

44

45

i ? Ð h n ì B g n ? t ? H

46

T?o: vài m?nh v?n centrophyceace

47

48

44-53,5m: Sét màu xám nâu, xám den ch?a nhi?u mùn bã th?c v?t, có ch?a v?y serixit và tích t? cacbonat màu vàng d?ng h?ch. Tr?m tích có phân l?p n?m ngang.

BT-PH: Cyathea sp., Peris sp., Taxodium sp., Cycas sp.

Vi c? sinh: nghèo hoá

49

50

51

52

53

54

53,5-54,5m: Sét màu vàng ch?a th?c v?t hoá than.

55

56

57

BT-PH: polypodium, taxodium Vi c? sinh: nghèo hoá th?ch

54,5-60m: Sét màu vàng nâu, xen các vân m?ch màu tr?ng ch?a ? mùn th?c v?t.

58

59

mQ19

?

M g n o L g n ? t ? H

BT-PH: không g?p

n e 60 c o t 61 s i e l 62 P g 63 n ? h 64 T

Vi c? sinh: nghèo hoá th?ch

65

60-70m: Cát h?t trung thô màu vàng nâu l?n ít sét có s?n th?ch anh và v?t ch?t h?u co.

66

67

68

69

70

BT-PH: không g?p

71

70-73m: S?n s?i màu vàng, vàng nâu l?n ít sét màu d? tía, s?n có kích thu?c 1-6cm.

Vi c? sinh: nghèo hoá th?ch

72

73

74

Ngu?i thành l?p: ThS. Vu Van Hà Ngu?i ki?m tra: PGS.TSKH. Nguy?n Ð?ch D?

138

Hình 4.5. Cột địa tầng lỗ khoan Bến Tre 3

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Ảnh 4.3. Trầm tích hệ tầng Bình Đại tại lỗ khoan BT3, độ sâu (41,7-42,0m)

Hệ tầng Bình Đại có tuổi Holocen sớm, nguồn gốc sông-biển

(amQ21bđ) . Trầm tích Hệ tầng Bình Đại có tuổi Holocen sớm (11.700 -8.000

năm BP), nguồn gốc sông – biển và có bề dày là 19,5m. Trầm tích của hệ tầng

Bình Đại (amQ21bđ) phủ trực tiếp lên hệ tầng Long Mỹ (mQ13lm).

Hệ tầng Bình Đại cũng bắt gặp tại lỗ khoan LKBT2 với mặt cắt tương

tự như lỗ khoan LKBT3.

2hg

4.2.4. Phụ thống Holocen giữa - Hệ tầng Hậu Giang (m, am)Q2

Hệ tầng Hậu Giang được Lê Đức An (1982) thiết lập trên cơ sở khảo

sát đo vẽ bản đồ địa chất – khoáng sản Nam Việt Nam tỷ lệ 1/500.000. Hệ

tầng gồm các thành tạo trầm tích sét, bột cát, đặc biệt sét màu xám xanh tiêu

biểu cho trầm tích nguồn gốc biển. Trầm tích của hệ tầng Hậu Giang chủ yếu

gặp trong các lỗ khoan và phân bố khá rộng rãi ở đồng bằng. Bề dày của hệ

tầng Hậu Giang ở Trà Vinh [121] dao động từ 15m đến 30m.

Trầm tích hệ tầng Hậu Giang được các tác giả trước đây (Lê Đức An,

Nguyễn Huy Dũng…) xếp vào Holocen dưới-giữa [2,16]. Tuy nhiên, Nguyễn

Ngọc Hoa và nnk (1991), Nguyễn Địch Dỹ và nnk (1995) [21] lại xếp trầm

139

tích của hệ tầng Hậu Giang vào Holocen giữa, nguồn gốc trầm tích biển

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

(mQ22hg). Thời gian thành tạo trong khoảng 8.000-3.000 năm cách ngày nay.

Trầm tích hệ tầng Hậu Giang tại khu vực nghiên cứu chỉ gặp trong các

2hg)

lỗ khoan và bao gồm các kiểu nguồn gốc sau:

+ Trầm tích biển (mQ2

Trầm tích biển thuộc hệ tầng Hậu Giang trong vùng nghiên cứu gặp

trong các lỗ khoan tại các độ sâu khác nhau LKST (12,7-26,4m), LKTV (18

– 27,7m), LKBT1 (20,6-27,4m), LKBT2, LKBT3 (16-34m). Bề dày trầm tích

trong các lỗ khoan cũng khác nhau, trong mỗi lỗ khoan, trầm tích biển hệ tầng

2hg dao động từ 6,8m

Hậu Giang được phân chia thành nhiều tập có thành phần khác nhau.

Trong vùng nghiên cứu, bề dày của trầm tích mQ2

2hg trong các lỗ khoan như sau:

đến13,7m, độ sâu phân bố từ 12,7m-18m đến 26,4-36,5m.

2hg) bao gồm 2 tập.

Đặc điểm trầm tích mQ2

+ Tại lỗ khoan Sóc Trăng, trầm tích (mQ2

Tập 1: từ 26,4m đến 20,4m gồm sét bột màu xám xanh, xám trắng,

vàng, nâu đỏ chứa ổ mùn thực vật. Thành phần độ hạt: sét chiếm 55,74%; bột

chiếm 27,61%; cát chiếm 16,24%; kích thước hạt trung bình Md = 0,004 , So

= 3,93; Sk = 1,01. Trầm tích có chứa bào tử phấn hoa: Polypodium sp.,

Salvinia sp., Tsuga sp.; và vi cổ sinh: Adellosina pulchella, Operculina

complanata, Ammonia beccarii. Kết quả phân tích mẫu 14C lấy từ mùn thực

140

vật trong trầm tích ở độ sâu 25,5m có tuổi 4.990 ± 175 năm BP.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2hg tại lỗ khoan Sóc Trăng, độ sâu (21,0-21,3m)

Ảnh 4.4. Trầm tích mQ2

Tập 2: từ 20,4m đến 12,7m gồm sét-bột màu nâu xám, xám đen, có tích

tụ cacbonat màu vàng, chứa mảnh vụn vỏ sò ốc và ít tàn tích thực vật. Thành

phần độ hạt: sét chiếm 44,02%; bột chiếm 45,00%; cát chiếm 10,96%; kích

thước hạt trung bình Md = 0,015 , So = 5,91; Sk = 0,62. Trầm tích có chứa

tảo: Cyclotella stylorum, Paralia sulcata, Cyclotella striata; bào tử phấn hoa:

Lycopodium sp., Cyathea sp., Alsophium sp.; vi cổ sinh: Quinqueloculina

2hg tại lỗ khoan Sóc Trăng, độ sâu (16,0-16,3m)

oblonga, Bolivina dilatata, Trochammina sp., Globorotalia cultrata.

2hg) là

Ảnh 4.5. Trầm tích mQ2

Tổng chiều dày của trầm tích biển, hệ tầng Hậu Giang (mQ2

141

13,7m

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

+ Tại lỗ khoan Trà Vinh, trầm tích (mQ22hg) bao gồm 3 tập.

Tập 1: từ 27,7m đến 24,3m gồm sét màu xám vàng, xám trắng chứa sạn

laterit và mùn bã thực vật. Thành phần độ hạt: sét chiếm 56,67%; bột chiếm

19,47%; cát chiếm 21,87%; kích thước hạt trung bình Md = 0,001; độ chọn

lọc So = 1,97; hệ số đối xứng Sk = 0,92. Trầm tích có chứa bào tử phấn hoa:

Lycopodium sp., Osmunda sp., Cryptomeria sp., Taxodium sp. và vi cổ sinh:

2hg tại lỗ khoan Trà Vinh, độ sâu (25,3-25,7m)

Asterorotaba pulchella, Ammonia beccarii, Bolovina dinatata.

Ảnh 4.6. Trầm tích mQ2

Tập 2: từ 24,3m đến 22,5m gồm cát sạn màu xám đen lẫn sét màu xám

vàng chứa nhiều vỏ ốc và mùn thực vật. Thành phần độ hạt: sét chiếm

17,25%; bột chiếm 20,55%; cát chiếm 62,05%; kích thước hạt trung bình Md

142

= 0,18; độ chọn lọc So = 3,5; hệ số đối xứng Sk = 0,16. Kết quả phân tích mẫu 14C lấy tại độ sâu 22,2m có tuổi 14C là 5.540 ± 300 năm BP.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2hg tại lỗ khoan Trà Vinh, độ sâu (23,3-23,7m)

Ảnh 4.7. Trầm tích mQ2

Tập 3: từ 22,5m đến 18m gồm sét bột màu xám có chứa mùn thực vật.

Thành phần độ hạt: sét chiếm 23,43%; bột chiếm 62,33%; cát chiếm 14,00%;

kích thước hạt trung bình Md = 0,06; độ chọn lọc So = 2,81; hệ số đối xứng

Sk = 1,24. Trầm tích chứa bào tử phấn hoa: Polypodium sp., Cyathea sp.,

Osmunda sp., Acrostichum sp.; và vi cổ sinh: Pseudorotalia schroeteriana,

2hg tại lỗ khoan Trà Vinh, độ sâu (19,0-19,3m)

Bolivina dinatata, Ammonia scapha.

Ảnh 4.8. Trầm tích mQ2

Tổng bề dày trầm tích biển của hệ tầng Hậu Giang tại lỗ khoan Trà Vinh đạt

143

9,7m.

2hg)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10 + Tại lỗ khoan Bến Tre 1, trầm tích Holocen giữa nguồn gốc biển (mQ2

bao gồm 4 tập.

Tập 1: từ 27,4m đến 24,8m gồm cát mịn-bột-sét màu xám xanh, màu vàng

chứa bã thực vật. Thành phần độ hạt: sét chiếm 28,90%; bột chiếm 29,30%;

cát chiếm 41,80%; kích thước hạt trung bình Md = 0,13; độ chọn lọc So =

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 1, độ sâu (26,0-26,3m)

1.21; hệ số đối xứng Sk = 1,04.

Ảnh 4.9. Trầm tích mQ2

Tập 2: từ 24,8m đến 23,3m gồm sét-bột màu xám xanh, xám vàng xen kẹp

các lớp cát mịn màu vàng. Thành phần độ hạt: sét chiếm 59,89%; bột chiếm

31,41%; cát chiếm 8,70%; kích thước hạt trung bình Md = 0,006; độ chọn lọc

kém (So = 4,39); hệ số đối xứng Sk = 0,87. Trầm tích chứa bào tử phấn hoa:

Polypodium sp., Biota sp., Acanthus sp.; và vi cổ sinh: Asterorotalia

144

pullchella, Elphidium advenum, Ammonia beccarii.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 1, độ sâu (23,3-23,7m)

Ảnh 4.10. Trầm tích mQ2

Tập 3: từ 23,3m đến 20,6m gồm sét bột màu xám xanh, xám ghi đến xám

trắng, vàng loang lổ dạng rắn chắc. Thành phần độ hạt: sét chiếm 58,67%; bột

chiếm 32,00%; cát chiếm 9,33%; kích thước hạt trung bình Md = 0,01; độ

chọn lọc So = 4,74; hệ số đối xứng Sk = 0,52. Trầm tích chứa bào tử phấn

hoa: Polipodium sp., Cyathea sp., Osmunda sp., Cedrus sp.; và vi cổ sinh:

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 1, độ sâu (21,7-22,0m)

Asterorotalia pullchella, Elphidium advenum, Ammonia beccarii.

Ảnh 4.11. Trầm tích mQ2

Tập 4 từ 20,6m đến 14,1m gồm sét màu xám nâu chứa ổ mùn thực vật

145

và mảnh vỏ sò ốc. Thành phần độ hạt:sét chiếm 29,63%; bột chiếm 48,40%;

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cát chiếm 21,97%; kích thước hạt trung bình Md = 0,04; độ chọn lọc So =

5,08; hệ số đối xứng0,08. Trầm tích chứa bào tử phấn hoa: Polipodium sp.,

Cyathea sp., Taxodium sp., Larix sp.; và vi cổ sinh: Nonionina depressulla,

Bulimina elegans, Lagena sulcata. Kết quả phân tích 14C của mảnh vỏ sò lấy

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 1, độ sâu (18,0-18,3m)

ở độ sâu 15m cho tuổi 5.860 ± 160 năm BP.

Ảnh 4.12. Trầm tích mQ2

Tổng bề dày trầm tích nguồn gốc biển thuộc hệ tầng Hậu Giang tại lỗ

2hg)

khoan Bến Tre 1 đạt 13,3m.

+Tại lỗ khoan Bến Tre 2 trầm tích Holocen giữa nguồn gốc biển (mQ2

bao gồm 2 tập.

Tập 1: từ 36,5m đến 27,5m gồm sét màu xám đen, xám vàng xen kẹp

lớp cát mịn, bột cát màu xám vàng chứa các ổ, lớp bã mùn thực vật. Thành

phần độ hạt: sét chiếm 27,31%; bột chiếm 32,79%; cát chiếm 39,84%; kích

thước hạt trung bình Md = 0,07; độ chọn lọc So = 3,05; hệ số đối xứng Sk =

0,75. Trầm tích chứa bào tử phần hoa: Polypodium sp., Gleichenia sp.,

Acrostichum sp., Cyathea sp.; vi cổ sinh: Cristellaria sp., Ammonia annecten,

146

Rotalia calcar, Trochammina sp..

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 2, độ sâu (32,7-33,0m)

Ảnh 4.13. Trầm tích mQ2

Tập 2: từ 27,5m đến 22m gồm cát hạt trung mịn màu xám phớt vàng,

giàu mảnh vụn vỏ sò ốc. Thành phần độ hạt: sét chiếm 19,86%; bột chiếm

12,76%; cát chiếm 67,38%; kích thước hạt trung bình Md = 0,14; độ chọn lọc

So = 1.75; hệ số đối xứng Sk = 0,95. Trầm tích có chứa tảo: Pleurosigma

aestuarii, Coscinodiscus lineatus, Thalassionema nitzschilides; bào tử phấn

hoa: Cyathea sp., Osmunda sp., Sphaglum sp., Taxodium sp.; và vi cổ sinh:

147

Amphistegina lessonii, Quinqueloculina boueana, Ammonia beccarii. Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối của mẫu lấy ở độ sâu 22,6m cho tuổi 14C là 3820±125

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 2, độ sâu (25,0-25,3m)

Ảnh 4.14. Trầm tích mQ2

Tổng bề dày trầm tích nguồn gốc biển của hệ tầng Hậu Giang tại lỗ

khoan Bến Tre 2 là 14,5m.

+ Tại lỗ khoan Bến Tre 3, trầm tích biển Holocen giữa gồm 2 tập, với tổng bề

dày là 18m.

Tập 1: từ 34m đến 21m gồm sét màu xám, xám phớt hồng chứa mảnh

vỡ vở sò ốc và mùn bã thực vật có tích tụ cacbonat màu vàng dạng hạch.

Thành phần độ hạt: sét chiếm 58,23%; bột chiếm 31,10%; cát chiếm 10,58%;

kích thước hạt trung bình Md = 0,01; độ chọn lọc So = 3,77; hệ số đối xứng

Sk = 0,92. Trầm tích chứa tảo: Cyclotella stylorum, Cyc. striata, Paralia

sulcata, Thalassionema nitzschioides; bào tử phấn: Acrostichum sp.,

Polypodium sp., Osmunda sp., Taxodium sp.; và vi cổ sinh: Elphidium

macellum, Bolivina dilatata, Adellosina pulchella. Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối của mẫu lấy ở độ sâu 31m có tuổi 14C là 6.030 ± 195 năm BP và tại

148

độ sâu 23m tuổi 14C là 5.060 ± 175 năm BP.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 3, độ sâu (32,3-32,7m)

Ảnh 4.15. Trầm tích mQ2

Tập 2: từ 21m đến 16m gồm bột-sét màu xám đen, xám xanh xen kẹp

các lớp cát mịn, chứa mảnh vụn vỏ sinh vật và những ổ mùn thực vật. Thành

phần độ hạt: sét chiếm 19,93%; bột chiếm 62,30%; cát chiếm 17,77%; kích

thước hạt trung bình Md = 0,03; độ chọn lọc So = 5,32; hệ số đối xứngSk =

0,26. Trầm tích chứa tảo: Cyclotella stylorum, Thalassionema nitzschioides,

Paralia sulcata; bào tử phấn hoa: Polypodium sp., Cyathea sp., Acrostichum

sp., Xylocapus sp.; và vi cổ sinh: Rotalia clear, Eponides sp., Globorotaba

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 3, độ sâu (18,0-18,3m)

cultrata.

2hg

Ảnh 4.16. Trầm tích mQ2

149

+ Trầm tích nguồn gốc sông biển hỗn hợp amQ2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2hg) ở vùng nghiên

Trầm tích Holocen giữa nguồn gốc sông biển (amQ2

cứu chỉ gặp trong các lỗ khoan. Chúng xuất hiện trong các lỗ khoan và phân

bố ở các độ sâu khác nhau LKST (7,6m-12,7m), LKTV (11,1-18,0m),

LKBT1(9,1-14,1m); LKBT2(15-22m); LKBT3 (10,6-16,0). Thành phần trầm

tích khá đồng nhất chủ yếu là cát hạt mịn-trung màu xám đen xen kẹp các lớp

bột sét màu nâu, nâu xám hoặc bột-sét có chứa các thấu kính cát mịn có chứa

vảy mica và mảnh vỏ sò ốc, đôi chỗ có các ổ mùn thực vật.

Đặc điểm trầm tích Holocen giữa nguồn gốc sông-biển hỗn hợp 2hg) trong các lỗ khoan như sau: (amQ2

Tại lỗ khoan Sóc Trăng, chúng phân bố ở độ sâu từ 7,6m đến 12,7m

bao gồm cát mịn màu xám, xám đen, xám nâu đan xen với sét xám nâu chứa

nhiều vảy mica, vỏ sò ốc và các ổ mùn thực vật. Thành phần độ hạt: sét chiếm

19,84; bột chiếm 47,30; cát chiếm 32,86; kích thước hạt trung bình Md = 0,1;

độ chọn lọc tốt So = 1,38; hệ số đối xứng Sk = 0,76. Trầm tích chứa tảo

Diatomea: Cyclotella sp., bào tử phấn Polypodium sp., Cyathea sp., Pteris sp.,

Osmunda sp., Acrostichum sp., Cedrus sp., Suaeda sp., Dipterocarpus sp.,

Hopea sp., Myrtus sp., Malvaceae sp., Tsuga sp., và vi cổ sinh: Asterorotalia

pulchella, A. multipinosa, Elphidium advenum, E. macellum, Ammonia

japonica, Bolivina dinatata, Bolivina nitida, Quinqueloculina ollonga,

Pararotalia sp., Hauerina ornatisima.

Bề dày của trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông biển thuộc hệ tầng Hậu

2hg) cũng xuất hiện trong các lỗ khoan LKTV (dày

Giang tại lỗ khoan Sóc Trăng là 5,1m.

Trầm tích (amQ2

6,9m) , LKBT1 (dày 5m) và LKBT3 (dày 5,4m) và có mặt cắt tương tự trong

150

lỗ khoan Sóc Trăng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Ảnh 4.17. Trầm tích amQ22hg tại lỗ khoan Sóc Trăng, độ sâu (9,7-10m)

Tại lỗ khoan Bến Tre 2, trầm tích amQ22hg phân bố ở độ sâu 15-22m,

gồm bột-sét màu xám, xám đen phớt vàng, đôi chỗ có những thấu kính cát

mịn nằm xen kẹp trong các tập sét. Trầm tích chứa mảnh vỏ sò, ốc và các tích

tụ cacbonat màu vàng. Thành phần độ hạt: sét chiếm 36,94%; bột chiếm

45,64%; cát chiếm 17,42%; kích thước hạt trung bình Md = 0,05; độ chọn lọc

So = 3,40; hệ số đối xứng Sk = 1,11. Trong trầm tích chứa phong phú các các

loài tảo mặn lợ: Thalassionema nitzschioides, Thalassiosira kozlovii,

Nitzschia sicula, Surirella comis, Thalassiosira excentrica, Th. Pacifica,

Coscinodiscus lineatus, Campyloneis aff. Notabilis, Diploneis splendida,

Rhizosolenia stylifornus, Planktoniella sol, Diploneis interrupta, Raphoneis

sp., Actinocyclus ellipticus, Coscinodiscus marginatus, Schuettia annulata,

Pleurosigma normanii, Coscinodiscus subtilis, Navicula directa, Nitzschia

panduriformis, Paralia sulcata, Rhizosolenia bergonii, Rhizosolenia hebetata,

Hyalodiscus scoticus, Cyclotella striata, Trachyneis aspera, Pleurosigma

aestuarii, Diploneis weissflogii, Thalassiosira decipiens, Thalassiosira

oestrupii, Diploneis chersonensis, Plagiogramma sp.; các giống loài vi cổ

sinh đặc trưng cho môi trường biển nông ven bờ: Asterorotalia pulchella, As.

multipinosa, Ammonia japonica, Quinqueloculina oblonga, Q.seminulina,

Trochammina nitida, Bigenerina nodosaria, Elphidium advenum, Nonionina

scaph, Pararotalia sp.. và các dạng bào tử phấn: Cyathea sp., Gleichenia sp.,

151

Acrostichum sp. và các dạng bào tử phấn hoa: Cyathea sp., Osmunda sp.,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10 Sphaglum sp., Taxodium sp.. Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối của mẫu 14C ở

độ sâu 10,25m có tuổi là 3.820 ± 125 năm BP.

Bề dày của trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông biển thuộc hệ tầng Hậu

2hg tại lỗ khoan Bến Tre 2, độ sâu (19,3-19,7m)

Giang tại lỗ khoan Bến Tre 2 là 7m.

Ảnh 4.18. Trầm tích amQ2

3cl

4.2.5. Thống Holocen, phụ thống Holocen trên - Hệ tầng Cửu Long (a, am, amb, ab, mb, m) Q2

Trầm tích Holocen trên tại khu vực nghiên cứu được chia thành hai

phần, phần dưới và phần trên. Các trầm tích Holocen trên phần trên là các

thành tạo trẻ nhất phân bố ở đáy biển dưới dạng các trầm tích tầng mặt. Trên

lục địa, diện phân bố của chúng nằm ở dải ven biển và nằm sâu vào trong

đường bờ (theo hướng vuông góc với đường bờ) khoảng trên 10km.

Holocen trên phần dưới, nằm sâu vào trong lục địa so với các thành tạo

Holocen trên phần trên, diện phân bố khá rộng và kéo dài theo đường bờ.

3 4.2.5.1 Trầm tích Holocen trên - phần dưới: Q2

1

3 1)

152

+Trầm tích biển (mQ2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trầm tích biển (mQ231) lộ trên mặt ở dạng các “giồng” (đường bờ biển

cổ) có hình dáng cánh cung, lưng quay ra phía biển. Các giồng thường có bề

ngang không ổn định, chỗ rộng nhất đạt 1-2km, chỗ hẹp nhất là 200-300m.

Thành phần chủ yếu là cát hạt mịn lẫn ít bột màu nâu vàng, chứa các kết hạch

pisolit. Tại vùng Cai Lậy-Nhị Quỳ-Tân Điệp phát hiện được nhiều vỏ

Pelecypoda, Gastropoda và Foraminifera, xác vỏ sò, điệp, Bào tử phấn và tảo

nước mặn.

Các “giồng” ở Trà Vinh, Thạch Phú, vật liệu chủ yếu là cát hạt mịn

đến vừa màu xám vàng, xám nâu lẫn ít bột sét.

Trong các trầm tích này có chứa nhiều mảnh vỡ vỏ sò bảo tồn tốt, có

nơi chúng tập trung thành lớp mỏng nằm ở độ sâu 1-2m trở xuống (phía tây

bắc Trà Vinh khoảng 1m).

Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối mẫu vỏ sò tại cửa cống Bàng Đa cách

thị trấn Trà Vinh khoảng 10km về phía tây nam có tuổi 14C là 2500 ±70

nămBP.

Bề dày trầm tích thay đổi 5-10m.

3 mQ2 1, tại lỗ khoan TV, độ sâu (0-0,3m)

153

Ảnh 4.19. Cát trung - mịn nguồn gốc biển thuộc phần dưới hệ tầng Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3 1)

+ Trầm tích sông - biển - đầm lầy (ambQ2

Trầm tích này phân bố ở các vùng trũng thấp gần cửa sông Mỹ Tho,

sông Ba Lai và sông Hàm Luông, với diện lộ hẹp, kéo dài thành các dải dọc

theo sông. Trầm tích này có bề dày không lớn, biến đổi từ 1,8 đến 4,5m. Vật

liệu trầm tích chủ yếu là sét bột lẫn ít cát có chứa tàn tích thực vật. Trầm tích

có chứa bào tử phấn hoa với các dạng chủ yếu: Polypodium sp., Cyathea sp.,

Taxodium sp., Biota sp., Cyperus sp., Nymphaea sp.

Trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông - biển - đầm lầy bắt gặp trong nhiều lỗ

khoan, phân bố từ độ sâu 2-3m cho đến độ sâu 6-7m, bề dày khoảng 2-4m.

Trong lỗ khoan LKBT3 trầm tích ambQ231 phân bố ở độ sâu từ 2m đến

6,4m, gồm sét màu xám nâu lẫn ít cát, mảnh vỏ cây và ít vụn vỏ sinh vật.

Trầm tích chứa di tích tảo: Actinocyclus sp., Thalassiosira sp., Paralia

sulcata; bào tử phấn hoa: Polypodium sp., Lygodium sp., Pteris sp., Biota sp.,

Pinus sp.; và các giống loài vi cổ sinh: Trochamimina nitida, Ammonia

japonica, pararotaba. Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối của mẫu vỏ sò lấy ở độ

sâu 5m trong tập trầm tích đầm lầy của lỗ khoan Bến Tre 3 có tuổi 3280 ± 145

3 + Trầm tích sông - biển (amQ2

1)

năm BP.

Các trầm tích này có diện phân bố rộng nằm bao quanh các giồng cát

cổ chắn cửa sông, chủ yếu là nằm về phía trong các giồng cát cổ về phía lục

địa. Thành phần chủ yếu là bột sét lẫn cát mịn màu nâu xám có chứa vảy

mica. Trong các lỗ khoan ở vùng ven bờ, chúng nằm dưới các trầm tích

Holocen trên - phần trên Q232, ở dưới độ sâu khoảng 3-4m đến 7-8m. Trầm

tích có chứa tảo, gồm các dạng: Cyclotelaa stylorum, C. striata,

Thalassionema nitzschioides; bào tử phấn hoa: Polypodium sp., Cyathea sp.,

Dicksonia sp. và các giống loài vi cổ sinh: Ammonia japonica, Trochammina

154

sp., Pararotalia sp.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

4.2.5.2 .Trầm tích Holocen trên - phần trên:

3 2).

+ Trầm tích nguồn gốc aluvi (aQ2

Trầm tích nguồn gốc sông tại khu vực nghiên cứu chủ yếu là các bãi

bồi ven sông hoặc các cù lao giữa sông và trầm tích lòng sông của hệ thống

sông Cửu Long.

Nhìn chung thành phần trầm tích chủ yếu là bột-sét xen lẫn cát hạt mịn.

Mặt cắt trầm tích bãi bồi của sông Tiền và sông Hậu gồm 2 lớp:

- Lớp 1: sét, bột, cát xám nâu, xám vàng dày 0,6-2m. Trong đó sét

chiếm: 70-80%; bột: 20-30%; cát: 1-2%.

- Lớp 2: bột sét pha cát màu xám nâu gụ, trong đó bột: 55-60%; sét: 40-

45%; cát hạt mịn: 3-5%, dày 1-2,5m.

Trầm tích chứa tập hợp bào tử phấn hoa: Lycopodium sp., Sphagnum

sp., Cupressus sp., Pinus sp., Cedrus sp., Melia sp., Taxodium sp., Morus

sp.... Trầm tích vùng gần cửa biển có một vài dạng phấn hoa TVNM:

Acrostichum sp., Acanthus sp.. Nhìn chung, trầm tích sông aQ23 đều tuân

theo quy luật chung là thành phần độ hạt mịn dần theo chiều của dòng chảy và

3

chúng luôn là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng dồi dào.

2)

+ Trầm tích sông - đầm lầy (abQ2

Trầm tích sông đầm lầy phụ thống Holocen trên - phần trên, ở vùng

nghiên cứu lộ ra ngay trên bề mặt, có diện phân bố hẹp và ít phổ biến trong

vùng nghiên cứu. Diện lộ duy nhất trên bản đồ vùng nghiên cứu nằm ở ven

sông Hậu ở khu vực bãi Sào Sắt thuộc huyện Trà Cú, nơi trũng thấp và có

nhiều kênh rạch như rạch Chà Và, rạch Vàm Buôn… Thành phần trầm tích

3 + Trầm tích nguồn gốc hỗn hợp sông - biển (amQ2

2)

155

chủ yếu là bột sét màu xám đen chứa tàn tích thực vật.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trên đất liền, trầm tích amQ232 khá phổ biến ở Sóc Trăng, Trà Vinh và

Bến Tre, với diện lộ lớn ở ven lòng sông và bắt gặp cả trong các lỗ khoan. Bề

dày trầm tích amQ232ở vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long dao động từ

10-20m. Ở vùng ven biển và vào sâu trong nội địa bề dày trầm tích thường bị

vát mỏng chỉ còn khoảng 2-5m, còn ở vùng gần cửa sông hiện tại bề dày lớn

hơn, chúng thường có quan hệ chuyển tướng với trầm tích biển, biển - đầm

lầy - sông cùng mức địa tầng. Thành phần thạch học khá đồng nhất chủ yếu là

sét bột, bột sét phần dưới của mặt cắt có lẫn các thấu kính cát hạt mịn, vỏ sò

ốc. Hàm lượng sét: 70-80%; cát: 20-30%. Trầm tích có màu xám nâu, xám

trắng, xám xanh, xám vàng đôi chỗ bị rỉ đốm, loang đỏ vàng, xuống sâu có

màu xám, xám xanh và có chứa Foraminifera: Asterorotalia sp., Ammonia sp.,

Elphidium sp.. và bào tử phấn hoa gặp một số dạng: Stenochlaena sp.,

Acrostichum sp., Microsium sp., Rhizophora sp., Sonneratia sp., Nypa sp.,

3 Tại các cửa sông (phần ngập nước), trầm tích amQ2

2 gồm bùn cát cửa

Poaceae, Euphorbiaceae...

sông hiện đại được lắng đọng ngay tại cửa sông, phân bố trong phạm vi ngoài

đường bờ và trong các cồn cát ngầm chắn cửa sông. Các trầm tích này có

thành phần chủ yếu là cát bùn tuy nhiên do chế độ thủy động lực liên tục thay

đổi nên thành các cấp hạt có sự thay đổi tương đối theo thời gian và theo các

vị trí khác nhau trên lòng sông. Hàm lượng cấp hạt cát chiếm từ 50-75%, còn

lại là bột sét, vụn vỏ động vật thân mềm được mang đến từ ngoài biển trong

pha triều cường trong ngày. Độ chọn lọc kém (So> 2.8), giá trị pH của trầm

tích đáy dao động từ 7, kt từ 0.9 khi triều kiệt đến pH= 7.8, kt= 1.5 khi triều

cường và Eh luôn luôn dương chứng tỏ môi trường trầm tích vùng cửa sông

liên tục bị biến động.

3 2)

+ Trầm tích biển - đầm lầy (mbQ2

Trầm tích mbQ23 đầm lầy ven biển hiện đại phân bố rải rác ở các vùng

3

trũng thấp. Tại Trà Vinh, Bến Tre chúng nằm xen kẽ với các cồn cát, bề dày

2 khoảng 3-4m. Thành phần gồm bùn sét màu xám nâu,

156

của trầm tích mbQ2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

xám đen lẫn mùn thực vật. Kết quả phân tích thành phần độ hạt: cát chiếm từ

52,14% đến 58%; bột chiếm từ 36,46% đến 39,54%; sét chiếm từ 8,2% đến

7,53%; thành phần hạt trung bình Md = 0,11-0,14; độ chọn lục trung bình So

= 1,96-2,35; hệ số đối xứng Sk = 0,24 - 0,31. Thành phần khoáng vật

Monmorilonit 8-12%; clorit 8-10%; kaolinit 10-15%; hyđromica 15-23%; hệ

số cation trao đổi Kt = 1,12-1,30; pH = 7,6-7,8. Kết quả phân tích cổ sinh gặp

các giống loài đặc trưng cho môi trường đầm lầy ven biển như Tảo:

Coscinodiscus subtilis; Thalassiosira decipiens; Diploneis weissflogii;

Nitzschia panduriformis; Cocconeis placentula; Bào tử phấn gồm có:

Polypodium sp., Cyathea sp., Cyperus sp., Acanthus sp.; Foraminifera gồm

có: Adelosina semireticulata, Ammobaculites sp., Cellathus craticulatus,

Elphidium hippidulum.

3 2)

+ Trầm tích sông - biển - đầm lầy (ambQ2

Phân bố ở khu vực trũng thấp ngay cửa sông và gần đường bờ biển

hoặc ở các cù lao giữa cửa sông với diện tích nhỏ. Ở khu vực Cửa Tiểu, Cửa

Đại, và sông Hàm Luông chúng phân bố rải rác ở hai bên bờ với diện lộ hẹp.

Thành phần là cát, bột, sét màu xám đen có chứa tàn tích thực vật và vỏ sò ốc.

hàm lượng sét và bột có thay đổi trong khoảng 23,31% đến 53,64%, hàm

lượng bột từ 47,48% đến 17,66%, hàm lượng cát khá ổn định, dao động trong

khoảng 21,94% – 29,54%; Kích thước hạt trung bình dao động từ 0,006-

0,039; hệ số đối xứng Sk = 0,16 – 0,46; hệ số chọn lọc trung bình đến kém

(So = 2,0-3,57). Trầm tích chứa di tích tảo Diatomae: Nitzschia sicula;

Cyclolella stylorum; Thalassiosira decipiens; Paralia sulcata; Actinella

brasiliensis; Cymbella lanceolata; Cocconeis placentula; bào tử phấn:

Polypodium sp. ; Cyathea sp.; Nypa sp.; Acanthus sp.; Pinus sp.; Rhizophora

sp., Acrostichum sp.; và vi cổ sinh: Operculina sp.; Amphistegina

madagascariensis; Cellathus craticulatus; Masselma sp.;Trochammina sp.;

Quinqueloculina crenata.

157

+ Trầm tích biển (mQ232)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trầm tích biển phụ thống Holocen trên – phần trên trong khu vực

nghiên cứu phân bố ở ven bờ biển và dưới đáy biển. Chúng tồn tại dưới các

dạng như: các giồng cát ven biển (trên lục địa), các bãi cát ở bờ biển (ngoài

đường bờ); các cồn cát ngầm chắn cửa sông và các trầm tích tiền châu thổ.

* Các giồng cát trên đất liền

Hệ thống giồng cát trẻ nhất phân bố dọc các đường bờ biển hiện đại.

Chúng lộ dưới dạng các doi cát có kích thước khác nhau. Thành phân trầm

chủ yếu có cát hạt mịn, ít bột, sét và mùn hữu cơ; ở vùng xa cửa sông hạt mịn

tăng dần, bột, sét chiếm ưu thế. Trong hầu hết các trầm tích chứa phong phú

các sinh vật biển dạng bám đáy. Bề dày 1-3m.

* Các bãi cát và cồn ngầm:

Các bãi cát ngầm phân bố dọc ven biển dưới dạng các dải cát nằm dọc

đường bờ có bề rộng thay đổi từ vài trăm mét đến khoảng 3km, chúng lộ ra

khi nước thuỷ triều xuống. Thành phần chủ yếu là cát hạt trung - mịn, độ chọn

lọc trung bình. Các bãi cát ngầm nằm chắn trước cửa sông tạo thành dạng cồn

cát nằm chắn ngang cửa sông nằm ở độ sâu dưới mặt nước từ vài chục cm đến

4-5m, các cồn chắn cửa sông được bồi đắp liên tục và cũng bị xói lở liên tục

do tác động của các dòng ven bờ và động lực dòng chảy từ sông. Do vậy hình

thù của chúng biến đổi liên tục theo thời gian.

Các thể trầm tích cát phần ngập nước được hình thành chủ yếu do động

lực của sông và sóng đóng vai trò phân dị, tái vận chuyển và tích tụ nguồn vật

liệu trầm tích dư thừa của sông Cửu Long mang tới. Cát có thành phần ít

khoáng và đa khoáng chủ yếu là thạch anh (65-85%), mảnh đá (15 – 30%),

còn lại hàm lượng thứ yếu là fenspat. Thành phần mảnh đá thường gặp nhất là

silic, quaczit và đá phiến thạch anh serixit.

158

* Trầm tích cát bùn tiền châu thổ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trầm tích cát bùn tiền châu thổ từ bờ ra khơi trầm tích có độ hạt giảm

dần theo độ sâu và tuân theo quy luật phân dị cơ học. Quy luật đó được thể

hiện qua sự phân bố tướng theo trật tự: tướng cát bùn đến tướng bùn cát tiền

châu thổ và chuyển sang tướng bùn sườn châu thổ.

Cát bùn là thực thể trầm tích phổ biến hơn các thể cát có mặt trong các

môi trường lòng cửa sông, bãi triều hỗn hợp và tạo thành các trường rộng lớn

phân bố ven bờ kế tiếp trầm tích cát tiền châu thổ do kết quả phân dị cơ học.

Thành phần độ hạt đa dạng biến thiên từ cấp hạt cát đến cấp hạt sét vì vậy

trầm tích có độ chọn lọc tương đối kém (So >2.5). Trong trầm tích cát bùn tỉ

lệ hàm lượng vỏ động vật thân mềm sống tại chỗ bảo tồn tốt luôn luôn cao

hơn vụn sinh vật ngoại lai bảo tồn kém.

4.2.6. Ứng dụng địa tầng phân tập trong thành lập bản đồ địa chất Holocen – hiện đại vùng nghiên cứu.

Ở nước ta hiện nay, Địa tầng phân tập được các nhà địa chất ứng dụng trong

đo vẽ bản đồ địa chất, nghiên cứu địa tầng, đặc biệt đối với các thành tạo

Kainozoi của các vùng chứa dầu khí vùng thềm lục địa Việt Nam cho những

kết quả rất khả quan. Một số tác giã đã áp dụng địa tầng phân tập vào nghiên

cứu với địa chất Đệ tứ nói chung và Holocen nói riêng (Doãn Đình Lâm, Trần

Nghi, Nguyễn Biểu…). Song, vấn đề địa tầng phân tập còn có những tranh

luận vẫn chưa được thống nhất. Mặc dù vậy, đề tài KC09.06/06-10 vẫn tiến

hành ứng dụng địa tầng phân tập trong thành lập bản đồ địa chất Holocen -

hiện đại vùng nghiên cứu song song các phương pháp truyền thống trong đo

vẽ bản đồ địa chất.

1 SQ1

4.2.6.1 . Thống Holocen - Phụ Thống Holocen hạ - tập 1- Q2

Theo mặt cắt ở LK BT3, các trầm tích thuộc phụ Thống Holocen hạ

(tập1- Q21 SQ1) có thể chia ra các miền hệ thống gồm TST, HST và RST.

1 SQ1 Miền hệ thống biển tiến (TST): Các trầm tích thuộc TST phân bố

a) Q2

159

trong lỗ khoang LKBT3 ở độ sâu 54,5- 53,55m gồm 3 lớp:

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Sét màu nâu, xám sáng chứa nhiều mùn bã thực vật đang hóa than. Dày

0,5 m.

- Lớp thực vật hóa than lẫn ít sét màu vàng. Dày 0,35 m.

- Lớp thực vật hóa than lẫn ít sét màu vàng. (Trầm tích đầm lầy ven hồ

khi nước bắt đầu dâng). Chiều dày 1,05 m.

Tuổi 14C lấy ở độ sâu 53,7-53,8 từ thực vật hóa than là 12.070 năm.

Như vậy tuổi ranh giới ở khoảng 12 000 năm trước ngày nay có lẽ hợp lý.

1 SQ1 Miền hệ thống biển cao (HST). Trầm tích thuộc miền hệ thống

b) Q2

này nằm ở độ sâu 53,55-39,0 m trong lỗ khoan LKBT3, có hơn 10 lớp bột, sét

màu nâu nằm xen kẽ. trong các lớp trầm tích này chứa nhiều vảy mica và tích

tụ carbonat màu vàng dạng hạch, giàu foraminifera với sét màu nâu, đỏ thịt

xen lớp bột màu xám nâu chứa mùn bã thực vật, có vảy xerixit và tích tụ

carbonat màu vàng dạng kết hạch. Trầm tích phân lớp nằm ngang và cát bột

sét màu xám đen chứa nhiều mùn bã thực vật thân gỗ, vỏ ốc, vỏ sò và mảnh

vỡ của chúng. Trong lõi khoan có lẫn vật liệu có kích thước tới 0.2-2cm.

Tóm lại, đây là trầm tích xen kẽ bùn và sét, phần trên xuất hiện các lớp

cát mỏng, hạt nhỏ màu xám, xám nâu, nhiều mùn thực vật, ít vỏ sò, giàu tích

tụ carbonat dạng vi lớp hoăc kết hạch màu vàng thuộc phức hệ trầm tích hồ,

đầm, lầy lục địa. Trong trầm tích có chứa Bào tử phấn (BTP) gồm: Cyathea

sp., Pteris sp., Polypodium sp., Acrostichum sp.,….; vi cổ sinh: Pseudorotalis

Schroeriana, Rotalia calcar, Elphidium advenum, E. maccellum…

1 SQ1 Miền hệ thống biển lùi-RST. Trầm tích thuộc miền hệ thống này

c) Q2

nằm ở độ sâu 39.0 -34.0m thành phần là các lớp bột, cát. Độ hạt thô dần từ

trên xuống dưới.

- Cát hạt mịn màu xám xanh chứa vỏ sò ốc và mảnh vỡ của chúng.

- Bột, sét bột màu xám chứa vỏ sò ốc và mảnh vỡ của chúng và mùn bã

160

thực vật. Dày. Mỗi lớp dày thay đổi từ 0,2-1,0m.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đây là hệ trầm tích biển và đồng bằng ngập lụt chứa các bào tử phấn:

Acrostichum sp., Polypodium sp., Osmunda sp., Taxodium sp.,…; vi cổ sinh:

Elphidium advenum, Pararotalia sp., Astenorotalia sp.

Tổng chiều dày của tập 1 ở LK BT3 20,5m

Chuyển lên tập 2 qua mặt bất chỉnh hợp R3 khá rõ trên tuyến địa chấn và

rõ nét trong LK BT3 ở độ sâu 34,0 m nhờ có sự thay đổi từ lớp cát dày hạt nhỏ sang hệ xen kẽ giữa sét-bột của trầm tích biển tiến và sự khác biệt tuổi 14C.

2 SQ2

4.2.6.2 . Thống Holocen - Phụ Thống Holocen trung - tập 2- Q2

Tập 2 phân bố rộng khắp trên đồng bằng Cửu Long với trầm tích đa

tướng. Trong vùng nghiên cứu gặp trong các lỗ khoan và phần dưới tuyến địa

chấn. Các trầm tích của tập 2 có thể phân chia được 3 miền hệ thống (TST,

HST, và RST).

2 SQ2 Miền hệ thống biển tiến-TST

a) Q2

Trầm tích của miền hệ thống này được xác định trong các lỗ khoan như sau:

Tại LK BT3 chúng phân bố ở độ sâu 32,0-34,0m, gồm các lớp sau:

- Bột cát màu xám, xám đen xen với lớp sét mỏng màu xám phớt hồng,

chứa nhiều mảnh vỡ, mảnh vụn vỏ ốc. Cấu trúc đan xen giữa bột và cát

- Sét bột, bột sét màu xám chứa nhiều mảnh vụn vỡ, vỏ ốc. Cấu trúc

dạng đan xen giữa bột và sét

- Sét màu xám, xám phớt hồng chứa mảnh vỡ vỏ ốc, có các cổ sinh:

Trong các tập trầm tích trên có chứa BTP: Cyclotella tylorum, Cyctriata,

Paralia sulcata, Thalastionema nisschioides; BT-PH: Acrostichum,

Polypodium, Osmunda, Taxodium; Vi cổ sinh: Elphidium macellum, Bolivina

dilatata, Adellosina pulchella.

Tại LK BT2 chúng phân bố ở độ sâu 27,4- 27,0 m, gồm: Cát trung thô

161

màu xám vàng chứa vụn vỏ sò, ốc. Đây là lớp trầm tích cơ sở.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Tại LK BT1 chúng phân bố ở độ sâu 24,15-21,5 m: Dưới mặt bất chỉnh

hợp ở độ sâu 24,15m là cát mịn trung màu đỏ gạch, nâu đỏ, nâu vàng xen kẹp

lớp sét màu trắng, trắng xanh, ít màu xám đen chứa mùn thực vật có tuổi

C14=12200+/- 110 n. thuộc Pleistocen. Trên mặt này có các lớp mỏng sét bột

màu xám xanh, xám đen có nơi phớt vàng chứa BTP: Polipodium, Cyathea,

Osmunda, Cedrus; vi cổ sinh: Asterorotalia, Pullchella, Elphidium Advenum,

Ammonia Beccarit.

Tại LK TV chúng phân bố ở độ sâu 24,3-22,2 m: Ở dưới ranh giới này

là cát trung màu xám, xám vàng chứa nhiều vỏ sò, ốc, lẫn ít hạt sạn, cát sạn

chứa nhiều vỏ ốc, mùn bã thực vật thuộc Pleistocen.

Tại LK ST chúng phân bố ở độ sâu 26,4 -20,4 m: Nằm dưới ranh giới là

sét loang lổ vàng, nâu đỏ, xám trắng chứa nhiều sạn thuộc Pleistocen. Trên

mặt này có các lớp sét, bột, cát nằm xen kẽ. Trong trầm tích có chứa BTP

gồm: Polydium, Salvinia, Tsuga; vi cổ sinh gồm: Adellosina pulchella,

Operculina complanata, Ammonia beccari.

2 SQ2 Miền hệ thống biển cao (HST).

b) Q2

Trầm tích thuộc miền hệ thống này phân bố ở độ sâu từ 34,0 đến 22,0m

trong LKBT3, dày 12,0 m từ dưới lên trên gồm các lớp sét có màu sắc khác

nhau. Trong sét có tích tụ carbonat màu vàng dạng vi lớp, kết hạch, các ổ

bột-cát và mảnh vụn sinh vật. Mỗi lớp dày 0,20-1,0 m. Trong trầm tích

chứa:Tảo: Cyclotella stylorum, Cyctriata, Paralia sulcata, Thalassionema

nizschioides; BTP: Acrostichum, Polypodium, Osmunda, Taxodium; Vi cổ

sinh: Elphidium macellum, Bolivina dilatata, Alellosina pulchella.

Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối (14C)của các mẫu: ở độ sâu 32,8 m có

tuổi 7050+/- 230 năm; ở độ sâu 30,7 m có tuổi 6030+/- 195 năm; ở độ sâu

22,7 m có tuổi 5060+/- 175 năm.

2 SQ2 Miền hệ thống biển lùi-RST.

c) Q2

162

Trầm tích thuộc miền hệ thống này trong LK TV phân bố ở độ sâu 18,0-

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

8,0 m và từ dưới lên có 7 para sequen. Mỗi tập có phần đáy là cát nhỏ, trung

màu xám, lựa chọn tốt với vụn sò thuộc trầm tích bãi triều cao, biển gió sau

cồn và phần trên là bột hoặc sét biển, sông ven biển. Trong trầm tích chứa

BTP: Cyathea, Pteris, Acrostichum, Sequola; vi cổ sinh: Asterorotalia

pulchella, Bolivina dilatata, Ammonia japonica.

Các trầm tích thuộc miền hệ thống này ở LK BT2 tại độ sâu 13,5m có

tuổi 14C là 3860+/- 150 năm.

1 SQ3

4.2.6.3 . Thống Holocen - Phụ Thống Holocen thượng - tập 3- Q2

3 SQ3 Miền hệ thống biển tiến (TST).

a) Q2

Trầm tích miền hệ thống này phân bố ở độ sâu 17,78-17,0 m trong

LKBT3, gồm các lớp sau:

- Sét màu xám xanh xen kẹp lớp bột màu xám nâu, có lớp bã thực vật.

Dày 0,64m.

- Sét màu xám nâu, xám xanh xen kẹp lớp bột mùa xám nâu chứa bã

thực vật. 0,14m

3 SQ3 Miền hệ thống biển cao (HST).

b) Q2

Các trầm tích HST phân bố ở độ sâu17,0-13,0m trong LKBT3, bao gồm các

lớp cát, bột xen kẽ:

- Bột (bột cát) màu xám xanh lẫn ít màu xám xanh phớt vàng.

- Cát mịn, cát bột mùa xám chứa mảnh vụn, mảnh vỡ vỏ ốc. Trong cát có

vảy mica, chứa mảnh vụn vỏ sò ốc và bã thực vật.

Trong trầm tích có chứa Tảo: Cyclotella stylorum, Thalasionema

nitzschioides, Paralia sunleata; BTP: Polipodium, Cyathea, Acrostichum,

Xylocapus; Vi cổ sinh: Rotalia calcar, Eponides, Globorataba cultrata.

3 SQ3 Miền hệ thống biển lùi (RST).

c) Q2

163

Các trầm tích này phân bố ở độ sâu 10,65-0,0 m trong LKBT3 và được phân

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

chia thành 5 para sequen. Phần dưới của tập này là các lớp cát, phân trên là

bột sét:

- Cát hạt trung, nhỏ màu xám đen, xám xanh kẹp các lớp cát mỏng màu

nâu phớt tím. Độ hạt mìn dần từ trên xuống dưới.

- Sét màu xám nâu, nâu xen kẹp lớp cát mịn màu đen, chứa ổ mùn bã

thực vật, có rễ cây và tàn tích thực vật, chứa:

Trong trầm tích có chưa Tảo: Actinocyclus, Thalassionsira, Paralia

sulcata; BTP: Lygodium, Cyathea, Dicksonia, Pteris; Vi cổ sinh: Ammonia

japonica, Quinqueloculina oblonga, Trochammina nitida.

Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối (14C) của mẫu ở độ sâu 5,0 m có tuổi

3280 +/- 185 năm.

Đặc biệt trong miền hệ thống này còn có các trầm tích lòng sông bắt gặp ở

đáy sông, hai bên bờ và các đê, cồn nổi tạo từ các loại cát, bùn có nơi là sét

...Trầm tích nhóm tướng này dễ thấy trên các tuyến địa chạy chạy dọc sông

164

hoặc vuông góc với dòng chảy.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 4.6. Bản đồ địa chất Holocen vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu

165

Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

4. 3. TƯỚNG ĐÁ CỔ ĐỊA LÝ THỜI KỲ HOLOCEN - HIỆN ĐẠI

4.3.1. Tướng đá cổ địa lý thời kỳ đầu Holocen sớm

Từ cuối Pleistocen muộn đến đầu Holocen sớm (khoảng 18.000 đến

11.700 năm đến ngày nay) toàn bộ Đồng bằng Nam Bộ chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ của các hoạt động xâm thực, bóc mòn và phong hoá thấm đọng. Các trầm

tích hạt thô phát hiện trong các lỗ khoan trên thềm lục địa chính là các trầm

tích “dải hệ nước đứng thấp” (Lowstand System Tracts) thể hiện cấu trúc bồi

lấn (progradation deposits) với cấu tạo chồng gối (downlap); các máng trũng

xâm thực phát hiện rõ khoét sâu xuống các thành tạo trầm tích Pleisocen

muộn trong các mặt cắt địa chấn nông phân dải cao. Vào khoảng 11.700 năm

BP đới bờ cổ của giai đoạn này nằm ở mức độ sâu 50÷60m nước so với hiện

tại. Đến đầu Holocen sớm biển bắt đầu dâng cao, các vùng xâm thực bị thu

hẹp lại, xuất hiện các trầm tích tướng lòng sông, tướng bãi bồi, tướng đồng

bằng châu thổ và tướng vịnh cửa sông ứng với các trầm tích “dải hệ biển

tiến” (Transgressive System Tracts) thể hiện bằng cấu trúc bồi lùi

(retrogradational deposits) với cấu tạo kề chồng phủ (onlap). Đến thời kỳ

8000-9000 năm Bp, mực nước biển ở độ sâu -25 đến -30m, tạo thành đới bờ biển cổ.

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các tài liệu nghiên cứu tướng đá trầm

tích, cổ sinh, địa hoá của các lỗ khoan trong vùng nghiên cứu.

Địa hình hai bên sông Hậu gồm tỉnh sóc Trăng, Trà Vinh và Vĩnh Long

là các địa hình nổi cao trong Holocen sớm do đó chịu tác động của quá trình

xâm thực bóc mòn. Tuy nhiên phần ven sông Hậu là các địa hình trũng thoải

về phía lòng sông, vẫn xuất hiện những thành tạo trầm tích bãi bồi. Các lỗ

khoan ở Sóc Trăng (10-ST, lỗ khoan ST-KC09 thuộc đề tài KC09.06/06-10)

và các lỗ khoan ở Trà Vinh (lỗ khoan S122 ở Châu Thành, lỗ khoan TV2, 1. Ngoài ra TV3, TV4 , lỗ khoan 21 Tiểu Cần ) đều không bắt gặp trầm tích Q2

một số khu vực nổi cao của các cù lao sông vẫn ở chế độ bóc mòn, không 1 trong các lỗ khoan của đề tài KC09.06/06-10 như lỗ xuất hiện trầm tích Q2

166

khoan ST xã Trung Bình huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng, lỗ khoan TV tại xã

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Long Hữu huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh, lỗ khoan BT1 tại xã An Nhơn

huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre.

Các trầm tích hạt thô (cát chứa sạn sỏi, cát tướng lòng sông) bắt gặp

trong hầu hết các lỗ khoan phân bố gần với các sông hiện đại. Điều này cho

thấy trong khoảng thời gian này, các lòng sông chính gần như đã ổn định so

với hiện tại. Các cù lao vẫn được bồi đắp và khu vực ven sông vẫn tiếp tục bồi

tụ với các tướng trầm tích bột sét chứa cát với bề dày tập trầm tích trên dưới 1 ở lỗ khoan BT3 tại xã Bình Chiến huyện Bình Đại gồm 10m. Trầm tích Q2

sét bột màu nâu chứa nhiều mùn bã thực vật và các vỏ sò ốc, phân bố từ độ

sâu 45 đến 54m. Tảo có vài mảnh vụn centrophyceace sp.,; bào tử phấn hoa

Cyathea sp., Peris sp., Taxodium sp.,, Cycas sp., vi cổ sinh nghèo hóa thạch.

Trong giai đoạn này đồng bằng châu thổ phát triển rộng ra phía biển

hình thành các trầm tích tướng bột sét pha cát đồng bằng châu thổ có nguồn

gốc sông biển hỗn hợp, xa hơn là các tướng trầm tích bùn sét bờ biển cổ ở độ

sâu khoảng 20m nước.

a. Tướng cát sạn lòng sông

Phân bố ở các lòng sông cổ có thành phần chủ yếu là cát, sạn, sỏi. Trầm

tích cát có màu xám nâu, xám sang đến xám sẫm tồn tại dưới dạng thấu kính

phân bố xen kẽ với trầm tích cát bùn pha sạn thay đổi từ độ sâu 39m (LK

BT3) đến 55m (LK BT2). Cát có độ chọn lọc tốt (So <1.8) và mài tròn trung

bình (Ro = 0.3-0.6). Hàm lượng cấp hạt cát chiếm khoảng 60-80% bao gồm

thạch anh 35-70%, fenspat 10-30% còn lại là mảnh đá. Thành phần mảnh đá

bao gồm chủ yếu là mảnh vụn đá silic, mảnh đá phiến và một lượng nhỏ các

hạt kết vón laterit mài tròn tốt.

Mặt cắt tại các lòng sông từ dưới lên bao gồm các tập sau:

- Sạn sỏi, cát thô, thành phần đa dạng, nhiều mảnh đá, trầm tích chọn lọc kém,

chiều dày thay đổi 0,5m÷2m.

167

- Cát trung thô, cấu tạo phân lớp xiên, đôi chỗ có chứa các mảnh sét kết vón

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

sắt. Trầm tích chọn lọc trung bình, thành phần đa dạng, độ mài tròn trung

bình. Chiều dày thay đổi 3÷5m.

- Cát mịn-trung phân lớp ngang mỏng đến phân dải. Trầm tích chọn lọc tốt,

độ mài tròn trung bình khá, thành phần ít khoáng chủ yếu là thạch anh,

felspat, ít mảnh đá. Chiều dày thay đổi 3÷5m.

- Cát mịn cấu tạo dạng phân dải gợn sóng. Trầm tích chọn lọc tốt, mài tròn

khá tốt, thành phần ít khoáng chủ yếu là thạch anh, ít felspat và mica. Chiều

dày thay đổi 2÷8m.

b. Tướng bột sét pha cát bãi bồi, cù lao sông

Phân bố ở cù lao của các con sông cổ và phần bồi tụ hai bên bờ sông. Mặt cắt

trầm tích bao gồm các tập theo thứ tự từ dưới lên như sau:

- Cát hạt mịn tới trung, phân dải gợn sóng hoặc phân lớp xiên mỏng. Trầm

tích chọn lọc tốt, thành phần ít khoáng, dày 3÷10m.

- Cát pha bột sét, bột sét pha cát phân dải gợn sóng, giàu vật chất hữu cơ và

có nhiều dấu vết sinh vật. Trầm tích chọn lọc trung bình-kém đến kém, dày

2÷3m.

- Bột sét có cấu tạo dạng khối (không rõ cấu tạo), nhiều rễ cây, than cây, than

bùn, vết hằn sinh vật thuộc tướng đầm lầy. Đối với tướng đầm lầy nước lợ và

nước mặn (thuộc cụm tướng đồng bằng châu thổ trên cạn) trong trầm tích

thường gặp mảnh vỏ động vật (vỏ sò, hàu). Dày 5,7m.

c. Tướng cồn cát chắn cửa sông

Những cồn cát này là những cồn cát ngầm tạo thành dải kéo dài theo đường

bờ, chắn ngang cửa sông làm giảm tốc độ của các dòng chảy, đặc biệt là dòng

ngầm tạo điều kiện cho quá trình bồi tích vùng cửa sông, tốc độ trầm tích rất

cao, các quá trình bị xáo trộn bởi không chỉ do dòng chảy mà còn do sóng.

Thành phần chủ yếu là cát mịn, đôi chỗ xen cát chứa sạn sỏi, cát lẫn sạn kẹp

168

các lớp bột sét pha cát thuộc tướng tiền châu thổ. Thành phần thạch học tương

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

đối thuần nhất, chủ yếu là cát thạch anh, cát ít khoáng chọn lọc tốt, mài tròn

khá, cấu tạo phân dải xiên và lượng sóng dòng chảy, màu xám, xám vàng.

Những khu vực lệch so với cửa sông thường có chứa mảnh vỏ sò ốc. Các tập

xen cát chứa sạn-sỏi phản ánh giai đoạn hoạt động mạnh mẽ của chế độ thủy

động lực (dòng chảy của sông, hoạt động mạnh của sóng, thủy triều).

Chiều dày chung của mặt cắt thay đổi 15÷55m. Các trầm tích tướng doi cát

cửa sông có quan hệ cộng sinh với tướng lòng sông hạ lưu hoặc tướng đầm

lầy thuộc nhóm tướng đồng bằng châu thổ, tướng tiền châu thổ.

d. Tướng bùn sét lagun cửa sông

Tướng bùn sét cửa sông chiếm một khối lượng khá lớn trong địa tầng

của Holocen sớm. Các thể trầm tích bùn cát tạo thành các lớp dày từ 5-20m

xen kẽ với trầm tích cát và trầm tích cát bột theo phương thẳng đứng và

phương nằm ngang. Các thể trầm tích này có hàm lượng bột và sét chiếm chủ

yếu khoảng 50-80%. Còn lại là cấp hạt cát. Trong thành phần trầm tích của

cát luôn luôn có mặt một tỉ lệ nhất định các hạt vụn laterit có nguồn gốc từ

tầng sét loang lổ bị laterit hóa tuổi Pleistocen muộn. Độ chọn lọc của trầm

tích rất kém (So>3) là do chứa nhiều thành phần cấp hạt từ sét, bột và cát.

Đường cong tích lũy độ hạt có hình dạng rất thoải và biến thiên không đều đặn là

hoàn toàn phù hợp với đường cong phân bố độ hạt có từ 2 đến 3 đỉnh cực đại.

Mặt cắt tướng trầm tích bùn sét lagun cửa sông giai đoạn Holocen sớm ở khu

vực nghiên cứu từ dưới lên trên gồm:

- Cát, cát pha bột sét, bột sét pha cát có nhiểu ố và dấu vết của hoạt động sinh

vật, lượng cát giảm dần về phía trên, thuộc kiểu bãi triều trung bình. Trầm

tích chọn lọc trung bình-kém đến kém. Dày 2÷4m.

- Bột sét, bột sét pha cát bị nứt nẻ mạnh, cấu tạo phân dải mỏng chứa nhiều di

tích Tảo và sinh vật (tạo thành dải), thuộc kiểu bãi triều cao. Trầm tích chọn

lọc kém, dày trung bình 4-7m.

169

- Bột sét giàu vật chất hữu cơ, nhiều rễ cây, di tích cổ sinh, thuộc kiểu đầm

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

lầy nước mặn. Trầm tích chọn lọc kém, chiều dày 2÷4m phụ thuộc vào mức

độ bảo tồn của mặt cắt.

e. Tướng bột sét pha cát đồng bằng châu thổ

Tướng trầm tích này có diện phân bố rộng, chủ yếu nằm ở phần thấp đồng bằng châu thổ. Thành phần thạch học đặc trưng của tướng đồng bằng

châu thổ là bột sét pha cát xen kẹp bột sét, chứa nhiều mùn thực vật, rễ cây, mảnh thân cây hoá than và chứa mảnh vỏ sò ốc, vỏ hàu. Trầm tích chọn lọc kém, thành phần khoáng vật sét chủ yếu là hydromica-montmorilonit-caolinit. Chiều dày thay đổi 3÷5m. Các trầm tích này thường phủ trực tiếp trên các trầm tích tướng lòng sông hạ lưu và chuyển tiếp lên các trầm tích tiền châu thổ.

Nhìn chung, các trầm tích đồng bằng châu thổ là các trầm tích hạt mịn,

tuy nhiên, trong các mặt cắt, khó có sự phân biệt rạch ròi giữa các trầm tích

tướng lòng sông hạ lưu với các trầm tích thuộc cụm tướng đồng bằng châu

thổ. Bởi vì do tính chất không ổn định của đồng bằng châu thổ, các lòng sông

hạ lưu thường có xu thế thay đổi hướng dòng chảy liên tục và tạo thêm các

dòng chảy nhánh. Các dòng chảy này có thời gian tồn tại không dài, thậm chí

chỉ trong vài chục năm (đối với các kiểu tướng vỡ đê “crevasse splay”).

g. Tướng bùn sét tiền châu thổ

Đặc trưng về thành phần thạch học là bột sét, sét, sét bột nén ép chắc, có cấu

tạo phân dải mỏng song song hoặc thấu kính (quan sát nhờ sự thay đổi màu

của sét và các loại quá trình đồng sinh: mangan kết hạch, sợi hữu cơ, mảnh vỏ

sò). Sự hiện diện của các lớp cát bột thường đáy dấu ranh giới đáy một cách

rõ nét, chúng thường có sự phân cấp độ hạt mịn dần từ dưới lên trên. Một

trong những đặc trưng khác đó là sự phổ biến các hang hốc được lấp đầy bởi

vỏ Trùng lỗ, sinh vật biển nhỏ và mảnh vỏ sò ốc. Các trầm tích thứ sinh của

170

pyrit, siderit sẽ tạo đường theo các hang dốc của sinh vật.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

171

Hình 4.7. Bản đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ đầu Holocen sớm

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

4.3.2. Tướng đá cổ địa lý thời kỳ cuối Holocen sớm - đầu Holocen giữa

Vào cuối thời kỳ Holocen sớm - đầu Holocen giữa, biển tiến Flandrian

đã vượt qua đường bờ hiện tại, đi sâu vào đất liền so với đường bờ hiện tại

khoảng 1-2km, nhóm tướng trầm tích biển (tiền châu thổ) lấn sâu vào trong

đất liền.

2): bao gồm Nhóm tướng bãi triều cổ

a. Các nhóm tướng ven biển cổ (amQ2

(1) , Nhóm tướng đầm lầy ven biển cổ (2) , Nhóm tướng cửa sông (3).

Trong các lỗ khoan máy BT3, BT2, BT1 bắt gặp các tướng cát bãi triều

cát và bùn bãi triều lầy ở độ sâu từ 39-55 Trầm tích bãi triều cát chọn lọc tốt

đến trung bình còn trầm tích bùn bãi triều lầy được chọn lọc rất kém do chứa

nhiều thành phần cấp hạt khác nhau. Tuy nhiên, hai kiểu bãi triều này đều

thuộc đới chuyển tiếp nên có các giá trị chỉ tiêu địa hóa môi trường tương đối

giống nhau (pH = 7-7.8, kt = 0.8-1.6).

Trên bản đồ tướng đá cổ địa lí giai đoạn Holocen sớm đã thể hiện đới

bờ cổ nằm sâu hơn đường bờ hiện đại khoảng 1-2 km. Một loạt các tướng

trầm tích ven biển cổ cộng sinh với nhau theo không gian và theo thời gian.

Theo không gian có thể tìm thấy các tướng bùn đầm lầy ven biển chuyển sang

tướng cát lòng cửa sông, cát cồn chắn cửa sông và tướng bùn lagun cửa sông.

Theo mặt cắt từ dưới lên có sự thay thế tướng từ nhóm tướng cồn cát chắn

cửa sông lên bùn sét bãi triều và kết thúc là bùn sét đầm lầy ven biển cổ. Điều

đó đã chứng minh hết sức sinh động cho quá trình cân bằng trầm tích của

vùng cửa sông Cửu Long kéo dài trong suốt 3000 năm (từ 10000-7000 năm

BP) phản ảnh mối quan hệ chặt chẽ giữa 3 yêu tố : sự dịch chuyển ngang của

lòng sông, sự sụt lún kiến tạo thẳng đứng và sự đền bù trầm tích rất nhanh

trong khung cảnh biển tiến Flandrian (trung bình 4.6mm/năm).

3b): gồm tướng cát lòng sông (4) , Tướng bột sét

b. Nhóm tướng sông (aQ1

172

bãi bồi (5).

1): gồm tướng bùn biển nông ven bờ (sườn và

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10 c. Nhóm tướng biển cổ (mQ2

tiền châu thổ cổ)(6), tướng cát và cát sạn biển nông (7).

d. Tướng trầm tích bùn biển nông ven bờ: thực chất là châu thổ ngập nước

biển tiến (ma) khác với châu thổ ngập nước biển thoái (am). Trong thời gian

từ 10000-7000 năm cách ngày nay khi đới bờ khá bình ổn thì diện phân bố

của tướng bùn biển nông ven bờ dường như cũng không thay đổi.

e. Tướng cát và cát sạn biển nông: phân bố xa bờ hơn từ 25m nước trở ra là

sản phẩm tái phá hủy và tái trầm tích của pha biển tiến Holocen sớm. Ranh

giới giữa thực thể trầm tích này với thực thể trầm tích Pleistocen muộn biển

thoái là bề mặt bào mòn biển tiến (ravinement) do hoạt động của sóng và

triều. Bởi vậy thành phần trầm tích cát luôn luôn chứa một hàm lượng nhất

173

định hạt vụn laterit có nguồn gốc từ tầng sét loang lổ như trên đã phân tích..

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

174

Hình 4.8. Bản đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ cuối Holocen sớm - đầu Holocen giữa

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

4.3.3. Tướng đá cổ địa lý thời kỳ Holocen muộn

3a)

4.3.3.1 Ttướng trầm tích Holocen muộn, phần sớm (Q2

3a)

a. Tướng cát cồn chắn cửa sông cổ (giồng cát) (amSQ2

Tướng cát cồn chắn cửa sông (trên bản đồ kí hiệu số 1), có dạng lưỡi

liềm, hình cánh cung đơn giản hoặc tạo thành từng chùm phân nhánh phức tạp

quay lưng ra phía biển. Người đồng bằng Nam Bộ gọi các cồn cát chắn cửa

sông cổ này là giồng cát. Thành phần cấp hạt của thực thể trầm tích này cát là

chủ yếu (60-80%), còn lại là bột sét và vụn vỏ sò vì vậy đã tạo nên màu vàng

nâu đặc trưng cho môi trường oxi hóa. Các giồng cát có độ cao thay đổi từ 2–

7m, rộng từ 100 – 3000m, phân bố có quy luật thành từng hệ thống hình vòng

cung cách nhau từ 3-10km, chạy song song với đường bờ hiện đại. Chúng để

lại dấu ấn các thế hệ đường bờ cổ trong quá trình bồi tụ tăng trưởng chuyển từ

nhóm tướng tiền châu thổ cổ sang nhóm tướng đồng bằng châu thổ hiện đại.

Nhờ có các thế hệ giồng cát này mà đồng bằng châu thổ khu vực nghiên cứu

có địa hình lượn sóng đặc trưng có tuổi trẻ dần từ đất liền ra biển. Cũng tương

tự như các cồn chắn cửa sông hiện đại các giồng cát là sản phẩm của quá trình

tái trầm tích theo cơ chế vun cao do sóng và dòng chảy ven bờ. Giai đoạn đầu

vật liệu trầm tích của sông Cửu Long mang tới với khối lượng rất lớn bao

gồm thành phần cát bột sét chưa được chọn lọc lắng đọng nhanh làm mở rộng

và nâng cao địa hình đáy biển vùng tiền châu thổ. Giai đoạn thứ hai khi đáy

biển đạt tới độ sâu nhỏ hơn một nửa độ cao bước sóng thì sẽ xuất hiện một

đới sóng vỡ hay đới sóng tan. Tại đó năng lượng của sóng đạt cực đại đã làm

xáo trộn trầm tích đáy và tái phân bố tại chỗ thành phần cát theo cơ chế vun

cao dần còn cấp hạt bột và sét thì được mang đi do dòng chảy ven bờ và dòng

ngang của sóng. Khi quan sát các cồn chắn cửa sông hiện đại đã trưởng thành

ta thấy đó chính là các đảo cát. Độ cao của đảo cát lớn hơn độ cao của mực

nước biển hiện đại phản ánh sự chênh lệch độ cao giữa mực nước biển mùa

nước dâng do bão so với mực nước biển có thời tiết bình thường. Vì vậy cát

của cồn chắn cửa sông luôn luôn có độ chọn lọc tốt (So << 1.5) và mài tròn từ

175

trung bình đến tốt (Ro >0.5).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3a)

b. Tướng bùn đồng bằng châu thổ(amf/MQ2

Tướng bùn đồng bằng châu thổ (có kí hiệu số 2 trên bản đồ) phân bố

rộng rãi chiếm diện tích chủ yếu phần đất liền của khu vực nghiên cứu. Xen

kẽ giữa các tướng bùn đồng bằng châu thổ là tướng cồn cát và bùn đầm lầy

cổ. Tướng bùn đồng bằng châu thổ bao gồm chủ yếu là bột sét (50-70%) còn

lại là cát hạt nhỏ có màu xám nâu đến xám đen được thành tạo chủ yếu do

lắng động phù sa vùng đồng bằng cửa sông trong thời kì ngập lụt của mùa

nước dâng sông biển. Vì vậy trầm tích có độ chọn lọc kém (So > 3.0) luôn

luôn chứa một hàm lượng đáng kể di tích cành cây và lá cây, đôi khi có vụn

vỏ động vật nước lợ. Giá trị pH của trầm tích sét thay đổi từ 6.9-7.5, Eh từ -

20mv đến + 150mv, kt =0.7-1.4 đã thể hiện môi trường nước lợ chuyển tiếp

giữa sông và biển.

3a)

c. Tướng bùn đầm lầy ven biển cổ (amb/MQ2

Tướng bùn đầm lầy ven biển cổ (kí hiệu số 3 trên bản đồ) phân bố

thành những dải hẹp xen kẽ với tướng bùn đồng bằng châu thổ cổ và tướng

cồn chắn cửa sông cổ tạo nên địa hình trũng thấp chạy song song với đường

bờ biển cổ. Trầm tích có màu đen và xám đen chủ yếu là bột sét (50-80%) còn

lại là cấp hạt cát và tàn tích vật chất hữu cơ đang phân hủy. Đôi nơi gặp các

vỉa than bùn dạng đẳng thước nằm ở độ sâu từ 0.5-2m. Giá trị độ pH và Eh

trong trầm tích bùn thay đổi theo màu sắc và thành phần độ hạt. Những nơi có

thành phần trầm tích bùn màu đen thì Eh luôn luôn nhỏ hơn 0 và pH cũng khá

thấp dao động trong khoảng 4-7.5. Điều đó được lí giải bởi môi trường đầm

lầy hóa có chế độ khử thống trị do phân hủy vật chất hữu cơ trong điều kiện thiếu oxi đồng thời giải phóng khí H2S và làm giàu Fe2+. Do đó trong trầm

tích xuất hiện nhiều khoáng vật pyrite (FeS2) tại sinh. Khi một phần sunfua bị

sunfat hóa môi trường có phản ứng axit làm pH giảm từ >7.5 (đặc trưng môi

trường chuyển tiếp) xuống < 5 (đặc trưng môi trường đầm lầy).

3a)

176

d. Tướng cát bùn lòng sông cổ tàn dư (amc/mSQ2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trên bản đồ tướng cát bùn lòng sông cổ tàn dư (kí hiệu số 4) tạo thành

các thể trầm tích kéo dài có địa hình hơi trũng xuống chạy song song với

hướng dòng chảy của sông hiện đại. Trầm tích có màu xám nâu, xám đen chủ

yếu là cát chiếm từ 50-70% còn lại là bột sét và chứa một lượng nhỏ di tích

thực vật bảo tồn kém. Độ chọn lọc rất kém (So >3.5) của trầm tích cát bùn và

đường cong phân bố độ hạt luôn luôn có trên 2 đỉnh cực đại đã minh chứng

cho môi trường thủy động lực phức tạp trong quá trình sông dịch chuyển

ngang và thoái hóa

3b)

4.3.3.2 Ttướng trầm tích Holocen muộn, phần muộn (Q2

3b)

a. Tướng cát bùn lòng cửa sông hiện đại (amc/mSQ2

Tướng cát bùn lòng cửa sông hiện đại phân bố ở các khu vực cửa sông

Định An, Tranh Đề và Hàm Luông có kí hiệu số 5 trên bản đồ. Tướng trầm

tích này có thành phần chủ yếu là cát bùn tuy nhiên do chế độ thủy động lực

liên tục thay đổi nên thành các cấp hạt có sự thay đổi tương đối theo thời gian

và theo các vị trí khác nhau trên lòng sông. Hàm lượng cấp hạt cát chiếm từ

50-75%, còn lại là bột sét, vụn vỏ động vật thân mềm được mang đến từ ngoài

biển trong pha triều cường trong ngày. Độ chọn lọc kém (So> 2.8), giá trị pH

của trầm tích đáy dao động từ 7, kt từ 0.9 khi triều kiệt đến pH= 7.8, kt= 1.5

khi triều cường và Eh luôn luôn dương chứng tỏ môi trường trầm tích vùng

cửa sông liên tục bị biến động.

3b)

b. Tướng cát cồn cửa sông hiện đại (amc/SQ2

Trên bản đồ tướng cát cồn cửa sông hiện đại kí hiệu số 6. Tướng trầm

tích này phân bố ở tất cả các cửa sông của khu vực nghiên cứu có dạng kéo

dài song song với lòng sông hiện đại. Các cồn cát giữa sông có độ chọn lọc từ

trung bình đến tốt được thành tạo chủ yếu do động lực dòng chảy của sông

trong mối quan hệ với chế độ triều thay đổi . Quy mô của các cồn cửa sông

phụ thuộc vào lưu lượng dòng chảy và nguồn phù sa cung cấp. Sự biến động

của cồn cát cửa sông là đồng thời với sự dịch chuyển lòng sông từ tây nam lên

177

đông bắc.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3b)

c. Tướng bùn đầm lầy ven sông hiện đại (amf/MQ2

Trên bản đồ tướng bùn đầm lầy ven sông được kí hiệu số 7. Ở khu vực

hạ lưu đồng bằng châu thổ hiện đại ven bờ tất cả các con sông lớn rất phổ

biến tướng các đầm lầy thấp ven sông. Địa hình các tướng trầm tích này hầu

hết đang có xu thế được bồi đắp hàng năm. Tuy nhiên một số nơi thì đang xẩy

ra hiện tượng xâm nhập mặn và xói lở bờ sông. Đi dọc sông chúng ta có thể

quan sát thấy các cảnh quan của đầm lầy vùng nước lợ đặc trưng là rừng dừa

nước, rừng mắm và bần, rừng tràm xen các loại cây bụi và cây cỏ đầm lầy.

Trên các miền đát thấp này một vài nơi thường xuyên bị sình lầy tạo nên một

cảnh quan đất ngập nước(wet land) ven sông và có các hệ thống kênh rạch

chảy ra sông tương tự như lạch thoát triều ven biển. Trầm tích bùn thường có

màu đen độ chọn lọc kém chứa nhiều mùn bã hữu cơ và vật liệu thực vật đang

phân hủy. Trong khu vực phân bố tướng bùn đầm lầy ven sông có nhiều thấu

kính than bùn đang phân hủy dở dang có nguồn gốc lòng sông cổ.

d. Nhóm các tướng tiền châu thổ ven bờ

3b ), (9)Tướng bùn cát lạch triều (amc/mSQ2

(am/SQ2

3b), (12) Tướng bùn lagun cửa sông (aml/MQ23b)

Bao gồm các tướng sau: (8) Tướng cát cồn chắn cửa sông hiện đại 3b), (10) Tướng cát bãi 3b), (11) Tướng bùn bãi triều lầy hiện đại triều có sóng mạnh (amt/SQ2

(amb/MQ2

Tướng cát cồn chắn cửa sông hiện đại được kí hiệu số 8 trên bản đồ

chạy song song với đường bờ hiện đại phân bố ở hai phía cửa sông. Đây là

kiểu tướng điển hình và phổ biến của châu thổ bồi tụ mạnh như sông Cửu

Long. Như đã trình bày ở mục (1) các cồn chắn cửa sông là sản phẩm của quá

trình tái trầm tích do hoạt động của sóng và các dòng chảy ven bờ. Các thể cát

có độ chọn lọc tốt (So <1.8), độ mài tròn từ trung bình đến tốt (Ro >0.4) đã

chứng minh cho môi trường thủy động lực có sóng mạnh và lặp lại lâu dài.

Khi các cồn chắn cửa sông đã nổi cao vĩnh viển trên mặt nước biển thì phía

bên trong giữa cồn và đất liền trở thành một thủy vực mới có môi trường trầm

178

tích khá yên tĩnh gọi là lagun cửa sông (số 12). Tướng bùn lagun cửa sông

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

hiện đại bắt đầu xuất hiện từ khi hình thành cồn chắn cửa sông và biến đổi

liên tục đồng thời với biến đổi thủy vực. Quá trình trầm tích xẩy ra theo cơ

chế lấp đầy hồi quy, dần dần biến thủy vực rộng lớn thành lạch triều hẹp (số

9) và xuất hiện những cảnh quan rừng ngập mặn điển hình của đới ven biển

châu thổ sông Cửu Long. Cảnh quan đó thuộc tướng đầm lầy ven biển hiên

đại (số 11) phát triển trên các hệ thống lạch triều đã bị lấp cạn thoái hóa hoặc

hai bên bờ lạch triều đang hoạt động.

Ven biển hiện đại trước các cửa sông Tranh Đề, Định An và Hàm

Luông là phân bố các tướng bùn bãi triều (số 11) và tướng cát bãi triều (số 12)

xen kẽ nhau tùy thuộc vào chế độ thủy động lực ven bờ. Các đoạn bờ biển hở

có sóng hoạt động mạnh tạo nên các tướng cát bãi triều bao gồm trên 80% cấp

hạt cát, phần còn lại là bột sét và vật liệu vụn vỏ sò bảo tồn kém và tàn tích

thực vật. Tướng cát bãi triều có độ chọn lọc từ trung bình đến tốt (So < 1.8)

phụ thuộc vào hàm lượng bột sét chứa trong trầm tích. Những bãi triều cát có

chiều rộng (30-100m) thường hẹp hơn bãi triều lầy (100-2000m). Giữa chúng

cũng khác nhau về độ cao và độ dốc, bãi triều cát có địa hình cao và dốc.

Chúng thường được phát triển gắn liền với các tướng cồn chắn cửa sông. Còn

tướng bùn bãi triều ven biển hiện đại lại gắn liền với các đồng bằng thấp của

cửa biển hoặc các lạch triều ở phía trong các đảo chắn (inlet) .

d. Nhóm các tướng phân bố ở phần ngập nước

Bao gồm 4 tướng: (13)Tướng cát bùn tiền châu thổ hiện đai (ma/mSQ2

3b), 3b), (15) Tướng bùn sườn ), (16) Tướng cát bùn biển nông ven bờ

(14) Tướng bùn cát tiền châu thổ hiện đại (ma/sMQ2

3b).

châu thổ hiện đại (ma/MQ2

(m/mSQ2

Các tướng trầm tích tuổi Holocen muộn phân bố từ 0-20m nước trong

khuôn viên của tiền châu thổ và sườn châu thổ hiện đại. Từ bờ ra khơi trầm

tích có độ hạt giảm dần theo độ sâu và tuân theo quy luật phân dị cơ học. Quy

luật đó được thể hiện qua sự phân bố tướng theo trật tự: tướng cát bùn đến

179

tướng bùn cát tiền châu thổ và cuối cùng là tướng bùn sườn châu thổ. Có thể

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nói tương tự như châu thổ sông Hồng châu thổ sông Cửu Long thuộc một

trong hai châu thổ bồi tụ điển hình của nước ta. Từ đất liền ra biển có sự phân

đới theo hình rẽ quạt. Đường bờ hiện đại là ranh giới của nhóm tướng đồng

bằng châu thổ (deltaic plain) và tiền châu thổ (deltaic front), còn đường đẳng

sâu 20m là ranh giới giữa nhóm tướng tiền châu thổ và sườn châu thổ

(prodelta) Theo hướng đó thành phần độ hạt và thành phần khoáng vật cũng

biến thiên phụ thuộc vào các yếu tố: nguồn cung cấp vật liệu, thành phần vật

chất, quá trình vận chuyển và lắng đọng trầm tích trong mối quan hệ với các

yếu tố thủy động lực trực tiếp như sóng và dòng ngang do sóng, dòng chảy

của sông từ lục địa ra biển, dòng chảy ven bờ, triều và dòng chảy do thủy

triều tạo ra. Kết quả các tướng trầm tích được phân biệt không chỉ dựa vào

kiểu trầm tích nhận ra bằng mắt thường mà bằng các tham số trầm tích định

lượng (Md, So, Ro, pH, Eh, Kt, Chc, Fe, khoáng vật sét, glauconit, cacbonat,

thành phần hóa học của trầm tích…).

Khi độ sâu tăng lên Md giảm, hàm lượng bột sét tăng lên từ 20-30%

(tướng cát bùn) đến 30-40% (tướng bùn cát tiền châu thổ) và cuối cùng đạt tới

50-70% (tướng bùn sườn châu thổ). Theo chiều hướng đó độ chọn lọc có xu

thế giảm đi, trị số So tăng dần từ 2.5 (tướng cát bùn tiền châu thổ) đến 3.5

(tướng bùn sườn châu thổ).

Trường 16 trên bản đồ môi trường trầm tích tầng mặt biểu diễn tướng

trầm tích cát bùn. Đây là đới trầm tích hỗn hợp giữa phần cũ và mới do tái

vận chuyển và lắng đọng của dòng đáy từ giai đoạn Holocen muộn đến nay.

Phần cũ là trầm tích cát pha sạn tuổi Holocen sớm-giữa được lắng đọng trong

pha biển tiến Flandrian, còn phần mới là trầm tích bùn sườn châu thổ được

lắng đọng trong pha biển thoái Holocen muộn đến nay. Do thành phần độ hạt

phức tạp đặc biệt là xuất hiện một hàm lượng đáng kể sạn cát laterit nên

tướng trầm tích này có độ chọn lọc kém nhất (So >> 3.5) so với các tướng

180

trầm tích khác của châu thổ ngập nước.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

181

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

182

Hình 4.9. Bản đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Holocen muộn

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 5: BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ

SÔNG CỬU LONG

5. 1. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỘNG VÙNG CỬA SÔNG

Nghiên cứu biến động cửa sông ven bờ châu thổ Sông Cửu Long theo không gian và thời gian (trong Holocen - hiện đại), được xem xét từ các nhân tố tác động tới các đối tượng nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh.

5.1.1. Các nhân tố tác động nội sinh

Theo sơ đồ phân vùng tân kiến tạo - kiến tạo hiện đại, vùng ven bờ châu

thổ sông Cửu Long của PGS.TS Chu Văn Ngợi và nnk vùng nghiên cứu nằm

trong phạm vi khống chế của 3 đứt gãy sâu: đứt gãy sông Hậu, đứt gãy Lộc

Ninh - Vũng Tàu và đứt gãy Thuận Hải-Minh Hải (Phan Thiết - Cà Mau).

Ba đứt gãy này hoạt động mạnh trong Kainozoi và đã chia khu vực ra 3

khối kiến trúc: khối nâng Đồng Nai-Vũng Tàu, khối sụt Sông Hậu-Sông Tiền

và khối nâng Hà Tiên- Kiên Giang. Trong phạm vi 3 khối phát triển các

đứt gãy bậc cao hơn có ảnh hưởng đến sự phát triển của nội khối (khối sụt

sông Hậu-sông Tiền), như đã trình bày ở phần 1.

Chính hệ đứt gãy VNC đã góp phần quyết định hình thái và xu thế phát

triển của sông Hậu và sông Tiền tại khu vực các cửa sông, một trong những

nhân tố phát triển của bờ biển trong giai đoạn hiện nay. Đứt gãy Thuận Hải-

Minh Hải (Phan Thiết-Cà Mau) là ranh giới giữa khối nâng tương đối dọc bờ

và khối sụt ven bờ.

Có thể nhìn nhận hệ thống đứt gãy ở đồng bằng sông Cửu Long nói

chung và vùng nghiên cứu nói riêng là những ranh giới giữa các khối nâng,

khối sụt làm thay đổi bề dày trầm tích Đệ tứ cũng như trầm tích Holocen-hiện

đại tại các cửa sông ven bờ châu thổ sông Cửu Long. Mặt khác, do hoạt động

Tân kiến tạo, địa động lực hiện đại đã tạo điều kiện cho các quá trình khoét

đáy tạo cửa sông hình phễu hoặc cửa sông lưỡng tính.

Nhìn từ góc độ cấu tạo địa chất trong khu vực các cửa sông ven biển của

183

sông Hậu và sông Tiền, theo tuổi địa chất và đặc điểm trầm tích cho thấy trầm

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tích ở đây là trầm tích bở rời có tuổi Đệ tứ chủ yếu là cát bột, bùn, sét ... được

phân bố rộng rãi ở vùng cửa sông, đồng bằng ven biển với các dạng giồng cát,

doi cát, val cát, cồn cát, bãi cát và cù lao. Thường các trầm tích hạt mịn bở rời

nằm sát mực nước biển hiện đại có tuổi Holocen, các trầm tích bở rời nằm ở

độ cao trên 4m có tuổi Pleistocen, chính các trầm tích Holocen đã tạo nên các

bề mặt của đồng bằng delta ven biển.

Đại bộ phận diện tích đồng bằng ven biển Cửu Long trong đó có vùng

nghiên cứu của đề tài KC09.06/06-10 có cấu tạo từ các trầm tích bờ rời đa

nguồn gốc, chủ yếu là các thành tạo trầm tích có nguồn gốc sông-biển, sông-

biển-đầm lầy, biển-đầm lầy và trầm tích biển. Vì vậy, tác động của các tác

nhân như động lực sông, biển tới các vật liệu bở rời làm biến đổi hình thái địa

hình ở vùng cửa sông.

Tại vùng từ 0-20m nước trầm tích đáy biển thường được quan tâm là

trầm tích hiện đại tầng mặt chủ yếu là cát nhỏ, bột cát, bột sét và bùn sét. Đây

là vùng phân bố trầm tích đáy, nơi phân bố các trầm tích hiện đại, trầm tích

tầng mặt. Theo những kết quả nghiên cứu của những tác giả như: Trần Như

Hối, Trần Nghi và nnk, trầm tích cát nhỏ, chúng thường phân bố ở đáy trục

lòng dẫn cửa sông hoặc ở dưới các dạng doi, val cát ngầm. Trầm tích bùn sét

và bột sét phân bố trên bãi triều cửa sông nơi có rừng ngập mặn phát triển còn

bột sét phân bố ở phía ngoài biển thường nằm ở độ sâu trên 5m nước trở ra ít

bị tác động của quá trình động lực sóng, căn cứ vào diện phân bố của các loại

trầm tích hiện đại tầng mặt cho thấy ở khu vực nghiên cứu (0-20m) có môi

trường động lực biển không lớn.

5.1.2. Các nhân tố tác động ngoại sinh

a. Nhân tố tác động địa hình, địa mạo

Châu thổ sông Cửu Long là một đồng bằng bồi tích bằng phẳng bị chia

cắt bởi các tuyến sông chính là sông Tiền, sông Hậu và các nhánh của chúng

với một mạng lưới kênh rạch chằng chịt giữa các tuyến sông chính và nối

thông với các hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống các sông miền Tây đổ ra

184

vịnh Thái Lan. Bề mặt châu thổ gồm phân châu thổ cao và châu thổ thấp,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

phân châu thổ cao trừ giồng cát ven sông và dải phù sa hai bờn bờ sông do sự

lắng đọng vật liệu vào mùa lũ vượt bờ tạo thành, còn phân lớn là những vùng

trũng rộng lớn, Phần châu thổ thấp nơi sông Tiền và sông Hậu phân nhánh

bao gồm những phần đất nổi nằm tiếp giáp với biển và phần châu thổ ngầm.

Giồng ven sông đã hạ thấp đến mức khó nhận nhưng các cồn cát duyên hải

cao đến 5m đã trở thành những dạng địa hình quan trọng. Một dạng địa hình

khác khá phổ biến ở cửa sông là hàng trăm cù lao lớn nhỏ mà Cù Lao Dung là

một trong những số đó. Ngoài hai đơn vị hình thái giồng cát ven bờ và cù lao

địa hình theo trắc dọc lòng dẫn sông Tiền và sông Hậu có nhiều sự biến đổi

đột ngột về độ sâu của đáy, xen kẽ những cồn cạn là các hố sâu từ 30-50m, số

lượng các hố sâu trên sông Tiền là 12, trên sông Hậu là 5 là điểm hiếm thấy ở

các con sông khác. Đường bờ biển từ cửa Tiểu đến Tranh Đề có thể chia

thành 2 đoạn, đoạn từ cửa Tiểu đến Tranh Đề là đoạn bờ khúc khuỷu do bị

chia cắt bởi các sông khác với đoạn từ Tranh Đề tới Cà Mau là đoạn bờ trơn

đây là đoạn bờ (cửa Tiều-cửa Tranh Đề) không ổn định chủ yếu có xu thế bồi

tụ do nguồn bùn cát từ các cửa sông ven biển.

Tại vùng nghiên cứu các cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng của tác

động qua lại các dòng chảy sông, thủy triều, sóng đã xác định delta triều rút

khá rộng vươn ra biển. Theo tài liệu của đề tài: “Các đặc trưng khí tượng thủy

văn và các quá trình thủy thạch động lực ven bờ cửa Định An phục vụ khai

thác luồng qua sông Hậu”, (1997-1998), các yếu tố hình thái vùng cửa Định

An bao gồm:

- Bãi triều rút cùng với cửa Tranh Đề, cửa Định An đã tạo ra một bãi

bồi rộng lớn. Cù Lao Dung kéo dài ra biển là bãi triều rút nằm ở phía Nam

cửa. Bãi này có xu thế bồi vươn ra hàng chục km tạo nên sự ngăn cắt hai cửa

Tranh Đề và Định An.

- Bãi cồn chắn cửa bãi cạn ngay phía trước cửa Định An có hình cung

quay lưng về phía biển gọi là bãi cồn chắn cửa. Vị trí bãi này nằm cách xa bờ

tới 7-8km được quyết định bởi tác động cân bằng giữa động lực sóng, dòng

185

chảy biển và dòng chảy sông. Bãi cồn chắn cửa cũng là ranh giới cuối cùng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

của rãnh triều rút.

- Rãnh triều rút chính kéo dài từ cửa sông ra tới bãi cồn chắn cửa. Rãnh

triều rút chính phía trong được bao bởi 2 bờ sông, phía ngoài được bao bởi Cù

Lao Dung và các bãi cồn sóng vỗ phía Bắc. Nguyên tắc chung của mọi vùng

cửa sông là rãnh chiều rút dọc theo trục của sông, vuông góc với đường bờ và

kết thúc bởi bãi cồn chắn cửa.

- Cồn cạn sóng vì gồm các bãi cạn phía Đông Nam hộ tàu. Cùng với

bãi Cù Lao Dung kéo dại, cồn cạn sóng vì tạo thành các cặp cồn rìa. Cồn cạn

sóng vì này được coi là cồn cạn do sóng mặc dù cả 2 loại cồn trên đều có liên

quan tới sóng nhưng vị trí của các cặp cồn rìa phụ thuộc chủ yếu vào dòng

chảy cửa sông, trong khi đó vị trí của các cặp cồn cạn do sóng lại do trường

sóng vỗ xác định. Khu vực này đặc biệt nguy hiểm cho tàu thuyển đi lại.

b. Tác động của sóng biển: khi sóng biển tiến vào bờ sẽ bị khúc xạ. Những

nơi đường bờ bằng phẳng thì sự khúc xạ xảy ra không có gì đặc biệt, nhưng đối với bờ khúc khuỷu thì hiện tượng này dẫn tới tình trạng tập trung năng

lượng sóng tại những đoạn bờ nhô ra và giãn ra ở chỗ lõm vào. Hệ quả của hiện tượng này là sóng xói lở các mũi đất và gây tích tụ ở phần đỉnh vịnh. Đường bờ biển vùng nghiên cứu thì hướng sóng và tốc độ sóng thay đổi theo

mùa. Vì vậy ở dải địa hình ven biển khu vực nghiên cứu, quá trình xói lở, bồi tụ do sóng diễn ra rất phức tạp. Thí dụ tại một vị trí trong mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) có thể bị xâm thực mài mòn mạnh tức là bị xói lở thì

ở mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10) quá trình xói lở yếu đi nhiều dẫn tới quá trình bồi tụ. Tác động của sóng thì phụ thuộc vào độ cao của sóng và độ sâu của đáy biển. Sóng phá hủy mạnh nhất và tác động đến đáy lớn nhất để tạo ra địa hình đặc trưng đó là các bar cát ngập nước. Theo tác Đông của sóng từ bờ về phía biển sẽ hình thành các đới hình thái-động lực: đới bãi biển-sóng vỗ, đới

bar ngầm-sóng biến dạng và phá hủy, đới sườn bờ ngầm là sóng lan truyền.

c. Tác động của chế độ thủy triều: chế độ thủy triều của vùng nghiên cứu

thuộc chế độ bán nhật triều không đều (nước biển nên xuống 2 lần trong một

ngày). Biên độ triều 3 - 4m, nước dâng theo bão 100-120cm (?). Do địa hình

186

đáy biển vùng nghiên cứu khá thoải đồng thời biên độ thủy triều lớn lại thay

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

đổi theo mùa, vì vậy 9 cửa sông ở đây trong mỗi ngày đều chịu tác động rất

thường xuyên của dòng triều, tác động sông-triều rõ rệt. Do vậy, mỗi khi mực

nước biển dâng nên hay hạ xuống ngoài việc gây nên nhiễm mặn còn ảnh

hưởng trực tiếp đến sự thành tạo đường bờ biển, đặc biệt là khi triều cường.

Về mặt lý thuyết, thủy triều thống trị ở những nơi biên độ triều lớn, năng

lượng sóng đã bị triệt tiêu hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn; dòng chảy sông

đóng vai trò thứ yếu. Theo tần số ngập triều có 3 đới triều song song với

nhau: đới triều cao, đới gian triều và đới triều thấp. Đới triều cao nằm ở trên

mức triều cao trung bình, chỉ bị ngập trong thời kỳ triều cường nên ở đây chủ

yếu là đầm lầy phát triển thực vật ưa mặn, trầm tích chủ yếu là bùn phân lớp

mỏng. Đới gian triều bị ngập nước trong một khoảng thời gian ngắn, trong tất cả

các chu kỳ triều. Trong đới này, từ cửa sông các dải cát có thể kéo dài về phía biển.

Đới triều thấp luôn luôn bị ngập triều.

d. Tác động của mạng lưới thủy văn: đối với việc thành tạo địa hình ven

biển và đường bờ biển vùng nghiên cứu, vai trò của sông chủ yếu là lượng

phù sa do sông mang tới. Vai trò của khối lượng vật liệu do sông vận chuyển

tới và đặc điểm chế độ thủy văn của dòng chảy (kết hợp với sóng và thủy

triều) có ảnh hưởng trực tiếp đối với việc tạo nên các kiểu cửa sông khác

nhau. Tại vùng nghiên cứu, các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai,

Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Tranh Đề thuộc

dạng cửa sông Delta. Ở các cửa sông này có chung một đặc điểm là do lượng

phù sa phong phú nên hàng năm cửa sông đang được bồi đắp có xu hướng lấn

dần ra biển. Mặt khác, lượng phù sa do sông vận chuyển đến còn được vận

chuyển dọc theo bờ để bồi đắp cho vùng đất mũi Cà Mau.

e. Tác động của sự thay đổi mực nước biển: trong thời kỳ Holocen thì

đường bờ cổ còn cách xa bờ hiện tại trung bình khoảng 20-25km, gần song

song với đường bờ hiện nay. Phía ngoài đường bờ theo các tài liệu về thềm

lục địa gặp một đới cát ở cửa sông Tiền và sông Hậu. Trên phần lục địa của

187

vùng nghiên cứu gặp nhiều thế hệ giồng cát hình vòng cung nối tiếp nhau ở

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

khu vực Sóc Trăng và Trà Vinh cho thấy biển đã lùi dần đến bờ biển hiện tại.

Theo các văn liệu hiện nay cho thấy trên thế giới theo số đo của 229 trạm đo

trong vòng 2 thế kỷ trở lại đây mực nước đại dương tăng trung bình 1-

1,5mm/năm. Ở Việt Nam, theo số liệu đo đạc ở trạm Hòn Dấu từ 1957-1990

mực nước biển dâng trung bình 2,24mm/năm (?). Từ các dữ liệu trên cho thấy

ở vùng nghiên cứu mực nước biển thay đổi theo xu hướng ngày càng dâng

nên (trong giai đoạn 1965-2004). Hậu quả của việc mực nước biển dâng nên

sẽ làm ngập một số dạng địa hình thấp ven biển tạo nên hệ sinh thái ngập

mặn, đường bờ biển di chuyển dần vào trong lục địa.

f. Tác động của dòng chảy tầng mặt: dòng chảy tầng mặt trong vùng nghiên

cứu thay đổi theo mùa rõ rệt. Từ tháng 1 đến tháng 3 dòng chảy có hướng

Đông Bắc với tốc độ của dòng giảm dần. Từ tháng 4 đến tháng 5 dòng chảy

có hướng từ Đông Bắc chuyển sang Đông-Đông Nam, vận tốc dòng nhỏ. Từ

tháng 6 đến tháng 9 dòng chảy tầng mặt có hướng chủ yếu là Tây Nam, vận

tốc dòng tăng khá nhanh. Tốc độ dòng lớn nhất là trong tháng 7 và tháng 8

bởi gió mùa Tây Nam thịnh hành. Trong vùng nghiên cứu dòng chảy tầng mặt

có tốc độ trung bình từ 12-14cm/s, có khi tăng nên đến 123cm/s trong giai

đoạn hoạt động mạnh của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Khi có

bão hoạt động thì tốc độ dòng chảy lớn nhất có thể đạt 180cm/s. Dòng chảy

tầng mặt xuất hiện sẽ cuốn theo vật chất lơ lửng và vật liệu bị phá hủy từ bờ. Vì

vậy, dòng chảy tầng mặt ven bờ sẽ góp phần trong việc thành tạo đường bờ biển.

5.1.3. Tác động nhân sinh

Hoạt động của con người thông qua việc phát triển kinh tế xã hội có ảnh

hưởng lớn đến sự thành tạo dải địa hình ven biển trực tiếp hoặc gián tiếp như

việc đắp đê ven biển, đắp đập ngăn mặn ở cửa sông Ba Lai, cải tạo làm đầm

hồ nuôi tôm ở khu vực ven biển ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre,

Tiền Giang ... Các hoạt động này làm thay đổi lượng bồi tích đưa ra biển, đẩy

nhanh thêm quá trình tích tụ hoặc làm tăng thêm tốc độ xói lở đường bờ biển,

188

góp phần tích cực làm biến động địa hình vùng cửa sông cũng như đường bờ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

biển.

Tóm lại, tại từng thời điểm và từng vị trí của đường bờ biển vùng

nghiên cứu chịu sự tác động của các nguyên nhân khác nhau như: hoạt động

tân kiến tạo, hoạt động đứt gãy, hoạt động của sông, sóng biển, thủy triều, sự

dao động mực nước biển ... Cấu trúc địa chất tạo nên các dạng địa hình ven

biển có một vai trò nhất định ảnh hưởng đến sự biến động vùng cửa sông và

đường bờ biển. Đường bờ biển vùng nghiên cứu thành tạo trên các đá trầm

tích bờ rời, quá trình bồi tụ xói lở xảy ra dễ dàng. Tác động của con người

vừa trực tiếp vừa gián tiếp tác động đến sự biến động đường bờ và vùng cửa

5. 2. BIẾN ĐỘNG VÙNG CỬA SÔNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU

sông.

LONG TRONG HOLOCEN - HIỆN ĐẠI

Để xây dựng bản đồ biến động hình thái đường bờ biển, bờ sông và cửa sông ven biển vùng nghiên cứu, đề tài đã tiến hành nghiên cứu, phân tích, giải

đoán ảnh máy bay, ảnh vệ tinh nhiều thời kỳ. Mặt khác, những kết quả thu được qua quá trình phân tích, giải đoán đó cộng với kết quả thu được qua việc tiến hành khảo sát ngoài thực tế tại hiện trường là những số liệu được thể hiện trên các bản đồ địa mạo 1/200.000 cho toàn vùng và 1/50.000 cho 3 cửa sông Tranh Đề, Định An và Hàm Luông; trên các hình diễn biến – xói lở và bồi tụ của vùng nghiên cứu qua các giai đoạn 1952-1965, 1965-1983, 1983-1990,

1990-2001, 2001-2004.

Biến động địa hình vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long là kết quả

tương tác của quá trình nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh.

5.2.1. Bồi tụ - Xói lở bờ sông

Dọc theo các sông đều xảy ra quá trình xói lở, bồi tụ. Mức độ xói lở-bồi

tụ bờ sông được thể hiện trên bản V.1. Qua bảng V.1 cho thấy.

- Có 12 đoạn bờ bồi tụ hoặc bồi tụ-xói lở, tổng chiều dài 81,7 km, chiều

dài trung bình đoạn bờ 6800m, tốc độ bồi tụ trung bình: 16m/năm. Các đoạn bờ có

tốc độ bồi tụ lớn, lớn nhất là đều là các đoạn bờ ở cửa sông, bờ trái hoặc bờ phải.

189

- Có 18 đoạn bờ xói lở hoặc xói lở-bồi tụ, tổng chiều dài 124,4km, chiều

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

dài trung bình: đoạn bờ 6900m, tốc độ xói lở trung bình: 4,09m/năm. So với

các đoạn bờ bồi tụ, các đoạn bờ xói lở có chiều dài tương tự, nhưng có

nhiều đoạn bờ bị xói lở hơn, tổng chiều dài các đoạn bờ xói lở lớn hơn

nhưng tốc độ xói lở trung bình của các đoạn bờ chỉ bằng 1/4 tốc độ bồi tụ

trung bình của các đoạn bờ.

Bảng 5.1: Thống kê chiều dài, mức độ xói lở, bồi tụ bờ dọc theo các

nhánh sông Cửu Long, đoạn gần cửa sông, từ năm 1965 đến năm 2006

Bồi tụ Xói lở

Đặc điểm bờ Đoạn bờ biển

Dài (m) Dài (m)

Trung bình năm (m) Trung bình năm (m)

Bờ trái sông Cửa Tiểu 1.53 0.39 3220 1704 3140 6210 4.00 Bờ xói lở-bồi tụ Bờ bồi tụ-xói lở 0.14 Bờ xói lở-bồi tụ Bờ bồi tụ-xói lở Phân đoạn bờ từ cửa sông theo hướng ngược nguồn (m) 0- 3140 3140 - 6360 6360 - 12 570 12570- 14274

3970 50.83 Bờ bồi 0-3970

5.56 Bờ lở

4610-9810 0-4610 4600 5210 16.11 Bờ xói lở-bồi tụ

9200 0.83 Bờ bồi 0-9200

8500-12500 8500-0 0-4500 Bờ trái sông Cửa Đại Bờ phải Cửa Đại Bờ trái sông Cửa Ba Lai Bờ phải cửa Ba Lai Bờ trái s.

1.11 Bờ xói lở-bồi tụ Bờ bồi tụ-xói lở Bờ bồi tụ-xói lở 2.17 Bờ xói lở-bồi tụ Hàm Luông 4500-13600

Bờ lở

Cù Lao Đất (*)

0-3290 3290-6630 6630-7850 7850-9570 8590-22590 4400 17.22 7.22 4500 8500 9100 3290 12.22 3340 1220 1720 14000 4.44 Bờ xói lở-bồi tụ 2.50 Bờ xói lở-bồi tụ 2.78 Bờ xói lở-bồi tụ 3.89 Bờ xói lở-bồi tụ

8590 48.89 0-8590

190

0-13800 13800-16600 16600-27400 11200-20800 2800 0.08 13800 10800 9600 Bờ bồi tụ-xói lở 8.89 Bờ xói lở-bồi tụ Bờ bồi tụ-xói lở 1.94 Bờ xói lở-bồi tụ 2.50 Bờ xói lở-bồi tụ Bờ phải sông Hàm Luông Bờ trái sông Cổ Chiên Bờ phải

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

11200 5.4 0-11200

9600 27.78 Bờ xói lở-bồi tụ Bờ bồi

0.42 7400 1.39 Bờ xói lở-bồi tụ Bờ bồi tụ-xói lở 0-9600 9600-17000 17000-42100 25100

5100 1.53 Bờ bồi tụ-xói lở 0-5100

6200 2.06 Bờ xói lở-bồi tụ 0-6200

3500-8200 4700 1.39 Bờ xói lở-bồi tụ

3500 34.72 Bờ bồi 0-3500 sông Cung Hầu Bờ trái sông Hậu Giang Bờ phải sông Hậu Giang Bờ trái Cửa Mỹ Thạnh Bờ phải Cửa Mỹ Thạnh

(*)-Chú thích: Riêng với Cù Lao Đất các đoạn bờ tính theo chiều ngược kim đồng

hồ: đoạn 0-3290- đoạn bờ Đông Bắc Cù Lao, 3290-6630-đoạn bở Tây Bắc Cù Lao,

6630-7850-đoạn bờ Tây Nam Cù Lao, 2 đọan còn lại thuộc đuôi Cù Lao.

Các đoạn bờ tích tụ, tích tụ -xói lở thường phân bố ở ngay cửa sông. Các

đoạn bờ xói lở, xói lở-bồi tụ thường nằm xa hơn cửa sông về phía thượng

nguồn. Xét theo từng nhánh sông Cửu Long:

- Sông Hậu, bồi tụ mạnh hơn hẳn ở bờ trái: 27,8m/năm (đoạn 0-9,6km).

- Sông Cổ Chiên, cả 2 bên cửa sông đều bị xói lở, xói lở mạnh hơn ở bở

phải cửa Cung Hầu: 5,4m/năm (đoạn 0-11,2km).

- Sông Hàm Luông, lòng dẫn khu cửa sông rộng 2,7-3km, bồi tụ mạnh-

rất mạnh ở cả 2 bên cửa sông: 7,2m/năm (đoạn 0-4,5km ở bờ trái),

48,9m/năm (đoạn 0-8,6km ở bờ phải). Tiếp về phía thượng nguồn, sông rộng

1,5-1,7km, xói lở diễn ra ở cả 2 bờ, tốc độ 2,2-3,9 m/năm. Theo diễn biến

như vậy, đoạn lòng dẫn với 2 bờ bồi tụ sẽ hẹp dần, cửa sông với bề rộng lớn

sẽ dịch dần về phía biền.

- Sông Cửa Đại, bồi tụ rất mạnh ở cửa sông, bờ trái (tốc độ trung bình

50,8m/năm trên đoạn 0-4km), xói lở mạnh ở cửa sông, bờ phải (tốc độ trung

bình 16,1m/năm trên đoạn 0-4,6km).

- Sông Ba Lai, ở 2 bên cửa sông đều bồi tụ, bồi tụ mạnh nhất ở bờ phải

191

(tốc độ 17,2m/năm trên đoạn 0-8,5km).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Sông Mỹ Thạnh, ở cửa sông, bờ trái xói lở tốc độ trung bình 2,06m/năm

( trên đoạn 0-6,2km), bờ phải nhô ra phía biển, bồi tụ mạnh, tốc độ 34,7m/năm trên

đọan 0-3,5km, đẩy dòng chảy sông uốn cong hẳn về phía Đông Bắc.

Từ năm 1965 đến năm 2006, trong tổng số 30 đoạn bờ, chỉ có 4 đoạn bờ

liên tục bồi tụ, 2 đoạn bờ liên tục xói lở, còn 24 đoạn bờ ( chiếm 80% đoạn

bờ) có sự luân phiên 2 quá trình bồi tụ và xói lở, khi xói lở, khi bồi tụ chiếm ưu thế.

5.2.2. Diễn thế Cửa sông, đường bờ ven biển châu thổ sông Cửu Long

5.2.2.1 . Vấn đề biến động đường bờ ở vùng cửa sông ven biển

Vấn đề biến động đường bờ nêu ra không mới, nhưng nhận thức về khái niệm đường bờ còn chưa thống nhất, do cách tiếp cận theo những quan niệm khác nhau. Thế nào là đường bờ và cách nhìn nhận về sự biến động của

chúng? Dưới góc độ của ngành bản đồ học (Cartopgraphy) đường bờ có đặc điểm và được quy ước khi vẽ bản đồ như sau:

- Trong sông, là ranh giới phần ngập nước với mực nước trung bình vào

mùa cạn (khi không có lũ);

- Vùng ven biển, là ranh giới vùng ngập nước khi đỉnh triều có độ cao

trung bình lớn nhất (không tính hiện tượng nước dâng);

- Vùng phát triển thực vật ngập nước có mật độ dầy (rừng ngập mặn, rừng ngập nước trong các hồ, đầm), thì được quy ước là ranh giới giữa vùng phủ thực vật (rừng) và mặt nước thoáng, vv....

Như vậy, khái niệm về đường bờ có tính quy ước cao; trong đó vùng

Cửa sông là đoạn xen lấn giữa khái niệm bờ sông và bờ biển, đôi khi phải chấp nhận một vị trí tương đối của đường bờ tại khu vực Cửa sông. Trong thực tế, vị trí đường bờ luôn biến động do quá trình phát triển của hai hiện tượng trái ngược nhau là bồi tụ và xói lở. Những vùng ít biến động (hoặc không biến động) phản ảnh tính ổn định cao của đới bờ, chúng phụ thuộc và

khả năng kháng xói lở của vật liệu thành tạo bờ, hoặc không diễn ra quá trình tích tụ vật liệu bở rời (bùn, cát, dăm-sạn, sỏi-cuội, vv...).

Qua việc xác định vị trí đường bờ ở mỗi thời điểm khác nhau, trong

khoảng thời gian giữa những thời điểm đó chúng ta có thể xác định được tốc độ phát triển cũng như chiều hướng biến động của mỗi đoạn bờ. Tuỳ thuộc

192

vào tính chất và tốc độ biến động của đường bờ, có thể lựa chọn các khoảng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

thời gian trong tính toán tốc độ biến động đường bờ một cách hợp lý nhất, tuỳ thuộc vào độ dài chu kỳ biến động của các vùng bờ cần nghiên cứu. Kinh

nghiệm qua những nghiên cứu trên các khu vực khác nhau ở nước ta, chúng tôi nhận thấy đối với các hệ thống sông ngòi, khoảng thời gian tính toán biến động đường bờ hợp lý khoảng từ 3 đến 5 năm; với vùng bờ biển, khoảng thời

gian tính toán hợp lý khoảng từ 5 đến 10 năm. Khi đi sâu nghiên cứu các yếu tố động lực gây ra biến động đường bờ và xác định được tốc độ cũng như

chiều hướng biến động của chúng một cách chính xác, sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn các giải pháp khắc phục có hiệu quả.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu nguyên nhân

gây ra biến động đường bờ, mà chỉ nhìn nhận biến động đường bờ như là hệ quả do tác động qua lại của những nhân tố động lực khác nhau, bao gồm các nhân tố tự nhiên (điều kiện nội sinh, điều kiện ngoại sinh) và các nhân tố

nhân tạo (do con người) gây ra. Về thực chất, đó là tác động của dòng chảy, của dòng bùn cát lên mặt đệm địa chất, bao gồm các tầng trầm tích khác nhau

cấu tạo lên đới bờ. Với vùng đồng bằng châu thổ, các lớp thành tạo bề mặt có tuổi chủ yếu là Đệ tứ (Q). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài các tầng trầm tích được đề cập có tuổi từ Holocen đến hiện đại. Nội dung đề cập chính

trong phần báo cáo này là diễn biến của đới bờ thông qua việc xác định vị trí đường bờ ở những thời điểm khác nhau qua nguồn tư liệu viễn thám (ảnh máy bay, ảnh vệ tinh) và bản đồ, đồng thời ở mức độ nào đó có thể giải thích

những nguyên nhân gây ra biến động.

Hiện trạng đường bờ biển, bờ sông thuộc hệ thống sông Tiền, sông Hậu trong các năm khác nhau được phản ánh qua tư liệu ảnh và bản đồ các năm: 1952, 1965, 1983, 1989-1990, 2001, 2006. Các kết quả giải đoán ảnh là cơ sở xây dựng các bản đồ về hiện trạng phát triển bồi tụ-xói lở các vùng Cửa sông

trong các giai đoạn ngắn với sự trợ giúp của các phần mềm GIS và xử lý ảnh số. Ngoài ra, trong nghiên cứu này còn sử dụng các tài liệu thực địa, các tư liệu địa chất-địa mạo, thủy-thạch động lực ven biển, vv... giúp cho chúng ta có cách nhìn tổng quát và đánh giá một cách khách quan về diễn biến và nguyên nhân gây ra biến động các vùng Cửa sông Cửu Long trong khoảng 50-60 năm gần đây.

193

Trên cơ sở kết quả xử lý và giải đoán ảnh máy bay, ảnh vệ tinh nhiều thời kỳ, chúng tôi đã thành lập các bản đồ về biến động các vùng Cửa sông

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ĐBSCL, có tỷ lệ từ 1/200.000 đến 1/50.000. Các phần trích dẫn bản đồ về hiện trạng bồi tụ-xói lở được thể hiện trên các hình vẽ minh họa ở trong báo

cáo này. Tỷ lệ mỗi ô vuông trên các bản đồ trích dẫn nói trên tương ứng với 5x5km (từ bản đồ tỷ lệ 1/200.000) và 2x2km (từ bản đồ tỷ lệ 1/50.000) so với ngoài thực địa.

Để tiện cho theo dõi báo cáo, vùng nghiên cứu được chia thành hai khu vực lớn: các Cửa sông thuộc sông Tiền và các Cửa sông thuộc sông Hậu. Về

mặt thời gian, chia ra các giai đoạn nhỏ: 1952-1965, 1965-1983, 1983-1990, 1990-2001, 2001-2006, theo thời điểm chụp của các ảnh máy bay, ảnh vệ tinh sử dụng trong nghiên cứu này. Dưới đây là những nhận xét quan trọng

về tình hình biến động vùng Cửa sông ven biển ĐBSCL thông qua quá trình bồi tụ và xói lở bờ sông, bờ biển từ các tư liệu viễn thám.

5.2.2.2 . Biến động vùng ven biển-Cửa sông thuộc sông Tiền

Sông Tiền có 6 Cửa sông chảy ra Biển Đông là: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên và Cửa Cung Hầu. Các Cửa sông thuộc sông Tiền nằm trên địa bàn ba tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà

Vinh. Trong đó, một số cặp Cửa sông có quan hệ chặt chẽ với nhau, thực chất chúng là các nhánh phân chia của một Cửa sông lớn hơn; giữa chúng được chia tách bởi các cồn cát, giồng cát (bar) nổi cao, buộc lòng dẫn chính

phải chia ra các lòng dẫn phụ, nhưng giữa chúng có quan hệ gần nhau về chế độ thuỷ văn-thuỷ lực; ví dụ các cặp Cửa Tiểu-Cửa Đại, hay cặp Cửa Cổ Chiên-Cửa Cung Hầu. Vì vậy, trong báo cáo này chúng tôi gộp một số

Cửa sông thành những nhóm riêng, gồm có 04 nhóm Cửa chính là:

+ Cửa Tiểu-Cửa Đại,

+ Cửa Ba Lai.

+ Cửa Hàm luông.

+ Cửa Cổ Chiên-Cửa Cung Hầu.

- Khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại

Một nhánh lớn thuộc sông Tiền sau khi chảy vào địa phận huyện Chợ

Gạo (Tiền Giang) bắt đầu phân ra hai nhánh, chảy ra hai Cửa chính là Cửa Tiểu ở phiá Bắc và Cửa Đại ở phía Nam. Khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại nằm

194

giữa địa phận hai huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang) và huyện Bình Đại (tỉnh Bến Tre); giữa Cửa Tiểu và Cửa Đại là một cù lao lớn thuộc địa phận

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

hai huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây (Tiền Giang), cù lao này đang phát triển kéo dài về phía biển. Đoạn sông thuộc Cửa Tiểu có chiều rộng

trung bình là 1.200m và đoạn sông thuộc Cửa Đại có chiều rộng trung bình là 2.600m. Trục lòng dẫn chính ở hai Cửa sông kéo dài theo phương TTB- ĐĐN, với độ sâu lớn nhất từ 7 đến 9m. Biến động của khu vực Cửa sông này

trong thời gian từ năm 1965 đến 2001 được xem xét qua phân tích tài liệu bản đồ địa hình UTM (1965) và các ảnh vệ tinh Landsat.

# Giai đoạn 1965-1983:

Trong khoảng thời gian 18 năm, về tổng thể bờ biển khu vực Cửa Tiểu- Cửa Đại phát triển với trạng thái xói-bồi diễn ra xen kẽ. Vùng phát triển thiên

về xói lở thuộc bờ biển huyện Gò Công Đông (các xã từ Kiểng Phước tới Tân Thành) dài 16km Đây là vùng bờ biển xói lở điển hình nhất ở Nam Bộ. Vùng bờ xói lở rộng trung bình 200m và rộng nhất tới 320m, tương đương

tốc độ xói ngang trung bình 11m/năm và lớn nhất 17m/năm.

Vùng bờ biển xói lở mạnh diễn ra tại khu vực xã Thừa Đức (huyện Bình

Đại, tỉnh Bến Tre), với chiều dài vùng xói tới 5,7 km, vùng xói lở rộng trung bình 260m và rộng nhất tới 580m; tương đương tốc độ độ xói lở ngang trung bình 14,5m/năm và tốc độ xói lớn nhất đạt tới 32m/năm.

Tại vùng đất cù lao nằm giữa Cửa Tiểu và Cửa Đại, diễn ra hai quá trình trái ngược nhau: bồi tụ nối đảo với đất liền và xói lở mạnh đoạn bờ biển phía

đông. Vùng đất mới bồi tụ thuộc địa phận xã Phú Tân ngày nay (h.Gò Công Đông). Hiện tượng xói lở-bồi tụ xen kẽ còn diễn ra trên các đoạn bờ khác nhau thuộc cù lao này: khu vực thuộc các xã Tam Hiệp-Tân Thới phát triển

thiên về bồi tụ; đoạn bờ thuộc các xã Tân Phú-Phú Đông diễn ra xói lở-bồi tụ xen kẽ trên các đoạn bờ dài từ 5,2 đến 8,0km.

# Giai đoạn 1983-1990:

Trạng thái bờ biển khu vực này là bồi tụ-xói lở diễn ra xen kẽ nhau trên

từng đoạn bờ ngắn. mỗi đoạn bờ có những đặc điểm biến động riêng:

- Trên đoạn bờ biển huyện Gò Công Đông (thuộc xã Kiểng Phước-Tân Điền) đã hạn chế được tình trạng xói lở nhờ việc xây dựng tuyến đê biển (có chiều dài 13,5km). Khu vực bờ biển nằm kề Cửa Tiểu (thuộc địa phận xã Tân

195

Thành), bờ biển đã bồi tụ trở lại, vùng bồi tụ có chiều dài 5,8km, rộng trung bình 90m và rộng nhất tới 200m, tương đương tốc độ bồi tụ trung bình

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

13m/năm và lớn nhất đạt tới 28,5m/năm.

- Trên đoạn bờ biển Cửa Đại thuộc huyện Bình Đại (Bến Tre) diễn ra

bồi tụ-xói lở xen kẽ. Vùng bờ xói lở chính vẫn thuộc địa phận xã Thừa Đức; vùng xói có chiều dài 4,3km, chiều rộng trung bình là 50m, tối đa là 130m, tương đương tốc độ xói trung bình là 7,5m/năm và lớn nhất 18,0m/năm.

- Đoạn bờ biển thuộc cù lao giữa Cửa Tiểu và Cửa Đại diễn ra quá trình bồi tụ và xói lở xen kẽ nhau với không gian biến động và tốc độ không mạnh.

Phần đỉnh cù lao thuộc các xã Tam Hiệp-Tân Thới phát triển thiên về xói lở nhẹ.

Tóm lại, trong giai đoạn 1983-1990 quá trình phát triển bờ biển khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại diễn ra tương đối ổn định, thiên về bồi tụ. Đoạn bờ biển huyện Gò Công Đông đã được hạn chế xói lở nhờ có công trình đê chống xói

được xây dựng trong những năm 1980. Tốc độ xói lở bờ biển khu vực phía nam Cửa Đại (thuộc địa phận xã Thừa Đức) đã giảm hẳn so với giai đoạn trước.

# Giai đoạn 1990-2001:

+ Đoạn bờ biển thuộc huyện Gò Công Đông quay trở lại chu kỳ xói lở

mới, vùng xói lở kéo dài tới 16,3km từ địa phận xã Kiểng Phước tới xã Tân Thành. Vùng xói lở có chiều rộng trung bình là 90m, lớn nhất tới 280m; tương đương tốc độ xói trung bình là 8m/năm và lớn nhất đạt tới 25,4m/năm.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Tiểu diễn ra xói-bồi xen kẽ: trên đoạn bờ phía Bắc được bồi tụ nhẹ, ngược lại bên bờ phía Nam bờ sông xói lở nhẹ. Đoạn sông thuộc Cửa Đại tương đối ổn định, hai bờ sông diễn ra xói-bồi nhẹ xen

kẽ nhau trên các đoạn ngắn.

+ Đoạn bờ biển phía Nam Cửa Đại thuộc địa phận xã Thừa Đức (h.Bình

Đại) diễn ra xói- bồi xen kẽ. Vùng bồi tụ có chiều dài 5,3km, độ rộng vùng bồi trung bình 200m, rộng nhất tới 380m; tương đương tốc độ bồi 18m/năm và lớn nhất tới 34,5m/năm. Tiếp sau đoạn bồi là đoạn bờ biển xói lở kéo dài tới

5,2km với chiều rộng trung bình 120m và lớn nhất tới 200m, tương đương với tốc độ xói 11m/năm và lớn nhất là 18m/năm. Trên đoạn bờ biển này hiện tượng xói lở đã diễn ra trong suốt giai đoạn trước và vẫn tiếp tục diễn ra xói lở trong

giai đoạn này.

196

+ Trên vùng đất cù lao giữa Cửa Tiểu và Cửa Đại diễn ra hiện tượng bồi

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tụ-xói lở xen kẽ. Đoạn bờ biển xói lở thuộc địa phận các xã Phú Tân-Phú Đông có chiều dài tới 7,1km, rộng trung bình 100m và lớn nhất tới 190m;

tương đương tốc độ xói lở trung bình là 9m/năm và lớn nhất là 17m/năm. Vùng bồi tụ phía nam Cửa Tiểu thuộc địa phận xã Phú Tân có chiều dài 4,1km với chiều rộng trung bình 600m và lớn nhất tới 1.300m; tương đương

tốc độ bồi tụ đạt 54m/năm và lớn nhất đạt tới 118m/năm.

+ Các cù lao thuộc địa phận xã Tam Hiệp-Tân Thới có đường bờ tương

đối ổn định, với nhiều đoạn bờ có biến động nhẹ với trạng thái xói-bồi xen kẽ.

Như vậy, nếu so với giai đoạn trước thì trong giai đoạn 1990-2001 bờ

biển khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại phát triển thiên về xói lở nhẹ. Vùng xói lở là đoạn bờ biển thuộc các xã Kiểng Phước-Tân Thành, Phú Tân (huyện Gò Công Đông) và xã Thừa Đức (huyện Bình Đại). Các đoạn bờ bồi tụ mạnh

nằm phía trong sông thuộc bờ nam Cửa Tiểu và đoạn bờ nam Cửa Đại.

Có thể tóm tắt diễn biến các vùng bờ khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại trong

cả các giai đoạn khác nhau từ năm 1965 đến 2001 như sau (bảng 1);

- Tại Cửa Tiểu: đoạn bờ bắc (huyện Gò Công) thiên về xói lở; trên đoạn bờ phía nam diễn ra xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ; đoạn bờ phía trong

197

sông phát triển xói-bồi xen kẽ;

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 5.2. Diễn biến phát triển đới bờ khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại (1965 -2001)

Trạng thái vùng bờ: bồi tụ (+), xói lở (-), bồi-xói xen kẽ (+/-)

TT Giai Khu vực Cửa Tiểu Khu vực Cửa Đại

đoạn Đoạn bờ Trạng Đoạn bờ Trạng

thái thái

(+/-) 1 - Bờ bắc c.Tiểu (Gò Công) (-) - Bờ bắc c.Đại

1965- 1983 (+/-) - Đoạn sông thuộc c.Tiểu (+/-) - Đoạn sông c. Đại

(-) - Bờ nam c.Tiểu (+/-) - Bờ nam c. Đại

(+/-) - Bờ bắc c.Đại (+/-) 2 - Bờ bắc c.Tiểu (GòCông)

1983- 1990 (+/-) - Đoạn sông c. Đại (+/-) - Đoạn sông thuộc c.Tiểu

(-) - Bờ nam c. Đại (+/-) - Bờ nam c.Tiểu

(-) 3 - Bờ bắc c.Tiểu (GòCông) (-) - Bờ bắc c.Đại

1990- 2001 - Đoạn sông thuộc c.Tiểu (+/-) - Đoạn sông c. Đại (+/-)

(-) (-) - Bờ nam c.Tiểu - Bờ nam c. Đại

Tổng thể - Bờ bắc c.Tiểu (GòCông) - Bờ bắc c.Đại (-) (+/-)

- Đoạn sông thuộc c.Tiểu - Đoạn sông c. Đại (+/-) (+/-)

(1965- 2001) - Bờ nam c.Tiểu - Bờ nam c. Đại (+/-) (-)

- Tại Cửa Đại: đoạn bờ phía bắc diễn ra xen kẽ và thiên về trạng thái bồi

tụ; đoạn bờ phía nam (huyện Bình Đại) phát triển thiên về xói lở; đoạn trong sông phát triển xói-bồi xen kẽ, tương đối ổn định.

- Khu vực Cửa Ba Lai

Cửa Ba Lai nằm giữa địa phận hai huyện Bình Đại và Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre. Nhánh sông Ba Lai không lớn, lòng sông có chiều rộng trung bình là 550m; đoạn sông phía thượng lưu bị thu nhỏ do các hoạt động chỉnh trị và

198

sông Ba Lai đã ngừng chảy khi xây đập và cống Ba Lai vào năm 1999 tại khu vực xã Tân Xuân (Ba Tri)-Thạnh Trị (Bình Đại). Sau khi xây đập nhánh sông Ba Lai trở thành một hồ chứa nước ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt của các huyện Giồng Trôm, Ba Tri và Bình Đại. Vùng Cửa sông cũng thu hẹp dần do bồi lắng và phát triển thảm rừng ngập mặn ven biển. Có thể nêu

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

diễn biến khu vực Cửa Ba Lai trong gần 40 năm qua như sau:

# Giai đoạn 1965-1983 :

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Ba Lai (thuộc địa phận xã Thới Thuận, Bến Tre) phát triển hiện tượng xói-bồi xen kẽ và thiên về bồi tụ. Vùng bồi tụ mạnh là doi cát ven biển hình thành do hoạt động của sóng biển, thuỷ triều và dòng chảy ven bờ; vùng bồi có chiều dài tới 7,7km, rộng trung bình 500m và lớn nhất tới 1.400m, tương đương tốc độ bồi 28m/năm và lớn nhất là

75m/năm.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Ba Lai (thuộc địa phận xã Bảo Thuận) phát triển bồi tụ mạnh, vùng bồi có chiều dài 4,9km, rộng trung bình 950m và lớn nhất tới 1.400m, tương đương tốc độ bồi 53m/năm và lớn nhất tới 75m/năm.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Ba Lai phát triển hiện tượng xói-bồi xen kẽ trên từng đoạn từ 2km đến 4,5km, trong đó bờ sông phía nam thiên về xói lở và bờ phía bắc thiên về trạng thái bồi tụ.

# Giai đoạn 1983-1990:

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Ba Lai (thuộc địa phận xã Thới Thuận)

phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ nhau. Trên doi cát bồi tụ trong giai đoạn trước đã xuất hiện hiện tượng xói lở. Vùng bờ xói dài 4,2km, chiều rộng trung bình 60m và rộng nhất đạt 120m, tương đương tốc độ xói 7m/năm và lớn nhất

15m/năm. Mặc dù vậy, doi cát này vẫn tiếp tục được bồi tụ và kéo dài về phía Cửa Ba Lai. Vùng bồi tụ dài 2,8km, rộng trung bình 280m và rộng nhất 520m, tương đương tốc độ bồi tụ 9,5m/năm và lớn nhất 58m/năm. Tính

chung, cán cân xói lở-bồi tụ trên đoạn bờ bắc Cửa Ba Lai diễn ra tương đối cân bằng.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Ba Lai (thuộc địa phận xã Bảo Thuận) phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ nhau và thiên về trạng thái bồi tụ. Vùng bồi có chiều dài từ 2,5 đến 4km, chiều rộng trung bình vùng bồi tụ 250m, lớn nhất

tới 420m, tương đương tốc độ bồi tụ 27m/năm và lớn nhất 46m/năm.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Ba Lai: vùng bờ sông diễn ra quá trình bồi tụ-

xói lở xen kẽ nhau. Trong đó bờ sông phía nam phát triển thiên về trạng thái bồi tụ; ngược lại bên phía bờ bắc thiên về trạng thái xói lở.

199

Trong giai đoạn 1983-1990 bờ biển khu vực Cửa Ba Lai phát triển bồi-

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

xói xen kẽ, thiên về trạng thái bồi tụ. Bờ biển phát triển ổn định, ít có những biến động lớn.

# Giai đoạn 1990-2001 :

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Ba Lai (thuộc địa phận xã Thới Thuận) phát triển thiên về trạng thái bồi tụ. Vùng đất bồi là phần doi cát tiếp tục được kéo dài và phần đất phía trong doi cát đã phát triển nối liền với vùng đất thấp ven biển.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Ba Lai (thuộc địa phận các xã Bảo Thuận-Bảo Thạch) phát triển bồi tụ mạnh. Vùng bồi tụ dài 4,5 km, rộng trung bình 700m và rộng nhất tới 1000m, tương đương tốc độ bồi tụ trung bình 58m/năm và lớn nhất là 87m/năm. Hiện tượng bồi tụ mạnh ở Cửa sông được giải thích là sau khi xây đập và cống Ba Lai, nguồn nước trong sông

giảm hẳn, hoạt động của sóng, thuỷ triều và dòng chảy ven bờ đưa vật liệu ven biển bồi đắp mạnh cho vùng bờ lõm của Cửa Ba Lai.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Ba Lai: đoạn bờ sông biến động mạnh nhất là

khu vực xây đập và cống Ba Lai tại đỉnh cong nằm giữa địa phận hai xã Tân Xuân (h.Ba Tri)-Thạnh Trị (h.Bình Đại). Tại đây ngành Thuỷ lợi đã cho mở ra một kênh dẫn mới, hệ thống đập và cống Ba Lai đã biến đoạn sông tự nhiên

thành một hồ chứa nhân tạo phục vụ các huyện trong vùng.

Có thể tóm tắt diễn biến vùng bờ khu vực Cửa Ba Lai trong các giai

đoạn khác nhau từ năm 1965 đến 2001 như sau (Bảng 5.3);

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Ba Lai (thuộc địa phận h.Bình Đại) phát triển thiên về trạng thái bồi tụ. Doi cát bồi luôn biến động, có xu thế kéo dài

về phía Cửa Ba Lai;

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Ba Lai (thuộc địa phận h.Ba Tri) phát

triển bồi tụ mạnh, nhất là sau khi xây dựng đập và cống Ba Lai (năm 1999);

+ Đoạn sông thuộc Cửa Ba Lai tương đối ổn định, chỉ biến động mạnh

khi xây dựng cống và đập Ba Lai.

Bảng 5.3. Diễn biến phát triển đới bờ tại khu vực Cửa Ba Lai (1965-2001),

Trạng thái vùng bờ: bồi tụ (+), xói lở (-), bồi-xói xen kẽ (+/-)

Khu vực Cửa Ba Lai

Đoạn bờ Trạng thái

200

TT 1 Giai đoạn 1965-1983 - Bờ bắc c.Ba Lai (h.Bình Đại) (+)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Đoạn sông thuộc c.Ba Lai - Bờ nam c.Ba Lai (h.Ba Tri)

2 1983-1990 - Bờ bắc c.Ba Lai (h.Bình Đại)

- Đoạn sông thuộc c.Ba Lai - Bờ nam c.Ba Lai (h.Ba Tri)

3 1990-2001 - Bờ bắc c.Ba Lai (h.Bình Đại)

Tổng thể

(1965-2001)

201

(+/-) (+) (+/-) (+/-) (+) (+) (+/-) (+) (+) (+/-) (+) - Đoạn sông thuộc c.Ba Lai - Bờ nam c.Ba Lai (h.Ba Tri) - Bờ bắc c.Ba Lai (h.Bình Đại) - Đoạn sông thuộc c.Ba Lai - Bờ nam c.Ba Lai (h.Ba Tri)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

S S S S S S S S S

yyyyyyyyy

§ång S¬n §ång S¬n §ång S¬n §ång S¬n §ång S¬n §ång S¬n §ång S¬n §ång S¬n §ång S¬n

o o o o o o o o o

Qu¬n Long Qu¬n Long Qu¬n Long Qu¬n Long Qu¬n Long Qu¬n Long Qu¬n Long Qu¬n Long Qu¬n Long

i i i i i i i i i

R R R R R R R R R

KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc KiÓng Ph−íc

¹ ¹ ¹ ¹ ¹ ¹ ¹ ¹ ¹

§«ng Th¹nh §«ng Th¹nh §«ng Th¹nh §«ng Th¹nh §«ng Th¹nh §«ng Th¹nh §«ng Th¹nh §«ng Th¹nh §«ng Th¹nh

Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ

B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt B×nh Phôc Nhøt

p p p p p p p p p

Long H−ng Long H−ng Long H−ng Long H−ng Long H−ng Long H−ng Long H−ng Long H−ng Long H−ng

©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh ©n ThuËn B×nh

111111111

Long Ch¸nh Long Ch¸nh Long Ch¸nh Long Ch¸nh Long Ch¸nh Long Ch¸nh Long Ch¸nh Long Ch¸nh Long Ch¸nh

Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng Gß c«ng ®«ng

« « « « « « « « « n n n n n n n n n g g g g g g g g g T T T T T T T T T r r r r r r r r r a a a a a a a a a 111111111 n n n n n n n n n h h h h h h h h h

B×nh Nh× B×nh Nh× B×nh Nh× B×nh Nh× B×nh Nh× B×nh Nh× B×nh Nh× B×nh Nh× B×nh Nh×

TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng TX.Gß c«ng

B×nh Phan B×nh Phan B×nh Phan B×nh Phan B×nh Phan B×nh Phan B×nh Phan B×nh Phan B×nh Phan

î G¹o î G¹o î G¹o î G¹o î G¹o î G¹o î G¹o î G¹o î G¹o

B×nh ¢n B×nh ¢n B×nh ¢n B×nh ¢n B×nh ¢n B×nh ¢n B×nh ¢n B×nh ¢n B×nh ¢n

Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y Gß c«ng t©y

hî G¹o hî G¹o hî G¹o hî G¹o hî G¹o hî G¹o hî G¹o hî G¹o hî G¹o

555555555

Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

T©n §iÒn T©n §iÒn T©n §iÒn T©n §iÒn T©n §iÒn T©n §iÒn T©n §iÒn T©n §iÒn T©n §iÒn

TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh TT. VÜnh B×nh

Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng Yªn Lu«ng

An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû An Th¹nh Thuû

B×nh NghÞ B×nh NghÞ B×nh NghÞ B×nh NghÞ B×nh NghÞ B×nh NghÞ B×nh NghÞ B×nh NghÞ B×nh NghÞ

vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh vÞnh ®«ng Tranh

µ §Þnh µ §Þnh µ §Þnh µ §Þnh µ §Þnh µ §Þnh µ §Þnh µ §Þnh µ §Þnh

B×nh Ninh B×nh Ninh B×nh Ninh B×nh Ninh B×nh Ninh B×nh Ninh B×nh Ninh B×nh Ninh B×nh Ninh

TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ TT. T©n Hoµ

B×nh T©n B×nh T©n B×nh T©n B×nh T©n B×nh T©n B×nh T©n B×nh T©n B×nh T©n B×nh T©n

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

TiÒn giang TiÒn giang TiÒn giang TiÒn giang TiÒn giang TiÒn giang TiÒn giang TiÒn giang TiÒn giang

Tam HiÖp Tam HiÖp Tam HiÖp Tam HiÖp Tam HiÖp Tam HiÖp Tam HiÖp Tam HiÖp Tam HiÖp

s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn

T©n Thµnh T©n Thµnh T©n Thµnh T©n Thµnh T©n Thµnh T©n Thµnh T©n Thµnh T©n Thµnh T©n Thµnh

T©n Thíi T©n Thíi T©n Thíi T©n Thíi T©n Thíi T©n Thíi T©n Thíi T©n Thíi T©n Thíi

T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó

Phó ThuËn Phó ThuËn Phó ThuËn Phó ThuËn Phó ThuËn Phó ThuËn Phó ThuËn Phó ThuËn Phó ThuËn

Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh

Hoµ Hoµ Hoµ Hoµ Hoµ Hoµ Hoµ Hoµ Hoµ

111111111

Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y Vang Quíi T©y

Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n Phó T©n

111111111

Ch©u H−ng Ch©u H−ng Ch©u H−ng Ch©u H−ng Ch©u H−ng Ch©u H−ng Ch©u H−ng Ch©u H−ng Ch©u H−ng

Phó Vang Phó Vang Phó Vang Phó Vang Phó Vang Phó Vang Phó Vang Phó Vang Phó Vang

cöa TiÓu cöa TiÓu cöa TiÓu cöa TiÓu cöa TiÓu cöa TiÓu cöa TiÓu cöa TiÓu cöa TiÓu

Phó §«ng Phó §«ng Phó §«ng Phó §«ng Phó §«ng Phó §«ng Phó §«ng Phó §«ng Phó §«ng

hong Mü hong Mü hong Mü hong Mü hong Mü hong Mü hong Mü hong Mü hong Mü

Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai

Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn

s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn s«ng TiÒn

Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ

B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi

Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long

Vïng xãi lë

g Quíi g Quíi g Quíi g Quíi g Quíi g Quíi g Quíi g Quíi g Quíi

111111111

111111111

B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i

555555555

Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh

Vïng båi tô

Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ

TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i

cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i

TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m

111111111

§¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc

Tr«mTr«mTr«mTr«mTr«mTr«mTr«mTr«mTr«m

Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc

Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ

BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh

nh nh nh nh nh nh nh nh nh

T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n

Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc

T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh

An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung

H H H H H H H H H

Nh Nh Nh Nh Nh Nh Nh Nh Nh

ggggggggg

o g ü o g ü o g ü Phong Mü Phong Mü Phong Mü Phong Mü Phong Mü Phong Mü

Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai Thíi Lai

Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn Léc ThuËn

«ng TiÒn «ng TiÒn «ng TiÒn «ng TiÒn «ng TiÒn «ng TiÒn «ng TiÒn «ng TiÒn «ng TiÒn

Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ Ch©u Hoµ

B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi B×nh Thíi

Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long

ng Quíi ng Quíi ng Quíi ng Quíi ng Quíi ng Quíi ng Quíi ng Quíi ng Quíi

111111111

111111111

Hình 5.1. Diễn biến xói lở-bồi tụ ở khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại (1965-1983)

B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i B×nh §¹i

555555555

Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh Ch©u B×nh

Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ Th¹nh TrÞ

TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i TT. B×nh §¹i

cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i cöa §¹i

TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m TT. Giuång Tr«m

§¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc §¹i Hoµ Léc

g Tr«m g Tr«m g Tr«m g Tr«m g Tr«m g Tr«m g Tr«m g Tr«m g Tr«m

Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc Thõa §øc

Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ Mü Hoµ

BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh BØnh Thµnh

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh Mü Ch¸nh

¹nh ¹nh ¹nh ¹nh ¹nh ¹nh ¹nh ¹nh ¹nh

T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n T©n Xu©n

Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc Th¹nh Ph−íc

T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh T©n Thanh

An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung An Phó Trung

H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng H−ng Nh−îng

Phó Ng·i Phó Ng·i Phó Ng·i Phó Ng·i Phó Ng·i Phó Ng·i Phó Ng·i Phó Ng·i Phó Ng·i

111111111

Vïng xãi lë Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n

B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch B¶o Th¹ch

Vïng båi tô

H−ng LÔ H−ng LÔ H−ng LÔ H−ng LÔ H−ng LÔ H−ng LÔ H−ng LÔ H−ng LÔ H−ng LÔ

Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ

Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri

T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng

An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y

VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ

An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp

An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc

ÒnÒnÒnÒnÒnÒnÒnÒnÒn

B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn

T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû

cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai

T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong

eeeeeeeee

VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An

111111111

An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû

Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng

An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh

111111111

Hình 5.2. Diễn biến xói lở-bồi tụ ở khu vực Cửa Ba Lai (1965-1983)

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

- Khu vực Cửa Hàm Luông

202

Nhánh sông Tiền phân chia ra sông Hàm Luông tại khu vực thị trấn Chợ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Lách (h.Chợ Lách, Bến Tre). Lòng dẫn sông Hàm Luông mở rộng dần về phía biển, đoạn hẹp nhất có chiều rộng 800m và nơi rộng nhất tới 3.200m.

Trên lòng dẫn sông Hàm Luông phát triển nhiều bãi bồi (cù lao, giồng cát hay bar) như cù lao Ốc, cù lao Linh, cù lao Đất, vv... Cửa Hàm Luông là một Cửa sông lớn thuộc nhánh sông Tiền, nằm giữa địa phận hai huyện Ba Tri

(phía bắc) và Thạnh Phú (phía nam) thuộc tỉnh Bến Tre. Cửa và sông Hàm Luông còn là tuyến giao thông thuỷ quan trọng đi vào ĐBSCL. Dưới đây là

những đánh giá về tình hình phát triển và biến động Cửa sông Hàm Luông trong thời kỳ từ năm 1952 đến 2001.

# Giai đoạn 1952-1965:

+ Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận các xã Bảo Thuận-An Thuỷ, h.Ba Tri): bờ biển thiên về trạng thái bồi tụ. Vùng bồi tụ có chiều dài 4,8km, rộng trung bình 1000m và lớn nhất tới 2.100m, tương đương tốc độ bồi tụ

trung bình 77m/năm và lớn nhất tới 160m/năm. Bên cạnh vùng bồi tụ là đoạn bờ xói lở cục bộ nằm kề Cửa sông, có chiều dài 2,6km, vùng xói lở rộng

trung bình 100m và lớn nhất là 210m, tương đương tốc độ xói 7,5m/năm và lớn nhất là 16m/năm.

+ Đoạn bờ phía nam (thuộc địa phận xã Thạnh Hải, h.Thạnh Phú) phát

triển xói-bồi xen kẽ. Vùng xói lở nằm kề lòng dẫn chính, có chiều dài 4,6km, rộng trung bình 270m và rộng nhất tới 400m, tương đương tốc độ xói 22m/năm và lớn nhất 31m/năm. Vùng bồi tụ nằm khuất sau bãi cát chắn Cửa

sông, có chiều dài 5,5km, vùng bồi tụ có chiều rộng trung bình 1.300m và rộng nhất tới 2.400m, tương đương tốc độ bồi tụ 100m/năm và lớn nhất là

185m/năm.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Hàm Luông: bờ sông tương đối ổn định, xuất hiện các đoạn bờ bồi tụ và xói lở nằm xen kẽ nhau. Các cồn cát bồi giữa lòng

dẫn phát triển và biến động theo kiểu “đảo cát trôi”.

# Giai đoạn 1965-1983:

+ Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận các xã Bảo Thuận-An Thuỷ, h.Ba Tri): bờ biển phát triển tương tự giai đoạn trước, thiên về trang thái bồi tụ. Vùng bồi tụ có chiều dài 2,3km, rộng trung bình 900m và lớn nhất tới

203

1.400m, tương đương tốc độ bồi 50m/năm và lớn nhất 78m/năm. Bên cạnh vùng bồi là đoạn bờ xói lở nằm kề Cửa sông có chiều dài 1,8km, chiều rộng trung bình 300m và lớn nhất là 500m, tương đương tốc độ xói 16,5m/năm và

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

lớn nhất 28m/năm. Về tổng thể bờ biển phía bắc Cửa Hàm Luông được bồi tụ mạnh.

+ Đoạn bờ phía nam (thuộc địa phận xã Thạnh Hải, h.Thạnh Phú) phát triển thiên về trạng thái xói lở. Vùng xói có chiều dài tới 11,4km, vùng xói rộng trung bình 300m và rộng nhất tới 700m, tương đương tốc độ xói lở 16,5m/năm và lớn nhất tới 39m/năm. Bên cạnh đoạn bờ xói lở là các vùng bồi tụ, đây là các doi cát ven biển và doi cát nằm kề Cửa sông giữa địa phận

hai xã Thạnh Hải và An Điền, có chiều dài 2,7km và rộng tới 1.200m.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Hàm Luông: bờ sông phát triển các đoạn xói lở và bồi tụ xen kẽ, nhìn chung tương đối ổn định. Các cù lao giữa sông tiếp tục

phát triển theo dạng “đảo cát trôi” và xuất thêm những cồn cát mới.

# Giai đoạn 1983-1990 :

+ Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận các xã Bảo Thuận-An Thuỷ, h.Ba Tri): bờ biển phát triển theo phương thức xói-bồi xen kẽ, thiên về trạng thái bồi tụ. Vùng bồi tụ dài 2,7km, rộng trung bình 250m và lớn nhất 500m,

tương đương tốc độ bồi 32m/năm và lớn nhất là 65m/năm. Nằm kề Cửa sông là các các vùng bờ bồi-xói xen kẽ trên các đoạn ngắn.

+ Đoạn bờ phía nam (thuộc địa phận xã Thạnh Hải, h.Thạnh Phú) phát triển tương tự giai đoạn trước là thiên về trạng thái xói lở. Vùng bờ xói lở có chiều dài 5,2km, rộng trung bình 100m và lớn nhất rộng 220m, tương đương

tốc độ xói lở 9m/năm và lớn nhất 24m/năm.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Hàm Luông: bờ sông phát triển các đoạn bồi- xói xen kẽ và thiên về trạng thái xói lở bờ. Các cù lao giữa dòng tiếp tục phát

triển theo kiểu “đảo cát trôi” về phía Cửa sông.

# Giai đoạn 1990-2001:

+ Đoạn bờ biển phía bắc (địa phận các xã Bảo Thuận-An Thuỷ, h.Ba Tri): bờ biển phát triển hình thái xen kẽ. Các vùng bồi tụ và xói lở có kích cỡ tương đương nhau, trên chiều dài từ 1,3km đến 2,5km. Vùng biến động rộng

trung bình 90m và lớn nhất 220m, tương đương tốc độ xói-bồi 7,5m/năm và lớn nhất 15m/năm. Nhìn chung tốc độ xói-bồi so với các giai đoạn trước

không mạnh.

204

+ Đoạn bờ biển phía nam (thuộc địa phận xã Thạnh Hải, h.Thạnh Phú) phát triển thiên về trạng thái xói lở. Vùng bời xói lở dài 6,5km, rộng trung

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

bình 200m và rộng nhất tới 420m, tương đương tốc độ xói 16,5m/năm và lớn nhất 35m/năm. Bên cạnh vùng xói lở là đoạn bờ bồi tụ nằm trên địa phận xã

An Điền (h.Thạnh Phú), có chiều dài 5,6km, rộng trung bình 300m và rộng nhất tới 500m, tương đương tốc độ bồi tụ 25m/năm và lớn nhất 40m/năm.

+ Đoạn sông thuộc Cửa Hàm Luông: bờ sông phát triển bòi tụ-xói lở xen kẽ, trong đó phía bờ bắc (h.Ba Tri) thiên về trạng thái bồi tụ và phía bờ nam (h.Thạnh Phú) thiên về trạng thái xói lở. Các cù lao giữa lòng dẫn phát

triển và biến động theo dạng “đảo cát trôi”.

Có thể tóm tắt diễn biến vùng bờ khu vực Cửa Hàm Luông trong các

giai đoạn khác nhau từ năm 1965 đến 2001 như sau:

+ Bờ biển phía bắc c.Hàm Luông (thuộc địa phận h. Ba Tri) phát triển

thiên về trạng thái bồi tụ;

+ Bờ biển phía nam c.Hàm Luông (thuộc địa phận h.Thạnh Phú) phát

triển thiên về trạng thái xói lở;

205

+ Đoạn sông Hàm Luông thuộc vùng Cửa phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ. Bờ sông tương đối ổn định. Các cù lao giữa dòng sông (bar, đảo cát chắn) phát triển và biến động theo dạng các “đảo cát trôi”.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 5.4: Diễn biến phát triển đới bờ tại khu vực Cửa Hàm Luông (1952-2001),

Trạng thái vùng bờ: bồi tụ (+), xói lở (-), bồi-xói xen kẽ (+/-)

Khu vực Cửa Ba Lai

TT Giai đoạn Đoạn bờ Trạng

thái

(+) 1 1952-1965 - Bờ bắc c.Hàm Luông (h. Ba Tri)

(+/-) - Đoạn sông Hàm Luông thuộc vùng Cửa

(-) - Bờ nam c.Hàm Luông (h.Thạnh Phú)

2 1965-1983 - Bờ bắc c.Hàm Luông (h. Ba Tri) (+)

- Đoạn sông Hàm Luông thuộc vùng Cửa (+/-)

- Bờ nam c.Hàm Luông (h.Thạnh Phú) (-)

1983-1990 - Bờ bắc c.Hàm Luông (h. Ba Tri) (+)

- Đoạn sông Hàm Luông thuộc vùng Cửa (+/-)

- Bờ nam c.Hàm Luông (h.Thạnh Phú) (-)

3 1990-2001 - Bờ bắc c.Hàm Luông (h. Ba Tri) (+/-)

- Đoạn sông Hàm Luông thuộc vùng Cửa (+/-)

- Bờ nam c.Hàm Luông (h.Thạnh Phú) (-)

Tổng thể - Bờ bắc c.Hàm Luông (h. Ba Tri) (+)

(1952-2001) - Đoạn sông Hàm Luông thuộc vùng Cửa (+/-)

206

- Bờ nam c.Hàm Luông (h.Thạnh Phú) (-)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y

T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng

rungrungrungrungrungrungrungrung rung

111111111

VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ

An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y

Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh

TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri

Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc

An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp

§¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn

Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri

B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn

An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc

cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai

T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû

VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An

Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn

T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong

H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü

An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y

An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû

Mü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü An

Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng

Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh

111111111

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

s« s« s« s« s« s« s« s« s«

n n n n n n n n n

TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó

g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ

An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

n n n n n n n n n

111111111

An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh

B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh

cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng

555555555

Vïng xãi lë

An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy

hhhhhhhhh

An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn

H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü

Vïng båi tô

s s s s s s s s s

Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i

An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n

« « « « « « « « «

Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong

Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

n n n n n n n n n

Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o

g g g g g g g g g TiÒ TiÒ TiÒ T T T TiÒ TiÒ TiÒ iÒ iÒ iÒ

n n n n n n n n n

Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh

111111111

VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim

m Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµ

B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g

555555555

111111111

101010101010101010

Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang

a a a a a a a a a

HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ

C C C C C C C C C

ccccccccc

Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ

An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y

T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng

rungrungrung Trung Trung Trung Trung Trung Trung

111111111

VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ

An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y

Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh

TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri

Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc

An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp

§¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn

Hình 5.3: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Hàm Luông (1952-1965)

Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri

B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn

An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc

cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai

T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû

VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An

Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn

T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong

H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü

An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y

An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû

Mü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü An

Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng

Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh

111111111

s« s« s« s« s« s« s« s« s«

n n n n n n n n n

TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ

An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

n n n n n n n n n

111111111

An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh

B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh

cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng

555555555

Vïng xãi lë

An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy

An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn

H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü

nhnhnhnhnhnhnhnhnh

Vïng båi tô

s s s s s s s s s

Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i

An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n

« « « « « « « « «

Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong

Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

555555555

n n n n n n n n n

Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o

g g g g g g g g g TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ T T T iÒ iÒ iÒ

n n n n n n n n n

Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh

111111111

VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim

m Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµm Hoµ

B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g

555555555

111111111

101010101010101010

Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang

HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

æ æ æ æ æ æ æ æ æ

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

151515151515151515

Hình 5.4: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Hàm Luông (1965-1983)

207

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ Phó LÔ

An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y An B×nh T©y

T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng

T©n Trung T©n Trung T©n Trung T©n Trung T©n Trung T©n Trung T©n Trung T©n Trung T©n Trung

111111111

VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ VÜnh Hoµ

An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y An Ng·i T©y

Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh Phó Kh¸nh

TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri TT.Ba Tri

Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc Minh §øc

An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp An HiÖp

§¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn §¹i §iÒn

á Cµy á Cµy á Cµy á Cµy á Cµy á Cµy á Cµy á Cµy á Cµy

Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri Ba tri

B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn B¶o ThuËn

An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc An §øc

cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai cöa Ba Lai

T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû T©n Thuû

VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An VÜnh An

¬n¬n¬n¬n¬n¬n¬n¬n¬n

Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn Quíi §iÒn

T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong T©n Phong

H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü H−¬ng Mü

An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y An Hoµ T©y

An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû An Thuû

Mü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü An

Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng

Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh

111111111

s« s« s« s« s« s« s« s« s«

n n n n n n n n n

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó

g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ

An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

n n n n n n n n n

111111111

An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn

nnnnnnnnn

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh

B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh

cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng

555555555

Vïng xãi lë

An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy

An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn

H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü

µ Vinh µ Vinh µ Vinh µ Vinh µ Vinh µ Vinh µ Vinh µ Vinh µ Vinh

Vïng båi tô

s s s s s s s s s

Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i

An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n

« « « « « « « « «

Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong

Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

555555555

n n n n n n n n n

Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o

g g g g g g g g g TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ

n n n n n n n n n

Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh

111111111

VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim

Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ

B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g

555555555

111111111

101010101010101010

Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang

HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

c c c c c c c c c

ThäThäThäThäThäThäThäThäThä

æ æ æ æ æ æ æ æ æ

C C C C C C C C C

151515151515151515

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

h h h h h h h h h

ö ö ö ö ö ö ö ö ö 111111111

Hình 5.5: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Hàm Luông (1990-2001)

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

- Khu vực Cửa Cổ Chiên-Cửa Cung Hầu

Sông Tiền Giang chảy đến địa phận thành phố Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long) bắt đầu phân chia ra nhánh sông Cổ Chiên ở phía bên bờ phải. Sông

Cổ Chiên chảy giữa địa phận các tỉnh Bến Tre (phía Bắc), Vĩnh Long và Trà Vinh (phía Nam). Lòng dẫn sông Cổ Chiên mở rộng dần khi chảy ra biển và có nhiều cù lao, cồn cát bồi (các bar, đảo chắn) phát triển mạnh giữa dòng như cù lao Bàn, cồn Cò, cồn Phụng, vv.... Một hệ thống cù lao lớn thuộc địa phận các xã Hoà Minh-Long Hoà (huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh) đã

phân đôi dòng chảy, chia nước sông Cổ Chiên thành hai phần: phía Bắc chảy ra Cửa Cổ Chiên và phía Nam chảy ra Cửa Cung Hầu. Cụm Cửa sông Cổ Chiên-Cung Hầu nằm giữa địa phận các huyện Thạnh Phú (tỉnh Bến Tre,

phía Bắc) và các huyện Cầu Ngang-Duyên Hải (tỉnh Trà Vinh, phía Nam). Dưới đây là những đánh giá chung về quá trình phát triển và biến động của cụm Cửa sông này trong giai đoạn từ năm 1952 đến 2001.

# Giai đoạn 195-1965

+ Cửa Cổ Chiên:

208

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận các xã Thạnh Phong-Thạnh Hải, h.Thạnh Phú-Bến Tre): đoạn bờ biển thuộc địa phận xã Thạnh Hải được

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

bồi tụ mạnh, doi cát bồi có chiều dài tới 3,5km đang phát triển với xu thế kéo dài phía Cửa Cổ Chiên. Ngược lại đoạn bờ thuộc xã Thạnh Phong (nằm kề

Cửa Cổ Chiên) bị xói lở nhẹ trên tuyến dài gần 8,0km.

Tính chung trong giai đoạn này, bờ biển phía bắc Cửa Cổ Chiên phát

triển bồi tụ-xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái xói lở;

- Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên: có vùng bờ tương đối ổn định, các đoạn bờ phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ nhau trên từng đoạn dài từ 1,0km đến

5km với cường độ biến động không lớn;

+ Cửa Cung Hầu:

- Đoạn bờ biển phía nam (thuộc địa phận các xã Hiệp Thạnh-Long Trường Hoà, h.Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) có hiện trạng tương đối ổn định, phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ nhau trên từng đoạn ngắn. Nhìn chung bờ biển

trong giai đoạn này không có những biến động lớn.

- Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu: bờ phiá Nam phát triển thiên về trạng thái bồi tụ. Vùng bờ bồi tụ có chiều dài từ 2,0km đến 5,2km, chiều rộng trung bình 50m và rộng nhất tới 120m, tương đương tốc độ bồi 3,8m/năm và lớn nhất là 9m/năm. Phía bờ Bắc phát triển bồi-xói xen kẽ, ít có biến động

lớn.

- Các cồn cát, cù lao giữa cụm Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu: phát triển theo dạng các “đảo cát trôi” với hình thế xói lở phía đỉnh cồn và bồi tụ phía đuôi

cồn. Đỉnh cồn bị xói lở từ 30m đến 150m và bồi tụ ở đuôi cồn dài từ 40m đến 220m, tương đương tốc độ “di chuyển” ra phía Cửa sông từ 2,3m/năm đến 17m/năm.

# Giai đoạn 1965-1983

+ Cửa Cổ Chiên:

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận tỉnh Bến Tre): doi cát bồi thuộc địa phận xã Thạnh Hải kéo dài thêm 1,6km, có xu hướng nối vào bờ. Đoạn

bờ thuộc xã Thạnh Phong được bồi tụ mạnh, vùng bồi dài 6,3km, rộng trung bình 300m và rộng nhất tới 900m, tương đương tốc độ bồi tụ 16,5m/năm và lớn nhất là 49m/năm. Ngoài ra, ở vùng biển nông ven bờ còn phát triển thêm

209

một đảo cát chạy song song với đường bờ, có chiều dài 3,4km, rộng trung bình 220m, có xu thế khép với bờ.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên: có vùng bờ phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái xói lở. Vùng xói lở dài gần 10km, rộng từ 50m

đến 120m, nằm bên bờ Nam (thuộc địa phận xã Long Hoà, h.Châu Thành)

+ Cửa Cung Hầu:

- Đoạn bờ biển phía nam (thuộc địa phận tỉnh Trà Vinh) phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ nhau. Vùng bồi tụ mạnh thuộc khu vực bãi tắm Ba Động (xã Trường Long Hoà) có chiều dài 9km. Vùng bồi tụ rộng trung bình 120m và

rộng nhất 300m, tương đương tốc độ bồi tụ 6,5m/năm và lớn nhất là 17m/năm.

Bên cạnh vùng bờ biển Ba Động được bồi tụ mạnh là các khu vực bờ bị xói lở. Tại khu vực các xã Mỹ Long Nam (h.Cầu Ngang), Hiệp Thạnh (h.Duyên Hải) phát triển các đoạn bờ xói lở có chiều dài từ 4,8km đến 9km.

Vùng xói lở rộng trung bình 110m và rộng nhất 280m, tương tốc độ xói lở 6,2m/năm và lớn nhất là 16m/năm.

- Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu: bờ phiá Nam phát triển bồi tụ-xói lở

xen kẽ và thiên về trạng thái xói lở. Vùng bờ xói lở mạnh thuộc địa phận các xã Vĩnh Kim-Mỹ Long (h.Cầu Ngang). Bên bờ bắc diễn ra tình trạng bồi tụ nhẹ;

- Các cồn cát, cù lao giữa cụm Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu: phát triển trạng thái xói-bồi xen kẽ; quá trình biến động này cho thấy xu thế phát triển

mở rộng các cồn cát và chúng dịch chuyển dần về phiá Cửa sông.

# Giai đoạn 1983-1990:

+ Cửa Cổ Chiên:

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận tỉnh Bến Tre): diễn ra quá trình bồi tụ- xói lở xen kẽ trên các đoạn dài từ 1,0km đến 2,5km. Nhìn chung đoạn

bờ khu vực này tương đối ổn định, ít có những biến động lớn.

- Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên: hiện tượng bồi tụ-xói lở diễn ra cả hai

phái bờ sông. Bờ phía bắc (thuộc địa phận huyện Thạnh Phú) phát triển thiên về trạng thái bồi. Ngược lại, phía bờ Nam (thuộc địa phận huyện Châu Thành) phát triển thiên về tình trạng xói lở. Vùng bờ xói lở dài 9,3km, rộng

210

trung bình 75m và rộng nhất tới 120m, tương đương tốc độ xói trung bình 9m/năm và lớn nhất tới 13m/năm.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

+ Cửa Cung Hầu:

- Đoạn bờ biển phía nam (thuộc địa phận tỉnh Trà Vinh) diễn ra quá

trình bồi tụ-xói lở xen kẽ. Bờ biển thuộc phận xã Trường Long Hoà tiếp tục được bồi tụ nhẹ tại khu vực bãi tắm Ba Động. Vùng bồi tụ dài 3,6km, rộng trung bình 70m và rông nhất tới 140m, tương đương tốc độ bồi 8m/năm và lớn nhất là 15,5m/năm. Trên đoạn bờ thuộc các xã Mỹ Long (h.Cầu Ngang), Hiệp Thạnh (h.Duyên Hải) diễn ra bối tụ-xói lở xen kẽ trên các đoạn bờ dài từ 1,5km

đến 3,0km.

- Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu: bờ phiá Nam (thuộc địa phận các huyện Châu Thành, Cầu Ngang) phát triển thiên về tình trạng xói lở. Vùng

bờ xói lở dài tới 13,7km, rộng trung bình 70m và rộng nhất nhất tới 110m, tương đương tốc tóc độ xói 8m/năm và lớn nhất 12m/năm. Bờ sông phía bắc diễn ra bồi tụ-xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái xói lở nhẹ.

- Các cồn cát, cù lao giữa cụm Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu: tiếp tục phát triển theo dạng “đảo cát trôi” với các đoạn xói đỉnh cồn rộng từ 60m đến

380m, vùng bồi tụ ở đuôi cồn rộng từ 40m đến 1.100m, tương đương tốc độ “trôi” 3,5m/năm. Ngoài ra còn xuất hiện thêm cồn cát mới nổi phía thuộc địa phận xã Mỹ Long Bắc (h.Cầu Ngang), có chiều dài 1,9km và rộng 300m, có

xu hướng nối với vùng đất liền.

# Giai đoạn 1990-2001

+ Cửa Cổ Chiên:

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận tỉnh Bến Tre): diễn ra quá trình bồi tụ mạnh mẽ. Vùng bồi tụ nằm trên địa phận các xã Thạnh Hải-Thạnh

Phong có chiều dài tới 9,3km, rộng trung bình 500m và rộng nhất tới 1.300m, tương đương tốc độ bồi tụ 41,5m/năm và lớn nhất 108m/năm.

- Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên: diễn ra quá trình bồi tụ-xói lở nhẹ trên các đoạn ngắn dài từ 2km đến 4km. Nhìn chung trong giai đoạn này bờ sông Cổ Chiên tương đối ổn định, ít có biến động lớn.

+ Cửa Cung Hầu:

- Đoạn bờ biển phía nam (thuộc địa phận tỉnh Trà Vinh) diễn ra quá

211

trình xói lở bồi tụ xen kẽ nhau. Đoạn bồi tụ mạnh nằm trên địa phận các xã Mỹ Long (h.Cầu Ngang)-Hiệp Thạnh (h.Duyên Hải) có chiều dài tới 13,2km, rộng trung bình 170m, rộng nhất tới 450m, tương đương tốc độ bồi tụ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

14m/năm và lớn nhất 37,5m/năm. Đoạn bờ biển thuộc các xã Hiệp Thạnh- Trường Long Hoà (h.Duyên Hải) diễn ra bồi tụ-xói lở xen kẽ với tốc độ nhẹ,

vùng bồi vẫn thuộc khu vực bãi tắm Ba Động với chiều dài 4,8km.

- Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu: cả hai bờ phiá Nam và phía Bắc đều phát triển thiên về trạng thái bồi tụ nhẹ, nhìn chung đoạn sông này tương đối ổn định.

- Các cồn cát, cù lao giữa cụm Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu: tiếp tục phát

triển theo dạng “đảo cát trôi”. Bãi bồi biến động mạnh nhất là cồn cát được hình thành trong giai đoạn trước thuộc địa phận huyện Cầu Ngang, có phần đỉnh bị xói lở 400m và phần đuôi bồi tụ 700m, tương đương tốc độ “dịch

chuyển” từ 32m/năm đến 58m/năm.

Diễn biến vùng bờ khu vực cụm Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu trong các giai

đoạn khác nhau từ năm 1952 đến 2001 như sau:

+ Đoạn bờ biển phía Bắc (thuộc địa phận Bến Tre) phát triển bồi tụ

mạnh;

+ Đoạn bờ biển phía Nam (thuộc Trà Vinh) phát triển xói-bồi xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ, vùng bồi tụ mạnh thuộc khu vực bãi tắm Ba Động

(h.Duyên Hải);

+ Đoạn sông Cổ Chiên thuộc vùng Cửa phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ,

nhìn chung bờ sông tương đối ổn định.

+ Các cồn cát, cù lao phát triển giữa lòng dẫn (bar, đảo chắn) phát triển và biến động theo dạng “đảo cát trôi” với tốc độ di chuyển từ 2,3m/năm đến

58m/năm.

Bảng 5.5: Diễn biến phát triển bờ tại khu vực cụm Cửa Cổ Chiên-Cung hầu (1952-2001)

Trạng thái vùng bờ: bồi tụ (+), xói lở (-), bồi-xói xen kẽ (+/-)

Khu vực Cửa Cổ Chiên Khu vực Cửa Cung Hầu

212

TT Đoạn bờ Trạng Đoạn bờ Trạng Giai đoạn thái thái

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

1 1952- 1965

(-) (+/-)

(+/-) (+/-) ( +/-) - Bờ Nam (Trà Vinh) - Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu - Các cồn cát, cù lao - Bờ bắc (Bến Tre) - Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên

(+/-) (-) 2 1965- 1983

( + ) (-)

(-) - Bờ Nam (Trà Vinh) - Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu - Các cồn cát, cù lao - Bờ bắc (Bến Tre) - Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên

3 1983- 1990

- Bờ bắc (Bến Tre) - Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên (+/-) (+/-)

(+/-) (+/-) (+/-) - Bờ Nam (Trà Vinh) - Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu - Các cồn cát, cù lao

4 1990- 2001

( + ) (+/-)

( + ) (+/-) (+/-) - Bờ Nam (Trà Vinh) - Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu - Các cồn cát, cù lao - Bờ bắc (Bến Tre) - Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên

( + ) (+/-) - Bờ bắc (Bến Tre) - Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên

ü ü ü ü ü ü ü ü ü

g g g g g g g g g

¹ ¹ ¹ ¹

í í í

Thíi Th¹nh¹ Thíi Th¹nh¹ Thíi Th¹nh

(+/-) (+/-) (+/-) - Bờ Nam (Trà Vinh) - Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu - Các cồn cát, cù lao Tổng thể (1952- 2001)

µ vINH µ vINH µ vINH µ vINH µ vINH µ vINH µ vINH µ vINH µ vINH

111111111

s« s« s« s« s« s« s« s« s«

n n n n n n n n n

TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó

g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ

An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

n n n n n n n n n

111111111

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

µ Lîi Lîi Lîi Lîi µ Lîi Lîi µ Lîi Lîi Lîi

An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn

Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh

B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh

cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng

H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH

Vïng xãi lë

An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy

An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn

H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü

Vïng båi tô

s s s s s s s s s

Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i

An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n

« « « « « « « « «

Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong

Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

n n n n n n n n n

Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o

TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh

g g g g g g g g g TiÒ TiÒ TiÒ T T T TiÒ TiÒ TiÒ iÒ iÒ iÒ

n n n n n n n n n

Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh

§a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc

VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim

§a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc

Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ

h Müh Müh Müh Müh Müh Müh Müh Mü h Mü

111111111

B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g B i Ó n § « n g

Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang

HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

c c c c c c c c c

Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä

æ æ æ æ æ æ æ æ æ

C C C C C C C C C

a a a a a a a a a

ö ö ö ö ö ö ö ö ö 111111111

C C C C C C C C C

u u u u u u u u u

hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª

n n n n n n n n n

n n n n n n n n n

−ng−ng−ng−ng−ng−ng−ng−ng−ng

cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG

g g g g g g g g g

H H H H H H H H H

Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç

u u u u u u u u u

HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng

NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng

555555555

Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam

Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n

555555555

ÖpÖpÖpÖpÖpÖpÖpÖpÖp

HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh

111111111

tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có

HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y

¶¶¶¶¶¶¶¶¶

213

Hình 5.6: Diễn biến xói lở-bồi tụ Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu (1952-1965)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ü ü ü ü ü ü

g g g g g g

An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh

Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh

111111111

tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH

TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó

111111111

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn

Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn

Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

cöa Hµm L cöa Hµm L cöa Hµm L cöa Hµm L cöa Hµm L cöa Hµm L cöa Hµm L cöa Hµm L cöa Hµm L

Öt Hoµ Öt Hoµ Öt Hoµ Öt Hoµ Öt Hoµ Öt Hoµ Öt Hoµ Öt Hoµ Öt Hoµ

B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh

H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü

An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy

Vïng xãi lë

An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn

Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i

Vïng båi tô

An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n

Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o

Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH H¢U tHµNH oµoµoµoµoµoµoµoµoµ

TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh

Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong

§a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc

VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim

Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ

hanh Mü hanh Mü hanh Mü hanh Mü hanh Mü hanh Mü hanh Mü hanh Mü hanh Mü

111111111

TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang

HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

Mü Long Mü Long Mü Long Mü Long Mü Long Mü Long Mü Long Mü Long Mü Long

a a a a a a a a a

c c c c c c c c c

C C C C C C C C C

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG

æ æ æ æ æ æ æ æ æ

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

C C C C C C C C C

u u u u u u u u u

hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª

n n n n n n n n n

H−ngH−ngH−ng c H−ng H−ng H−ng c H−ng c H−ng H−ng

n n n n n n n n n

H H H H H H H H H

Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç

u u u u u u u u u

g g g g g g g g g 111111111

NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng

HiÖp Mü HiÖp Mü HiÖp Mü HiÖp Mü HiÖp Mü HiÖp Mü HiÖp Mü HiÖp Mü HiÖp Mü

Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n

555555555

T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp

Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj

Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n

Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn

Hình 5.7: Diễn biến xói lở-bồi tụ Cửa Cổ Chiên- Cung Hầu (1965-1983)

Mü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü AnMü An

Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng

Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh Thíi Th¹nh

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH tX. tRµ vINH

111111111

s« s« s« s« s« s« s« s« s«

n n n n n n n n n

TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó TT. Th¹nh Phó

g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ g TiÒ

An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh An Th¹nh

BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre BÕn Tre

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

n n n n n n n n n

111111111

Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi Hoµ Lîi

An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn An §iÒn

Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn Hoµ ThuËn

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh Hoµ Minh

B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh B×nh Th¹nh

cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng cöa Hµm Lu«ng

guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ guþÖt Hoµ

cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH

Vïng xãi lë

An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy An Quy

An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn An ThuËn

H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü H−ng Mü

Vïng båi tô

L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ L−¬ng Hoµ

s s s s s s s s s

Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i Th¹nh H¶i

An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n An Nh¬n

« « « « « « « « «

Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong Th¹nh Phong

Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

n n n n n n n n n

Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o Ph−íc H¶o

TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh TT. Ch©u thµnh

g g g g g g g g g TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ TiÒ

n n n n n n n n n

Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh Giao Th¹nh

§a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc

111111111

VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim VÜnh Kim

§a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc §a Léc

Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ Kim Hoµ

Thanh Mü Thanh Mü Thanh Mü Thanh Mü Thanh Mü Thanh Mü Thanh Mü Thanh Mü Thanh Mü

B i Ó n § B i Ó n § B i Ó n § B i Ó n § B i Ó n § B i Ó n § B i Ó n § B i Ó n § B i Ó n §

111111111

Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c Mü Long B¾c

c c c c c c c c c

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang TT. CÇu Ngang

HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ HiÖp Hoµ

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

c c c c c c c c c

Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä Tr−êng Thä

æ æ æ æ æ æ æ æ æ

C C C C C C C C C

a a a a a a a a a

C C C C C C C C C

ö ö ö ö ö ö ö ö ö 111111111

u u u u u u u u u

hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª hiª

n n n n n n n n n

n n n n n n n n n

Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng Ph−íc H−ng

cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG cÇU nGANG

g g g g g g g g g

H H H H H H H H H

Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç Ç

u u u u u u u u u

HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng HiÖp Mü §«ng

NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng NhÞ Tr−êng

Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam Mü Long Nam

555555555

Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n Long S¬n

555555555

T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp

HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh

tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có

111111111

HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y

Duyªn H¶i Duyªn H¶i Duyªn H¶i Duyªn H¶i Duyªn H¶i Duyªn H¶i Duyªn H¶i Duyªn H¶i Duyªn H¶i

Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th h H µ S¬ Th h H µ S¬ Th h H µ S¬ Th h H µ S¬ Th h H µ S¬ Th h H µ S¬

L L L L L L L L L

HiÖ HiÖ HiÖ HiÖ HiÖ HiÖ HiÖ HiÖ HiÖ

Hình 5.8: Diễn biến xói lở-bồi tụ Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu (1990-2001)

214

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH TRẠNG CÁC CỬA THUỘC SÔNG TIỀN

Từ các số liệu phân tích nêu trên về diễn biến phát triển và biến động

của các Cửa sông thuộc sông Tiền, có thể nêu tổng quát về biến động chung và những đặc điểm riêng của mỗi vùng Cửa sông như sau:

+ Khu vực Cửa Tiểu-Cửa Đại:

Bờ biển phía bắc Cửa Tiểu (thuộc địa phận h.Gò Công Đông) diễn ra tình trạng xói lở kéo dài trong nhiều năm và chỉ dừng lại khi có tuyến đê biển.

Vùng biến động rộng nhất thuộc ven biển cù lao nằm giữa hai Cửa sông (địa phận các xã Phú Tân-Phú Đông, h.Gò Công Đông); vùng biến động có chiều rộng tới 5.600m. Tiếp theo đó là đoạn bờ biển phía nam Cửa Đại (thuộc địa phận xã Thừa Đức, h.Bình Đại) có vùng biến rộng từ 900m đến 1.400m. Nhìn chung, khu vực cụm Cửa sông này ít ổn định.

+ Khu vực đoạn bờ Cửa Ba Lai:

Vùng Cửa Ba Lai phát triển thiên về bồi tụ mạnh và Cửa sông sẽ bị lấp dần trong tương lai. Vùng biến động mạnh nhất có chiều rộng từ 1000m đến 3.400m. Đoạn trong sông biến động mạnh tại vị trí xây dựng đập và công Ba Lai (địa phận các xã Tân Xuân-h.Ba Tri và Thạnh Trị-h.Bình Đại). Vùng Cửa

sông này phát triển thiên về bồi tụ và ít ổn định.

+ Khu vực Cửa Hàm Luông:

Đoạn trong sông có nhiều cồn cát bồi (cù lao, giồng cát hay bar, đảo

chắn) phát triển và biến động theo dạng các “đảo cát trôi”. Ngoài Cửa sông có vùng biến động mạnh nhất ở phía bờ phía nam (địa phận các xã

An Điền-Thạnh Hải, h.Thạnh Phú) có chiều rộng từ 900m đến 3.700m. Nhìn chung, khu vực Cửa sông này ít ổn định.

Bảng 5.6: Tổng quát quá trình phát triển các Cửa sông thuộc nhánh sông

Tiền qua các giai đoạn khác nhau (1952-2001)

TT Cửa sông Khu vực bờ Trạng Đặc điểm

thái động thái

(1) (2) (3) (4) (5)

1 Cửa Tiểu

215

Cửa sông phát triển ít ổn định, bờ biển xói lở (-) (+/-) - Bờ bắc c.Tiểu (Gò Công Đông) - Đoạn sông thuộc c.Tiểu

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2 Cửa Đại

(+/-) (+/-) (+/-) (-) - Bờ nam c.Tiểu - Bờ bắc c.Đại - Đoạn sông thuộc c. Đại - Bờ nam c. Đại (Bình Đại)

3 Cửa Ba Lai

- Bờ bắc c.Ba Lai (h.Bình Đại) - Đoạn sông thuộc c.Ba Lai - Bờ nam c.Ba Lai (h.Ba Tri)

( + ) (+/-) ( + )

4

c.Hàm Luông

( + ) (+/-) (-)

5 ( + ) (+/-)

6

Cửa Cổ Chiên Cửa Cung Hầu

(+/-) (+/-) (+/-) - Bờ bắc Hàm Luông (Ba Tri) - Đoạn sông Hàm Luông thuộc vùng Cửa - Bờ nam c.Hàm Luông (h.Thạnh Phú) - Bờ bắc (thuộc t.Bến Tre) - Đoạn sông thuộc Cửa Cổ Chiên - Bờ Nam (Trà Vinh) - Đoạn sông thuộc Cửa Cung Hầu - Các cồn cát, cù lao (bar)

trong nhiều năm Cửa sông phát triển ít ổn định, bờ biển xói lở trong nhiều năm Cửa sông phát triển tương đối ổn định, sẽ bị bồi lấp trong tương lai gần Cửa sông phát triển ít ổn định, bờ bắc bồi tụ, ngược lại bờ nam bị xói lở mạnh Cửa sông bồi tụ mạnh, tương đối ổn định Cửa sông tương đối ổn định, các cồn cát, cù lao (bar) phát triển mạnh theo dạng “đảo cát trôi”

+ Khu vực Cửa Cổ Chiên-Cung Hầu:

Đoạn trong sông có nhiều cồn cát và cù lao, chúng phát triển và biến

biến động theo dạng “đảo cát trôi”. Ngoài Cửa sông, vùng biến động mạnh nhất thuộc đoạn bờ phía bắc (địa phận xã Thạnh Phong, h.Thạnh Phú) có chiều rộng từ 1000m đến 2.100m. Đoạn bờ phía nam biến động nhẹ, trạng thái bồi tụ-xói lở diễn ra tương đối cân bằng. Lòng dẫn Cửa sông có địa hình đáy nông, không thuận lợi cho giao thông thuỷ. Nhìn chung khu vực này ít có biến động lớn, tình trạng tương đối ổn định.

5.2.2.3. Biến động các cửa sông thuộc sông Hậu

216

Hiện nay sông Hậu chỉ còn có 2 Cửa chảy ra Biển Đông là các Cửa Định

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

An (phía bắc) và Cửa Tranh Đề (hay Trần Đề) ở phía nam. Cửa chính Bát Sắc có vị trí nằm tại Cù Lao Dung đã bị bồi đầy khi cồn Tròn và cồn Cộc phát

triển mạnh nối liền với Cù Lao Dung, tạo ra một bãi bồi lớn có diện tích tới 23.610 ha (nay là huyện Cù Lao Dung). Quá trình phát triển tương tự như ở Cù Lao Dung đã diễn ra trên nhánh sông Tiền thuộc địa phận tỉnh Bến Tre;

khi các bãi bồi Cửa sông phát triển mạnh, chúng trở thành các đảo bồi tụ giữa lòng sông, có diện tích lớn như các cù lao thuộc các huyện Mỏ Cày-Thạnh

Phú, huyện Giồng Trôm-Ba Tri và huyện Bình Đại. Trong quá trình phát triển có những Cửa sông tự mất dần đi vai trò của nó do tác động của các nhân tố tự nhiên và hoạt động khai thác của con người. Trường hợp suy thoái và “chết

dần” của Cửa Ba Lai là một ví dụ về sự tàn lụi của một Cửa sông thuộc sông Cửu Long.

- Đoạn sông thuộc Cửa sông Hậu

(Từ khu vực bến phà Cần Thơ tới khu vực bến phà Đại Ngãi-đỉnh Cù Lao Dung)

Đoạn sông Hậu ở khu vực này có đặc điểm là lòng dẫn khá thẳng và

rộng, có nhiều cồn cát và các bãi bồi giữa dòng sông. Do đó ở đây luôn tồn tại một lòng dẫn chính phát triển mạnh bên cạnh nhiều lòng dẫn phụ luôn biến động. Chiều rộng của lòng dẫn chính thay đổi từ 3.200m đến 4.500m.

Giữa lòng dẫn chính hình thành và phát triển các cồn cát, các cù lao (các bar, đảo chắn) có diện tích khá lớn như cù lao Bưng, cù lao Mây, cù lao Tân Bình, cù lao Nai, cù lao Bàn, cù lao Công Điền, cồn Đồng Tháp, vv...

Qua khu vực bến phà Cần Thơ về phía hạ lưu 8,5km dòng sông Hậu bắt đầu phân nhánh chảy giữa cù lao Mây (thuộc địa phận h. Trà Ôn); lòng dẫn

sông Hậu còn phân ra nhiều nhánh phụ nữa, chảy giữa các cù lao. Dưới đây là một số nét chính về biến động lòng dẫn thông qua quá trình phát triển đới bờ và diễn biến phát triển của các cồn cát, các cù lao trong khu vực nghiên cứu.

# Giai đoạn 1965-1983

Diễn biến chính trong giai đoạn này là các cù lao được bồi tụ mạnh, các

cồn cát nhỏ có xu thế nối liền với các cù lao lớn, như cù lao Mây (thuộc h.Trà Ôn), cù lao Nai (thuộc h.Kế Sách), cù lao Tân Bình (thuộc h.Cầu Kè). Các cồn cát và cù lao phát triển theo dạng các “đảo cát trôi”, chúng luôn biến

217

động hình thái và dịch chuyển dần về phía hạ lưu. Trên các cù lao từ lâu đã hình thành và phát triển các cụm dân cư lớn, trên các cồn cát nhỏ mới bồi chủ yếu được khai thác trồng rừng và nuôi trồng thuỷ sản.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bờ sông Hậu phát triển ở trạng thái bồi tụ-xói lở xen kẽ trên các đoạn ngắn. Nhìn về tổng thể, vùng bờ sông Hậu tương đối ổn định, ít có những biến động lớn.

# Giai đoạn 1983-1990

Biến động lớn nhất là trạng thái “trôi” của các cồn cát và các cù lao về phía hạ lưu. Phần đỉnh và đuôi các cù lao “dịch chuyển” từ 90m đến 200m, tương đương tốc độ biến động từ 11m/năm đến 22m/năm. Bờ sông Hậu phát triển theo trạng thái bồi tụ-xói lở xen kẽ. Trong đó, phía bờ nam sông Hậu

(thuộc địa phận thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng) phát triển thiên về trạng thái bồi tụ nhẹ. Phía bờ bắc sông Hậu (thuộc địa phận các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh) phát triển thiên về trạng thái xói lở nhẹ. Nhìn chung, trong giai đoạn

này lòng dẫn sông Hậu tương đối ổn định, ít có những biến động lớn.

# Giai đoạn 1990-2001

Biến động mạnh nhất diễn ra trên các cồn cát, các cù lao thuộc địa phận các huyện Kế Sách, Long Phú (tỉnh Sóc Trăng) và thuộc huyện Cầu Kè (tỉnh Trà Vinh). Đó là trạng thái phát triển và biến động theo dạng “đảo cát trôi”;

ngoài ra còn xuất hiện thêm các cồn cát mới tại khu vực bến phà Đại Ngãi (h.Long Phú, Sóc Trăng).

Bờ sông Hậu phát triển các đoạn xói lở-bồi tụ xen kẽ trên các đoạn ngắn với cường độ không mạnh. Nhìn chung, lòng dẫn và khu vực bờ sông Hậu tương đối ổn định, ít có những thay đổi lớn.

Như vậy, xét về tổng thể trong các giai đoạn khác nhau từ năm 1965 đến 2001, lòng dẫn sông Hậu (đoạn từ bến phà Cần Thơ tới bến phà Đại Ngãi) ít có những biến động lớn. Những biến động địa hình lòng dẫn chủ yếu diễn ra

trên các cồn cát, các cù lao, bãi bồi giữa lòng dẫn (các bar, đảo chắn); chúng phát triển và biến động theo dạng “đảo cát trôi” dần về phiá hạ lưu. Đoạn

sông Hậu tại khu vực các xã Song Phụng-Đại Ngãi (h.Long Phú, Sóc Trăng) bắt đầu phân nhánh chảy giữa một hệ thống các cù lao (gồm có Cù Lao Dung, cù lao Tròn, cù lao Cồn Cộc); nhánh phía Bắc chảy ra Cửa Định An và nhánh

phía Nam chảy ra Cửa Tranh Đề (có tên gọi khác là Trần Đề). Trước đây nằm giữa Cù Lao Dung và cù lao Tròn có một Cửa sông quan trọng khác là Cửa Bát Sắc (tên Cửa sông trùng với tên gọi khác của dòng sông Hậu). Hiện nay

218

Cửa chính Bát Sắc đã bị bồi lấp như đã đề cập ở phần giới thiệu ban đầu và chỉ còn hai Cửa sông đang hoạt động là Cửa Định An và Cửa Tranh Đề.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng

ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi

B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó

VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n

TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n

HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa

ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü

PPPPPPPPP

Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A

Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh

tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ

cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH

TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn

HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi

Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm

Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u

T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An

Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i

Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ

SongSongSongSongSongSongSongSongSong

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ

s s s s s s s s s

An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n

« « « « « « « « «

n n n n n n n n n

HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö

cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ

g g g g g g g g g

H H H H H H H H H

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn

Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh

kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH

Vïng xãi lë

Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó

TËTËTËTËTËTËTËTËTË

An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y

tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN

Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó

Vïng båi tô

Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh

Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi

TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn

Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi

Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi

Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü

§¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i

KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An

Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ

TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch

T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ

KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh

Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

TËp S TËp S TËp S TËp S TËp S TËp S TËp S TËp S TËp S

An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü

§¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i

Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn

An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u

An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1

HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh

Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m

Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc

L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh

ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi

B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó

VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n

TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n

HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa

ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü

Ph−Ph−Ph−Ph−Ph−Ph−Ph−Ph−Ph−

Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A

Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh

Hình 5.9: Diễn biến xói lở-bồi tụ đoạn bờ sông Hậu giai đoạn 1965-1983

tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ

cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH

TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn

HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi

Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm

Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u

T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An

Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i

Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ

Song Lé Song Lé Song Lé Song Lé Song Lé Song Lé Song Lé Song Lé Song Lé

TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ

s s s s s s s s s

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n

« « « « « « « « «

n n n n n n n n n

HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö

cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ

g g g g g g g g g

H H H H H H H H H

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn

Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh

kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH

Vïng xãi lë

Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó

TËp NTËp NTËp NTËp NTËp NTËp NTËp NTËp NTËp N

An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y

tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN

Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó

Vïng båi tô

Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh

Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi

TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn

Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi

Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi

Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü

§¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i

KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An

Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ

TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch

T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ

KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh

Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n

An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü

§¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i

Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn

An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u

An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1

HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh

Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m

Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc

L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh

Hình 5.10: Diễn biến xói lở-bồi tụ đoạn bờ sông Hậu giai đoạn 1983-1990

219

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng An Tr−êng

ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi ThuËn Thíi

B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó B×nh Phó

VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n VÜnh Xu©n

TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n TT. Trµ ¤n

HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa HiÕu NghÜa

ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü ThiÖn Mü

Ph−¬ng T Ph−¬ng T Ph−¬ng T Ph−¬ng T Ph−¬ng T Ph−¬ng T Ph−¬ng T Ph−¬ng T Ph−¬ng T

Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A Phó H÷u A

Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh Lùc Sü Thanh

Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó Th¹nh Phó

tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N tRµ «N

Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ Th«ng Hoµ

TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn TÝch ThiÖn

cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH cH¢U tHµNH

HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi HuyÒn Héi

Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm Phong NÉm

Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u Phó H÷u

T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An T©n An

Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i Tam Ng·i

Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ Xu©n Hoµ

Song Léc Song Léc Song Léc Song Léc Song Léc Song Léc Song Léc Song Léc Song Léc

TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ TT. CÇu KÌ

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

s s s s s s s s s

An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n An Phó T©n

« « « « « « « « «

n n n n n n n n n

HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö HiÕu Tö

cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ cÇU kÌ

g g g g g g g g g

H H H H H H H H H

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn Ch©u §iÒn

Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh Phong Thanh

kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH kÕ S¸CH

Vïng xãi lë

Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó Trinh Phó

TËp Ng·i TËp Ng·i TËp Ng·i TËp Ng·i TËp Ng·i TËp Ng·i TËp Ng·i TËp Ng·i TËp Ng·i

An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y An L¹c T©y

tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN tIÓU cÇN

Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó Phong Phó

Vïng båi tô

Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh Ba Trinh

Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi Thíi An Héi

TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn TT. TiÓu CÇn

Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi Ninh Thíi

Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi Long Thíi

Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü Nh¬n Mü

Ng·i H Ng·i H Ng·i H Ng·i H Ng·i H Ng·i H Ng·i H Ng·i H Ng·i H

§¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i §¹i H¶i

KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An KÕ An

Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ Hïng Hoµ

TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch TT.KÕ S¸ch

T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ T©n Hoµ

KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh KÕ Thµnh

Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông Song Phông

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n TËp S¬n

An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü An Mü

§¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i §¹i Ng·i

Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn Hå §¾c KiÖn

An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u An Qu¶n H÷u

An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1 An Th¹nh 1

HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh HËu Th¹nh

Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m Phó T©m

Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc Long §øc

L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh

TT. TTT. TTT. TTT. TTT. TTT. TTT. TTT. TTT. T

Hình 5.11: Diễn biến xói lở-bồi tụ đoạn bờ sông Hậu giai đoạn 1990-2001

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

- Khu vực Cửa Định An

Cửa Định An nằm giữa địa phận các huyện Duyên Hải, Trà Cú (tỉnh Trà Vinh) ở phía bắc và huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng) ở phía Nam. Đoạn

sông Hậu thuộc Cửa Định An có chiều rộng từ 1.400m đến 2.500m, rộng trung bình là 2.450m. Lòng dẫn tương đối thẳng, dạng loa hẹp và mở rộng dần về phía biển. Đây là kiểu Cửa sông hỗn hợp giữa loại Cửa có biên độ triều lớn (dạng loa) và Cửa được bồi tụ do có dòng bùn cát lớn (dạng lồi). Cửa Định An còn là tuyến giao thông thuỷ quan trọng đi vào cảng Cần Thơ

và các cảng sông khác ở ĐBSCL. Địa hình đáy vùng Cửa Định An bị bồi tụ mạnh và luôn thay đổi tuyến luồng. Vì vậy, tầu bè ra vào Cửa Định An gặp khó khăn khi thuỷ triều rút xuống thấp. Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu

tuyến luồng vùng Cửa Định An, nhằm tìm giải pháp ổn định tuyến luồng giao thông quan trọng này.

# Giai đoạn 1952-1965

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Định An (thuộc địa phận huyện Duyên Hải): phát triển các đoạn xen kẽ nhau và thiên về trạng thái xói lở. Các đoạn

220

xói lở chính thuộc địa phận xã Đông Hải có chiều dài 5,8km và đoạn thuộc

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

địa phận xã Dân Thành dài 5,2km. Vùng xói lở có chiều rộng trung bình 220m và rộng nhất tới 580m, tương đương tốc độ xói lở trung bình 17m/năm

và lớn nhất tới 44m/năm. Vùng bồi tụ là các bãi triều nằm trước các Cửa lạch với tốc độ bồi tụ từ 20m/năm đến 35m/năm.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Định An (thuộc huyện Cù Lao Dung): bờ biển được bồi tụ nhẹ, vùng bồi có chiều dài 3,4km, chiều rộng vùng bồi tụ trung bình là 35m, rộng nhất tới 58m, tương đương tốc độ bồi tụ 2,7m/năm

và lớn nhất là 4,5m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Định An: phát triển các đoạn bồi tụ-xói lở xen kẽ nhau trên các đoạn bờ dài từ 2,0km đến 3,5km. Vùng biến động mạnh

là các Cửa lạch triều nối với lòng dẫn chính. Nhìn chung đoạn sông nghiên cứu tương đối ổn định, ít có những biến động lớn trong thời gian từ 1952-1965.

# Giai đoạn 1965-1983

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Định An (thuộc địa phận huyện Duyên Hải): bờ biển biến động mạnh do quá trình bồi tụ và xói lở. Vùng xói lở dài

từ 4,0km đến 5,2km. Chiều rộng vùng xói lở trung bình là 160m và lớn nhất là 410m, tương đương tốc độ xói lở từ 9m/năm đến lớn nhất là 23m/năm. Giữa các đoạn xói lở là các đoan bờ bồi tụ có chiều dài từ 4,5km đến 5,7km.

Vùng bồi tụ có chiều rộng trung bình 500m và rộng nhất là 1.200m, tương đương tốc độ bồi tụ 28m/năm và lớn nhất 66m/năm.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Định An (thuộc huyện Cù Lao Dung): diễn ra hiện tượng xói lở nhẹ. Vùng bờ xói lở có chiều dài 2,9km, chiều rộng trung bình 90m, tương đương tốc độ xói trung bình 5m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Định An: diễn ra quá trình bồi tụ-xói lở xen kẽ, trong đó đoạn bờ phía bắc (thuộc huyện Trà Cú, Trà Vinh) tương đối

ổn định. Đoạn bờ phía nam (thuộc Cù Lao Dung) thiên về trạng thái bồi tụ. Vùng bồi tụ kéo dài 17,5km, rộng trung bình 60m và rộng nhất 170m, tương đương tốc độ bồi trung bình 3,5m/năm và lớn nhất 9,5m/năm.

# Giai đoạn 1983-1990

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Định An (thuộc địa phận huyện Duyên

221

Hải): bờ biển phát triển theo phương thức bồi tụ-xói lở xen kẽ. Các đoạn xói lở có chiều dài từ 2,8km đến 3,4km. Vùng xói có chiều rộng trung bình 90m và lón nhất là 220m, tương đương tốc độ xói 12,5m/năm và lớn nhất tới

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

31m/năm. Các vùng bồi tụ có chiều dài từ 3km đến 3,7km. Vùng bồi có chiều rộng trung bình 160m và lớn nhất 580m, tương đương tốc độ bồi tụ

trung bình 23m/năm và lớn nhất tới 83m/năm. Như vậy, vùng ven biển Cửa Đinh An phát triển hơi thiên về trạng thái bồi tụ.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Định An (thuộc huyện Cù Lao Dung): bờ biển được bồi tụ nhẹ. Vùng bồi có chiều dài 4,2km, rộng trung bình 65m, tương đương tốc độ bồi tụ trung bình 9,3m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Định An: bờ sông phát triển xói-bồi xen kẽ, trong đó bờ sông phía bắc (thuộc các huyện Tiểu Cần, Trà Cú, Duyên Hải) thiên về trạng thái xói lở. Vùng bờ xói lở rộng trung bình 50m và rộng

nhất là 100m, tương đương tốc độ xói 7m/năm và lớn nhất 12m/năm.

# Giai đoạn 1990-2001

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Định An (thuộc địa phận huyện Duyên Hải): phát triển theo phương thức bồi tụ-xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ. Các đoạn bồi tụ có chiều dài từ 3,2km đến 5,5km, vùng bồi rộng trung

bình 290m và lớn nhất 1000m, tương đương tốc độ bồi tụ 24m/năm và lớn nhất 80m/năm.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Định An (thuộc huyện Cù Lao Dung): bờ biển phát triển bồi tụ mạnh. Vùng bồi có chiều dài 5,3km, rộng trung bình 300m và rộng nhất 500m, tương đương tốc độ bồi tụ 25m/năm và lớn nhất 41m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Định An: phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái xói lở. Đoạn bờ xói lở chính thuộc địa phận h.Cù Lao Dung, có chiều dài tới 13,8km với tốc độ xói trung bình 2,5m/năm. Vùng bồi

tụ thuộc các Cửa lạch triều nối với lòng dẫn chính.

# Giai đoạn 2001-2006

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Định An (thuộc địa phận huyện Duyên Hải): phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ, thiên về trạng thái bồi tụ. Vùng bồi tụ thuộc phận các xã Dân Thành-Đông Hải có chiều dài 5,8km, rộng trung bình

110m và rộng nhất 280m, tương đương tốc độ bồi 18m/năm và lớn nhất 46m/năm.

222

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Định An (thuộc huyện Cù Lao Dung): tiếp tục được bồi tụ; vùng bồi có chiều dài 4,2km, rộng trung bình 70m và rộng nhất 120m, tương đương tốc độ bồi tụ 11m/năm và lớn nhất 20m/năm.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Vùng bồi tụ được trồng rừng ngập mặn, các loại thực vật phát triển rất tốt (hình 14 a,b).

HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y

HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh

Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp

Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n

Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Định An: phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ, trong đó đoạn bờ phía bắc (địa phận h.Trà Cú) thiên về trạng thái xói lở nhẹ; ngược lại đoạn bờ phía bờ nam (địa phận h.Cù Lao Dung) thiên về trạng thái bồi tụ nhẹ.

tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có

Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn

Öp Anh Öp Anh Öp Anh Öp Anh Öp Anh Öp Anh Öp Anh Öp Anh Öp Anh

TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có

Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u

Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n

Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c

§«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u

S S S S S S S S S

« « « « « « « « «

n n n n n n n n n

Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang

Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn

§¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An

g H g H g H g H g H g H g H g H g H

Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i

§«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n

K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I

AO dUNG AO dUNG AO dUNG AO dUNG AO dUNG AO dUNG AO dUNG AO dUNG AO dUNG

111111111

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Vïng xãi lë

Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh

111111111

D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh

Vïng båi tô

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

555555555

§«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i

555555555

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

B

B

B

B B

B B

B B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X X

X X

X X

X

X

X

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

hhhhhhhhh

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

111111111

h h h h h h h h h

A A A A A A A A A

n n n n n n n n n

555555555

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a

Hình 5.12: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1952-1965

223

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ÖpÖpÖpÖpÖpÖpÖpÖpÖp

Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj Long Hiªpj

Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n

Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn

p Anh p Anh p Anh p Anh p Anh p Anh p Anh p Anh p Anh

tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có

HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh

TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có

Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn

Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n

§«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u

TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i

Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa Tr−êng Long Hoa

S S S S S S S S S

Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

« « « « « « « « «

Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn

n n n n n n n n n

dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I

g g g g g g g g g

H H H H H H H H H

§¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

O dUNG O dUNG O dUNG O dUNG O dUNG O dUNG O dUNG O dUNG O dUNG

Vïng xãi lë

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh

111111111

Vïng båi tô

D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh

111111111

n 1n 1n 1n 1n 1n 1n 1n 1n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

111111111

§«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i

555555555

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

B B

B B

B B

B

B

B

555555555

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X

X

X

X X

X X

X X

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

) ) ) ) ) ) ) ) )

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

111111111

n n n n n n n n n

111111111

h h h h h h h h h

A A A A A A A A A

111111111

n n n n n n n n n

555555555

ccccccccc

Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n

Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn

Hình 5.13: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1965-1983

tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có

Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn

nhnhnhnhnhnhnhnhnh

TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có

Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u

Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n

Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n

Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c

§«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

S S S S S S S S S

« « « « « « « « «

n n n n n n n n n

Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang

Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn

§¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An

g H g H g H g H g H g H g H g H g H

Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i

§«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n

K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I

dUNG dUNG dUNG dUNG dUNG dUNG dUNG dUNG dUNG

111111111

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Vïng xãi lë

Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh

111111111

D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh

Vïng båi tô

111111111

n 1n 1n 1n 1n 1n 1n 1n 1n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

555555555

§«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i

555555555

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

B

B

B

B

B

B

B

B

B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X X

X X

X X

X

X

X

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

111111111

A A A A A A A A A

n n n n n n n n n

555555555

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

T T T T T T T T T

Hình 5.14: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1983-1990

224

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y

HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh

Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp

Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n

Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn

tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có

Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn

NghiÖp Anh NghiÖp Anh NghiÖp Anh NghiÖp Anh NghiÖp Anh NghiÖp Anh NghiÖp Anh NghiÖp Anh NghiÖp Anh

TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có

Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u

Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n

Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c

Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n

§«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

S S S S S S S S S

« « « « « « « « «

n n n n n n n n n

Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang

Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn

§¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An

g H g H g H g H g H g H g H g H g H

Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i

§«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n

K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I

ï LAO dUNG ï LAO dUNG ï LAO dUNG ï LAO dUNG ï LAO dUNG ï LAO dUNG ï LAO dUNG ï LAO dUNG ï LAO dUNG

111111111

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Vïng xãi lë

Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh

D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh

111111111

Vïng båi tô

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

§«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i

555555555

101010101010101010

555555555

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

B

B

B

B B

B B

B B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X X

X X

X X

X

X

X

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

B×nhB×nhB×nhB×nhB×nhB×nhB×nhB×nhB×nh

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

A A A A A A A A A

111111111

n n n n n n n n n

555555555

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

T T T T T T T T T

r r r r r r r r r

225

Hình 5.15: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 1990-2001

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ËpËpËpËpËpËpËpËpËp

T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp T©n HiÖp

u¶n H÷u u¶n H÷u u¶n H÷u u¶n H÷u u¶n H÷u u¶n H÷u u¶n H÷u u¶n H÷u u¶n H÷u

HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y HiÖp Mü T©y

HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh HiÖp Th¹nh

Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp Long HiÖp

Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n Th¹nh Hoµ S¬n

Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn Ngäc Biªn

tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có tRµ Có

Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn Ng·i Xuyªn

L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh L−u NghiÖp Anh

TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có TT. Trµ Có

Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u Long H÷u

Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n Thanh S¬n

Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n Kim S¬n

Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c Ngò L¹c

§«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u §«n Ch©u

Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh Trµ Vinh

S S S S S S S S S

« « « « « « « « «

n n n n n n n n n

Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang Hµm Giang

Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn Long Toµn

§¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An §¹i An

H H H

g H g H g H g g g g H g H g H

Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Tr−êng Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ Long Hoµ

Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë Ë

u u u u u u u u u

TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i TT. Duyªn H¶i

§«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n

K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I dUY£N H¶I

cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG

111111111

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Vïng xãi lë

Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh Long Kh¸nh

D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh D©n Thµnh

111111111

Vïng båi tô

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

555555555

§«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i §«ng H¶i

101010101010101010

555555555

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

ó ó ó ó ó ó

B

B

B

B B

B B

B B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X X

X X

X X

X

X

X

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

111111111

A A A A A A A A A

n n n n n n n n n

555555555

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

T T T T T T

Hình 5.16: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Định An giai đoạn 2001-2006

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

- Khu vực Cửa Tranh Đề (còn có tên gọi khác là Cửa Trần Đề)

Cửa Tranh Đề nằm giữa địa phận hai huyện Cù Lao Dung và Long Phú (tỉnh Sóc Trăng). So với Cửa Định An, Cửa Tranh Đề có quy mô nhỏ hơn.

Đoạn sông thuộc Cửa Tranh Đề có chiều rộng từ 800m đến 1.700m, rộng trung bình là 1.250m (rộng bằng một nửa đoạn sông Hậu thuộc Cửa Định An). Địa hình đáy vùng Cửa sông bị bồi tụ và biến động mạnh, có ảnh hưởng

xấu đến tuyến giao thông thuỷ đi qua Cửa sông. Vì vậy tầu thuyền vào cảng Trần Đề thường hay gặp khó khăn khi thuỷ triều rút xuống thấp.

# Giai đoạn 1952-1965

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Tranh Đề (thuộc địa phận h.Cù Lao Dung): bờ biển được bồi tụ mạnh, tại ví trí Cửa Bát Sắc (cũ) vùng bồi tụ dài

7,6km, rộng trung bình 700m và rộng nhất tới 2.200m, tương đương tốc độ bồi tụ trung bình 54m/năm và lớn nhất đạt tới 170m/năm.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Tranh Đề (thuộc huyện Long Phú): phát triển thiên về trạng thái xói lở, các đoạn bờ xói lở có chiều dài từ 5,3km đến 6,2km-thuộc địa phận các xã Trung Bình và Lịch Hội Thượng. Vùng bờ xói

226

lở rộng trung bình 90m và rộng nhất tới 150m, tương đương tốc độ xói lở trung bình 7m/năm và lớn nhất là 11,5m/năm.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề: phát triển xói lở-bồi tụ xen kẽ, trong đó phía bờ Nam (thuộc huyện Long Phú) thiên về tình trạng xói lở nhẹ.

Phía bờ Bắc (thuộc huyện Cù Lao Dung) thiên về trạng thái bồi tụ. Nhìn chung, lòng dẫn đoạn sông Hậu không có những biến động lớn mang tính đột biến.

+ Các cù lao, bãi bồi thuộc huyện Cù Lao Dung: diễn ra quá trình bồi tụ mạnh. Các lạch nước lớn chảy giữa cồn Tròn và Cù Lao Dung bị bồi lấp, dòng chảy bị thu hẹp dần. Vùng bồi có chiều rộng trung bình 170m, lớn nhất

là 370m, tương đương tốc độ bồi tụ trung bình 13m/năm và lớn nhất tới 28m/năm. Quá trình bồi tụ này góp phần làm mất dần vết tích của lòng sông và Cửa Bát Sắc.

# Giai đoạn 1965-1983

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Tranh Đề (thuộc địa phận h.Cù Lao

Dung): tiếp tục được bồi tụ mạnh, vùng bồi có chiều dài 8,7km, rộng trung bình 900m và rộng nhất là 1.700m, tương đương tốc độ bồi 50m/năm và lớn nhất 94m/năm. Quá trình bồi tụ mạnh đã lấp hẳn vị trí Cửa sông Bát Sắc.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Tranh Đề (thuộc huyện Long Phú): bờ biển phát triển thien về trạng thái xói lở. Vùng bờ xói lở có chiều dài 10,5km thuộc địa phận hai xã Trung Bình và Lịch Hội Thượng. Vùng xói lở có chiều

rộng trung bình 180m và lớn nhất là 350m, tương đương tốc độ xói lở 10m/năm và lớn nhất là 19m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề: bờ sông diễn ra quá trình xói lở và bồi tụ nhẹ. Khu vực biến động nhiều nhất thuộc địa phận các xã Đại Ngãi- Long Đức (h.Long Phú) bởi quá trình xói lở-bồi tụ xen kẽ. Đoạn sông Hậu

phía Cửa sông ít biến động, tương đối ổn định hơn giai đoạn trước.

+ Các cù lao, bãi bồi thuộc huyện Cù Lao Dung: các dòng chảy chính

giữa các cù lao tiếp tục được bồi đầy; các lạch nước bị thu hẹp làm cho vết tích các lòng dẫn chính trước đây bị xóa nhoà dần.

# Giai đoạn 1983-1990

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Tranh Đề (thuộc địa phận h.Cù Lao Dung): bờ biển tiếp tục được bồi tụ mạnh. Vùng bồi có chiều dài 8,4km, rộng

trung bình 160m và lớn nhất là 500m, tương tốc độ bồi trung bình 23m/năm và lớn nhất là 72m/năm.

227

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Tranh Đề (thuộc huyện Long Phú): bờ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

biển diễn ra quá trình bồi tụ-xói lở xen kẽ. Các đoạn bờ xói lở có chiều dài từ 2,8km đến 3,4km. Vùng xói rộng trung bình 35m và lớn nhất 75m, tương

đương tốc độ xói lở 5m/năm và lớn nhất 11m/năm. Các đoạn bờ bồi tụ có chiều dài từ 1,2km đến 3,6km.Vùng bồi có chiều rộng trung bình 75m và lớn nhất là 160m, tương đương tốc độ bồi tụ trung bình 11m/năm và lớn nhất

23m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề: bờ sông diễn ra quá trình bồi tụ-

xói lở xen kẽ. Khu vực biến động mạnh bởi quá trình xói lở thuộc địa phận các xã Song Phụng-Long đức (h.Long Phú). Vùng bờ xói lở có chiều dài 7,4km, vùng xói rộng trung bình 40m, rộng nhất 90m, tương đương với tốc

độ xói trung bình 6m/năm và lớn nhất là 14m/năm.

+ Các cù lao, bãi bồi thuộc huyện Cù Lao Dung: các đoạn bờ phía thượng lưu phát triển thiên về trạng thái xói lở, ngược lại phía hạ lưu cù lao

được bồi tụ nhẹ (hiện tượng “đảo cát trôi”) với tốc độ khoảng 2,5-3m/năm.

# Giai đoạn 1990-2001

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Tranh Đề (thuộc địa phận h.Cù Lao Dung): bờ biển tiếp tục được bồi tụ mạnh, vùng bồi có chiều dài 5,6km, rộng trung bình 700m, rộng nhất là 900m, tương đương tốc độ bồi tụ 58m/năm và

lớn nhất là 75m/năm.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Tranh Đề (thuộc huyện Long Phú): bờ

biển phát triển bồi tụ mạnh. Vùng bồi có chiều dài 10,3km, rộng trung bình 300m và rộng nhất là 700m, tương đương tốc độ bồi tụ trung bình 25m/năm và lớn nhất 58m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề: bờ sông diễn ra quá trình bồi tụ- xói lở xen kẽ. Đoạn bờ phiá bắc (thuộc h.Cù Lao Dung) phát triển thiên về

trạng thái xói lở nhẹ. Nhìn chung, trên đoạn sông Hậu thuộc vùng Cửa Tranh Đề tương đối ổn định, ít có những biến động lớn, ngoại trừ việc xuất hiện thêm hai bãi cát bồi giữa lòng dẫn thuộc khu vực xã Đại Ngãi (h.Long Phú),

có kích cỡ gần như nhau, dài 900m và rộng 200-230m, trên mặt cồn có nhiều thực vật ngập nước phát triển mạnh, như cây bần chua, sú vẹt, dừa nước,...(hình 20a,b).

228

+ Các cù lao, bãi bồi thuộc huyện Cù Lao Dung: các lạch triều tiếp tục được bồi tụ và thu hẹp chiều rộng. Đỉnh cồn Cộc được bồi tụ mạnh, vùng bồi

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

có chiều rộng 200m.

# Giai đoạn 2001-2006

+ Đoạn bờ biển phía bắc Cửa Tranh Đề (thuộc địa phận h.Cù Lao Dung): tiếp tục được bồi tụ. Đoạn bờ bồi tụ có chiều dài 6,4km, rộng trung bình 120m, rộng nhất là 330m, tương đương tốc độ bồi tụ 20m/năm và lớn nhất 55m/năm.

+ Đoạn bờ biển phía nam Cửa Tranh Đề (thuộc huyện Long Phú): được

bồi tụ trên các đoạn có chiều dài từ 1,2km đến 3,4km. Vùng bồi tụ rộng trung bình 80m và rộng nhất tới 240m, tương đương tốc độ bồi 13m/năm và lớn nhất 40m/năm.

+ Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề: bờ sông Hậu phát triển bồi tụ- xói lở xen kẽ, trong đó đoạn bờ phía bắc (h.Cù Lao Dung) thiên về trạng thái

xói lở, bờ phía nam (h.Long Phú) thiên về trạng thái bồi tụ nhẹ. Hai cồn cát hình thành giữa những năm 1990 tại khu vực Đại Ngãi tiếp tục phát triển, dài thêm 300m, tương đương tốc độ bồi tụ kéo dài 50m/năm.

+ Các cù lao, bãi bồi thuộc huyện Cù Lao Dung: biến động nhẹ với

229

trạng thái bồi-xói xen kẽ, không có những biến động lớn.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ggggggggg

ggggggggg

K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó

111111111

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

§¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2

Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n

555555555

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó

B B

B B

B B

B

B

B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X X

X X

X X

X

X

X

Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh

111111111

A A A A A A A A A

n n n n n n n n n

Vïng xãi lë

555555555

Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó

Vïng båi tô

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh

T T T T T T T T T

r r r r r r r r r

a a a a a a a a a

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng

§ § §

§ § §

§ § §

Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò

Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng

111111111 cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh

vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U

VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i

L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ

Hình 5.17: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1952-1965

sãC sãC sãC

T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng

P.6P.6P.6P.6P.6P.6P.6P.6P.6

TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó

G G G tX. sãC tR¡NG tX. sãC tR¡NG tX. sãC tR¡NG tX. sãC tR¡NG tX. sãC tR¡NG tX. sãC tR¡NG P.8P.8P.8P.8P.8P.8P.8P.8P.8

cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG

P.1P.1P.1P.1P.1P.1P.1P.1P.1

Long VÜn Long VÜn Long VÜn Long VÜn Long VÜn Long VÜn Long VÜn Long VÜn Long VÜn

P.4P.4P.4P.4P.4P.4P.4P.4P.4

Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

P.9P.9P.9P.9P.9P.9P.9P.9P.9

P.3P.3P.3P.3P.3P.3P.3P.3P.3

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

111111111

Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n

lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó

TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn TT. Mü Xuyªn

§¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

B

B

B

B B

B B

B B

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An

t t t t t t t t t

X X

X X

X X

X

X

X

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An Th¹nh Thíi An

Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

111111111

111111111

Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh

Vïng xãi lë

111111111

Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó

hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn hanh Thíi ThuËn

555555555

Vïng båi tô

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh

a a a a a a a a a

T T T T T T T T T

r r r r r r r r r

LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng

a a a a a a a a a

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

§ § §

§ § §

§ § §

Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò

Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng

cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh 111111111

Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ Kh¸nh Hoµ

L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ

vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U

VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i

Hình 5.18: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1965-1983

230

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

§«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n §«n Xu©n

T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng

TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó

K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è K ª n h Q u a n C h ¸ n h B è

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó

111111111

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

§¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2

Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n

555555555

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó

B B

B B

B B

B

B

B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X

X

X

X X

X X

X X

Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh

111111111

Vïng xãi lë

555555555

Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó

Vïng båi tô

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh

T T T T T T T T T

r r r r r r r r r

a a a a a a a a a

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng

§ § §

§ § §

§ § §

Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò

Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng

111111111 cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh

vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U

T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng T©n H−ng

TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó TT. Long Phó

K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n K ª n h Q u a n

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

Hình 5.19: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1983-1990

cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó

111111111

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

§¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2

Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n

555555555

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó

B

B

B

B

B

B

B

B

B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X

X

X

Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An

X X

X X

X X

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh

111111111

A A A A A A A A A

Vïng xãi lë

n n n n n n n n n

555555555

Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó

Vïng båi tô

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh

T T T T T T T T T

r r r r r r r r r

a a a a a a a a a

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng

§ § §

§ § §

§ § §

Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò

Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng

111111111

cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh

vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U

Hình 5.20: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 1990-2001

231

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ggggggggg

ggggggggg

K ª n h Q u a K ª n h Q u a K ª n h Q u a K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u K ª n h Q u

§Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An §Þnh An

cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG cï LAO dUNG

Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh Long VÜnh

Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó Long Phó

111111111

111111111

§¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1 §¹i ¢n 1

An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3 An Th¹nh 3

§¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2 §¹i ¢n 2

Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n Tµi V¨n

555555555

Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng Sãc Tr¨ng

( ( ( ( ( ( ( ( (

c c c c c c c c c

111111111

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó lONG pHó

B B

B B

B B

B

B

B

111111111

¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸ ¸

t t t t t t t t t

X

X

X

X X

X X

X X

Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An Viªn An

¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾ ¾

c c c c c c c c c

) ) ) ) ) ) ) ) )

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

§ § § § § § § § §

Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh Trung B×nh

Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ Þ

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

A A A A A A A A A

Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh Viªn B×nh

111111111

n n n n n n n n n

Vïng xãi lë

555555555

Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó Liªu Tó

Vïng båi tô

c c c c c c c c c

ö ö ö ö ö ö ö ö ö

a a a a a a a a a

s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh s. Mü Th¹nh

T T T T T T T T T

r r r r r r r r r

a a a a a a a a a

n n n n n n n n n

h h h h h h h h h

LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng LÞch Héi Th−îng

§ § §

§ § §

§ § §

Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò Ò

Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng Hoµ §«ng

111111111 cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh cöa Mü Th¹nh

vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U vÜNH cH¢U

VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i VÜnh H¶i

L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ L¹c Hoµ

Hình 5.21: Diễn biến xói lở-bồi tụ khu vực Cửa Tranh Đề giai đoạn 2001-2006

(mỗi ô vuông trên hình vẽ tương ứng 2,0 x 2,0 km ngoài thực địa)

Qua những số liệu phân tích trên, có thể nêu tổng quát quá trình phát

triển khu vực Cửa Định An- Cửa Tranh Đề trong các giai đoạn từ năm 1952 đến 2006 như sau

# Khu vực Cửa Định An:

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận huyện Duyên Hải, Trà Vinh)

phát triển theo trạng thái bồi tụ-xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ;

- Đoạn bờ biển phía nam (địa phận h.Cù Lao Dung, Sóc Trăng) phát triển bồi tụ mạnh, vùng bồi tụ được khai thác trồng rừng ngập mặn để bảo vệ vùng đất mới;

- Đoạn sông Hậu thuộc khu vực Cửa Định An phát triển theo hình thức

bồi tụ- xói lở xen kẽ và tương đối ổn định trong những năm qua;

Xét về tổng thể, khu vực Cửa Định An ít ổn định.

# Khu vực Cửa Tranh Đề:

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận h.Cù Lao Dung, Sóc Trăng)

luôn được bồi tụ mạnh (bồi lấp vị trí Cửa Bát Sắc);

232

- Đoạn bờ biển phía nam (thuộc địa phận h.Long Phú, Sóc Trăng), diễn

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ra quá trình phát triển bồi tụ-xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ;

- Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề phát triển theo trạng thái bồi tụ-

xói lở xen kẽ, không có những biến động lớn. Nhìn chung đoạn sông này tương đối ổn định trong những năm qua.

Về tổng thể, khu vực Cửa Tranh Đề ít ổn định.

Bảng 5.7: Diễn thế đường bờ tại khu vực Cửa Định An-Tranh Đề (1952-2006),

Trạng thái vùng bờ: bồi tụ (+), xói lở (-), bồi-xói xen kẽ (+/-)

Khu vực Cửa Định An Khu vực Cửa Tranh Đề

TT Đoạn bờ Đoạn bờ

Trạng thái ( +) Trạng thái (-) 1

Giai đoạn 1952- 1965

(-) ( + )

(+/-) (+/-)

(+/-) 2

1965- 1983

( + ) (-) (+/-)

( + ) (-) (+/-) ( +/-) 3

1983- 1990

(+/-) ( + )

(+/-) (-)

( + ) 4

1990- 2001

(+/- ) ( + )

( + ) ( +/-)

( + ) 5

2001- 2006

( + )

233

- Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) (+/-) ( + ) ( + ) - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu (Cửa Định An) - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu (Cửa Định An) - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu (Cửa Định An) - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu (Cửa Định An) - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

(+/-) (+/-)

( + ) (+/-)

(+/-) (+/-) ( + ) (+/-) Tổng thể (1952- 2006)

- Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu thuộc Cửa Tranh Đề - Đoạn sông Hậu (Cửa Định An) - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu (Cửa Định An)

# Khu vực các cồn, bãi bồi thuộc địa phận h.Cù Lao Dung: diễn ra quá trình bồi tụ mạnh, các lạch triều giữa các cồn bị thu hẹp dần; lòng dẫn và Cửa

sông Bát Sắc bị bồi lấp, thu hẹp và mất dần. Trong đó vùng bãi triều ven biển h.Cù Lao Dung phát triển rất mạnh nhờ quá trình bồi tụ kéo dài về phía biển.

Khu vực các cồn cát, bãi bồi thuộc địa phận huyện Cù Lao Dung được

bồi tụ mạnh, phát triển tương đối ổn định.

Qua phân tích diễn biến phát triển và biến động các vùng cửa sông ven

biển ĐBSCL từ năm 1952 đến 2006 dẫn đến một số nhận xét sau:

- Các vùng cửa sông ven biển ĐBSCL phát triển và biến động mạnh dưới tác

động của các nhân tố tự nhiên và các hoạt động khai thác, chỉnh trị của con

người.

- Biến động lớn nhất ở vùng nghiên cứu là 2 trong số 9 cửa sông thuộc hệ

thống sông Cửu Long đã ngừng chảy do bồi tụ và do xây dựng công trình

giao thông - thuỷ lợi. Đó là cửa Ba Lai thuộc sông Tiền ngừng chảy, do xây

đập và cống vào năm 1999; cửa Bát Sắc (Bassac) thuộc sông Hậu bị bồi lấp từ

những năm đầu thế kỷ 20, khi các cồn cát khu vực Cù lao Dung phát triển

mạnh, nối liền và trở thành một đảo chắn lớn trước cửa sông (huyện Cù lao

Dung ngày nay). Như vậy, hiện nay sông Cửu Long chỉ còn 7 cửa đang hoạt

động, trong đó có 5 cửa thuộc sông Tiền và 2 cửa thuộc sông Hậu.

- Khu vực các cửa thuộc sông Tiền phát triển theo phương thức bồi tụ - xói lở

diễn ra xen kẽ nhau. Vùng ven biển các cửa sông biến động với những quy

mô khác nhau.

234

- Khu vực các cửa thuộc sông Hậu có đoạn sông chảy khá thẳng, lòng dẫn

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

phát triển theo phương thức xói lở - bồi tụ, bên cạnh lòng dẫn chính luôn phát

triển các lòng dẫn phụ. Các cồn cát bồi (cù lao, giồng cát hay các bar, đảo

chắn) phát triển mạnh và dịch chuyển theo phương thức “đảo cát trôi” dần về

phía cửa sông. Vùng ven biển biến động mạnh theo phương thức bồi tụ - xói

lở, thiên về trạng thái bồi tụ và ít ổn định. Quy mô các vùng biến động ở hai

235

cửa sông có khác nhau.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

236

Hình 5.22. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

237

Hình 5.23. Bản đồ biến động đường bờ vùng cửa Tranh Đề

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

238

Hình 5.24. Bản đồ biến động đường bờ vùng cửa Định An

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

239

Hình 5.25. Bản đồ biến động đường bờ vùng cửa Hàm Luông

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

240

Hình 5.26. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long giai đoạn 1952 – 1965

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

241

Hình 5.27. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long giai đoạn 1965 – 1983

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

242

Hình 5.28. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long giai đoạn 1983 – 1989

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

243

Hình 5.29. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long giai đoạn 1989 – 2001

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 5.30. Bản đồ biến động đường bờ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long

244

giai đoạn 2001- 2006

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

5.2.2.3 . Biến động địa hình vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long.

Biến động địa hình vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long là kết quả

tương tác của 2 quá trình nội và ngoại sinh.

Quá trình nội sinh-chuyển động tân kiến tạo, kiến tạo hiện đại đã qui định

hướng chảy, thậm chí cả tuyến đặt lòng của sông Mê Kông và hướng phát triển

của đồng bằng, lấn biển của đường bờ trong Holocen giữa-muộn và hiện nay.

Trong các quá trình ngoại sinh, dòng chảy sông Mê Kông là yếu tố tiên

quyết, rất quan trọng đối với việc hình thành, phát triển của châu thổ. Nó

được xem như nguồn cung cấp vật liệu duy nhất để tích tụ, bồi đắp hình thành

châu thổ sông Mê Kông; là nguồn động lực rất quan trọng đối với việc gia

tăng hoặc suy giảm động lực của các dòng triều vùng cửa sông.

Nhưng từ khu vực gần cửa sông ra phía ngoài thuộc phần ngập nước ven

biền, tác động của sông không còn là duy nhất. Cùng với sông hoặc thay vào

vị trí ưu thế của sông là tác động của sóng và thủy triều. Các yếu tố địa hình

được tạo ra ở đây vửa có tính ổn định, vừa mang tính biến đổi.

Tính ổn định thể hiện trong việc duy trì sự tồn tại những đơn vị địa hình

lớn, các yếu tố địa hình chính; duy trì ưu thế hoặc tương tác của các quá trình

ngoại sinh; xu hướng phát triển của địa hình. Tính biến đổi thể hiện ở chỗ các

yếu tố địa có thể thay đổi kích thước, hình thái, vị trí, chu vi, diện tích phân

bố. Có thể thấy được sự biến đổi này qua biến động của đường bờ, địa hình

vùng ngập nước ( dòng triều, thùy delta, bãi ngầm, sường ngầm,...)

a- Bào xói, bồi tụ địa hình ngập nước ven bờ.

Có 3 cơ sở địa hình đã được sử dụng để phân tích đối sánh sự biến

động địa hình vùng ngập nước ven bờ đến độ sâu 20m.

Bản đồ UTM tỷ lệ 1/100.000 năm 1965 không ghi rõ tháng thu nhận dữ

liệu nên chỉ có thể tham khảo theo mốc năm. Hai bản đồ còn lại cùng cách

thành lập, hệ qui chiếu và tỷ lệ cho phép so sánh biến động địa hình cuối mùa

245

khô (4/2008) so với đầu mủa khô (12/2007).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trên bản đổ địa mạo tỷ lệ 1/200.000 có thể hiện các đường đẳng trị bồi

tụ bào xói tháng 4/2008 so với tháng 12/2007. Đường đẳng trị màu tím giá trị

0 là đường đẳng trị bào xói -bồi tụ bằng 0 (địa hình không biến đổi). Đường

đẳng trị màu xanh, giá trị âm là đường đẳng trị bồi tụ. Đường nối đỉnh gê bồi

tụ - trục bồi tụ có màu xanh. Đường đẳng trị màu nâu giá trị dương là đường

đẳng trị bào xói . Đường nối đáy trũng xói lở - trục bào xói có màu nâu.

Biến động lòng dẫn (dòng triều) ngoài cửa sông trong giai đoạn 1965

đến tháng 12/2007

Đặc điểm biến động lòng dẫn ngoài cửa sông tháng 4/2008 so với tháng

246

12/2007 được thể hiện trên bảng số 5.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 5.8. Phân bố độ sâu lòng dẫn và theo chiều dài lòng dẫn tương ứng tính từ cửa sông về phía biển (*)

Đoạn 1 Đoạn 2 Đoạn 3 Đoạn 4

Delta cửa sông

Chiều dài (km) Sâu đáy (m) Chiều dài (km) Chiều dài (km) Tháng năm (*) Sâu đáy (m) Chiều dài (km) Sâu đáy (m)

?/1965 3-3.5 10 2--3 6 C.Tiểu

8 2.8 12/2007 17 Sâu đáy (m) 3- 4,5

2.5 6-10 2 17 ?/1965 4-6 2.5- 3.5 C.Đại

5 3 5 12/2007 5-7 10 10- 5 10- 13

?/1965 7-3.5 4 >8 Ba Lai

12/2007 0-1 10 ?

>2 ?/1965 6-7 10.8

Hàm Luông 2 9-12 6.2 12/2007 7-10 16

?/1965 3-4.5 17 6-10 3 2 Cổ chiên

19 4

?/1965 16 5 6-10 1.4 5

Cung Hầu

12/2007 2-10 2.5- 3.5 12/2007 3-10 ?/1965 3.5-5 17 >12 13 10- 20

Định An 12/2007 7-10 24 9.5

? Tranh Đề ?/1965 12/2007 10-6 ? 13 ? 17

?/1965

Mỹ Thanh 12/2007 4.5-5 ? 7 ? 6-7 3.5- 6 7- 10 3.5- 3 ? 6- 5.5 10- 5 4.5- 6 5-3 3.5- 6 5-7 ? 7- 12 ? 6-5 4.5- 3 ? >6 ?

Chú thích (*): Theo bản đồ địa hình UTM tỷ lệ 1.100.000 tháng ? / 1965 và bản đồ địa hình tháng 12/2007

247

Theo

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 5.8 về phân bố độ sâu lòng dẫn và theo chiều dài lòng dẫn tương ứng

tính từ cửa sông về phía biển cho thấy các lòng sông biến đổi theo từng đoạn

như sau:

-Ở đoạn 1 (đoạn cửa sông), so với năm 1965, ở tháng 12/ 2007 địa hình

biến động rõ. Cụ thể: 1)- Lòng dẫn sâu hơn từ 1,5-6m ở các Cửa Tiểu, Cửa

Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu và cửa Định An; 2)- Lòng dẫn

nông hơn 2,5-6m ở Cửa Ba Lai

-Ở đoạn 2 ( đoạn nối tiếp đoạn 1 về phía biển), so với năm 1965, ở

tháng 12/ 2007 : Các đoạn lòng dẫn thuộc các Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ

Chiên, Cửa Cung Hầu vẫn duy trì sự lớn hơn về độ sâu và độ kéo dài của

lòng dẫn. Riêng với cửa Ba Lai, lòng dẫn có phần đào sâu hơn nhanh chóng

kết thúc ở khoảng cách ngắn hơn 5,2km.

- Ở đoạn 3 ( đoạn nối tiếp đoạn 2 về phía biển), lòng dẫn ở Cửa Sông

Cửa Đại, vào năm 1965 còn sâu 6-10m, nhưng ở tháng 12/ 2007 lòng dẫn

sâu tới 10-13m, dài 3km.

- Chiều dài lòng dẫn thấy được trên đoạn ở sông Cửa Đại năm 1965 là

21km, tháng 12/ 2007 là 23 km. Cũng như vậy với Cửa Tiểu là 24km và

19,8km; Cổ Chiên: 22 km và 23 km; Cung Hầu: 27,4km và 30km, v.v…

Các số liệu trên dù chưa đầy đủ và việc so sánh ít nhiều còn khập khiễng

nhưng đã cho thấy:

- Lòng dẫn trước cửa sông được phân thành nhiều đoạn dài ngắn, bồi tụ

xói lở khác nhau.

- Biến động lòng dẫn rất phức tạp, nhưng tổng chiều dài lòng dẫn qua

các số liệu ở Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, về cơ bản

không thay đổi. Ở những Cửa sông lớn hơn như Cửa Tranh Đề, Cửa Cổ

Chiên, Cửa Cung Hầu, lòng dẫn vươn xa hơn, tính từ cửa sông về phía biển,

đến 30-33,5km và có thể, còn lớn hơn.

248

- Biến động địa hình ngập nước ngoài cửa sông tháng 4/ 2008 (so với

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tháng 12/2007)

Biến động địa hình ngập nước ngoài cửa sông tháng 4/2008 (so với

tháng 12/2007) được thể hiện trên bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000 và các hình

vẽ 1- 5 dưới đây.

Biến động địa hình ngập nước ngoài cửa sông tháng 4/2008 (so với

tháng 12/2007) xảy ra trên tất cả các đơn vị địa mạo. Tuy vậy bào xói, bồi tụ

ở các delta khác với ở sườn và đồng bằng rìa delta.

- Biến động địa hình ở các delta tháng 4/ 2008 (so với tháng 12/2007)

Đặc điểm chung: Các delta bị phân hóa thành 2 khu: khu cửa sông

(khu A) và khu xa cửa sông (khu B) là phần còn lại của delta, tính đến ranh

giới với sườn delta. Khu A thường chiếm khoảng rộng bằng 1/2 đến 2/3 chiều

dài trục delta, có các trục bào xói, bồi tụ chạy cắt ngang dòng chảy. Khu B

chiếm khoảng rộng còn lại của delta, bị bào xói sâu 1-10m thường có sự phân

hóa thành 2 tiểu khu: tiểu khu Đông Bắc (tiểu khu B1) và tiểu khu Tây Nam

(tiểu khu B2)

Ở delta Tranh Đề có 1 trục bào xói và 1 trục bồi tụ:

- Tính từ cửa sông Tranh Đề, trục bào xói bắt đầu ở km 7,6, độ sâu

2m chạy dọc theo sườn phải của lòng dẫn, xói sâu 2-4m ở km 12,4; sâu

1-4m ở km 17,1 với bề rộng của rãnh xói tới 3-3,5km; tiếp theo trục bào

xói đổi hướng Tây Nam, bào xói thùy delta Tranh Đề và một phần delta

Mỹ Thạnh với độ sâu và độ rộng bào xói giảm dần trên chiều dài trên

249

6km qua cửa Mỹ Thạnh.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

250

Hình 5.31. Sơ đồ tuyến mặt cắt định hình ven bờ châu thổ sông Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Mặt cắt dọc số 1

Mặt cắt ngang số 1a

Mặt cắt ngang số 1b

Chỉ dẫn: Đường địa hình

Hình 5.32. Mặt cắt biến động địa hình cửa sông Cửa Đại-Cửa Tiểu

251

Mặt cắt dọc số 4

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Mặt cắt ngang số 4a (trên) , 4b ( giữa) và 4c ( dưới)

Chỉ dẫn: đường địa hình

252

Hình 5.33. Mặt cắt biến động địa hình cửa sông Cổ Chiên

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Mặt cắt dọc số 6

Mặt cắt ngang số 6a ( trên), 6b ( giữa), 6c ( dưới)

Chỉ dẫn: đường địa hình

253

Hình 5.34. Mặt cắt biến động địa hình cửa sông Định An – Tranh Đề

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Mặt cắt dọc số 2: cắt qua đoạn giữa cung bờ Cửa Đại – cửa Hàm Luông

Mặt cắt dọc số 3: cắt qua đoạn giữa cung bờ Cửa Hàm Luông – Cửa Cổ Chiên

Mặt cắt dọc số 5: cắt qua đoạn giữa cung bờ nối Cửa Cổ Chiên – Cửa Định An

(3c)

Chỉ dẫn: đường địa hình

254

Hình 5.35. Mặt cắt dọc hệ thống sông Tiền

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Cũng tính từ cửa sông Tranh Đề, trục bồi tụ bắt đầu ở km3,6, bồi tụ dày 5m; bồi tụ dọc theo sưên phải của lòng dẫn; bồi tụ dày 2m ở km5,9, dày 2,3m ở

km16,5. Tại km16,5 dải bồi tụ rộng đến 8 km, một phần phủ nên thùy delta ở phía Bắc, phần còn lại phủ trên đáy lòng dẫn ở cả nhánh phải và trái rồi đổi hướng Nam, bồi tụ dày 1-2m ở km21,8. Từ km21,8, dải bồi tụ đồi hướng Tây với bề rộng 3km, bồi tụ dày trên dưới 1m ở km27. Ở 2 đoạn cuối cùng, dải bồi tụ đã chắn ngang lòng dẫn nhánh phải với bề rộng đến 9km, bồi tụ dày 1-2m.

Khu B của delta Tranh Đề bị bào xói: rộng 2-4 km, sâu 1-5m ở tiểu

khu B2 ; rộng 5-7 km, sâu 1-4m ở tiểu khu B1 .

Delta Định An: Ở khu A có 1 trục bồi tụ và 1 trục bào xói:

-Trục bồi tụ bắt đầu từ cửa sông, bồi tụ dày 2,7m; đến km3, bồi tụ dày

6m; đến km11, bồi tụ dày 4m; đến km15,5, bồi tụ dày 3m; đến km26, bồi tụ

dày 1-2m. Từ km26, trục đổi hướng Nam đến km32, bồi tụ dày 1-3m với

chiều rộng dải bồi tụ 3-4km. Ở đọan này dải bồi tụ đã chắn ngang lòng dẫn

buộc dòng chảy sông phía trên có về phía thượng nguồn phải đổi hướng Nam.

-Có một hố bào xói 1,5 x 5km, sâu 6m cách đỉnh delta 5km , nhưng trục

bào xói chỉ bắt đầu từ km11,7, bào xói sâu 5m; đến km20, bào xói sâu 5,5m;

đến km18,7, bào xói sâu5,3m. Từ km18,7, trục bào xói đổi hướng Nam, rộng

5-8km, bào xói sâu 1-5m, cắt phá sưên phải của lòng dẫn, cắt qua cả đồng

bằng rìa và một phần delta Tranh Đề.

Ở khu B bào xói rộng 3-4km sâu 1-9m ở tiểu khu B2; rộng 7-10,5km, sâu

1-4,5m ở tiểu khu B1 .

Delta Cổ Chiên có 3 trục bồi tụ và 2 trục bào xói. Theo hướng từ Nam

nên Bắc là các trục:

-Trục bồi tụ 1 bắt đầu từ Cửa Cung Hầu, bồi tụ dày 7m. Trục này về cơ

bản đi theo lòng dẫn phía Nam bãi ngầm Ấp Bầu đến km 16. Trên đoạn này

dải bồi tụ rộng đến 2-2,5km, bồi tụ dày 1-2,7m, làm cho lòng dẫn cạn hơn và

khoảng 1/2 diện tích phía Tây Nam của bãi ngầm được phủ thêm bồi tích. Từ

255

km 16, trục bồi tụ chuyển hướng Nam, bồi tụ trên đồng bằng rìa delta, mỏng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

dần trên chiều dài 3,5km.

-Trục bào xói 1 bắt đầu từ km 11 cách cửa sông, cách trục bồi tụ 1

khoảng 1,7 km về phía Đông Bắc. Từ km 11, trục chuyển dần sang hướng

Nam Tây Nam đến km 15,7 thì chuyển hẳn hướng Nam đi tiếp đến km 24.

Trên đoạn này rãnh bào xói cắt vào bề mặt đồng bằng rìa delta trong dải rộng

1,5-3,5km, sâu 1-2,3m.

-Trục bồi tụ 2 bắt đầu từ vị trí cách Cửa Cung Hầu km 11 về phía Đông

Nam. Từ km 10 đến km 14, bồi tụ dày đến 0,7m, chiều rộng dải bồi tụ đến

1,5km; đến km 19, bồi tụ dày đến 1,5m, dài bồi tụ rộng đến 4,5km. Từ km 19

đến km 21 trục bồi tụ đổi hướng Nam, bồi tụ mỏng dần và chiều rộng dải

bồi tụ cũng hẹp dần trên thùy delta. Ở 2 đoạn cuối, do bồi tụ, lòng dẫn nông

hơn 0,5-1,5m trên khoảng dài 4,5km.

-Trục bào xói 2 bắt đầu từ km7,7 tính từ cửa sông Cổ Chiên. Ở km 7,7,

bào xói sâu 3,7m ; km 11,3 và km 14,5 bào xói sâu 0,5 -2m, trục bào xói cách

bờ trái 1,7km . Tại km 18,7, bào xói sâu 2,8m, bào xói trên thùy delta với hố

xói rộng 1,5 x 4,5km. Từ km 16,5 trục chuyển hướng Đông Đông Bắc; giảm

dần độ xói sâu từ km 18,7 đến km23.

-Trục bồi tụ 3 bắt đầu ở vị trí cách cửa s. Cổ chiên 8,7km. Trục bồi tụ

gần như trùng với mép bờ trái lòng dẫn, kéo dài tới km16. Ở đoạn này, bồi tụ

dày tới 4,5m, rộng dải bồi tụ tới 3km với 1/2 bề rộng phủ trên sưên lòng dẫn,

1/2 - bề mặt đồng bằng rìa delta.

Khu B bị bào xói: rộng 6-6,5km, sâu 1-10m ở tiểu khu B2; rộng 4-

4,5km, sâu 1-2m ở tiểu khu B1 .

Delta Hàm Luông: có 1 trục bào xói và 2 trục bồi tụ.

-Trục bồi tụ 1 bắt đầu từ cửa sông chảy dọc theo sưên phải của lòng dẫn.

Từ km5-đến km12, trục bồi tụ trùng với đáy lòng dẫn, bồi tụ dày 1 đến 3m,

dải bồi tụ rộng 1,5-2,3km. Từ km12 đến km14,5 trục chuyển hướng Nam, bồi

256

tụ dày đến 3,5m,.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

-Trục bào xói bắt đầu thấy ở km14 tính từ cửa sông Hàm Luông, theo

hướng Nam đến km21, sâu dần từ 1-5m, rộng dần từ 1-2,5km. Ở đoạn này,

trục bào xói phương kinh tuyến gần như trùng với trục của val ngầm, phá hủy

hoàn toàn val ngầm. Từ km 21 đến km 24,5, trục chuyển sang hướng Đông Nam,

bào xói chủ yếu trên thùy delta, xói sâu đến 9,1m, bề rộng bào xói 3,5-4km.

-Trục bồi tụ 2 bắt đầu ở km14 tính từ cửa sông về phía Đông. Từ km14,

theo hướng Nam đến km20, bồi tụ dày dần đến 6m, dải bồi tụ rộng dần từ 1

đến 3km. từ km20 đến km26 dải bồi tụ rộng 2 -3,2km , bồi tụ dày 5-8 m.

Ở khu B, tiểu khu B2 được bồi tụ, tiểu khu B1 bị bào xói sâu 1-8m với

bề rộng 6-7km. Ở tiểu khu B1 thấy được 2 gê và 1 rãnh bào xói phương Tây

Bắc Đông Nam gần song song với nhau.

Delta BaLai: trên 1/2 diện tích của delta (hầu hết thuộc khu B) bị bào

xói sâu đến 2-3m. Độ bào xói tăng dần về phía Đông.

Delta Cửa Đại: có 2 trục bào xói, 1 trục bồi tụ; 1 vùng bồi tụ trong khuA.

-Trục bào xói 1: bắt đầu từ phía trên cửa sông 2,7m, bào xói sâu 8,7m,

kéo qua cửa sông đến km5,2 ( tính từ cửa sông), sâu 1m . Từ km5,3 chuyển

dang trục bồi tụ.

-Trục bồi tụ tiếp tục từ trục bào xói 1 ở km5,3 đến km10,5, bồi tụ dày 0,5-

3,7m. Từ km10,5- km12,6 trục bồi tụ đổi hướng Đông, dải bồi tụ rộng 1,2-1,8 km .

-Trục bào xói 2 bắt đầu ở km12,5 tính từ cửa sông về phía Đông. Từ

km12,5, trục theo hướng Nam đến km21,7, bào xói sâu 1-6,6m, dải bào xói

rộng 1,5-2km. Từ km21,7 đến km26 trục đổi hướng Đông Nam trên đồng bằng

rìa delta, bào xói sâu giàm dần từ 6,7 đến 1-2m, dải bào xói rộng km 1,5-3 km.

-Vùng bồi tụ, tính từ cửa sông phân bố trên đoạn km14,5-km19,5; rộng

5 x 6km trùng gần hoàn toàn với trũng bào xói tháng 12/2007. Bồi tụ dày

1- 19,5 m được xem như đã lấp đầy trũng bào xói tháng 12/2007

257

Ở khu B, bào xói rộng 1,5-2km, bào xói sâu 1-5m ở tiểu khu B2; rộng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3-5km, sâu 3-10m ở tiểu khu B1 .

Delta Cửa Tiểu: bị xói sâu 1-5m ở phần phía Nam, bồi tụ 1-5m ở phần

phía Bắc. Ranh giới giữa 2 phần này gần như trùng với trục của delta

-Biến động các sườn delta và đồng bằng rìa delta tháng 4/ 2008 (so

với tháng 12/2007)

Đặc điểm chung:

-Trên bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000, quá trình bào xói đã làm nhòa

nhiều đoạn ranh giới của các sưên delta với nhau và với đồng bằng rìa delta, nên

không thể xem xét bồi tụ xói lở riêng theo từng đơn vị địa hình này.

-Nếu lấy đường đẳng trị bào xói- bồi tụ bằng 0 ( gọi tắt là đường bồi xói

0) làm cơ sở sẽ thấy phía Tây Bắc đường đẳng trị này là vùng bào xói (gọi tắt

là vùng X), địa hình bị bào xói sâu, bị hạ thấp 0,1 đến 11m, thường gặp 1-5m.

Phía Đông Nam đường đẳng trị này là vùng bồi tụ (gọi tắt là vùng T), địa hình

được bồi tụ với bề mặt địa hình được cao thêm, tích tụ dày 0,1-13m, thường

gặp là 3-5m.

-Đường bồi xói 0: về đại thể, chạy dọc theo sườn delta trong khoảng sâu

14-18m. Tuy vậy ở một số vị trí trên sườn delta, cùng với các đường đẳng trị

bồi tụ, đường bồi xói 0 cắt ngang qua các sưên delta hướng về đất liền tạo

nên các nêm bồi tụ dạng tam giác. Đỉnh của các nêm này thưêng hướng về

bờ, về phía cửa sông, nằm ở các độ sâu phổ biến là 5-7m, ít hơn - ở 9-11m,

hiếm hơn - ở 1-2m. Bề dày trầm tích ở các nêm nút từ 1-5m đến 10-20m,

thưêng dày hơn về phía biển.

-Ở vùng X có các dải trũng do bào xói, phương vuông góc hoặc song

song với bờ, bào xói sâu 1-5m đến 12m .

- Các nêm bồi tụ

Các nêm bồi tụ được gọi tên (T1, T2,…Tn), có chỉ dẫn địa danh gắn

258

với không gian phân bố của các cửa sông. Từ Bắc xuống Nam có 6 nêm bồi

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tụ có hình thái rõ và kích thước đáng kể sau:

-Nêm bồi tụ T1: nêm Bắc Cửa Đại, đỉnh nêm cách đỉnh delta Cửa Đại

26,5km về phía Đông Đông Nam. Đỉnh nêm ở độ sâu 17m; đáy ở độ sâu

21,5m, rộng đáy 5,6km; trục dài 5,2 km; bồi tụ dày đến 2m.

-Nêm bồi tụ T2: nêm Nam Cửa Đại, đỉnh nêm cách đỉnh delta Cửa Đại

24km về phía Đông Nam, ở độ sâu 12m; đáy ở độ sâu 21-23m, rộng 6 km;

trục dài 6km; bồi tụ dày 1-6,3m .

-Nêm bồi tụ T3: nêm giữa 2 cửa sông Cửa Đại – Ba Lai. Đỉnh nêm cách

bờ 7km, ở độ sâu 6m. Đáy nêm ở độ sâu 21-23m, rộng 7km; trục dài 8km;

bồi tụ dày đến 1- 4,6 m

-Nêm bồi tụ T4: nêm Hàm Luông. Đỉnh nêm cách đỉnh delta 20km về

phía Đông Nam, ở độ sâu 7m. Đáy nêm ở độ sâu 20-24m, rộng 19 km; trục

dài 8km; bồi tụ dày 1-8.5m

-Nêm bồi tụ T5: nêm Cổ Chiên. Đỉnh nêm cách đỉnh delta Cổ Chiên

30km về phía Đông. Đáy nêm nằm về phía cửa sông ở độ sâu 6-8m, rộng

5km. Trục dài 6,9km; bồi tụ dày 1-3m

-Nêm bồi tụ T6: nêm giữa 2 cửa sông Cổ Chiên và Định An. Đỉnh nêm

cách cửa sông Cồn Chung 0,6km, ở độ sâu <1m. Đáy nêm ở độ sâu 22-25m,

rộng 10,6km; trục dài 12,7km; bồi tụ dày 1-6,6 m

Trong 6 nêm kể trên, nêm bồi tụ T3 và T6 là lớn nhất; nêm T1, T2, T4,

T5 là những nêm nằm trong vùng quạt delta; nêm T3 và T6 là nêm thành tạo

giữa 2 cửa sông, trong đó có cửa sông Cồn Chung – cửa sông có liên quan

với kênh Chánh Bố.

Ở sông soài Rạp (ở rìa Bắc VNC) nêm bồi tụ phủ kín lòng dẫn, chêm nên

cà đồng bằng rìa delta. Đỉnh nêm ở độ sâu 1-3m; đáy ở độ sâu 20-25m, rộng

trên 25km; trục dài 29km; bồi tụ dày 1-23 m, dày hơn ở trục lòng dẫn và dày

259

hơn về phía biển.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Các dải trũng bào xói

Các trũng bào xói được gọi theo số (X1, X2,…Xn), địa danh gắn với

không gian phân bố của các cửa sông. Từ Bắc xuống Nam có 5 trũng bào

xói có hình thái rõ và kích thước đáng kể sau:

-Trũng bào xói X1: giữa Cửa Tiểu –Cửa Đại. Trũng bắt đầu từ đuôi cù

lao Hòa Đông, cách đỉnh delta Cửa Đại 7km về phía Đông , xói sâu 5m ở

km10, 10m từ km18-km25, 10m-0m từ km25 đến km34. Trũng có phương

Tây Bắc -Đông Nam, rộng 8-11km. Để hình thành trũng, toàn bộ bãi biển,

đồng bằng rìa delta giữa 2 cửa sông Cửa Tiểu - Cửa Đại, gần 2/3 diện tích

delta Cửa Đại và 3/4 diện tích sưên delta trước delta Cửa Đại bị bào xói mạnh.

-Trũng bào xói X2: ở phía Đông Nam cửa Ba Lai, rộng 14 x 18,7km,

trục dài phương Tây Bắc -Đông Nam. Từ cửa delta Balai, bào xói có thể đã

bắt đầu từ km 2-4(?),xói sâu 1m ở km 6,7; 5m ở km10; 8m từ km 15,6-

km19,8; 8m -0m từ km 19,8 đến km24,2; bằng 0 trên sưên delta ở độ sâu 20-

21m. Khi trũng này được hình thành, toàn bộ đồng bằng rìa delta giữa 2 cửa

sông Cửa Đại –Hàm Luông, delta Ba Lai, tiểu khu T2 delta hàm Luông và

1/2 diện tích sưên delta trước delta Cửa Đại Ba Lai đã bị bào xói mạnh.

-Trũng bào xói X3: ở khu giữa Cửa Đại và cửa Hàm Luông. Trũng có

dạng nêm, đáy nêm rộng 13-15 km chạy dọc theo bờ, đỉnh rộng 3,5km trên

sưên delta. Bào xói bắt đầu từ bờ. Tính từ bờ, bào xói sâu đển 3m ở km3,2;

3-5m từ km 3,2-10,3; 5-8m từ km10,3 đến km 16,4; 5-8m từ km 16,4-km20;

từ 8 -0m từ km20 đến km23. Mức xói bằng 0 ở độ sâu 20m trên sưên delta.

Để hình thành trũng, toàn bộ bãi biển, đồng bằng rìa delta giữa 2 cửa sông

Cửa Đại hàm Luộng, tiểu khu T2 của delta Cửa Đại, tiểu khu T1 của delta

hàm Luông và khoảng 2/5 diện tích sưêng delta trước giữa 2 cửa sông này đã

bị bào xói mạnh.

-Trũng bào xói X4: Trũng có dạng kéo dài phương Đông Bắc Tây

Nam, bắt đầu ở vị trí cách đỉnh delta Cổ Chiên 32km về phía Đông Nam, độ

260

sâu 17m trên sườn delta. Tử điềm này, trục bào xói chạy theo hướng Tây Nam

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

trên chiều dài 23km, xói sâu theo trục 8-10m. Tiếp theo, trục bào xói bị gián

đoạn cục bộ bởi gò bồi tụ đường kính 1,5km (từ km 23 -km23,5), bồi tụ dày

đến 0,6m. Từ km23,5 trục bào xói vẫn duy trì hướng Tây Nam, bào xói sâu 5

m ở km 24,6; 11,5m ở km 25,7. Từ km 25,7 trục đồi hướng Tây Bắc, bào

xói sâu 11,5m- đến 1m ở km32,6, vị trí này cách bờ biển hiện đại 800m. Dải

bào xói rộng 8-12 km.

Liên quan với trũng bào xói 4, toàn bộ tiểu khu T2 của delta Cổ Chiên,

toàn bộ các sườn delta tính đến độ sâu 18-20m, toàn bộ đồng bằng rìa delta ở phía

Tây Nam delta Cổ Chiên tính tới nêm bồi tụ T6 đã bị bào xói mạnh và rất mạnh.

-Trũng bào xói X5: bao quanh rìa Bắc, Đông, Đông Nam delta Định

An và delta Tranh Đề. Trục bào xói bắt đầu ở vị trí cách cửa sông Cồn chung

7,5km, cách bờ 1m. Theo trục bào xói, tính từ bờ, hướng Đông Nam, bào xói

sâu 1m ở km3,7; 4m ở km 5,9. Từ km5,9, theo hướng Tây Nam, bào xói sâu

4-4,5m từ km 5,9 đến km8,2; 5- 9,5m từ km8- km17,3, 10m-3,3m km17,3

km 32,6. Từ km32,6, trục bào xói đổi hướng Tây, bào xói sâu m 3-2m từ

km32,6-38,7. Từ km 38,7, trục đổi hướng Tây Bắc, bào xói sâu 1-2 m từ

km38,7 đến km 49, điểm này các đỉnh delta Mỹ Thạnh 10,2km về phía Tây

Nam. Nếu chia đoạn thì đoạn có bề rộng bào xói lớn nhất (9-13km) là đoạn

km3,7 - km8,2, bào xói sâu 1-4,5m ; đoạn có bề rộng bào xói nhỏ nhất (1,6-

4,5km, độ sâu bào xói nhò nhất( 1-2m )là đoạn km38,7-km49. Đoạn km8,2-

km38,7 là đoạn có độ sâu bào xói 3-9,5m, dải bào xói rộng 5-10km .

Liên quan với trũng bào xói X5, toàn bộ diện tích đồng bằng rìa delta

phía Tây Nam nêm bồi tụ T6, khu B delta Định An, khu B delta Tranh Đề ,

5. 3. BIẾN ĐỘNG CHẾ ĐỘ THUỶ THẠCH ĐỘNG LỰC

sưên delta tính đến độ sâu 14-18m đã bị bào xói mạnh và khá mạnh.

5.3.1. Cơ sở lý luận

Các yếu tố thuỷ động lực tác động mạnh mẽ và trực tiếp lên quá trình

hình thành và biến động môi trường địa chất biển. Dưới sự tác động của sóng,

261

thuỷ triều và dòng chảy đã gây ra sự chuyển động liên tục của các dòng vật

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

chất lơ lửng và trầm tích đáy, làm thay đổi địa hình đáy và bờ trong khu vực,

tạo nên các dạng phân bố khác nhau của trầm tích trong không gian và biến

động theo thêi gian.

Việc đo đạc về dòng chảy tức thời tại các trạm khảo sát mặt rộng là cần

thiết. Thứ nhất đây là số liệu phản ánh hiện trạng môi trường trong thêi gian

khảo sát giúp cho các nhà địa chất, địa hoá hiểu điều kiện tự nhiên khi thu

mẫu. Thứ hai nhê các công cụ phân tích chuyên ngành bổ trợ có thể tách ra

gần đúng thành phần ổn định và thành phần biến đổi. Với các giá trị của thành

phần ổn định có thể nắm được xu thế dòng chảy tồn tại trong cả khu vực.

Việc tiến hành thu thập số liệu đo đạc liên tục dài ngày (7 ngày đêm) về

dòng chảy là sự đòi hỏi bức thiết để có thể phân tích nhằm nắm được đặc

trưng chế độ dòng chảy trong vùng. Trước hết từ chuỗi số liệu 7 ngày có thể

tiến hành phân tích điều hoà để nhận đựơc các giá trị sóng triều thành phần

tương đối chính xác, làm cơ sở cho dự báo dòng triều trong khu vực. Từ đó có

thể xử lý bức tranh đo hiện trạng dòng chảy theo mặt rộng để tìm ra dòng

chảy thường kỳ không còn tác động của thành phần thuỷ triều. Nghĩa là ta có

được bản đồ phân bố không gian của dòng chảy thường kỳ với độ chính xác

có thể chấp nhận được thông qua tài liệu thực đo dòng chảy tức thêi tại các

trạm mặt rộng trên cơ sở kết quả phân tích tài liệu đo dài ngày và kết quả mô

hình toán học. Như vậy, ngoài việc tiến hành đo đạc lấy tài liệu, phương pháp

nghiên cứu phải bao gồm cả những mô hình toán học dựa trên cơ sở xuất phát

là những giá trị đo đạc được dùng như những dữ liệu để hiệu chỉnh mô hình.

Bằng tính toán ta có thể hiểu rõ hơn sự biến đổi theo không gian và thời gian

của hiện tượng.

5.3.2. Đặc điểm chế độ thủy thạch động lực

a- Biến động chế độ gió:

Theo các chuyên gia Khí tượng và Hải dương, chế độ gió vùng biển

ngoài khơi Tiền Giang-Sóc Trăng nên lấy theo các trạm quan trắc tại Côn

262

Đảo. Đây là trạm ngoài khơi xa bờ và có các chuỗi số liệu đủ dài để phân

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tích các đặc trưng chế độ gió tại khu vực khảo sát. Căn cứ vào các hoa gió và

các bảng tần xuất, được tính trung bình từ chuỗi quan trắc dài ngày, chế độ

gió ở đây được phân thành hai mùa rõ rệt, Đó là mùa gió Đông Bắc và mùa

gió Tây Nam. Mùa gió Đông Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Mùa gió Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9. Mùa gió Đông Bắc chủ

yếu thịnh hành hướng gió Đông Bắc (NE) và Đông (E). Tần xuất hướng gió

này theo các tháng dao động từ 66-86%. Mùa gió Tây Nam chủ yếu thịnh

hành hướng gió Tây Nam (SW) và Tây (W), Tần xuất giữa các tháng dao

động 42-85%. Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng giao thời, hướng và tốc độ

gió luôn thay đổi. Trên bảng tần suất chúng ta thấy tháng 1 là tháng đặc trưng cho

mùa gió Đông Bắc còn tháng 7 là tháng đặc trưng cho mùa gió Tây Nam.

Vùng biển ngoài khơi gió có tốc độ trung bình năm là 4,4m/s. Thời kỳ

ổn định của gió mùa Đông Bắc tốc độ trung bình tháng dao động từ 4,7-

5,9m/s. Mùa gió Tây Nam từ 2,7-4,9m/s. Tốc độ cực đại quan trắc được

đến 30m/s. Hai tháng giao thời, tháng 4 và tháng 10 tốc độ nhỏ hơn, xấp

xỉ 3m/s.

b- Chế độ dòng chảy

Nguồn số liệu để nghiên cứu:

Như đã trình bày trong phần khảo sát thực địa ở trên, để tìm hiểu chế

độ dòng chảy ở khu vực nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thu thập số liệu về

dòng chảy tại các trạm mặt rộng trong thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng

1/2008 và từ 4/2008 đến 5/2008 tương ứng với thời gian khảo sát địa chất.

Bên cạnh đó còn tiến hành thu thập số liệu đo đạc dòng chảy tại 3 trạm liên

tục trong mùa gió Đông Bắc, 3 trạm liên tục trong mùa gió Tây Nam. Đồng

thời tìm hiểu trường gió trung bình của các tháng khác nhau trong mùa Đông

Bắc và mùa gió Tây Nam, trên cơ sở đó dựa vào các mô hình toán học để tính

ra trường dòng chảy trung bình trong 2 mùa gió trên.

Kết quả phân tích điều hoà tại các trạm liên tục:

263

Theo lý thuyết phân tích điều hoà, giá trị dòng triều tại một thời điểm t

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nào đó bằng tổng thành phần không đổi và thành phần biến đổi bao gồm các

sóng triều đơn có chu kỳ xác định.

V(t) = Vo + ΣRi.cos(qi.t - αi)

Trong đó :

Vo- thành phần không đổi (dư lưu trung bình).

Ri, qi, αi - lần lượt là biên độ, tốc độ góc và pha của các sóng triều

thành phần. Giá trị biên độ và pha của mỗi sóng lại là tổng của hai thành

phần: thành phần tham số thiên văn thay đổi theo thời gian và thành phần phụ

thuộc vào điều kiện địa phương, không thay đổi với mỗi trạm - gọi là các

hằng số điều hoà.

Từ chuỗi quan trắc 7 ngày liên tục, bằng phương pháp bình phương tối

thiểu đã phân tích được hằng số điều hoà của 6 sóng chính. Trong đó hai sóng

chu kỳ 1 ngày (K1 và O1), hai sóng chu kỳ nửa ngày (M2 và S2) và hai sóng

nước nông chu kỳ 1/4 ngày (M4 và MS4).

Từ hằng số điều hoà ta tổng hợp lại được thành phần triều lưu và tính

được gía trị từng giờ của thành phần dư lưu trong thời gian đo đạc, đồng thời

có thể dự báo dòng triều cho một thời điểm bất kỳ.

Đối với chuỗi liên tục 1 ngày đã sử dụng phương pháp Mácximốp để

tính các thành phần sóng triều chu kỳ 1 ngày, 1/2 ngày và 1/4 ngày, từ đó tính

được các thành phần triều lưu và thành phần dư lưu.

Đề tài đã thu thập số liệu dòng chảy liên tục vào mùa Đông tại 3 trạm:

một trạm liên tục 7 ngày (Trạm HV3), một trạm liên tục 3 ngày (Trạm MH1)

và một trạm liên tục 1 ngày ( trạm MH2).

Trạm HV3 có toạ độ:

- Kinh độ: 106°26’,00 E Vĩ độ: 09° 27’,00 N

- Đo từ ngày 7/3 - 14/3/97

264

Trạm MH1 có toạ độ:

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Kinh độ: 106°26’,00 E Vĩ độ: 09°15’,00 N

- Đo từ ngày 8/3 - 11/3/97

Trạm MH2 có toạ độ là:

- Kinh độ:105°38'00 E Vĩ độ: 08°45'00 N

- Đo từ ngày 11/3 - 12/3/97

Trong mùa hè đề tài đã thu thập số liệu dòng chảy liên tục tại 3 trạm:

một trạm liên tục 7 ngày (Trạm HV1), một trạm liên tục 3 ngày (Trạm HV2)

và một trạm liên tục 1 ngày ( trạm HV3).

Trạm HV1 có toạ độ:

- Kinh độ: 106°33’E Vĩ độ: 09° 29’N

- Đo từ ngày 7/6 - 14/6/99

Trạm HV2 có toạ độ:

- Kinh độ: 106°30 E Vĩ độ: 09°28’N

- Đo từ ngày 15/6 - 16/6/99

Trạm HV3 có toạ độ là:

- Kinh độ:106°26’E Vĩ độ: 09°27’N

- đo từ ngày 17/6 - 18/6/99

Trên cơ sở kết quả phân tích điều hoà tại các trạm liên tục đã xây dựng

được các bảng tần suất dòng tổng cộng, dòng dư lưu, hoa dòng tổng cộng và

hoa dòng dư lưu.

Kết quả phân tích điều hoà chuỗi quan trắc 7 ngày và 3 ngày và 1 ngày

đã nhận được các thành phần dòng triều một ngày, nửa ngày, 1/4 ngày, dòng

triều tổng cộng và giá trị dư lưu trung bình.

Rõ ràng dòng triều nửa ngày lớn hơn hẳn dòng triều một ngày, phản

ánh đúng qui luật chế độ thuỷ triều ở vùng này như ta đã biết thuộc về chế độ

bán nhật triều không đều.

Dòng dư lưu có hướng xuống phía Nam là chính. Tại trạm HV3 do gần

265

cửa Định An bị ảnh hưởng của dòng sông và đường bờ nên dòng dư lưu khá

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

lớn, cực đại đạt tới 52,2cm/s. Tại trạm MH1 tốc độ dư lưu cực đại là

36,9cm/s. Tại trạm MH2 tốc độ dư lưu cực đại là 18,5cm/s.

Kết quả xây dựng bản đồ phân bố mặt rộng dòng chảy thường kỳ

Như phần khảo sát đã trình bày, tại các trạm mặt rộng trong mùa Đông

đã tiến hành đo đạc dòng chảy tức thời tại 3 tầng nước: mặt, giữa và đáy. Ta

biết rằng, dòng chảy đo được ở mỗi thời điểm như vậy là tổng hợp của hai

thành phần là dòng thường kỳ (hay lưu dư) và dòng thuỷ triều. Dòng thuỷ

triều gây nên do chuyển động của mặt trăng và mặt trời biến đổi theo từng giờ

cả về độ lớn lẫn hướng dòng với qui luật xác định. Dòng thường kỳ gây nên

do nhiều nguyên nhân như gió, do trường mật độ nước biển không đồng nhất,

do độ nghiêng mực nước, do dòng sông chảy vào biển... Thông thường thì

dòng thường kỳ biến đổi chậm theo thời gian, chúng tồn tại ổn định hàng

tuần, hàng tháng hay cả mùa tuỳ theo độ kéo dài của sự tồn tại các hình thế

thời tiết hoặc các điều kiện tự nhiên quyết định gây nên dòng chảy.

Như vậy, nếu tách được dòng thuỷ triều ra từ dòng tổng hợp đo tức

thời, sẽ nhận được giá trị dòng thường kỳ trong vùng.

Từ tài liệu đo đạc mùa Đông (12/2007 – 1/2008) đo các trạm mặt rộng

và theo các trạm liên tục dài ngày, cho phép ta tách ra gần đúng giá trị dòng

thường kỳ ở đây.

Trước hết, như đã nói ở phần phân tích điều hoà các chuỗi quan trắc ở

trạm 7 ngày đêm: từ kết quả phân tích điều hoà có thể dự báo dòng thuỷ triều

cho bất kỳ thời điểm nào mà ta quan tâm, trong mùa khảo sát tại các trạm đó.

Với các trạm mặt rộng khác, kết hợp với kết quả giải mô hình toán về phân bố

các sóng triều ta có thể tính dự báo dòng triều cho từng trạm mặt rộng.

Ta sẽ nhận được giá trị dòng thường kỳ tại các trạm mặt rộng theo

công thức chung:

Vtk (t) = Vđo(t) - Vtriều(t)

266

Ở đây Vđo(t) là véc tơ dòng chảy đo tại trạm mặt rộng ở thời điểm t,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10 Vtriều(t) là véc tơ dòng triều theo tính toán cũng tại thời điểm t trên cơ sở hằng

số điều hoà phân tích được.

Kết quả cuối cùng ta nhận được dòng thường kỳ tại mỗi trạm theo tầng

đo (mặt, giữa và đáy). Sau đó tiến hành lấy trung bình cho cả ba tầng

nhận được dòng thường kỳ trung bình của cả lớp nưóc. Biểu diễn trên

bản đồ tỉ lệ 1:200.000.

Từ những kết quả này có thể rút ra những nét chính về đặc điểm hệ

thống dòng chảy thường kỳ trong vùng nghiên cứu như sau:

Thống nhất với hoàn lưu chung mùa Đông, dòng chảy thường kỳ ở đây

có hướng chảy từ Bắc xuống Nam.

Khu vực ngoài khơi trường dòng chảy khá ổn định hơn so với khu vực gần bờ.

Khu vực gần cửa Định An và cửa tranh Đề do chịu ảnh hưởng của dòng

sông và đường bờ nên dòng chảy ở đây diễn biến phức tạp hơn.

Chế độ dòng chảy thường kỳ

Chế độ dòng chảy thường kỳ khu vực ven bờ châu thổ sông Cửu Long chịu

ảnh hưởng trực tiếp của chế độ gió theo hai mùa Đông Bắc và Tây Nam. Các

kết quả nghiên cứu chế độ dòng chảy thường kỳ bằng phương pháp số thường

thực hiện các tính toán dòng chảy thường kỳ với các loại tốc độ gió khác nhau

trong mùa gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Trên hình 6-10 là chế độ

dòng chảy gió (không tính dòng chảy trong sông đổ ra) khu vực nghiên cứu

trong gió mùa Tây Nam ứng với gió trung bình là 5m/s và gió lớn 13m/s và

trong gió mùa Đông Bắc ứng với gió trung bình là 5m/s và gió lớn 13m/s.

Các kết quả nhận được cho thấy khu vực phía Nam châu thổ sông Cửu

Long (từ cửa Định An xuống phía Nam) trong cả hai mùa gió dòng chảy

thường kỳ đều có hướng dọc theo bờ biển đi xuống phía Tây Nam. Trong

mùa gió mùa Tây Nam dòng chảy có hướng ngược lại - đi lên phía Đông Bắc

tại khu vực từ cửa Định An đến Vũng Tầu. Còn trong mùa gió Đông Bắc toàn

267

bộ vùng châu thổ sông Cửu Long dòng chảy thường kỳ có hướng thịnh hành

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

theo hướng Đông Bắc Tây Nam. Theo đặc trưng chế độ dòng chảy nhận được

có thể thấy rằng trung bình năm sẽ có một lượng bùn cát rất lớn của sông Cửu

Long được vận chuyển xuống phía Nam qua mũi Cà Mâu đó có thể là nguyên

268

nhân tạo ra các bãi bồi lớn như khu vực bãi cạn Cà Mau.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 5.36. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu

thổ sông Cửu Long, trong gió mùa Tây Nam V=5m/s [5]

Hình 5.37. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu

269

thổ sông Cửu Long, trong gió mùa Tây Nam V=13m/s [5]

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 5.38. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu thổ sông

Cửu Long, trong gió mùa Đông Bắc V=5m/s [5]

270

Hình 5.39. Kết quả tính toán dòng chảy thường kỳ vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, trong gió mùa Đông Bắc V=13m/s[5]

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

c. Biến động chế độ sóng

Sóng biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình

động lực ven bờ, đặc biệt là vận chuyển trầm tích. Nói chung vùng biển

nghiên cứu, chế độ sóng phù hợp hoàn toàn với chế độ gió.

Tháng 1 là tháng đặc trưng cho gió mùa Đông Bắc, sóng tập trung chủ

yếu vào hướng Đông Bắc (chiếm 86,69%-bảng 1). Độ cao sóng trong gió mùa

Đông Bắc khá lớn. Tính trung bình có khoảng 6% số trường hợp quan trắc

được độ cao sóng từ 2m trở lên (cấp V trở lên) [1].

Tháng 7 là tháng đặc trưng cho mùa gió Tây Nam, trường sóng tập

trung vào các hướng Tây và Tây Nam chiếm 44,11% và 36,41% tổng số

trường hợp tương ứng (bảng 2). Độ cao sóng cũng nhỏ hơn so với gió mùa

Đông Bắc trong tháng 1.

Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng đặc trưng cho thời kỳ chuyển tiếp giữa hai

mùa gió nên có tần suất xuất hiện phân bố tương đối rộng theo tất cả các hướng.

d. Biến động chế độ mực nước

Chế độ mực nước ở đây được quyết định bởi chế độ thuỷ triều. Các quá

trình thuỷ thạnh động lực khác nhau có liên quan đến mực nước, như nước

dâng do bão, lũ ... không được đề cập đến ở đây.

Chúng tôi đã sử dụng hằng số điều hoà tính toán được tại hai trạm đặc

trưng cho chế độ thuỷ triều ở đây, đó là trạm Định An và trạm Vũng Tàu để

tính dự báo mực nước và nghiên cứu đặc điểm, tính chất thuỷ triều ở đây.

Dựa vào chỉ số Vander-Stock để đánh giá tính chất thuỷ triều. Chỉ số

này được xác định từ biên độ của các sóng K1, O1 và M2, S2 theo tỷ số

(HK1+HO1)/(HM2+HS2). Tại trạm Định An chỉ số này là 0.82, tại trạm

Vũng Tàu là 0.95 . Như vậy tính chất thuỷ triều ở đây thuộc loại hỗn hợp triều

thiên về bán nhất triều. Hầu hết số ngày trong tháng có hai lần nước lên và hai

lần nước xuống với sự chênh lệch đáng kể của hai độ lớn triều trong ngày. Độ

lớn triều trong kỳ nước cường có thể đạt tới trên dưới 3m. Kỳ nước cường

271

thường xảy ra vào thời kỳ trăng non và trăng tròn (tức là vào đầu tháng và

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

giữa tháng âm lịch).

Ở đây chúng tôi đã sử dụng hằng số điều hoà để tính dự báo cho hai

tháng đại diện cho hai mùa tại hai trạm nói trên, đó là tháng 7/2008 đại diện

cho mùa Hè và tháng 1/2008 đại diện cho mùa Đông.

+ Đặc điểm chế độ vận chuyển bùn cát và vật liệu lơ lửng khu vực

ven bờ biển châu thổ sông Cửu Long

- Đặc điểm chế độ của dòng vận chuyển bùn cát ven bờ và vật liệu lơ

lửng trong nước khu vực châu thổ sông Cửu Long phụ thuộc vào các yếu tố

thủy văn bao gồm lưu lượng nước và bùn cát trong sông đổ ra thông qua các

cửa sông chính của sông Cửu Long và vào chế độ động lực như thủy triều,

sóng và gió. Chế độ thủy văn - mùa lũ và mùa khô và chế độ thủy triều đóng

vai trò quan trọng trong chế độ vận chuyển bùn cát và vật liệu lơ lửng khu

vực nước ven bờ vùng châu thổ sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu về chế

độ vận chuyển bùn cát và vật liệu lơ lửng khu vực ven bờ châu thổ sông Cửu

Long đưa ra các kết luận chính sau:

- Nguồn vật liệu lơ lửng trong sông tải ra phụ thuộc chủ yếu vào chế độ

thủy văn. Vào mùa lũ (tháng 10) vật liệu lơ lửng vận chuyển dọc theo sông đổ

ra biển sau đó chuyển hướng dọc theo bờ biển theo hướng Đông Bắc Tây

Nam. Vật liệu lơ lửng trong mùa lũ có hàm lượng cực đại trong lớp nước trên

mặt và do sự phân tầng khá mạnh nên được vận chuyển đi khá xa về phía Tây

Nam. Nguồn vật liệu này là cơ sở để tạo ra khu vực bãi bồi lớn phía Tây mũi

Cà Mâu-bãi cạn Cà Mâu. Ảnh hưởng của dòng triều trong các pha triều đến

sự vận chuyển nguồn vật liệu lơ lửng khu vực châu thổ sông Cửu Long mạnh

nhất về mùa khô-tháng 3,4. Về mùa này có thể tạo ra vùng có độ đục cực đại-

ứng với vùng có hàm lượng chất lơ lửng cực đại với gianh giới biến đổi theo

các pha triều. Vào mùa khô gianh giới của vùng này có thể lên tới 24 km về

phía thượng lưu cửa Định An trong khi đó vào mùa lũ biên của vùng này nằm

ngay tại cửa.

272

- Thông lượng sa lắng của bùn cát lơ lửng có thể đạt cực đại tới 113kg/ m2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

x ngày trong mùa khô trong pha triều rút trong khi đó thông lượng này trong

mùa lũ nhỏ hơn nhiều do sự phân tầng mạnh của nước biển-sông trong mùa lũ.

- Thành phần carbon hữu cơ và phi hữu cơ trong bùn cát đáy chiếm

khoảng 0,12-5,94 và 0-0,49 phần trong trọng lượng bùn cát bẫy được tại khu

vực cửa sông và ven bờ châu thổ sông Cửu Long.

- Thành phần cấp hạt có đường kính tăng dần từ cửa sông với đường

kính cấp hạt trung bình khoảng 20-100 µm ra phía ngoài khơi đến độ sâu 15-

20 m với đường kính cấp hạt trung bình khoảng 300-400 µm.

+ Đặc điểm bồi xói biến động bờ biển cửa sông khu vực ven bờ biển

châu thổ sông Cửu Long

- Định hướng đường bờ theo hướng Đông Bắc Tây Nam và chế độ mùa

của sóng và gió cùng với chế độ thủy văn mùa khô và mùa lũ quyết định đến

chế độ vận chuyển bùn cát và xói lở biển động bờ biển cửa sông khu vực ven

bờ châu thổ sông Cửu Long. Dưới tác dụng của sự thịnh hành của gió mùa

Đông Bắc, các bờ Nam của các cửa sông khu vực nghiên cứu có xu thế bồi tụ

tạo thành các bar cửa sông rộng lớn tiêu biểu là Cù Lao Dung. Trong khi đó

tại các vùng bờ phía Bắc xu thế chung là bị xói lở.

- Hiện tượng sa bồi các luồng lạch tại các cửa sông phụ thuộc vào chế

độ thủy văn và bùn cát trong sông tải ra. Một tác động không nhỏ đến sa bồi

luồng lạch là nêm mặn lan truyền trong các cửa sông đặc biệt vào mùa khô.

Dòng chảy mật độ làm gia tăng dòng chảy đáy vào các cửa trong pha triều lên

đặc biệt vào mùa khô. Dòng chảy này bơm một lượng bùn cát khá lớn vào sâu

trong sông và gây ra sa bồi luồng lạch.

- Trong mùa lũ xảy ra hiện tượng tại các khu vực phía Nam vùng ven

bờ châu thổ sông Cửu Long chỉ quan trắc thấy một hướng dòng chảy xuống

phía Tây Nam. Điều này minh chứng dòng vận chuyển bùn cát theo hướng

Tây Nam mang một lượng lớn bùn cát của sông Cửu Long xuống phía Tây

Nam tạo ra khu vực bãi cạn Cà Mâu. Hướng vận chuyển của bùn cát thịnh

273

hành xuống phía Tây Nam cũng được quan trắc thấy trong số liệu của các bẫy

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

bùn cát thả tại khu vực Gành Hào.

Cơ chế của quá trình vận chuyển bùn cát và biến động bờ biển cửa

sông khu vực châu thổ sông Cửu Long được xác định như sau:

+ Vào mùa lũ, một lượng lớn bùn cát của sông Cửu Long đổ ra biển

qua các cửa. Có khoảng 30% lượng bùn cát rất mịn (đặc trưng của các sông

có độ dốc không lớn như sông Cửu Long) sẽ bị sa lắng ngay tại vùng ven bờ

cửa sông. Khoảng 1/3 lượng bùn cát mịn này được quay trở lại các cửa sông

và vùng ven bờ có độ sâu nhỏ hơn 5m dưới tác dụng của sóng hướng Đông và

Đông Bắc. Nguồn bùn cát này tạo ra các bãi bồi lớn tại bờ Nam các cửa sông

khu vực nghiên cứu. Nguồn bùn cát còn lại của sông Cửu Long (70%) được

đổ ra biển và vận chuyển dọc theo lưỡi đục xuống phía Tây Nam.

+ Vào mùa gió Đông Bắc, dòng chảy mạnh xuống phía Tây Nam sẽ

vận chuyển 2/3 lượng bùn cát này và 1/2 lượng bùn cát ven bờ xuống phía

Tây Nam. Hiện tượng này được làm mạnh lên do tác động của trường sóng

trong gió mùa Đông Bắc khá mạnh, có chu kỳ dài đã xáo trộn tất cả lớp bùn

cát đáy vùng ven bờ để cho dòng chảy tải đi.

+ Vào mùa khô, xảy ra hiện tượng xa lắng bùn cát tại vùng ven bờ do

dòng chảy mật độ tuy nhiên hiện tượng này chỉ giới hạn trong khu vực các

cửa sông và độ sâu nhỏ hơn 5 mét nước.

+ Không quan trắc thấy có hiện tượng vận chuyển bùn cát ngược lên

5. 4. BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ BIỂN, BỜ SÔNG VÀ VÙNG CỬA SÔNG DO

phía Đông Bắc trong mùa gió mùa Tây Nam.

TÁC ĐỘNG NHÂN SINH, PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG

Thông qua quá trình khai phá lãnh thổ, các luồng dân di cư, các phương

thức sản xuất, sản xuất lúa gạo, nuôi trồng thủy sản vùng cửa sông, điều tiết

hệ thống đập ngăn trên các sông nhỏ, vận tải thủy, quai đê lấn biển của cư dân

274

ở đây đều tác động tới quá trình bồi tụ hoặc xói lở bờ sông, bờ biển, hình thái

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cửa sông vùng nghiên cứu. Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương và các

cư dân đã có những giải pháp thích hợp cho việc sử dụng hợp lý nguồn tài

nguyên thiên nhiên và giảm nhẹ tác động của thiên tai đối với phát triển kinh

tế xã hội vùng ven bờ biển châu thổ sông Cửu Long như: phát triển rừng ngập

mặn; nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái; lấn biển; phát triển giao thông;

quy hoạch dân cư ven biển; phát triển vùng cửa sông ven biển với mạng lưới

thủy lợi. Đáp ứng nhu cầu cấp nước, phát triển các khu công nghiệp...

- Phát triển rừng ngập mặn làm biến đổi từ dải đất bùn sét sang thành

đất trồng cấy, phát triển các khu dân cư, hạn chế sự biến động theo dạng đảo

cát trôi nhằm ổn định phần cù lao trôi ở thượng nguồn và cố định dần đuôi cù lao

bằng các biện pháp công trình và phi công trình như: kè, trồng rừng ngập mặn.

- Vấn đề nuôi trồng thủy sản có ảnh hưởng quan trọng đến biến động

đường bờ trong vùng cửa sông Cửu Long. Việc đào ao-đìa nuôi về mặt tích

cực là làm nhanh chóng cố định các vùng đất mới hình thành, nhưng nuôi

thủy sản có tác động đến xâm nhập mặn và xung phèn do đào sâu đầm, đìa.

Do bóc hết tầng sét dưới đáy dẫn nước mặn vào, tạo điều kiện nhiễm mặn và

xung phèn từ dưới đáy lên.

- Trong hai thập kỉ gần đây, trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long

nói chung, vùng cửa sông ven biển nói riêng đã khai thác tiềm năng của nhiều

điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế, bên cạnh việc phát triển hệ thống

cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, như giao thông thủy và bộ, khách sạn nhà

hàng... được phát triển mạnh. Các cơ sở hạ tầng như xây dựng bờ kè khu du

lịch biển Tân Thành (Tiền Giang) nhằm bảo vệ đê biển, các khách sạn, các dự

án quy hoạch du lịch sinh thái ở Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng

đều chịu tác động của các yếu tố nhân sinh.

- Vấn đề lấn biển là một truyền thống lãnh thổ lâu đời tại vùng cửa

sông ven biển sông Cửu Long dẫn đến việc di giãn dân được tiến hành khá

đồng loạt tại các huyện ven biển trong 4 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh

275

và Sóc Trăng. Theo tài liệu cổ cho thấy lịch sử khẩn hoang, lấn biển đã có từ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

300 năm nay, là một quá trình phát triển liên tục với những chính sách khai

hoang trong từng thời điểm khác nhau. Việc lấn biển đã biến đổi hình hài các

vùng cửa sông, đường bờ biển trong suốt 300 năm qua.

- Phát triển kinh tế xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn

nhất của nước ta luôn được Đảng chính phủ quan tâm đặc biệt. Ở đây trong

những thập niên trước cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông

vận tải nói riêng vừa thiếu vừa yếu... Năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã có

quyết định 344/2005/QĐ-TTg phê duyệt phương hướng nhiệm vụ và kế

hoạch phát triển giao thông vận tải vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm

2010, định hướng đến năm 2020. Do đó tới năm 2010, đồng bằng sông Cửu

Long có được hệ thống kết cấu hệ tầng giao thông vận tải tương đối hoàn

chỉnh trên các lĩnh vực, đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng

không và đường sắt. Đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng kết hợp

chặt chẽ giao thông với thủy lợi, giao thông với kiểm soát lũ và xây dựng các

cụm các tuyến dân cư vùng ngập lụt. Giải pháp phát triển mạng lưới thủy lợi

được nhìn nhận dưới góc độ biến động vùng cửa sông ven biển và môi trường

trầm tích của chín cửa sông Cửu Long với một hệ thống kênh mương thủy lợi

nối với hệ thống sông làm thành mạng lưới chằng chịt chia nước-thoát lũ và

giảm nhẹ ảnh hưởng của thủy triều vào địa bàn thấp vùng cửa sông.

Giải pháp quy hoạch dân cư ven biển: vùng cửa sông ven biển sông

Cửu Long, dân cư ở đây là dân cư tại chỗ, tương đối ổn định, không biến

động bở các luồng dân di cư, không có hiện tượng di cư tự do đến khu vực

này. Vì vậy, quỹ đất ở đây như đã phát triển từ ngàn xưa đến nay, chỉ có kỹ

thuật canh tác cần đổi mới, phương thức sản xuất cũng cần thay đổi. Trước

đây, các cơ sở hạ tầng chỉ phục vụ cho thủy lợi như: nạo vét, đào mới các

tuyến kênh mương để thâm canh tăng vụ. Vì vậy, việc quy hoạch dân cư ven

biển liên quan chặt chẽ tới việc quy hoạch các vùng ngọt hóa, xây dựng các

tuyến đê biển và các giải phát quan trọng ổn định dân cư vùng ven biển như

tập trung dân cư tại trung tâm xã đảm bảo cho người dân tiếp cận thuận lợi

276

đến các công trình phúc lợi công cộng. Xây dựng các trung tâm xã thành

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

những trung tâm dịch vụ tổng hợp làm cầu nối giữa đô thị và nông thôn. Thí

dụ như ở Bến Tre vùng đê biển thuộc các xã Giao Thạnh, Thanh Phong,

Thanh Hải, An Thuận, An Quy, An Nhơn hiện nối với bên ngoài duy nhất

bằng đường tỉnh lộ 30. Hướng phát triển quy hoạch dân cư ven biển sẽ có tác

động đến việc sử dụng đất kể cả quy mô và tính chất sử dụng sẽ có ảnh hưởng

đến động lực, ảnh hưởng đến quá trình bồi tụ và xói lở và phát triển vùng cửa

sông và đường bờ biển.

Tóm lại, biến động cơ sở hạ tầng vùng cửa sông ven biển châu thổ sông

Cửu Long chịu tác động của các tác nhân như nội sinh, ngoại sinh và nhân

5. 5. BIẾN ĐỔI CỔ ĐỊA LÝ THỜI KỲ HOLOCEN - HIỆN ĐẠI

sinh làm biến động các cơ sở hạ tầng.

Những biến động hình thái địa hình, chế độ thủy hải văn, môi trường

trầm tích và cơ sở hạ tầng đều diễn ra trong thời kỳ Holocen-hiện đại. Từ các

nguồn tư liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài cho phép tập thể tác giả phác

họa những biến đổi cổ địa lý của vùng nghiên cứu trong thời kỳ Holocen-hiện

đại theo không gian và thời gian.

Thời kỳ Holocen sớm (11.700-8.000 năm BP)

Theo các tư liệu thì sau thời kỳ biển lùi cực đại vào Pleistocen muộn,

khi mà vùng Đông Nam Á là một vùng lục địa rộng bao gồm cả Việt Nam,

Philippin, Indonesia… Từ 18.000 năm Bp trở lại đây lại bắt đầu một đợt biển

tiến có quy mô toàn cầu-biển tiến Flandrian. Thời kỳ 18.000-11.700 năm Bp

diện tích vùng nghiên cứu chưa chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển, mà chịu

tác động của quá trình bóc mòn và phong hóa bề mặt. Hoạt động của các dòng

sông trong thời kỳ này với các mực xâm thực cơ sở thay đổi theo chiều từ

ngoài biển đi dần vào phần lục địa để tạo nên đường bờ biển-quá trình biển

tiến. Đường bờ biển cổ đó đã vượt qua đường bờ biển hiện nay vào gần tới

Châu Thành (huyện Long Phú), An Hưng (huyện Cù Lao Dung) thuộc tỉnh

Sóc Trăng ; Cà Cối, Long Toàn, Mỹ Long (huyện Duyên Hải), tỉnh Trà Vinh,

277

An Điền (huyện Thạnh Phú), An Thuận, Cù Lao Hồ (huyện Ba Tri), Bình

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Huệ, Bình Đại (huyện Bình Đại), tỉnh Bến Tre; Pháo Đài, Tân Hòa (huyện Gò

Công Đông), tỉnh Tiền Giang. Đường bờ biển cổ này hình thành trong khoảng

8.000-7.000 năm Bp vào cuối Holocen sớm- đầu Holocen giữa. Các kết quả

phân tích cổ sinh như tảo Diatomea, Foraminifera trong các trầm tích hình

thành trong giai đoạn Holoen sớm tại lỗ khoan Trà Vinh, lỗ khoan Bến Tre 1,

Bến Tre 2 và Bến Tre 3 đều không gặp hóa thạch. Điều này khẳng định các

thành tạo hệ tầng Bình Đại hình thành trong môi trường lục địa.

Thời kỳ Holocen giữa ( 8.000-3.000 năm BP)

Trên bản đồ địa chất loạt tờ đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ 1/200.000

Nguyễn Ngọc Hoa và nnk (1991) đã thể hiện trầm tích của hệ tầng Hậu

Giang. Tuổi của hệ tầng này được xác định là Holocen giữa, nguồn gốc biển.

Hệ tầng này cũng được thể hiện trên các tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000

như tờ Phú Quốc-Hà Tiên, Cà Mau-Bạc Liêu, Trà Vinh- Côn Đảo, Long

Xuyên, Mỹ Tho và cả trên diện tích vùng nghiên cứu của đề tài KC09.06/06-

10. Mặc dù trong nhiều công trình công bố, hệ tầng Hậu Giang được các tác 1-2hg) với các kiểu giả xác định thời gian thành tạo là Holocen sớm-giữa (Q2

nguồn gốc biển, sông biển, biển đầm lầy…song theo thứ tự địa tầng, cứ liệu

tuổi tuyệt đối, cổ sinh thì hệ tầng Hậu Giang cần được xếp vào Holocen giữa.

Thời kỳ Holocen muộn-3.000 năm BP đến ngày nay

Sau khi biển tiến Holocen đạt tới cực đại, ngay từ 5.500-4.000 năm BP

biển đã bắt đầu từ từ rút khỏi đồng bằng, bằng chứng thể hiện khá rõ trên địa

hình đồng bằng hiện nay, đó là hệ thống các ‘giồng’ cát. Từ Cai Lậy qua Nhị

Quý, Tân Hiệp đến Khánh Hậu với các giồng cát lộ trên mặt có hình dạng

cánh cung, lưng quay ra biển, kích thước chiều ngang không ổn định có

hướng song song với đường bờ biển hiện tại. Các giồng cát chỗ rộng nhất đạt

1-2km, chỗ hẹp nhất 200-300m, kích thước to nhỏ khác nhau. So với địa hình

xung quanh các giồng cát địa hình nhô cao hơn khoảng 0,5-0,7m. Khoảng

278

cách giữa các giồng là một vùng thấp, thành phần chủ yếu của các giồng cát

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

là cát hạt mịn lẫn ít bột màu vàng chứa các kết hạch pisolit và vỏ Pelecypoda,

Gastropoda và Foraminifera. Thời gian thành tạo của các giồng như giồng Cai

Lậy 4.540±110 năm (mẫu Gif.1713 do H. Fontaine thu thập), giồng Trà Vinh

ở Thạnh Phú - 2.500±80 năm ; NB7-tại Trà Vinh do đoàn địa chất 204, kết

quả 2.500±70 năm ; tại Tân Hiệp, Tiền Giang phân tích thân cây hóa than ISG cho tuổi 2.700±200 năm ; giồng Tân Hiệp, Tiền Giang mẫu 14C cho tuổi 4.580±110 năm BP. Ngoài kết quả 14C tại giồng Cai Lậy và giồng Tân Hiệp

có tuổi Holocen giữa, còn lại các mẫu khác có tuổi Holocen muộn.

Tóm lại, bằng các tài liệu nghiên cứu về đặc điểm thạch học trầm tích, cổ

sinh vật, địa mạo… Những biến đổi về cổ địa lý trong Holocen-hiện đại đã

được thể hiện, gắn liền với dao động mực nước biển thông qua lần biển tiến

cực đại, biển thoái trên phạm vi toàn cầu với các lần biển lấn có tính khu vực ở

vùng nghiên cứu của đề tài. Khí hậu chuyển từ khí hậu nhiệt đới nóng khô thời

kỳ Pleistocen muộn sang nhiệt đới nóng ẩm thời kỳ Holocen. Biến đổi điều

kiện cổ địa lý xảy ra trong Holocen muộn đặc biệt từ 2.000 năm trở lại đây đã

trải qua các đợt biển lấn có tính khu vực vào các thời điểm cách ngày nay

khoảng 2.150-1900 năm BP; biển rút diễn ra trong thời gian 1.900-1.600 năm

BP ; biển lấn trong thời gian 1.600-800 năm BP. Từ 800 năm trở lại đây mực

279

nước biển dao động trong khoảng -0,1 đến +0,1m (theo Liêu Kim Sanh 1982).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 6: BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN-

6. 1. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN HIỆN ĐẠI VÙNG

HIỆN ĐẠI VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG

NGHIÊN CỨU

Môi trường trầm tích là nơi xảy ra quá trình vận chuyển và lắng đọng

các kiểu trầm tích. Ví dụ môi trường lòng sông, môi trường bãi bồi, hồ đầm

lấy, vũng vịnh, biển nông, đầm lầy ven biển ...Ứng với mỗi môi trường trầm

tích là các kiểu trầm tích với những đặc điểm khác nhau. Nói một cách khác,

môi trường trầm tích cũng là khái niệm tướng trầm tích. Trong phạm vi khu

vực nghiên cứu đã thiết lập 16 kiểu trầm tích (Hình 6.1).

6.1.1. Môi trường trầm tích trên đất liền

3a)

Cồn cát chắn cửa sông (giồng cát) (amSQ2

Cát cồn cát chắn cửa sông (trên bản đồ kí hiệu số 1), có dạng lưỡi liềm,

quả thận, hình cánh cung đơn giản hoặc tạo thành từng chùm phân nhánh

phức tạp quay lưng ra phía biển. Người dân Nam Bộ gọi các cồn cát chắn cửa

sông cổ này là giồng cát. Thành phần cấp hạt của trầm tích này chủ yếu là cát

(60-80%), còn lại là bột sét và vụn vỏ sò vì vậy đã tạo nên màu vàng nâu đặc

trưng cho môi trường oxi hóa. Các giồng cát có độ cao thay đổi 2-7m, rộng

100-3000m, phân bố có quy luật thành từng hệ thống hình vòng cung cách

nhau từ 3-10km, chạy song song với đường bờ hiện đại. Chúng để lại dấu ấn

các thế hệ đường bờ cổ trong quá trình bồi tụ tăng trưởng chuyển từ nhóm

tướng tiền châu thổ cổ sang nhóm tướng đồng bằng châu thổ hiện đại. Nhờ có

các thế hệ giồng cát này mà đồng bằng châu thổ khu vực nghiên cứu có địa

hình lượn sóng đặc trưng có tuổi trẻ dần từ đất liền ra biển. Cũng tương tự

như các cồn chắn cửa sông hiện đại các giồng cát là sản phẩm của quá trình

tái trầm tích theo cơ chế vun cao do sóng và dòng chảy ven bờ. Giai đoạn đầu

vật liệu trầm tích của sông Cửu Long mang tới với khối lượng rất lớn bao

gồm thành phần cát bột sét chưa được chọn lọc lắng đọng nhanh làm mở rộng

280

và nâng cao địa hình đáy biển vùng tiền châu thổ. Giai đoạn thứ hai khi đáy

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

biển đạt tới độ sâu nhỏ hơn một nửa độ cao bước sóng thì sẽ xuất hiện một

đới sóng vỡ hay đới sóng tan. Tại đó năng lượng của sóng đạt cực đại đã làm

xáo trộn trầm tích đáy và tái phân bố tại chỗ thành phần cát theo cơ chế vun

cao dần còn cấp hạt bột và sét thì được mang đi do dòng chảy ven bờ và dòng

ngang của sóng. Khi quan sát các cồn chắn cửa sông hiện đại đã trưởng thành

ta thấy đó chính là các đảo cát. Độ cao của đảo cát lớn hơn độ cao của mực

nước biển hiện đại phản ánh sự chênh lệch độ cao giữa mực nước biển mùa

nước dâng do bão so với mực nước biển có thời tiết bình thường. Vì vậy cát

của cồn chắn cửa sông luôn luôn có độ chọn lọc tốt (So << 1.5) và mài tròn từ

trung bình đến tốt (Ro >0.5).

3a)

Đồng bằng châu thổ (amf/MQ2

Trầm tích của đồng bằng châu thổ (có kí hiệu số 2 trên bản đồ) chủ yếu

là bùn, phân bố rộng rãi chiếm diện tích chủ yếu phần đất liền của khu vực

nghiên cứu. Xen kẽ giữa các tướng bùn đồng bằng châu thổ là tướng cồn cát

và bùn đầm lầy cổ. Tướng bùn đồng bằng châu thổ bao gồm chủ yếu là bột sét

(50-70%) còn lại là cát hạt nhỏ có màu xám nâu đến xám đen được thành tạo

chủ yếu do lắng động phù sa vùng đồng bằng cửa sông trong thời kì ngập lụt.

Vì vậy trầm tích có độ chọn lọc kém (So > 3.0) luôn luôn chứa một hàm

lượng đáng kể di tích cành cây và lá cây, đôi khi có vụn vỏ động vật nước lợ.

Giá trị pH của trầm tích sét thay đổi từ 6.9-7.5, Eh từ-20mv đến+150mv, kt

=0.7-1.4 đã thể hiện môi trường nước lợ chuyển tiếp giữa sông và biển.

3a)

Đầm lầy ven biển cổ (amb/MQ2

Trầm tích bùn của đầm lầy ven biển cổ (kí hiệu số 3 trên bản đồ) phân

bố thành những dải hẹp xen kẽ với bùn đồng bằng châu thổ cổ và cồn cát chắn

cửa sông cổ, tạo nên địa hình trũng thấp chạy song song với đường bờ biển

cổ. Trầm tích có màu đen và xám đen chủ yếu là bột sét (50-80%) còn lại là

cấp hạt cát và tàn tích vật chất hữu cơ đang phân hủy. Đôi nơi gặp các vỉa

than bùn dạng đẳng thước nằm ở độ sâu từ 0.5-2m. Giá trị độ pH và Eh trong

281

trầm tích bùn thay đổi theo màu sắc và thành phần độ hạt. Những nơi có thành

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

phần trầm tích bùn màu đen thì Eh luôn luôn nhỏ hơn 0 và pH cũng khá thấp

dao động trong khoảng 4-7.5. Điều đó được lí giải bởi môi trường đầm lầy

hóa có chế độ khử thống trị do phân hủy vật chất hữu cơ trong điều kiện thiếu oxi đồng thời giải phóng khí H2S và làm giàu Fe2+. Do đó trong trầm tích xuất

hiện nhiều khoáng vật pyrite (FeS2) tại sinh. Khi một phần sunfua bị sunfat

hóa môi trường có phản ứng axit làm pH giảm từ >7.5 (đặc trưng môi trường

chuyển tiếp) xuống < 5 (đặc trưng môi trường đầm lầy).

3a)

Lòng sông cổ tàn dư (amc/mSQ2

Các thành tạo cát bùn của lòng sông cổ tàn dư (kí hiệu số 4) tạo thành

các thể trầm tích kéo dài có địa hình hơi trũng xuống chạy song song với

hướng dòng chảy của sông hiện đại. Trầm tích có màu xám nâu, xám đen chủ

yếu là cát chiếm từ 50-70% còn lại là bột sét và chứa một lượng nhỏ di tích

thực vật bảo tồn kém. Độ chọn lọc rất kém (So >3.5) của trầm tích cát bùn và

đường cong phân bố độ hạt luôn luôn có trên 2 đỉnh cực đại đã minh chứng

cho môi trường thủy động lực phức tạp trong quá trình sông dịch chuyển

ngang và thoái hóa.

6.1.2. Môi trường trầm tích phần ngập nước

3b)

Lòng, cửa sông hiện đại (amc/mSQ2

Cát bùn của lòng, cửa sông hiện đại phân bố ở các khu vực cửa sông

Định An, Tranh Đề và Hàm Luông có kí hiệu số 5 trên bản đồ. Tướng trầm

tích này có thành phần chủ yếu là cát bùn tuy nhiên do chế độ thủy động lực

liên tục thay đổi nên thành các cấp hạt có sự thay đổi tương đối theo thời gian

và theo các vị trí khác nhau trên lòng sông. Hàm lượng cấp hạt cát chiếm từ

50-75%, còn lại là bột sét, vụn vỏ động vật thân mềm được mang đến từ ngoài

biển trong pha triều cường trong ngày. Độ chọn lọc kém (So> 2.8), giá trị pH

của trầm tích đáy dao động từ 7, Kt từ 0.9 khi triều kiệt đến pH= 7.8, Kt= 1.5

khi triều cường và Eh luôn luôn dương chứng tỏ môi trường trầm tích vùng

cửa sông liên tục bị biến động.

3b)

282

Cồn cát cửa sông hiện đại (amc/SQ2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trên bản đồ, cồn cát cửa sông hiện đại (kí hiệu số 6) phân bố ở tất cả

các cửa sông của khu vực nghiên cứu, có dạng kéo dài song song với lòng

sông hiện đại. Các cồn cát giữa sông có độ chọn lọc từ trung bình đến tốt

được thành tạo chủ yếu do động lực dòng chảy của sông trong mối quan hệ

với chế độ triều thay đổi . Quy mô của các cồn cửa sông phụ thuộc vào lưu

lượng dòng chảy và nguồn phù sa cung cấp. Sự biến động của cồn cát cửa

sông là đồng thời với sự dịch chuyển lòng sông từ Tây Nam lên Đông Bắc.

3b)

Đầm lầy ven sông hiện đại (amf/MQ2

Trên bản đồ, đầm lầy ven sông (kí hiệu số 7) phân bố ở ven bờ các con

sông thuộc khu vực hạ lưu đồng bằng châu thổ hiện đại. Địa hình các tướng

trầm tích này hầu hết đang có xu thế được bồi đắp hàng năm. Tuy nhiên một

số nơi thì đang xẩy ra hiện tượng xâm nhập mặn và xói lở bờ sông. Đi dọc

sông chúng ta có thể quan sát thấy các cảnh quan của đầm lầy vùng nước lợ

đặc trưng là rừng dừa nước, rừng mắm và bần, rừng tràm xen các loại cây bụi

và cây cỏ đầm lầy. Trên các miền đát thấp này một vài nơi thường xuyên bị

sình lầy tạo nên một cảnh quan đất ngập nước(wet land) ven sông và có các

hệ thống kênh rạch chảy ra sông tương tự như lạch thoát triều ven biển. Trầm

tích bùn thường có màu đen độ chọn lọc kém chứa nhiều mùn bã hữu cơ và

vật liệu thực vật đang phân hủy. Trong khu vực phân bố tướng bùn đầm lầy

ven sông có nhiều thấu kính than bùn đang phân hủy dở dang có nguồn gốc

lòng sông cổ.

3b )(số8 trên bản đồ)

Cồn cát chắn cửa sông hiện đại (am/SQ2

3b) (số9 trên bản đồ)

Lạch triều (amc/mSQ2

3b) (số10 trên bản đồ)

Bãi triều có sóng mạnh (amt/SQ2

3b) (số11 trên bản đồ)

Bãi triều lầy hiện đại (amb/MQ2

Lagun cửa sông (aml/MQ23b) (số12 trên bản đồ)

Cồn cát chắn cửa sông hiện đại được kí hiệu số 8 trên bản đồ chạy song

283

song với đường bờ hiện đại phân bố ở hai phía cửa sông. Đây là kiểu trầm

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tích điển hình và phổ biến của châu thổ bồi tụ mạnh như sông Cửu Long. Như

đã trình bày ở mục (1) các cồn chắn cửa sông là sản phẩm của quá trình tái

trầm tích do hoạt động của sóng và các dòng chảy ven bờ. Các thể cát có độ

chọn lọc tốt (So <1.8), độ mài tròn từ trung bình đến tốt (Ro >0.4) đã chứng

minh cho môi trường thủy động lực có sóng mạnh và lặp lại lâu dài. Khi các

cồn chắn cửa sông đã nổi cao vĩnh viển trên mặt nước biển thì phía bên trong

giữa cồn và đất liền trở thành một thủy vực mới có môi trường trầm tích khá

yên tĩnh gọi là lagun cửa sông (số 12). Lagun cửa sông hiện đại bắt đầu xuất

hiện từ khi hình thành cồn chắn cửa sông và biến đổi liên tục đồng thời với

biến đổi thủy vực. Quá trình trầm tích xẩy ra theo cơ chế lấp đầy hồi quy, dần

dần biến thủy vực rộng lớn thành lạch triều hẹp (số 9) và xuất hiện những

cảnh quan rừng ngập mặn điển hình của đới ven biển châu thổ sông Cửu

Long. Cảnh quan đó thuộc đầm lầy ven biển hiên đại (số 11) phát triển trên

các hệ thống lạch triều đã bị lấp cạn thoái hóa hoặc hai bên bờ lạch triều đang

hoạt động.

Ven biển hiện đại trước các cửa sông Tranh Đề, Định An và Hàm

Luông là phân bố các bãi triều lầy hiện đại (số 11) và cát bãi triều (số 12) xen

kẽ nhau tùy thuộc vào chế độ thủy động lực ven bờ. Các đoạn bờ biển hở có

sóng hoạt động mạnh tạo nên các tướng cát bãi triều bao gồm trên 80% cấp

hạt cát, phần còn lại là bột sét và vật liệu vụn vỏ sò bảo tồn kém và tàn tích

thực vật. Cát bãi triều có độ chọn lọc từ trung bình đến tốt (So < 1.8) phụ

thuộc vào hàm lượng bột sét chứa trong trầm tích. Những bãi triều cát có

chiều rộng (30-100m) thường hẹp hơn bãi triều lầy (100-2000m). Giữa chúng

cũng khác nhau về độ cao và độ dốc, bãi triều cát có địa hình cao và dốc.

Chúng thường được phát triển gắn liền với các tướng cồn chắn cửa sông. Còn

bùn bãi triều ven biển hiện đại lại gắn liền với các đồng bằng thấp của cửa

biển hoặc các lạch triều ở phía trong các đảo chắn (inlet) .

3b)(Trường số 13)

Tiền châu thổ hiện đai (ma/mSQ2

)( số14 trên bản đồ)

284

Sườn châu thổ hiện đại (ma/MQ2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

3b) (số15 trên bản đồ)

Biển nông ven bờ (m/mSQ2

Trầm tích tuổi Holocen muộn phân bố từ 0-20m nước trong khuôn viên

của tiền châu thổ và sườn châu thổ hiện đại. Từ bờ ra khơi trầm tích có độ hạt

giảm dần theo độ sâu và tuân theo quy luật phân dị cơ học. Quy luật đó được

thể hiện qua sự phân bố tướng theo trật tự: cát bùn đến bùn cát tiền châu thổ

và cuối cùng là bùn sườn châu thổ. Có thể nói tương tự như châu thổ sông

Hồng châu thổ sông Cửu Long thuộc một trong hai châu thổ bồi tụ điển hình

của nước ta. Từ đất liền ra biển có sự phân đới theo hình rẽ quạt. Đường bờ

hiện đại là ranh giới của nhóm tướng đồng bằng châu thổ (deltaic plain) và

tiền châu thổ (deltaic front), còn đường đẳng sâu 20m là ranh giới giữa nhóm

tiền châu thổ và sườn châu thổ (prodelta). Theo hướng đó thành phần độ hạt

và thành phần khoáng vật cũng biến thiên phụ thuộc vào các yếu tố: Nguồn

cung cấp vật liệu, thành phần vật chất, quá trình vận chuyển và lắng đọng

trầm tích trong mối quan hệ với các yếu tố thủy động lực trực tiếp như sóng

và dòng ngang do sóng, dòng chảy của sông từ lục địa ra biển, dòng chảy ven

bờ, triều và dòng chảy do thủy triều tạo ra. Kết quả các tướng trầm tích được

phân biệt không chỉ dựa vào kiểu trầm tích nhận ra bằng mắt thường mà bằng

các tham số trầm tích định lượng (Md, So, Ro, pH, Eh, Kt, Chc, Fe, khoáng

vật sét, glauconit, cacbonat, thành phần hóa học của trầm tích…).

Khi độ sâu tăng lên Md giảm, hàm lượng bột sét tăng lên từ 20-30%

(cát bùn) đến 30-40% (bùn cát tiền châu thổ) và cuối cùng đạt tới 50-70%

(bùn sườn châu thổ). Theo chiều hướng đó độ chọn lọc có xu thế giảm đi, trị

số So tăng dần từ 2.5 (cát bùn tiền châu thổ) đến 3.5 (bùn sườn châu thổ).

Trường 15 trên bản đồ môi trường trầm tích tầng mặt biểu diễn trầm

tích cát bùn. Đây là đới trầm tích hỗn hợp giữa phần cũ và mới do tái vận

chuyển và lắng đọng của dòng đáy từ giai đoạn Holocen muộn đến nay. Phần

cũ là trầm tích cát pha sạn tuổi Holocen sớm-giữa được lắng đọng trong pha

biển tiến Flandrian, còn phần mới là trầm tích bùn sườn châu thổ được lắng

đọng trong pha biển thoái Holocen muộn đến nay. Do thành phần độ hạt phức

285

tạp đặc biệt là xuất hiện một hàm lượng đáng kể sạn cát laterit nên tướng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

trầm tích này có độ chọn lọc kém nhất (So >> 3.5) so với các tướng trầm tích

khác của châu thổ ngập nước.

2) (số16 trên bản đồ)

Biển nông xa bờ (m/SQ2

Môi trường biển nông xa bờ phân bố thành những trường rộng lớn từ độ

sâu 25 m trở ra. Thành phần trầm tích bao gồm chủ yếu là cát hạt nhỏ, trong đó

cấp hạt cát chiếm trên 80% còn lại là cấp hạt bột, cát sạn laterit và vật liệu

vun sinh vật (vụn vỏ sò, vụn san hô). Đặc trưng của tướng cát biển nông

Holocen sớm-giữa là độ chọn lọc tốt (So < 1.5) và mài tròn tốt (Ro >0.6)

chứng tỏ trầm tích cát đã được tái trầm tích trong môi trường bãi triều cổ có

sóng ven biển hoạt động mạnh. Đồng thời đáy biển có dạng địa hình đơn

nghiêng ra phía biển cho phép liên hệ và đối sánh với độ nghiêng của các bãi

triều cát tiền châu thổ hiện đại. Ra ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài

(>50m nước) tướng cát biển nông còn xuất hiện các sóng cát chạy song song

với đường đẳng sâu đánh dấu hoạt động của sóng và dòng chảy đáy ven bờ cổ

của pha biển tiến Flandrian.

Cát sạn biển nông xa bờ phân bố thành các trường hẹp kéo dài song

song với đường đẳng sâu tựa như các thực thể dị thường “cát sạn” của tướng

cát biển nông chọn lọc tốt. Thành phần cấp hạt bao gồm cát chiếm chủ yếu

dao động từ 50-70%, sạn laterit tròn cạnh có kích thước thay đổi từ 0.5cm đến

7cm chiếm 20-60%. Trong trầm tích luôn luôn chứa một hàm lượng đáng kể

(5-20%) vụn vỏ sinh vật bảo tồn kém thường được mài tròn cạnh. Lát mỏng

thạch học bở rời đã cho phép xác định được một cách chính xác dưới kính

hiển vi phân cực thành phần khoáng vật vụn lục nguyên chủ yếu là thạch anh

(>60%), fenspat và mảnh đá chỉ chiếm tỉ lệ khá thấp (< 20%). Các hạt vụn

laterit bao gồm một tập hợp khoáng vật limonit màu nâu đỏ dưới một nicon

và nâu đen không thấu quang dưới hai nicon vuông góc xen kẽ rải rác các hạt

vụn thạch anh có kích thước <0.1mm. Các hạt vụn laterit là sản phẩm tái trầm

286

tích của tầng sét loang lổ tuổi Pleistocen muộn phần sớm tương đương với hệ 3a). Màu loang lổ vàng đỏ và các kết vón laterit được tầng Vĩnh Phúc (mQ1

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10 sinh ra trong quá trình biển thoái do ảnh hưởng của băng hà W2 làm phong

287

hóa thấm đọng tầng sét hệ tầng “Vĩnh Phúc”.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

288

Hình 6.1. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

289

Hình 6.2. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng cửa Tranh Đề

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

290

Hình 6.3. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng cửa Định An

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

291

Hình 6.4. Bản đồ môi trường trầm tích Holocen vùng cửa Hàm Luông

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

6. 2. BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VEN BỜ TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH TƯỚNG

6.2.1. Biến động cửa sông

Từ khoảng 20.000 năm BP đến 12.000 năm BP trong khu vực nghiên

cứu đới ven biển chế độ lục địa vẫn thống trị. Sự có mặt tướng trầm tích sông

liên tục trong khoảng 11.700 (10000) năm từ độ sâu 50-80m đã chứng minh

điều đó. Tuy nhiên vị trí của lòng sông luôn luôn dịch chuyển ngang vì vậy

trong cột địa tầng chỉ xuất hiện một lần tướng cát sạn lòng sông mà thôi. Tất

cả 3 cửa sông đều nằm dịch về phía Nam cách cửa sông hiện đại khoảng 100-

300m.

Từ 120.000 năm đến nay cột địa tầng Holocen có sự sắp xếp luân phiên

liên tục giữa các tướng cát cồn chắn cửa sông chọn lọc tốt, tướng cát pha bột

lòng cửa sông, tướng bùn đầm lầy ven biển cổ và tướng bùn cát bãi triều. Tần

suất lặp lại các tướng cát lòng sông và cồn chắn cửa sông tương đối nhanh,

chứng tỏ cửa sông trong Holocen bị biến động liên tục về cả 2 phía. Tuy

nhiên sự dao động qua lại của cửa sông tuy có biểu hiện theo chu kì song vị

trí của lòng sông vẫn có xu thế dịch chuyển từ Nam lên Bắc và từ dưới sâu lên

bề mặt định hướng theo một đường chéo. Trên bản đồ môi trường trầm tích đã

chỉ ra khoảng cách của các lòng sông cổ Holocen muộn (trường số 4) cách

các lòng sông hiện đại khoảng từ 200m đến 1000m về phía Nam.

6.2.2. Biến động đường bờ biển

Nghiên cứu biến động đường bờ là nhiệm vụ của các nhà địa chất Đệ tứ

phục vụ xác định quy luật biến đổi cổ khí hậu, khí hậu cực đoan hiện đại và

xây dựng các mô hình dự báo khí hậu trong tương lai.

Trên cơ sở cột địa tầng trầm tích với số liệu phân tích toàn diện như đã

trình bày ở trên cho phép xây dựng 2 bản đồ môi trường trầm tích quan trọng

đã tái hiện bức tranh cổ địa lí Holocen sớm và Holocen muộn đến nay. Bản đồ

tướng đá Holocen sớm đã chỉ ra đường bờ lúc bấy giờ nằm sâu vào phía trong

292

so với đới bờ hiện đại khoảng 1000-2000m.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Từ 7000 năm đến 5000 năm cách ngày nay đường bờ chuyển dịch

nhanh về phía Tây với tốc độ 600m-1500m/năm. Điều đó chứng tỏ tốc độ

dâng cao mực nước biển trong Holocen là không giống nhau. Trong Holocen

sớm mực nước biển dâng chậm hơn trong Holocen giữa (từ 7000-5000 năm).

Từ khoảng 5000 năm đến 1500 năm trầm tích châu thổ được bồi tụ

nhanh đồng thời với đường bờ liên tục dịch chuyển ra phía biển với tốc độ

293

500- 1000m/năm.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 7: BẢN ĐỒ DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÀ

MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN-HIỆN ĐẠI VÙNG VEN

BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG

“Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích

Holocen-hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long tỷ lệ 1:200.000 và

1:50.000” là một trong những chuyên đề quan trọng của đề tài KC09.06/06-

10. Vấn đề dự báo xu thế biến động nói chung và biến động cửa sông, môi

trường trầm tích hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long nói riêng là

một vấn đề khó. Dự báo xu thế phát triển đòi hỏi những nội dung như đối

tượng dự báo, tính chất của dự báo, các phương pháp dự báo, các yếu tố chính

trong dự báo và kết quả dự báo. Kết quả của những vấn đề đó được thể hiện

bằng bản đồ với nguyên tắc thành lập, nội dung thể hiện, chú giải bản đồ.

Dưới đây, trình bày những vấn đề của dự báo xu thế biến động cửa

7. 1. CƠ SỞ KHOA HỌC DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG

sông và môi trường trầm tích hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long.

7.1.1. Cơ sở tài liệu

Các dữ liệu cần có cho việc thành lập bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long gồm:

- Các dữ liệu khảo sát, các mặt cắt địa chất ở vùng đất liền và ngoài biển gồm: khoan máy, khoan tay, địa chất-địa mạo, cấu kiến tạo, tân kiến tạo, tai biến địa chất, môi trường sinh thái-biến động rừng ngập mặn, thu thập mẫu

các loại, giải đoán ảnh máy bay và vệ tinh-viễn thám, dao động mực nước biển, vấn đề kinh tế xã hội, tuổi tuyệt đối 14C, thủy thạch động lực, tư liệu địa vật lý.

- Các báo cáo chuyên đề về địa chất, địa tầng Holocen-hiện đại, luận

giải về địa chất theo tài liệu địa vật lý, các hệ đứt gãy ...

294

- Những tư liệu chủ yếu gồm: nghiên cứu dao động mực nước biển trong Holocen-hiện đại, tướng đá-cổ địa lý của các thời kỳ trong Holocen- hiện đại, bản đồ môi trường trầm tích hiện đại, hiện trạng kinh tế xã hội vùng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nghiên cứu, các giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội vùng nghiên cứu ...

Trên cơ sở phân tích tổng hợp các tư liệu trên để đi đến xây dựng bản

đồ dự báo xu thế phát triển, biến động cửa sông và môi trường trầm tích hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, tỷ lệ 1:200.000 cho toàn vùng nghiên cứu và 1:50.000 cho 3 vùng cửa sông trọng điểm.

7.1.2. Cơ sở khoa học

Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, thay đổi mực nước biển, sự chuyển dịch các cửa sông, thay đổi đường bờ biển, biến đổi môi trường trầm tích hiện đại là cơ sở khoa học cho việc dự báo xu thế biến động

7. 2. NỘI DUNG DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG

cửa sông và môi trường trầm tích hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long trong tương lai với cách tiếp cận tổng hợp.

7.2.1. Nội dung dự báo

- Đối tượng dự báo của đề tài về xu thế biến động cửa sông và môi

trường trầm tích gồm: vùng cửa sông, đường bờ biển như hình thái vùng cửa

sông trong sự phát triển chung của đồng bằng sông Cửu Long, biến động

đường bờ, biến động của các dải cát ngầm, hình thái của các cửa sông (ở đây

có 9 cửa sông). Biến động môi trường trầm tích thông qua quá trình bồi tụ xói

lở liên quan tới biến động mực nước biển dẫn tới biến đổi môi trường trầm

tích.

- Tính chất của dự báo: việc dự báo theo chu kỳ hay không theo chu kỳ,

dự báo ngắn hoặc dài.

- Các phương pháp dự báo: dự báo theo kịch bản, dự báo thông qua dải

đoán ảnh viễn thám.

- Các yếu tố chính cần dự báo: dự báo theo nội sinh, ngoại sinh và nhân

sinh.

- Kết quả của dự báo: cung cấp kết quả cho việc thành lập bản đồ dự

báo xu thế phát triển biến động.

7.2.2. Các yếu tố trong dự báo xu thế biến động

295

Vùng cửa sông, đường bờ biển hiện đại trong thời gian qua có nhiều

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

biến động. Qua nghiên cứu, phân tích nguồn dữ liệu như trên cho thấy các nguyên nhân gây biến động vùng cửa sông, đường bờ biển cũng như môi

trường trầm tích thuộc các nhóm nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh.

Các yếu tố nội sinh

- Đứt gãy: theo các tài liệu địa chất, địa hình địa mạo vùng nghiên cứu

chịu sự chi phối của một số đứt gãy như sau: đứt gãy sông Hậu theo phương tây bắc đông nam, đứt gãy sông Cổ Chiên (đứt gãy Cung Hầu) phương tây bắc đông nam, đứt gãy sông Mỹ Tho (đứt gãy Gò Công-Mỹ Tho) theo phương á vĩ tuyến, đứt gãy Tranh Đề-Mỹ Xuyên theo phương đông bắc tây nam, đứt gãy Thuận Hải-Minh Hải (Hòn Khoai-Cà Ná) theo phương đông bắc

tây nam. Đối với đứt gãy Thuận Hải-Minh Hải nằm cách đường bờ biển hiện tại khoảng từ 20-100km. Các đứt gãy này hoạt động chủ yếu trong giai đoạn Neogen-Đệ tứ dẫn đến sự dịch chuyển thay đổi bề dày trầm tích, giữ vai trò

định vị cho các đoạn đường bờ biển hiện nay trong vùng nghiên cứu.

- Hoạt động động đất: trên bản đồ phân vùng động đất lãnh thổ Việt Nam của Nguyễn Đình Xuyên (năm 2004), đã đăng ký một số vị trí xảy ra

động đất với cường độ M = 4,5-5 phân bố dọc theo đứt gãy Thuận Hải - Minh Hải (Cà Ná - Hòn Khoai), đứt gãy sông Hậu. Các hoạt động động đất này

đóng vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sự biến dạng của đường bờ biển vùng nghiên cứu hay từ cửa Tiểu đến cửa Tranh Đề (Tranh Đề). Động đất làm nước dâng, nước tràn vào bờ, nước tràn vào bờ phá hoại và gây xói lở bờ biển

làm hư hại công trình ven biển, chết người ... Có thể nói rằng, động đất ở dải ven biển nước ta nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng đóng vai trò quan trọng đối với hình thành và phát triển đường bờ biển.

- Hoạt động tân kiến tạo: theo tài liệu nghiên cứu địa chất khu vực, tại vùng nghiên cứu hoạt động tân kiến tạo đã trải qua các giai đoạn từ Paleogen

(E), Neogen (N) và Đệ tứ (Q). Trong Holocen-hiện đại đã hình thành các bãi bồi cao do lãnh thổ được nâng lên (riêng đồng bằng Nam Bộ bị sụt lún). Ở mỗi giai đoạn các hoạt động tân kiến tạo nâng, hạ dịch chuyển ngang và tích

tụ, biến đổi bề dày trầm tích dẫn tới sự biến động đường bờ với quy mô khác nhau. Do đó, các hoạt động tân kiến tạo, địa động lực hiện đại, có tác động trực tiếp và gián tiếp đối với sự biến động dải địa hình đới ven biển.

296

Các yếu tố ngoại sinh

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Ảnh hưởng của sóng biển: khi sóng biển tiến vào bờ sẽ bị khúc xạ. Những nơi đường bờ bằng phẳng thì sự khúc xạ xảy ra không có gì đặc biệt,

nhưng đối với bờ khúc khỉu thì hiện tượng này dẫn tới tình trạng tập trung năng lượng sóng tại những đoạn bờ nhô ra và giãn ra ở chỗ lõm vào. Hệ quả của hiện tượng này là sóng xói lở các mũi đất và gây tích tụ ở phần đỉnh vịnh.

Đường bờ biển vùng nghiên cứu thì hướng sóng và tốc độ sóng thay đổi theo mùa. Vì vậy ở dải địa hình ven biển khu vực nghiên cứu, quá trình xói lở, bồi

tụ do sóng diễn ra rất phức tạp. Thí dụ tại một vị trí trong mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) có thể bị xâm thực mài mòn mạnh tức là bị xói lở thì ở mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10) quá trình xói lở yếu đi nhiều dẫn tới quá

trình bồi tụ. Tác động của sóng thì phụ thuộc vào độ cao của sóng và độ sâu của đáy biển. Sóng phá hủy mạnh nhất và tác động đến đáy lớn nhất để tạo ra địa hình đặc trưng đó là các bar cát ngập nước. Theo tác đông của sóng từ bờ

về phía biển sẽ hình thành các đới hình thái-động lực: đới bãi biển-sóng vỗ, đới bar ngầm-sóng biến dạng và phá hủy, đới sườn bờ ngầm là sóng lan truyền.

- Chế độ thủy triều của vùng nghiên cứu thuộc chế độ bán nhật triều không đều (nước biển lên xuống 2 lần trong một ngày). Biên độ triều 3 - 4m,

nước dâng theo bão 100-120cm (?). Do địa hình đáy biển vùng nghiên cứu khá thoải đồng thời biên độ thủy triều lớn lại thay đổi theo mùa, vì vậy 9 cửa sông ở đây trong mỗi ngày đều chịu tác động rất thường xuyên của dòng triều,

tác động sông-triều rõ rệt. Do vậy, mỗi khi mực nước biển dâng lên hay hạ xuống ngoài việc gây lên nhiễm mặn còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành tạo đường bờ biển, đặc biệt là khi triều cường. Về mặt lý thuyết, thủy triều thống trị ở những nơi biên độ triều lớn, năng lượng sóng đã bị triệt tiêu hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn; dòng chảy sông đóng vai trò thứ yếu. Theo tần số ngập triều có 3 đới triều song song với nhau: đới triều cao, đới gian triều và

đới triều thấp. Đới triều cao nằm ở trên mức triều cao trung bình, chỉ bị ngập trong thời kỳ triều cường nên ở đây chủ yếu là đầm lầy phát triển thực vật ưa mặn, trầm tích chủ yếu là bùn phân lớp mỏng. Đới gian triều bị ngập nước trong một khoảng thời gian ngắn, trong tất cả các chu kỳ triều. Trong đới này, từ cửa sông các dải cát có thể kéo dài về phía biển. Đới triều thấp luôn luôn bị

ngập triều.

297

- Ảnh hưởng của sông suối: đối với việc thành tạo địa hình ven biển và đường bờ biển vùng nghiên cứu, vai trò của sông chủ yếu là lượng phù sa

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

do sông mang tới. Vai trò của khối lượng vật liệu do sông vận chuyển tới và đặc điểm chế độ thủy văn của dòng chảy (kết hợp với sóng và thủy triều) có

ảnh hưởng trực tiếp đối với việc tạo nên các kiểu cửa sông khác nhau. Tại vùng nghiên cứu, các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Tranh Đề thuộc dạng

cửa sông Delta. Ở các cửa sông này có chung một đặc điểm là do lượng phù sa phong phú lên hàng năm cửa sông đang được bồi đắp có xu hướng lấn dần

ra biển, lòng sông cạn dần. Mặt khác, lượng phù sa do sông vận chuyển đến còn được vận chuyển dọc theo bờ để bồi đắp cho vùng đất mũi Cà Mau.

- Ảnh hưởng của sự thay đổi mực nước biển: trong thời kỳ Holocen

thì đường bờ cổ còn cách xa bờ hiện tại trung bình khoảng 20-25km, gần song song với đường bờ hiện nay. Phía ngoài đường bờ theo các tài liệu về thềm lục địa gặp một đới cát ở cửa sông Tiền và sông Hậu. Trên phần lục địa của

vùng nghiên cứu gặp nhiều thế hệ giồng cát hình vòng cung nối tiếp nhau ở khu vực Sóc Trăng và Trà Vinh cho thấy biển đã lùi dần đến bờ biển hiện tại.

Theo các văn liệu hiện nay cho thấy trên thế giới theo số đo của 229 trạm đo trong vòng 2 thế kỷ trở lại đây mực nước đại dương tăng trung bình 1- 1,5mm/năm. Ở Việt Nam, theo số liệu đo đạc ở trạm Hòn Dấu từ 1957-1990

mực nước biển dâng trung bình 2,24mm/năm (?). Từ khác dữ liệu trên cho thấy ở vùng nghiên cứu mực nước biển thay đổi theo xu hướng ngày càng dâng lên (trong giai đoạn 1965-2004). Hậu quả của việc mực nước biển dâng

lên sẽ làm ngập một số dạng địa hình thấp ven biển tạo lên hệ sinh thái ngập mặn, đường bờ biển di chuyển dần vào trong lục địa.

- Ảnh hưởng của dòng chảy tầng mặt: dòng chảy tầng mặt trong vùng nghiên cứu thay đổi theo mùa rõ rệt. Từ tháng 1 đến tháng 3 dòng chảy có hướng đông bắc với tốc độ của dòng giảm dần. Từ tháng 4 đến tháng 5

dòng chảy có hướng từ đông bắc chuyển sang đông-đông nam, vận tốc dòng nhỏ. Từ tháng 6 đến tháng 9 dòng chảy tầng mặt có hướng chủ yếu là tây nam, vận tốc dòng tăng khá nhanh. Tốc độ dòng lớn nhất là trong tháng 7 và tháng 8 bởi gió mùa tây nam thịnh hành. Trong vùng nghiên cứu dòng chảy tầng mặt có tốc độ trung bình từ 12-14cm/s, có khi tăng lên đến 123cm/s trong giai đoạn hoạt động mạnh của gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam.

298

Khi có bão hoạt động thì tốc độ dòng chảy lớn nhất có thể đạt 180cm/s. Dòng chảy tầng mặt xuất hiện sẽ cuốn theo vật chất lơ lửng và vật liệu bị phá hủy từ bờ. Vì vậy, dòng chảy tầng mặt ven bờ sẽ góp phần trong việc thành tạo

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

đường bờ biển.

- Dự báo biến động do tác động nhân sinh

Hoạt động của con người thông qua việc phát triển kinh tế xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự thành tạo dải địa hình ven biển trực tiếp hoặc gián tiếp như việc đắp đê ven biển, đắp đập ngăn mặn ở cửa sông Ba Lai, cải tạo làm

đầm hồ nuôi tôm ở khu vực ven biển ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang ... Các hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng bồi tích đưa ra biển, đẩy nhanh thêm quá trình tích tụ hoặc làm tăng thêm tốc độ xói lở đường bờ biển.

Tóm lại, tại từng thời điểm và từng vị trí của đường bờ biển vùng

nghiên cứu chịu sự tác động của các nguyên nhân khác nhau như: hoạt động tân kiến tạo, hoạt động đứt gãy, hoạt động của sông, sóng biển, thủy triều, sự dao động mực nước biển ... Cấu trúc địa chất tạo lên các dạng địa hình ven

biển có một vai trò nhất định ảnh hưởng đến sự biến động đường bờ biển. Đường bờ biển vùng nghiên cứu thành tạo trên các đá trầm tích bờ rời, quá trình bồi tụ xói lở xảy ra dễ dàng. Tác động của con người vừa trực tiếp vừa

7. 3.

gián tiếp tác động đến sự biến động đường bờ

DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG VÙNG CỬA SÔNG, ĐƯỜNG BỜ

BIỂN VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG (TỪ CỬA TIỂU ĐẾN CỬA TRANH ĐỀ)

Vùng cửa biển, đường bờ biển, vùng nghiên cứu luôn thay đổi theo không gian và thời gian do chịu tác động của các quá trình động lực khác nhau. Xuất phát từ các kiểu thành tạo, hình thái đường bờ vùng nghiên cứu có thể chia làm 2 kiểu bờ: bờ biển xói lở trên trầm tích bở rời và bờ biển tích tụ.

7.3.1. Các kiểu đường bờ biển

- Bờ biển xói lở trên trầm tích bở rời: đây là kiểu bờ biển khá phổ biển ở khu vực cửa Cung Hầu ở tỉnh Trà Vinh, bờ biển tỉnh Bến Tre do xói lở, thảm thực vật ở nhiều nơi cũng bị phá hủy và dần dần biến mất. Tác nhân gây

299

xói lở chủ yếu ở đây là sóng nhưng hoạt động mạnh vào lúc triều cường. Tốc độ xói lở còn phụ thuộc vào thành phần bùn, sét, cát cấu tạo lên bờ. Dạng địa hình quan sát rõ nhất ở kiểu bờ này là các vách xói lở chỉ cao 0,2-0,3m đối với cấu tạo bờ từ bùn sét. Bờ biển cấu tạo từ cát như giồng cát, đụn cát hoặc cát pha bột sét, vách xói lở cao từ 0,5-1,5m như ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Vinh. Trong quá trình xói lở các vật liệu mịn được mang đi xa hơn, còn lại cát được sóng mang vào bờ vùi lấp rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn ngày càng bị

mất dần, bờ tiếp tục xói lở mạnh hơn và tiếp tục di chuyển vào phía lục địa.

- Bờ biển tích tụ: kiểu bờ này gặp ở một số nơi trước cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Định An, ... Vật liệu cung cấp cho bờ chủ yếu do sông mang đến kết hợp với các điều kiện thủy động lực, dòng chảy ven bờ sóng, thủy triều ... Đồng thời trong việc thành tạo kiểu bờ biển tích tụ có sự

tham gia tích cực của rừng ngập mặn.

Song song với 2 kiểu bờ biển trên còn có kiểu bờ hỗn hợp tích tụ và xói lở. Đặc trưng của kiểu bờ này là có sự xen kẽ giữa các đoạn bờ bị xói lở và

các đoạn đang bồi tụ.

7.3.2. Dự báo xu thế phát triển biến động

- Vùng ven biển cửa sông thuộc sông Tiền

Từ các số liệu phân tích tại các cửa Cung Hầu, Cổ Chiên, Hàm Luông,

Ba Lai, cửa Đại, cửa Tiểu, diễn biến phát triển và biến động của các cửa sông

thuộc sông Tiền, có thể nêu tổng quát về biến động chung và những đặc điểm

300

riêng của mỗi vùng cửa sông như sau.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 7.1. Tổng quát quá trình phát triển các cửa sông thuộc nhánh sông Tiền

qua các giai đoạn khác nhau (1952-2001)

TT cửa sông Khu vực bờ

(1) 1 (2) cửa Tiểu

Trạng thái (4) ( - ) (+/-) (+/-)

cửa Đại 2

(+/-) (+/-) ( - )

(3) - Bờ bắc c.Tiểu (Gò Công Đông) - Đoạn sông thuộc c.Tiểu - Bờ nam c.Tiểu - Bờ bắc c.Đại - Đoạn sông thuộc c. Đại - Bờ nam c. Đại (Bình Đại)

cửa Ba Lai 3

- Bờ bắc c.Ba Lai (Bình Đại) - Đoạn sông thuộc c.Ba Lai - Bờ nam c.Ba Lai (h.Ba Tri)

4

c.Hàm Luông

( + ) (+/-) ( + ) ( + ) (+/-) ( - ) - Bờ bắc Hàm Luông Ba Tri - Đoạn sông Hàm Luông - Bờ nam c.Hàm Luông (h.Thạnh Phú)

5

cửa Cổ Chiên Đặc điểm động thái (5) cửa sông phát triển ít ổn định, bờ biển xói lở trong nhiều năm cửa sông phát triển ít ổn định, bờ biển xói lở trong nhiều năm cửa sông phát triển tương đối ổn định, sẽ bị bồi lấp trong tương lai gần cửa sông phát triển ít ổn định, bờ bắc bồi tụ, ngược lại bờ nam bị xói lở mạnh cửa sông bồi tụ mạnh, tương đối ổn định ( + ) (+/-)

6

cửa Cung Hầu

(+/-) (+/-) (+/-)

- Bờ bắc (thuộc t.Bến Tre) - Đoạn sông thuộc cửa Cổ Chiên - Bờ Nam (thuộc tỉnh Trà Vinh) - Đoạn sông thuộc cửa Cung Hầu - Các cồn cát, cù lao (bar)

cửa sông tương đối ổn định, các cồn cát, cù lao (bar) phát triển mạnh theo dạng “đảo cát trôi”

+ Khu vực cửa Tiểu-cửa Đại:

Bờ biển phía bắc cửa Tiểu (thuộc địa phận h.Gò Công Đông) diễn ra

tình trạng xói lở kéo dài trong nhiều năm và chỉ dừng lại khi có tuyến đê biển.

301

Vùng biến động rộng nhất thuộc ven biển cù lao nằm giữa hai cửa sông (địa

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

phận các xã Phú Tân-Phú Đông, h.Gò Công Đông); vùng biến động có chiều

rộng tới 5.600m. Tiếp theo đó là đoạn bờ biển phía nam cửa Đại (thuộc địa

phận xã Thừa Đức, h.Bình Đại) có vùng biến rộng từ 900m đến 1.400m. Nhìn

chung, khu vực cụm cửa sông này ít ổn định.

+ Khu vực đoạn bờ cửa Ba Lai:

Vùng cửa Ba Lai phát triển thiên về bồi tụ mạnh và cửa sông sẽ bị lấp

dần trong tương lai. Vùng biến động mạnh nhất có chiều rộng từ 1000m đến

3.400m. Đoạn trong sông biến động mạnh tại vị trí xây dựng đập và công Ba

Lai (địa phận các xã Tân Xuân - h.Ba Tri và Thạnh Trị - h.Bình Đại). Vùng

cửa sông này phát triển thiên về bồi tụ và ít ổn định.

+ Khu vực cửa Hàm Luông:

Đoạn trong sông có nhiều cồn cát bồi (cù lao, giồng cát hay bar, đảo

chắn) phát triển và biến động theo dạng các “đảo cát trôi”. Ngoài cửa sông có

vùng biến động mạnh nhất ở phía bờ phía nam (địa phận các xã An Điền -

Thạnh Hải, h.Thạnh Phú) có chiều rộng từ 900m đến 3.700m. Nhìn chung, khu

vực cửa sông này ít ổn định.

+ Khu vực cửa Cổ Chiên-Cung Hầu:

Đoạn trong sông có nhiều cồn cát và cù lao, chúng phát triển và biến

biến động theo dạng “đảo cát trôi”. Ngoài cửa sông, vùng biến động mạnh

nhất thuộc đoạn bờ phía bắc (địa phận xã Thạnh Phong, h.Thạnh Phú) có

chiều rộng từ 1000m đến 2.100m. Đoạn bờ phía nam biến động nhẹ, trạng

thái bồi tụ - xói lở diễn ra tương đối cân bằng. Lòng dẫn cửa sông có địa hình

đáy nông, không thuận lợi cho giao thông thuỷ. Nhìn chung khu vực này ít có

biến động lớn, tình trạng tương đối ổn định.

- Vùng ven biển cửa sông thuộc sông Hậu

Hiện nay sông Hậu chỉ còn có 2 cửa chảy ra Biển Đông là các cửa Định

An (phía bắc) và cửa Tranh Đề (hay Tranh Đề) ở phía nam. Cửa chính Bát

Sắc có vị trí nằm tại Cù Lao Dung đã bị bồi đầy khi cồn Tròn và cồn Cộc phát

302

triển mạnh nối liền với Cù Lao Dung, tạo ra một bãi bồi lớn có diện tích tới

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

23.610 ha (nay là huyện Cù Lao Dung). Quá trình phát triển tương tự như ở

Cù Lao Dung đã diễn ra trên nhánh sông Tiền thuộc địa phận tỉnh Bến Tre;

khi các bãi bồi cửa sông phát triển mạnh, chúng trở thành các đảo bồi tụ giữa

lòng sông, có diện tích lớn như các cù lao thuộc các huyện Mỏ Cày-Thạnh

Phú, huyện Giồng Trôm-Ba Tri và huyện Bình Đại. Trong quá trình phát triển

có những cửa sông tự mất dần đi vai trò của nó do tác động của các nhân tố tự

nhiên và hoạt động khai thác của con người. Trường hợp suy thoái và “chết

dần” của cửa Ba Lai là một ví dụ về sự tàn lụi của một cửa sông thuộc sông

Cửu Long.

Qua những số liệu phân tích, có thể nêu tổng quát quá trình phát

triển khu vực cửa Định An- cửa Tranh Đề trong các giai đoạn từ năm 1952

đến 2006 như sau (Bảng 7.2):

Bảng 7.2. Diễn biến phát triển bờ tại cửa Định An – Tranh Đề (1952-2006),

Trạng thái vùng bờ: bồi tụ (+), xói lở (-), bồi-xói xen kẽ (+/-)

Khu vực cửa Tranh Đề TT

Giai đoạn

Khu vực cửa Định An Đoạn bờ Đoạn bờ

1 Trạng thái ( - )

1952- 1965

Trạng thái ( +) ( - ) ( + )

(+/-) ( +/- )

2

1965- 1983 ( +/- )

( + ) ( - )

(+/-)

3

1983- 1990

( + ) (+/-) ( - ) ( +/- ) ( +/-) ( + )

(+/-) ( - )

303

- Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu thuộc cửa Định An - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu cửa Định An - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu cửa Định An - Bờ biển phía bắc (h.Cù lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu thuộc cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu cửa Tranh Đề

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

4

1990- 2001

( + ) ( + )

(+/- ) ( + ) (+/-) ( +/-)

5

2001- 2006

( + ) ( + )

(+/-) ( + ) ( + ) (+/-)

( + )

Tổng thể (1952-2006) (+/-) ( + ) (+/-)

(+/-) (+/-)

- Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu cửa Định An - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu cửa Định An - Bờ biển phía bắc (h.Duyên Hải) -Bờ biển phía nam (h.Cù Lao Dung) - Đoạn sông Hậu cửa Định An - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu cửa Tranh Đề - Bờ biển phía bắc (h.Cù Lao Dung) -Bờ biển phía nam (h.Long Phú) - Đoạn sông Hậu cửa Tranh Đề

# Khu vực cửa Định An :

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận huyện Duyên Hải, Trà Vinh) phát

triển theo trạng thái bồi tụ - xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ;

- Đoạn bờ biển phía nam (địa phận h.Cù Lao Dung, Sóc Trăng) phát triển bồi

tụ mạnh, vùng bồi tụ được khai thác trồng rừng ngập mặn để bảo vệ vùng đất

mới ;

- Đoạn sông Hậu thuộc khu vực cửa Định An phát triển theo hình thức bồi tụ-

xói lở xen kẽ và tương đối ổn định trong những năm qua;

Xét về tổng thể, khu vực cửa Định An ít ổn định.

# Khu vực cửa Tranh Đề:

- Đoạn bờ biển phía bắc (thuộc địa phận h.Cù Lao Dung, Sóc Trăng) luôn

được bồi tụ mạnh (bồi lấp vị trí cửa Bát Sắc);

- Đoạn bờ biển phía nam (thuộc địa phận h.Long Phú, Sóc Trăng), diễn ra quá

trình phát triển bồi tụ - xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ;

- Đoạn sông Hậu thuộc cửa Tranh Đề phát triển theo trạng thái bồi tụ - xói lở

304

xen kẽ, không có những biến động lớn. Nhìn chung đoạn sông này tương đối

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ổn định trong những năm qua.

Về tổng thể, khu vực cửa Tranh Đề ít ổn định.

# Khu vực các cồn, bãi bồi thuộc địa phận h.Cù Lao Dung: diễn ra quá

trình bồi tụ mạnh, các lạch triều giữa các cồn bị thu hẹp dần; lòng dẫn và cửa

sông Bát Sắc bị bồi lấp, thu hẹp và mất dần. Trong đó vùng bãi triều ven biển

huyện Cù Lao Dung phát triển rất mạnh nhờ quá trình bồi tụ kéo dài về phía

biển.

Khu vực các cồn cát, bãi bồi thuộc địa phận huyện Cù Lao Dung được

7. 4.

bồi tụ mạnh, phát triển tương đối ổn định.

DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH

7.4.1. Các dạng di chuyển của hạt trầm tích

Trong quá trình tích tụ trầm tích các hạt trầm tích di chuyển theo 2 dạng:

+ dạng di đáy là cát hạt chuyển động dưới dạng trượt, lăn trên mặt đáy

được gọi là quá trình chuyển tải đáy.

+ dạng lơ lửng-phù sa chuyển động mà các hạt không tiếp đáy với sức

nâng thủy lực và sức nổi thủy tĩnh.

7.4.2. Các kiểu nguồn gốc trầm tích vùng nghiên cứu

trầm tích sông biển (amQ2

Trầm tích ở khu vực nghiên cứu được phân thành các kiểu nguồn gốc 3) và trầm 3), trầm tích biển sông đầm lầy (mabQ2 3), vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Cửu Long trầm tích tích biển (mQ2

nguồn gốc sông thực thụ không gặp trong vùng nghiên cứu.

Trầm tích sông biển hỗn hợp: trầm tích này có sự phân dị ngang rõ rệt từ

bờ ra biển, với cấp hạt giảm dần từ cát mịn tới cát bột đến bột, đến bùn cuối

cùng là sét. Quy luật phân bố có thể chia làm 2 đới từ 0-10m nước, trầm tích

chủ yếu là cát, cát bùn, cát bột. Đới 10-20m nước trầm tích chủ yếu là bùn,

bùn sét, trầm tích có màu xám đến xám nâu. Trầm tích cát là cát mịn có độ

mài tròn chọn lọc tốt, thành phân đa khoáng. Chúng thường được thành tạo

305

trong các cồn lổi giữa sông hoặc chắn ngoài cửa sông tạo lên nhiều bãi cạn

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

như bãi cạn Mỹ Thạnh trước cửa Tranh Đề, trước cửa Cung Hầu, Hàm

Luông, cửa Đại. Chính các cồn cát ngầm, cát nổi này làm cho địa hình đáy

biển của các cửa sông rất phức tạp và chúng cũng luôn biến động theo chế độ

thủy động lực, theo mùa nước trong vùng. Sự biến động này có thể quan sát

tại các lớp khác có bề dày giảm xuống nhanh chóng khi mặt cắt từ cửa sông ra

biển từ 0,1-1,0m giảm xuống 0,5-1cm rồi mất hẳn khi ở độ sâu 15-20m nước.

Mặt khác, khi nghiên cứu các cation, khoáng vật sét cũng như các loài cổ sinh

thì sự biến động này rất rõ thể hiện từ bờ ra phía ngoài biển.

Trầm tích sông biển đầm lầy: trầm tích này hình thành trên các vùng

châu thổ được bồi tụ và phát triển các rừng ngập mặn, gặp chúng ở tại các

vùng bãi triểu lầy thuộc các cửa sông: cửa Ba Lai, cửa Tiểu và Cù Lao Dung,

chủ yếu là bùn sét, bùn cát màu xám tới xám đen giàu mùn thực vật, rễ cây

đang phân hủy tạo mùn đen với xu thế bồi tụ về phía biển, trầm tích bùn sét

và bùn cát biến động theo xu thế ra biển.

Trầm tích biển hình thành ở ven bờ hiện đại trong các khu vực mà động

lực của biển thống trị như sóng, thủy triều, dòng chảy ven biển. Kiểu trầm

tích này thường phân bố ở độ sâu 0-5m nước, trong khoảng độ sâu này tầng trầm

tích cũng biến động phụ thuộc vào chế độ thủy động lực và theo mùa nước.

7.4.3. Kịch bản nước biển dâng trong tương lai

Trong báo cáo lần thứ 4 của IPCC ước tính mực nước biển dâng

khoảng 26 – 59cm vào năm 2100, tuy nhiên không loại trừ khả năng tốc độ

cao hơn.

Nhiều nhà khoa học đánh giá rằng các tính toán của IPCC về mực nước

dâng là thấp so với số liệu thực tế tại các trạm và bằng vệ tinh. Nguyên nhân

chính dẫn đến sự thiên thấp này là do các mô hình tính toán mà IPCC sử dụng

để phân tích đã chưa đánh giá đầy đủ các quá trình băng tan.

Các kịch bản nước dâng ở Việt nam được tính toán theo kịch bản phát

thải thấp nhất (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải

306

cao nhất (A1FI).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Kết quả tính toán theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao

đến cuối thể kỷ 21 mực nước dâng thêm 65 đến 100cm so với thời kỳ 1980 –

1999 (Bảng 7.3).

Bảng 7.3: Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 - 1999

Kịch bản

11 12 12 17 17 17 23 23 24 28 30 33 42 46 57 50 54 71 57 64 86 Thấp (B1) Trung bình B2 Cao (A1FI)

Các mốc thời gian của thế kỷ 21 2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 65 35 75 37 100 44 Nguồn: kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ

TNMT, 6/2009.

Dựa trên kịch bản nước dâng, bản đồ ngập đã được xây dựng cho khu

vực TPHCM và khu vực ĐBSCL. Mực nước biển trung bình của khu vực

được tính toán dựa trên số liệu mực nước triều thực đo tại Vũng Tàu ( giai

đoạn 1979 – 2007). Trong tính toán chưa xét đến các yếu tố tác động của

sóng, thủy triều, nước dâng do bão và các cơ chế thủy động lực khác.

Kết quả tính toán:

+ Mực nước dâng 65cm, thì diện tích ngập là 5133km2 (chiêm 12,8%

diện tích toàn ĐBSCL).

+ Mực nước dâng 75cm, diện tích ngập 7580 km2 (chếm 19% diện tích

ĐBSCL).

+ Mực nước biển dâng 100cm, diện tích ngập 15116 km2 (chiếm 37,8%

diện tích ĐBSCL).

Theo tính toán này, khi mực nước biển dâng 100cm, thì ~2/3 diện tích

307

diện tích duyên hải từ Sóc Trăng đến Tiền Giang ngập dưới nước.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

308

Hình 7.1Phạm vi ngập khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản nước dâng 65cm (Bộ TNMT, 2009).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

309

Hình 7.2. Phạm vi ngập khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản nước dâng 75cm (Bộ TNMT, 2009).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 7.3. Phạm vi ngập khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo kịch bản

310

nước dâng 100 cm (Bộ TNMT, 2009)

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

7. 5.

BẢN ĐỒ DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÀ MÔI

TRƯỜNG TRẦM TÍCH HOLOCEN - HIỆN ĐẠI VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG

7.5.1. Nguyên tắc thành lập

Bản đồ dự báo xu thế phát triển biển động cửa sông và môi trường trầm

tích thành lập trên nguyên tắc sử dụng nền bản đồ môi trường trầm tích thể

hiện những diễn biến biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng

nghiên cứu.

7.5.2. Nội dung thể hiện

Nội dung thể hiện những xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm

tích theo các tác nhân nội sinh, ngoại sinh, nhân sinh và không loại trừ những

biến động do biến đổi khí hậu với các kịch bản.

7.5.3. Chú giải bản đồ

Đối với bản đồ tỷ lệ 1/200.000 và 1/50.000 nội dung thể hiện về cơ bản

có nhưng nét chung, song đối với bản đồ tỷ lệ 1/50.000 đòi hỏi chi tiết hơn.

Thông qua những chú giải trên bản đồ tỷ lệ 1:200.000 cho toàn vùng

nghiên cứu và 1:50.000 cho 3 cửa sông Tranh Đề, Định An, Hàm Luông có

thể nhận thấy sự diễn biến đường bờ biển vùng cửa sông trong quá khứ

(1952-1965; 1965-1983; 1983-1989; 1989-2001; 2001-2006) và dự báo xu thế

phát triên biển động trong tương lai. Mặt khác từ những hiện tượng dao động

mực nước biển cũng như các bản đồ tướng đá cổ địa lý theo không gian và

thời gian, các kịch bản về mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu làm cơ sở

khoa học cho việc dự báo xu thế phát triển biến động địa hình, đường bờ,

vùng cửa sông ven bờ châu thổ sông Cửu Long; được thể hiện bằng loạt bản

311

đồ dự báo(Hình 7.4, Hình 7.5, Hình 7.6, Hình 7.7).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

312

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

313

Hình 7.4. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

314

Hình 7.5. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng cửa Tranh Đề

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

315

Hình 7.6. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng cửa Định An

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

316

Hình 7.7. Bản đồ dự báo xu thế biến động cửa sông và môi trường trầm tích vùng cửa Hàm Luông

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

PHẦN III. CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC, SỬ DUNG HỢP LÝ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ GIẢM NHẸ TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KT -XH VÙNG VEN BỜ CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG

317

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

CHƯƠNG 8: CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC SỬ DỤNG HỢP LÝ

8. 1. NHỮNG BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN CHÂU THỔ SÔNG CỬU LONG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI

NGUỒN TÀI NGUYÊN VÙNG NGHIÊN CỨU

Nếu thời gian hình thành các trầm tích holocen trên toàn vùng đồng

bằng sông Cửu Long nói chung và trên địa bàn vùng ven bờ châu thổ sông

Cửu Long có từ 11.000 năm, thì lịch sử phát triển của các cư dân Việt cổ tại

địa bàn tương ứng với văn hoá Óc Eo và văn hoá Sa Huỳnh (thiết chế bộ lạc)

chỉ là khoảng 3.000 năm cho đến khi hình thành vương quốc Phù Nam vào

đầu công nguyên (thiết chế nhà nước) thì các vấn đề phát triển KT-XH chỉ

vảo khoảng 1/3 thời gian (1.000 năm) sau này. Vì vậy, giai đoạn đầu để phân

biệt hoạt động sản xuất được gọi là giai đoạn phát triển kinh tế sức lao động,

trong đó tồn tại loại hình kinh tế nguyên thuỷ và tiếp sau đó là loại hình kinh

tế nông nghiệp kéo dài suốt hàng ngàn năm. Đây là giai đoạn mà nền sản xuất

chủ yếu phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào các điều kiện tự nhiên và các nguồn

tài nguyên thiên nhiên. Hoạt động nông nghiệp là chủ đạo nên nguồn tài

nguyên đất có vị trí quan trong và là tư liệu sản xuất chính. Hoạt động sống và

sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình hình thành trầm tích hiện đại

và có tác động không nhỏ đến quá trình đó ở vùng châu thổ sông Cửu Long

Giai đoạn thứ hai của quá trình khai thác lãnh thổ là Giai đoạn phát

triển kinh tế tài nguyên phù hợp với sự xuất hiện của ngành kinh tế công

nghiệp diễn ra trên địa bàn đồng bằng châu thổ Cửu Long, bắt đầu từ thế kỷ

XIX đến khi giải phóng 1975.

Sau giải phóng, việc trị thuỷ dòng chảy, “đổ nước sang miền Tây”, cùng

với công cuộc khẩn hoang, phát triển kinh tế, và nhất là khi tiến hành công

cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá, tác động của hoạt động kinh tế đã có

những dấu ấn quan trọng trong quá trình động lực, ảnh hưởng đến quá trình

318

hình thành và phân bố trầm tích hiện đại trên châu thổ Cửu Long.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Mảnh đất vùng cửa sông ven biển Cửu Long là một miền đất hình thành

muộn nhất so với các vùng khác trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Những cứ liệu

lịch sử cho thấy, tại nơi đây, người Việt cổ đã biết sử dụng thế mạnh của miền

đất trũng sông nước để xây dựng một nhà nước hùng cường, sánh vai các đế

quốc của hậu thời kỳ đồ đá chuyển sang thời kỳ đồ đồng, đó là vương quốc

Phù Nam.

Trải qua hàng nghìn năm khai thác lãnh thổ, các cư dân Việt trên miền

đất này đã lấy hệ thống sông ngòi, kênh rạch làm thành các tuyến đường

thông thương, cải tạo những miền đất trũng thành các đồng ruộng màu mỡ,

theo mùa nước lũ lấy phù sa bồi đắp cho các cánh đồng. Ngoài ra, sức người

đã biến các giồng đất cao thành những miệt vườn trù phú, mà sản vật cây trái

đã là hàng hoá trao đổi lên tận thượng nguồn sông Cửu Long, rồi theo các tàu

buôn trao đổi với các nước khác trong khu vực. Lịch sử khai phá đó luôn gắn

quyện với các điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và ngược

lại quá trình khai phá thiên nhiên từ cổ xưa đến nay đã để lại nhiều dấu ấn đối

với các vùng cửa sông ven biển, như việc làm lu mờ cửa Batssac, làm thay

đổi dòng, làm phát triển các cồn nổi, hay làm sạt lở nhiều vùng bờ biển.

Quá trình khai thác lãnh thổ cửa sông ven biển là kết quả tác động lâu

dài giữa động lực tự nhiên và hoạt động KT-XH từ đầu công nguyên đến nay.

Tuy việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội là rất

khó, nhưng việc nghiên cứu đã được tập trung vào khai thác các nguồn tài liệu

lưu trữ và tư liệu thực tế để phân tích hiện trạng phát triển KT-XH của vùng

sửa sông ven biển Cửu Long, làm cứ liệu nghiên cứu những mối liên quan

đến quá trình biến động đường bờ. Kết quả đạt được là đã phân tích tổng quan

được mối quan hệ đó, ít nhất là từ đầu công nguyên đến nay.

Thực hiện nhiệm vụ: Đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý

nguồn tài nguyên thiên nhiên và giảm nhẹ tác động của thiên tai đối với

phát triển kinh tế - xã hội các cửa sông ven bờ châu thổ sông Cửu Long,

319

trong đó chú trọng đến “các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nguyên thiên nhiên” (nội dung 13.5.2) của đề tài KC09.06/06-10, Trong năm

2007, nhóm nghiên cứu các vấn đề kinh tế-xã hội và nhân văn đề tài nhánh đã

thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu hiện trạng sử dụng tài nguyên, phát triển

KT-XH tại các cửa sông vùng ven biển châu thổ sông Cửu Long”. Trong đó,

đã phân tích tổng quan quá trình khai phá vùng đất và xây dựng nên tính cách

ứng xử với thiên nhiên của con người đồng bằng Nam Bộ; đồng thời phân

tích hiện trạng tiềm năng, lợi thế và những tồn tại cho phát triển kinh tế-xã hội

các tỉnh vùng cửa sông Cửu Long thông qua các đặc điểm về vị trí và vị thế;

quá trình hình thành lãnh thổ; Về đặc điểm tự nhiêm như địa chất, địa hình,

khí hậu, thuỷ - hải văn; đất và đặc điểm sinh vật. Phân tích về hiện trạng phát

triển KT-XH vùng cửa sông Cửu Long như đặc điểm dân cư và dân số; hiện

trạng sản xuất nông nghiệp - thuỷ sản; các hoạt động vận tải trên sông; những

vấn đề liên quan đến việc khoanh vùng đê biển và bố trí dân cư và những vấn

đề phát triển xã hội.

Từ kết quả nghiên cứu đó, những kết luận biến động đường bờ vùng cửa

sông ven biển Cửu Long liên quan đến các hoạt động KT-XH đã được rút ra

là:

1/ Những nghiên cứu về hiện trạng KT-XH vùng khu vực gắn với các

đặc điểm tự nhiên và lịch sử khai phá lãnh thổ cho thấy khu vực có đặc trưng

là miền đất thấp đang phát triển, đang được lấn ra biển bằng hệ thống đê biển

và đê sông. Các tuyến đê là những lá chắn hữu hiệu để ổn định dân cư và ổn

định sản xuất và là hoạt động lấn biển đặc trưng của khối cư dân ven bờ châu

thổ sông Cửu Long.

2/ Dân cư trong khu vực cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long

là dân cư tại chỗ, ổn định, không biến động bởi các luồng dân di cư, không có

hiện tượng di cư tự do đến các khu vực này. Do vậy, quỹ đất ở đây phù hợp

với các ngành nghề truyền thống vẫn phát triển từ ngàn xưa đến nay, chỉ có

kỹ thuật canh tác được đổi mới phù hợp với công nghệ và điều kiện chăm sóc

320

mới, tuy nhiên, phương thức sản xuất cũng chưa thay đổi nhiều, mà chỉ tập

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

trung vào việc tăng cường thuỷ lợi như nạo vét, đào mới các tuyến kênh

mương để thâm canh tăng vụ. Hoạt động sản xuất này có ảnh hưởng đáng kể

đến quá trình bồi tụ phù sa, cải tạo đường bờ vùng cửa sông ven biển đồng

bằng sông Cửu Long.

3/ Hoạt động sản xuất chính vẫn là trồng lúa gạo, tuy vậy, phương thức

canh tác thay đổi đã ảnh hưởng đến quá trình lắng động phù sa, từ lắng đọng

trên diện rộng theo các con lũ trước đây thì nay được vận chuyển theo các

dòng kênh, rạch đi ra biển, làm cho tương quan động lực lục địa – biển

nghiêng về phía lục địa hơn, vì thế, quá trình sa bồi bằng vật liệu phù sa lục

địa diễn ra nhanh hơn và mạnh hơn.

4/ Hoạt động nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản vùng ven cửa sông,

vùng ven biển với mức độ ngày càng mạnh, dân cư tập trung ngày càng nhiều

cũng ảnh hưởng nhiều đến biến động đường bờ, nhất là trong thời gian hiện

đại, khi nhu cầu phát triển kinh tế gia tăng, nhu cầu xuất khẩu thuỷ hải sản

tăng mạnh. Sự biến động của các xu thế sử dụng đất có tác động không nhỏ

đến việc ổn định vùng đất thấp cửa sông vùng ven biển đồng bằng sông Cửu

Long.

5/ Quá trình điều tiết của hệ thống đập ngăn trên các dòng sông nhỏ như

hệ thống đập ngăn dòng chảy sông Ba Lai đã ảnh hưởng mạnh đến vùng cửa

sông, làm cho dòng này hầu như bị mất cửa ra, một số dòng nhánh nhỏ cũng

trong tình trạng tương tự, tác động đó cũng làm cho các cồn giữa sông dày

thêm và đầy thêm.

6/ Vận tải thuỷ là phương tiện truyền thống của vùng, sự gia tăng của

các phương tiện vận chuyển theo thời gian cũng ảnh hưởng nhiều đến quá

trình lắng đọng và bồi tụ phù sa tại các khu vực cửa sông, đồng thời, ảnh

hưởng đến dòng chảy, đến biến động đường bờ, kể cả bờ sông và bờ biển,

nhất là vùng cửa sông đổ ra biển, nơi có sự hoạt động thường xuyên của các

321

tàu pha sông biển.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

7/ Hoạt động quai đê biển và kiên cố hoá hệ thống đê biển, biến thành

các tuyến giao thông liên xã và liên thôn gắn với việc củng cố các khu dân cư

trong khu vực đê biển có ảnh hưởng đến quá trình phát triển tự nhiên của

đường bờ.

Kết quả nghiên cứu của năm 2007 là cơ sở để tiến hành các công việc

tiếp theo của năm 2008, với trọng tâm khoa học là: Đề xuất giải pháp khai

thác, sử dung hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và giảm nhẹ tác động của

thiên tai đối với phát triển KT-XH vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long.

Qua kết quả khảo sát nghiên cứu trong hai năm 2007 và 2008, có thể rút

ra được một số giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên

nhiên và giảm nhẹ tác động của thiên tai đối với phát triển kinh tế - xã hội

8. 2. CÁC GIẢI PHÁP

vùng ven bở châu thổ sông Cửu Long.

8.2.1. Phát triển rừng ngập mặn

Phát triển rừng ngập mặn của vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long khá phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vật liệu phù sa, động lực dòng chảy, tương quan giữa động lực sông - biển, v.v. Do vậy, tại các cửa sông Cửu long, các cánh rừng ngập mặn phát triển không đồng đều cả về không gian và thời gian.

a/ Về mặt không gian:

322

- Nhìn chung xu thế bồi tụ là xu thế chung của vùng chín cửa sông Cửu Long, điều này tạo điều kiện cho rừng ngập mặn phát triển tốt và cố định bùn sét, tham gia hữu hiệu vào việc hình thành, cũng như cố định dải đất ven biển châu thổ. Điều này cho thấy rừng ngập mặn phát triển bao trùm toàn bộ vùng chín cửa sông Cửu Long (màu hồng tím trong giản đồ bên dưới).

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

323

Hình 8.1. Sơ đồ phân bố rừng ngập mặn vùng đồng bằng Nam Bộ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Việc phát triển rừng ngập mặn và bằng vai trò cố định bùn sét để biến

thành đất nên trong những năm qua, diện tích đất của các tỉnh trong vùng cửa

sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long tăng liên tục, nổi bật trong đó là đất

rừng ven biển.

Vào thời điểm bắt đầu công cuộc công nghiệp hoá, diện tích rừng tự

nhiên trong vùng đồng bằng cửa sông Cửu Long không cao, chỉ là 2.187 ha,

trong đó tập trung nhiều nhất là ở Sóc Trăng (1.900 ha), hai tỉnh Tiền Giang

và Trà Vinh là hoàn toàn không có một ha rừng tự nhiên nào.

Bảng 8.1. Diện tích rừng tự nhiên và đất trống đồi núi trọc tại thời điểm 1/7/1990 (ha)

Chia ra

Địa phương Tổng số Rừng tự nhiên

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng 3.300 3.762 19.700 10.122 36.884 Đất trống hoang hóa 3.300 3.475 19.700 8.222 34.697 - 287 - 1.900 1.9

Nguồn: Số liệu thống kê nông-lâm nghiệp-thuỷ sản VN 1985-1995

Sang đến thế kỷ XXI, trong vòng 6 năm đầu của thế kỷ XXI, đất rừng đã

tăng lên được hơn 2,000 ha, mỗi năm tăng được khoảng 333 ha trên toàn

vùng, trong đó đất rừng phòng hộ là 18.270 ha, đất rừng đặc dụng là 390 ha

(tổng khoảng 18.660 ha) gấp 8,5 lần so với năm 1990. Diện tích này chủ yếu

là rừng ngập mặn, còn rừng sản xuất (rừng trồng là 17.490 ha). Chuyến sang

năm 2007, diện tích rừng thực tế toàn vùng là 33,2 nghìn ha, tập trung ở Tiền

324

Giang và Sóc Trăng, diện tích rừng giảm mạnh ở Bến Tre

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bảng 8.2. Đất lâm nghiệp phân theo mục đích sử dụng (2007)

Đơn vị: nghìn ha

Phân theo mục đích sử dụng

Tăng giảm so với năm 2001 (2001- 2006)

Đất lâm nghiệp

Diện tích rừng 2007

Số lượng Tỉ lệ (%)

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng 10,58 6,43 6,95 11,92 321 Đất rừng sản xuất 6,29 0,37 4,66 6,17 165 Đất rừng phòng hộ 4,45 6,06 2,29 5,47 144 Đất rừng đặc dụng 0,10 0,29 0,39 1,18 12,20 0,27 4,38 0,95 15,83 2,01 20,28 144 10,8 3,6 6,6 10,2 33,2

Nguồn: Kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản Việt Nam

năm 2006 (tập 3), NXB Thống kê 2007 và niên giám thống kê 2008

Những số liệu thống kê trên cho thấy:

Tại Tiền Giang, trong vòng 27 năm diện tích rừng tăng lên 10,8 nghìn

ha, tăng bình quân mỗi năm là khoảng hơn 635 ha.

Tại Bến Tre, tăng được 6.013 ha rừng trong vòng 27 năm, bình quân

tăng được khoảng gần 223 ha mỗi năm.

Tại Trà Vinh, trong vòng 27 năm tăng lên 6.600 ha, bình quân mỗi năm

tăng thêm trên 244,4 ha

Ở Sóc Trăng tăng được 8.300 ha trong vòng 27 năm, mỗi năm tăng

được 307,4 ha.

Tổng hợp lại cho thấy, một phần diện tích rừng không nhỏ gia tăng

trong gần 30 năm qua, trong đó, chủ yếu là tăng diện tích rừng ngập mặn với

325

mức tăng trung bình khoảng 347,5 ha mỗi năm.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Như vậy, cùng với việc bồi đắp phù sa tại các vùng cửa sông, các dải

rừng ngập mặn đã cố định đất chuyển dần từ rừng cây ngập mặn (đước, dừa

nước, v.v.) sang cây vùng nước lợ (bần, mắm, ca ổi, v.v.), trong quá trình

chuyển đổi chất lượng đất này, nhiều vạt rừng đước lụi dần, thay thế bằng

các loại hình rừng bần, mắm, ca ổi, v.v.. Việc dải đất bùn sét chuyển thành

đất có khả năng canh tác công nghiệp, cùng với việc xây dựng các đê ngăn

mặn lấn biển lấy đất trồng cấy và phát triển các khu dân cư có ý nghĩa rất

quan trọng cho hài hòa hoạt động bồi tụ tự nhiên – phát triển rừng ngập mặn

và phát triển KT-XH dải đất thấp này trong quá trình phát triển KT-XH bền

vững.. Do vậy, giải pháp phát triển trồng rừng cũng như tạo điều kiện cho

phát triển tự nhiên các rừng ngập mặn vùng cửa sông ven biển sông Cửu

Long có tầm quan trọng đặc biệt.

Tuy vậy, trên nền xu thế chung đó, tại các cửa sông và vùng ven biển

khác nhau không phải đều có xu thế bồi mà có đoạn xói, có đoạn bồi. Vì vậy,

giải pháp phát triển rừng ngập mặn tại toàn bộ vùng cửa sông, ven biển Cửu

Long được xem xét trong các bối cảnh cụ thể.

Theo kết quả nghiên cứu của Chuyên đề “Đánh giá tình hình biến động

các cửa sông đồng bằng sông Cửu Long qua các tư liệu viễn thám” thuộc đề

tài KC 09-06/06-10 do TS Phạm Quang Sơn chủ trì [2] cho thấy xu thế bồi -

xói tại các cửa như sau:

- Khu vực các cửa sông Tiền phát triển theo phương thức bồi tụ - xói lở

diễn ra xen kẽ nhau vùng các cửa sông biến động với các quy mô khác nhau.

a/ Khu vực cửa Tiểu - Đại, vùng biến động rộng nhất (5.600m) nằm tại

địa phận các xã Phú Tân Phú Đông giữa hai cửa sông và địa phận xã Thừa

Đức, h. Bình Đại (900 - 1.400m) làm cho cụm cửa sông này ít ổn định, do vậy

nên dùng biện pháp trồng rừng ngập mặn (biện pháp phi công trình) làm cố

định khu vực này, tập trung vào vùng biến động cao nhất tại địa phận các xã

326

Phú Tân Phú Đông giữa hai cửa sông và địa phận xã Thừa Đức, h. Bình Đại.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

b/ Khu vực cửa Ba Lai có xu thế phát triển thiên về bồi tụ mạnh và cửa

sông sẽ bị lấp dần trong tương lai là điều kiện để phát triển rừng ngập mặn

nhằm cố định bùn sét tạo điều kiện hình thành đất trồng góp phần ổn định cửa

sông. Trong đó, vùng tập trung là vùng được đánh giá biến động mạnh nhất

rộng 1.000 - 3.400m tại cửa sông Ba Lai.

c/ Khu vực cửa Hàm Luông nên tập trung phát triển rừng ngập mặn tại

vùng được đánh giá có biến động mạnh nhất ở bờ phía Nam thuộc địa phận

các xã An Điền - Thạnh Hải, h. Thạnh Phú có chiều rộng từ 900 - 3.700m,

nhằm mục tiêu ổn định cửa sông.

d/ Tại khu vực cửa Cổ Chiên - Cung Hầu, vùng được đánh giá biến động

mạnh nhất là đoạn bờ biển phía Bắc thuộc địa phận xã Thạnh Phong, h. Thạnh

Phú có bề rộng từ 1.000 - 2.100m cần được tập trung phát triển rừng ngập

mặn. Riêng đối với các cồn cát và cù lao trên sông Cổ Chiên đang có xu

hướng phát triển và biến động theo dạng đảo cát trôi với địa hình khá nông thì

nên phát triển dừa nước phía ngoài và các loại rừng ngập mặn phía trong, nhất

là về phía thượng nguồn để ổn định phần cù lao trôi thượng nguồn và cố định

dần đuôi cù lao theo hướng phát triển (hướng “trôi” của cù lao) bằng các biện

pháp kết hợp công trình (cọc cố định) và phi công trình (cây trồng: dừa, bạch

đàn, keo, v.v.)

Cùng với việc phát triển rừng ngập mặn tại cửa sông, các dải đất nông

bên ngoài biển (các nêm bồi tụ) cũng cần được lưu ý tạo điều kiện để quy

hoạch cho những năm tới trồng hoặc phát triển tự nhiên rừng ngập mặn. Theo

Vũ Văn Vĩnh [3], phía ngoài biển Từ Bắc xuống nam có 6 nêm bồi tụ sau cần

được lưu ý:

- Nêm bồi tụ T1 ở bắc Cửa Đại, phát triển rừng ngập mặn từ đỉnh nêm

cách đỉnh delta Cửa Đại 26,5km về phía đông Đông Nam.

- Nêm bồi tụ T2 ở phía nam Cửa Đại, đỉnh nêm cách đỉnh delta Cửa Đại

327

24km về phía Đông Nam.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Nêm bồi tụ T3 nằm giữa 2 cửa sông Cửa Đại - Ba Lai, đỉnh nêm cách bờ

7km.

- Nêm bồi tụ T4 ở cửa Hàm Luông, đỉnh nêm cách đỉnh delta 20km về

phía Đông Nam.

- Nêm bồi tụ T5 ở–cửa Cổ Chiên, dỉnh nêm cách đỉnh delta Cổ Chiên

30km về phía Đông.

- Nêm bồi tụ T6 nằm giữa 2 cửa sông Cổ Chiên và Định An, đỉnh nêm

cách cửa sông Cồn Chung 0,6km.

Trong 6 nêm kể trên, nêm bồi tụ T3 và T6 là lớn nhất; nêm T1, T2, T4,

T5 là những nêm nằm trong vùng quạt delta; nêm T3 và T6 là nêm thành tạo

giữa 2 cửa sông.

- Khu vực thuộc các cửa sông Hậu có đoạn chảy khá thẳng, dòng chảy

theo phương thức xới lở - bòi tụ, bên cạnh lòng dẫn chính luôn phát triển các

dòng chảy phụ. Các cồn cát bồi (cù lao, gồn cát hay các bar, đảo chắn) phát

triển mạnh và chuyển dịch theo phương thức đảo cát trôi dần về phía cửa

sông. Vùng thiên về trạng thái bồi tụ và ít ổn định. Biến động ở hai cửa sông

có khác nhau. Do đó, biện pháp sử dụng rừng ngập mặn để ổn định vùng hai

cửa sông Định An và Tranh Đề có ý nghĩa quan trọng cho phát triển KT-XH

bền vững

e/ Khu vực cửa Định An sẽ chú trọng vào phát triển rừng ngập mặn tại

vùng có biến động mạnh nhất ở phía Bắc thuộc địa phận xã Dân Thành -

Đông Hải, h. Duyên Hải rộng 600 - 1.800m.

f/ Khu vực cửa Tranh Đề tập trung phát triển rừng ngập mặn tại vùng có

biến động mạnh nhất ở phía Bắc thuộc địa phận xã An Thạnh Nam, huyện Cù

Lao Dung, rộng 1.100 - 6.200m, vùng bồi tụ mạnh là vị trí cửa Bát Sắc trước

đây. Riêng đoạn bờ biển phía Nam thuộc địa phận huyện Thạnh Phú với việc

328

phát triển bồi tụ - xói lở xen kẽ và thiên về trạng thái bồi tụ, cửa sông ít ổn

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

định sẽ phải có những nghiên cứu nhằm kết hợp các biện pháp công trình (giải

pháp kỹ thuật) để chống xói lở với các biện pháp công trình (phát triển rừng

ngập mặn).

Các hệ sinh thái rừng ngập mặn tại vùng cửa sông ven biển đồng bằng

sông Cửu Long, cây ngặp mặn thường phân bố dọc theo các bờ sông vào sâu

trong đất liền. Ở những cửa sông thuộc sông Tiền (cửa Đại, cửa Tiểu, cửa

Hàm Luông), theo nghiên cứu [4] rừng ở đây bao gồm các loài cây nước lợ và

cây rộng muối, thành phần cây rừng tương tự như ở sông Ba Lai, các quần xã

chủ yếu bao gồm:

- Quần thể Bần chua (S. caseolaris) tiên phong trên đất mới bồi phía

ngoài cửa sông.

- Quần xã Bần chua (S. caseolaris) – Mắm trắng (Avicennia alba) trên

đất ngập triều trung bình. Các loài khác như Mắm lưới đòng rải rác, vài chỗ

có Dừa nước, mùa khô do nước mặn, cây thường bị cháy lá và bị sâu phá.

- Quần xã Dừa nước (Nypa fruticans) – Mái dầm (Cryptcotoryne ciliata)

phân bố dọc triền sông phía đất liền cùng với các loài khác như Ô rô gai, Cói.

- Quần xã Cóc kèn (Derris trifoliata) – Cỏ mui (Wedelia biflora) trên đất

ít ngập triều. Ngoài ra còn có các loài khác như Ô rô gai (Acanthus

ilicifolius), Sậy (Phragmites karka).

Các quần xã rừng ngập mặn lưu vực sông Cổ Chiên và dọc theo bờ biển

cửa Cung Hầu phát triển thực vật ngập mặn với chủ yếu là Bần cây lớn. Các

bãi cát lớn ngập nước cửa sông ở hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu là điều kiện

thuận lợi cho các loài cây ngập mặn, đặc biệt là Mắm trắng phát triển mạnh.

Loài này cùng với Mắm lưỡi đòng phát triển thành quần xã dày đặc, cây cao

khoảng 10m, tạo nên loại hình rừng phòng hộ bảo vệ bờ sông chống xói lở rất

hiệu quả. Ở các bãi đang bồi, Bần trắng (Sonneratia alba) thường là loài cây

tiên phong, sau đó Mắm trắng định cư, tạo ra quần xã tiên phong hướng về

phía biển. Phía sau là quần xã hỗn hợp, trong đó có Đưng và rải rác có Đước

329

cùng với Dà quánh [4].

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

8.2.2. Phát triển nuôi trồng thủy sản

Nuôi trồng thuỷ sản có ảnh hưởng rất quan trọng đến biến động đường

bờ trong vùng cửa sông Cửu Long, đặc biệt hoạt động này có tính biến động

rất cao cả về không gian và bất thường theo thời gian phát triển, do phụ thuộc

vào sự điều chỉnh của thị trường. Tuy việc phát triển diện tích nuôi trồng

thủy sản ảnh hưởng không chỉ đến biến động đường bờ mà còn đến cơ cấu

diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn vùng cửa sông Cửu Long,

nhưng đây là một trong những hoạt động tạo công ăn việc làm, tham gia vào

công cuộc xóa đói – giảm nghèo cho một số đông dân cư nông thôn vùng cửa

sông ven biển và đóng góp cao cho ngân sách địa phương, hơn nhiều sản

xuất lúa gạo truyền thống, nên những năm vừa qua diện tích nuôi trồng thủy

sản vùng cửa sông ven biển Cửu Long phát triển mạnh.

Trong cơ cấu nuôi trồng thuỷ sản của vùng cửa sông Cửu Long thì chủ

yếu là nuôi tôm, trong đó, diện tích nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh Bến Tre,

Trà Vinh, Sóc Trăng hầu như là nuôi tôm hoàn toàn.

Việc đào ao – đìa nuôi tôm về mặt tích cực là làm nhanh chóng cố định

các vùng đất mới hình thành, nhưng nuôi tôm truyền thống ở vùng này có tác

động mạnh đến xâm nhập mặn và xung phèn do đào sâu đầm – đìa tôm (đôi

khi sâu đến hơn 2m) bóc hết cả tầng sét dưới đáy, dẫn nước mặn vào, tạo điều

kiện nhiễm mặn (do bơm nước biển vào) và xung phèn (từ dưới đáy lên), do

đó, sản lượng và chất lượng tôm nuôi có nhiều vấn đề xảy ra.

Bảng 8.3. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản* (nghìn ha)

4,1 7,7 2,9 1,4 1,5 1,5 Tiền Giang

6,4 Bến Tre

1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1,5 9,6 2,0 14,6 12,1 15,7 15,7 15,9 16,1 20,6 24,7 2,3 1,3 2,3 - - - 1,2 - - Trà Vinh

- - 1,8 2,9 - 1,3 - - Sóc Trăng

8,4 3,0 16,1 13,5 17,2 17,2 21,3 23,3 33.5 39,6 Tổng

330

Nguồn: Số liệu thống kê nông-lâm nghiệp-thuỷ sản VN 1985-1995

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

* - Gồm cả mặt nước nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ và nước ngọt

Theo số liệu thống kê ở bảng trên, giai đoạn cuối thế kỷ XX, diện tích

mặt nước nuôi trồng thuỷ sản tăng liên tục trong vùng, song, tập trung vào

Bến Tre, sau đó đến Tiền giang.

Nhưng sang giai đoạn đầu của thế kỷ XXI, Sóc Trăng là tỉnh có diện

tích đất nuôi trồng thuỷ sản cao nhất và như vậy, địa phương này là nơi có

tốc độ gia tăng diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản cao nhất đồng bằng sông

Cửu Long.

Nếu so sánh với diện tích đất gia tăng được trong giai đoạn đầu của thế

kỷ XXI là 32.000 ha cho toàn vùng, thì biến động đất nuôi trồng thuỷ sản tăng

lên 34.280 ha, như vậy, hầu như toàn bộ diện tích đất gia tăng của vùng, chủ

yếu do tác động của quá trình bồi đắp thì được đưa vào diện tích nuôi trồng

thuỷ sản, còn lấn thêm vào diện tích đất trồng cây hàng năm hơn 2.000 ha,

giai đoạn này được gọi là giai đoạn sốt của nuôi trồng thuỷ sản trên đồng

bằng sông Cửu Long nói chung và vùng cửa sông nói riêng.

Bảng 8.4. Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản* (nghìn ha)

2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008**

Tiền Giang 8,4 10,8 11,9 12,1 12,4 12,7 6,8

Bến Tre 29,3 37,7 41,1 42,3 41,1 41,4 35,1

Trà Vinh 52,6 30,2 32,5 38,7 41,3 48,3 28,9

Sóc Trăng 41,4 57,1 59,0 64,9 64,3 64,3 67,7

Tổng 131,7 135,8 144,5 158,0 161,1 166,7 138,5

Nguồn: Niên giám thống kê 2007, 2008

331

* - Gồm cả mặt nước nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ và nước ngọt

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

** - Chỉ có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ ven biển

Vào giai đoạn đầu của thời kỳ đẩy nhanh CNH, HĐH nông thôn, diện

tích và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng đột biến tại 13 huyện ven biển

thuộc 4 tỉnh cửa sông Cửu Long trong đó, trừ hai huyện Cầu Ngang và Trà

Cú, 9 huyện còn lại đều tăng sản lượng nuôi trồng lên gấp rưỡi, thậm chí gần

gấp đôi trong vòng 2 năm.

Tuy nhiên, giai đoạn sau có những biến động khá cao, chỉ có một số

huyện như Gò Công Đông, Châu Thành, Cầu Ngang, Trà Cú, Vĩnh Châu và

Cù Lao Dung là vẫn tăng, một số huyện đã không tăng như Thạnh Phú hoặc

giảm đi như Bình Đại, Ba Tri ở Bến Tre và Duyên Hải ở Trà Vinh. Điều này

minh chứng cho nhận định về tính biến động của hoạt động nuôi trồng thủy

sản trên vùng cửa sông ven biển, do đó có ảnh hưởng phức tạp đến quá trình

khai thác vùng đất ướt hai bên đê biển, ảnh hưởng đến quá trình bồi tụ tại các

vùng cửa sông.

Số liệu thống kê cho thấy, nếu vào cuối thế kỷ XX, Bến Tre là tỉnh đi đầu

trong việc gia tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản thì sang đầu thế kỷ XXI, nơi

đây lại giảm mạnh sản lượng nuôi trồng. Điều này cho thấy, hầu như các

huyện ven biển của cùng ảnh hưởng của 6 cửa sông Tiền từ Bình Đại (phía

Nam Cửa Tiểu) xuống đến Duyên Hải (phía Nam cửa Cung Hầu) bị ảnh

hưởng mạnh về nuôi trồng thuỷ sản thì các huyện ven biển của Tiền Giang

(phía Nam cửa Soài Rạp) và các huyện Cù Lao Dung, Vĩnh Châu (phía Nam

các cửa sông Hậu) lại gia tăng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản. Do vậy, có một

câu hỏi đặt ra là có phải việc chia nước sông Tiền sang miền Tây đã ảnh

hưởng đến diện tích và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của vùng ảnh hưởng

cửa sông Tiền hay không? Và nếu có ảnh hưởng bởi dòng chảy và lượng hữu

cơ nuôi dưỡng sinh vật trong đó thì cũng ảnh hưởng mạnh đến việc phát triển

rừng ngập mặn khu vực cửa sông Tiền.

Việc gia tăng diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản đã tạo nên nhiều công ăn

332

việc làm cho vùng cửa sông Cửu Long, trong đó, Sóc Trăng là nơi có số lao

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

động trong ngành thuỷ sản là cao nhất và như vậy, hoạt động này tham gia

mạnh mẽ vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho nhiều

hộ gia đình nông thôn vùng cửa sông Cửu Long và đã có những thời điểm tạo

cơ hội cho nhiều hộ gia đình tại đây giàu lên (Bảng 8.5).

Bảng 8.5. Tổng số hộ nuôi trồng thủy sản

Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng số Số hộ nuôi trồng thuỷ sản 7.420 26.860 18.850 34.695 87.825 Số hộ nuôi tôm 2.263 22.244 22.574 29.950 77.031

Nguồn: Kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản VN năm 2006

Tuy vậy, phát triển nuôi trồng thuỷ sản của các hộ nông dân chủ yếu là tự

phát, thiếu kiến thức nên việc nuôi trồng này trong giai đoạn vừa qua tỏ ra có

nhiều điểm bất cập, không tạo được thương hiệu, tính cạnh tranh cao giữa các

hộ và lại bị thương lái ép giá, điều này cũng đã ảnh hưởng đến việc phát triển

nuôi trồng thuỷ sản và ảnh hưởng đến quá trình tích đọng phù sa, quá trình

biến động đường bờ trong vùng cửa sông Cửu Long.

Vì vậy, giải pháp quan trọng cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản

trong vùng cửa sông ven biển tập trung vào những việc sau:

- Cập nhật và tổng hợp thường xuyên tình hình phát triển nuôi trồng

thủy sản vùng cửa sông và vùng đất ướt ven biển Cửu Long để có sự quản lý

thống nhất mang tính ngành (thủy sản) và liên ngành (quản lý tổng hợp đới

bờ biển)

- Có những nghiên cứu dự báo tương đối chắc chắn trung và dài hạn về

tình hình thị trường xuất khẩu (nội địa và quốc tế) về thủy sản để có kế hoạch

điều phối, phát triển ngành thủy sản nói riêng và quản lý tổng hợp đới bờ nói

333

chung.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Các kết quả nghiên cứu biến động đường bờ vùng cửa sông ven biển

chín cửa sông Cửu Long phải được chuyển giao và được sử dụng trong quy

hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản nói riêng và trong quy hoạch tổng thể

phát triển KT-XH của các huyện ven biển thuộc 4 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre,

Trà Vinh, Sóc Trăng nói chung, từ đó xây dựng các kế hoạch ngắn và trung

hạn cho phát triển vùng nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ vùng cửa sông,

ven biển trong quy hoạch quản lý thống nhất đới bờ biển toàn vùng cửa sông

Cửu Long.

- Gắn kết chặt chẽ quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản với quy

hoạch phát triển và bảo vệ rừng ngập mặn và lồng ghép với các quy hoạch

phát triển ngành khác như giao thông thủy, phát triển các khu dân cư ven

biển, xây dựng các công trình kỹ thuật ven biển (đê biển, các kênh mương,

cống - đập ngăn mặn, v.v.)

8.2.3. Phát triển du lịch sinh thái

Phát triển du lịch sinh thái trên vùng cửa sông ven biển sông Cửu Long

về mặt tich cực là phát huy cao tiềm năng tự nhiên – nhân văn của vùng đất

này, trong nhiều trường hợp đã cố định đường bờ bằng các biện pháp công

trình (kè bờ đá, xây dựng các công trình phục vụ du lịch, v.v. ) và phi công

trình (trồng cây, đổ cát, v.v. ), thậm chí, sự có mặt của các du khách, các nhân

viên quản lý, phục vụ du lịch, v.v. tuy thụ động, nhưng tham gia vào giám sát

sự phát triển của đới bờ.

Trong hai chục năm gần đây, trrên toàn vùng đồng bằng Sông Cửu

Long đã khai thác tềm năng của nhiều điểm du lịch ý nghĩa quốc gia và quốc

tế, bên cạnh việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: giao thông

thủy và bộ, khách sạn, nhà hàng... đang được tăng cường phát triển, các loại

hình du lịch cũng phát triển đa dạng, gồm:

- Du lịch cảnh quan thiên nhiên trên đất liền, trên sông, trên biển, cù lao, cồn

334

cát.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Du lịch di tích lịch sử, khảo cổ, văn hóa - nghệ thuật.

- Du lịch vui chơi - giải trí.

- Du lịch an dưỡng nghỉ mát.

- Du lịch kết hợp kinh tế.

Với phương châm dựa vào thế mạnh và phát triển tổng hợp tiềm năng

du lịch sinh thái, các huyện ven biển 4 tỉnh cửa sông Cửu Long đã xây dựng

quy hoạch và đầu tư phát triển du lịch sinh thái ven biển

Ở Tiền Giang đang đầu tư trên 64 tỉ đồng tương đương trên 3,8 triệu

USD từ nguồn vốn ADB trong khuôn khổ Dự án phát triển du lịch tiểu vùng

sông Mê Kông (gọi tắt là dự án Mê Kông) để kiện toàn cơ sở vật chất hạ tầng

đáp ứng nhu cầu về du lịch sinh thái miệt vườn trong giai đoạn mới theo

hướng du lịch sinh thái sông nước miệt vườn kết hợp du lịch văn hóa trên cả

3 vùng sinh thái: vùng sinh thái nước ngọt, sinh thái ngập mặn và vùng sinh

thái ngập phèn.

Du khách đến với Khu du lịch sinh thái Cù lao Thái sơn sẽ đắm say với

vườn cây trái quanh năm 4 mùa đơm hoa kết trái; đến với khu du lịch chợ nổi

Cái Bè, du khách được chứng kiến một nếp sống thương hồ của những cư

dân sống bằng nghề mua bán trên sông từ thuở xưa, nay; còn tại vùng sinh

thái ngập mặn thuộc địa bàn huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông, nơi

đây có 32 km bờ biển, giàu tiềm năng du lịch biển, ngoài các khu vực gần bờ

có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn là cồn Ông Mão, bãi biển Tân Thành,

còn có hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố ven biển và gần các cửa sông

Soài Rạp, Vàm Cỏ Đông, Cửa Tiểu; đặc biệt có rừng phòng hộ chạy dọc ven

biển khoảng 20 km với nhiều hệ động - thực vật sinh sống. Tại vùng sinh thái

ngập mặn Tân Thành, du khách có thể tham quan các di tích văn hóa lịch sử

cấp quốc gia với các lăng: Hoàng Gia, Đốc Phủ Hải, Trương Định… thưởng

thức các món ăn đặc sản và các dịch vụ nghỉ mát, tắm biển; tham gia các lễ

335

hội Vàm Láng ở xã Kiển Phước.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Ở Bến Tre, phát huy thế mạnh về cảnh sắc thiên nhiên, sông nước hữu

tình với cửa Đại - cửa sông lớn nhất của 9 nhánh Cửu Long hai chiều nước

chảy, với cửa Hàm Luông mênh mông bát ngát; nhiều cồn, bãi đất phù sa mới

bồi tụ, đất tốt, trồng cây ăn trái sum suê, không khí mát mẻ trong lành, yên

tĩnh. Tham gia Hội đình Phú Lễ ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri; tham dự hội tế cá

Ông thường tổ chức tại hai huyện Bình Đại và Ba Tri; thăm mộ Võ Trường

Toản, mộ Phan Thanh Giản và danh thắng sân chim Vàm Hồ ở huyện Ba Tri.

Từ chỗ là một Công ty du lịch, chủ yếu kinh doanh lữ hành nội địa và một số

dịch vụ khác, đến nay Bến Tre có 2 doanh nghiệp nhà nước về du lịch và gần

20 doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh khách sạn.

Ở Trà Vinh, tuy số lượng khách đến còn ít, thời gian lưu trú ngắn nhưng

đã có một lượng khách không nhỏ tự tổ chức đến Trà Vinh tham quan, dự lễ

hội, thăm thân nhân, thăm đền thờ Bác Hồ; khu văn hóa du lịch Ao Bà Om,

nhà bảo tàng văn hóa Khmer, một số đền, chùa văn hóa Khmer và đặc biệt

đến khu du lịch tắm biển Ba Động.

Tuy có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái và đang là một trong những

hướng phát triển kinh tế có thế mạnh trong vùng cửa sông Cửu Long, song có

thể nhận xét là sự phát triển còn chưa cân xứng với tiềm năng hiện có bởi

nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là thị trường khách du lịch

là rất hạn chế và cơ sở hạ tầng cho hoạt động du lịch là rất thấp kém, việc quy

hoạch phát triển du lịch và du lịch sinh thái là hoàn toàn chưa có quy hoạch,

tự phát và thiếu tầm nhìn, dẫn tới thiếu đầu tư cho hoạt động kinh tế trong lĩnh

vực này.

Một trong những giải pháp quan trọng cho phát triển du lịch sinh thái

là quy hoạch du lịch, đáp ứng yêu cầu đó, khu du lịch biển Tân Thành huyện

Gò Công Đông đã được quy hoạch với quy mô 80ha, gắn với biển là rừng

ngập mặn, rừng nguyên sinh, nối với Cồn Ngang, Lũy Pháo Đài (huyện Tân

Phú Đông), có thể nói, ngoài những đóng góp nguồn lợi đáng kể từ kinh tế

336

biển, biển Tân Thành còn là loại hình du lịch thiên nhiên hỗ trợ cho các mục

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên và các giá trị lịch sử, văn hoá sở tại. Từ đây

sẽ nối tuyến du lịch này với khu du lịch biển Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh

và bãi biển Vũng Tàu tạo thành một quần thể du lịch khép kín phục vụ du

khách.

Để tạo điều kiện thuận lợi phục vụ khách tham quan cũng như giới

thiệu quảng bá, mời gọi các nhà đầu tư, công tác nghiên cứu lập qui hoạch

chi tiết khu vực dọc theo bờ biển nầy cần được các ngành chức năng thực

hiện sớm. Việc lập qui hoạch chi tiết xây dựng khu du lịch sinh thái biển Tân

Thành là bước đầu khẳng định vị trí du lịch đã được mọi người biết đến từ

lâu nhưng vẫn còn ngủ yên, chưa được khai thác đúng mức, đúng tầm, nhằm

phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương.

Trong việc hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển ngành du lịch Bến

Tre đến năm 2020, nhất là du lịch sinh thái và du lịch văn hoá lịch sử. Bến

Tre đẩy mạnh xã hội hoá phát triển du lịch, xây dựng các tuyến, điểm du lịch

đặc thù của tỉnh như khu du lịch Cồn Phụng, các xã ven sông huyện Châu

Thành, Mỹ Thạnh An - Thị xã, Hưng Phong - Giồng Trôm; củng cố và thực

hiện các dự án phát triển du lịch của huyện Chợ Lách và Ba Tri.

Giải pháp đầu tư cho phát triển du lịch đang được tiến hành, như ở

Tiền Giang, các doanh nghiệp cùng bỏ vốn đầu tư xây dựng phát triển khu du

lịch biển Tân thành, tạo thành một tour du lịch sinh thái, gắn tham quan các

di tích lịch sử, văn hoá, làng nghề truyền thống mới lạ và thực sự làm hài

lòng du khách sau một chuyến đi du lịch đúng nghĩa, đồng thời, góp phần

phát triển cộng đồng như tạo công ăn việc làm, tiêu thụ sản phẩm đặc biệt

kêu gọi người dân địa phương cùng làm du lịch.

Trong những năm gần đây đã được đầu tư bước đầu như xây dựng bờ

kè theo công nghệ mới tại khu vực biển Tân Thành; hiện tiếp tục thi công

thêm 200m nhằm bảo vệ đê biển và phục vụ du khách; các ngành chức năng

đang có ý tưởng xây dựng Trung tâm Thông tin du lịch tại đây với kinh phí

337

trên 3,5 tỷ đồng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Tại Bến Tre đã hình thành cơ chế khuyến khích phát triển mạnh du lịch,

năm 2009 tỉnh Bến Tre đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư

NewZealand với Dự án khách sạn và du lịch tại Cồn Phụng, đồng thời kêu gọi

các nhà đầu tư xây dựng các dự án du lịch qui mô khá và hiện đại như Dự án

Khu quy hoạch du lịch sinh thái nghỉ dưỡng tại các Xã An Khánh - Phú Túc

huyện Châu Thành có quy mô diện tích toàn khu trên 1.000ha (kết hợp với

khu đô thị mới phù hợp với định hướng phát triển và quy hoạch của tỉnh); Dự

án Khu Du lịch sinh thái Cồn Ốc Hưng Phong (Giồng Trôm) Khu quy hoạch

1.200ha với việc kết hợp xây dựng khu nghỉ dưỡng với hoạt động du lịch sinh

thái, sông nước

Tại Sóc Trăng, Công ty cổ phần Tiến Thành được cấp phép cho đầu tư

Khu du lịch sinh thái có vốn đầu tư 100.000 USD tại Huyện Long Phú

Tại tỉnh Trà Vinh đã duyệt quy hoạch và kêu gọi đầu tư phát triển Khu

sinh thái rừng ngập mặn biển Ba Động.

Giải pháp cho phát triển du lịch khác là nâng cao chất lượng dịch vụ

du lịch và phát triển nguồn nhân lực du lịch. Ngành du lịch Bến Tre tích

cực Nâng cao chất lượng dịch vụ các nhà hàng, khách sạn hiện có; tăng cường

đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ kinh doanh du lịch. Trong

định hướng đến năm 2010, Trà Vinh sẽ hướng tới nguồn khách đa dạng,

khách trong nước chủ yếu là khách Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ,

Nam Trung Bộ. Khách quốc tế phần lớn là khách khu vực Châu Á - Thái Bình

Dương, Tây Âu, Bắc Mỹ.

8.2.4. Giải pháp lấn biển

Lấn biển là một truyền thống khai thác lãnh thổ lâu đời tại vùng cửa

sông ven biển sông Cửu Long nói riêng và đồng bằng châu thổ Cửu Long nói

chung và những năm sau giải phóng hoạt động lấn biển di giãn dân được tiến

hành khá đồng loạt tại các huyện ven biển trong 4 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre,

338

Trà Vinh và Sóc Trăng. Tư liệu cổ cho thấy lịch sử khẩn hoang, lấn biển đã có

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

từ hơn 300 năm nay và đó là một quá trình phát triển liên tục, tuy trong từng

giai đoạn và từng vùng, do những điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau, với

những chính sách khai hoang trong từng thời điểm có khác nhau, nên sự phát

triển dân cư có khác nhau và không đồng đều ở mỗi vùng và trong từng giai

đoạn lịch sử.

Bảng 8.6. Diện tích đất tự nhiên (ha)

Năm Tiền Giang Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng 1994* 232.791 224.697 237.314 319.974 1.014.776 2000** 236.663 231.502 222.567 322.330 1.013.062 2007*** 248.420 236.020 229.510 331.230 1.045.1800 2008**** 248.418 236.020 224.023 331.176 1.039.637

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê Nông-lâm thuỷ sản VN 1985-

1995(*); VN thế kỷ XX(**) và niên giám thống kê 2007(***), 2008(****)

Việc lấn biển giãn dân phát triển nông nghiệp đồng nghĩa với việc gia

tăng các đơn vị hành chính tại các huyện ven biển trong tời gian gần đây.

Bảng 8.7. Biến động các đơn vị hành chính của các huyện ven biển

2000 2001 2002 2003 2004

Huyện Gò Công Đông – Tỉnh Tiền Giang

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 17 16 1 17 16 1 18 17 1 18 17 1 18 17 1

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 20 19 1 20 19 1 2 19 1 20 19 1

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn Huyện Bình Đại –Tỉnh Bến Tre 20 19 1 Huyện Ba Tri- Tỉnh Bến Tre 24 23 1 24 23 1 24 23 1 24 23 1 24 23 1

Huyện Thạnh Phú – Tỉnh Bến Tre

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 17 16 1 18 17 1 18 17 1 18 17 1 18 17 1

Huyện Châu Thành – Tỉnh Trà Vinh

339

Số xã, phường, thị trấn Xã 13 12 13 12 13 12 13 12 14 13

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Thị trấn 1 1 1 1 1

Huyện Cầu Ngang- Tỉnh Trà Vinh

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 14 12 2 14 12 2 14 12 2 14 12 2 15 13 2

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn Huyện Trà Cú – Tỉnh Trà Vinh 15 14 1 15 14 1 15 14 1 15 14 1 17 16 1

Huyện Duyên Hải – Tỉnh Trà Vinh

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 10 9 1 10 9 1 10 9 1 10 9 1 10 9 1

Huyện Vĩnh Châu – Tỉnh Sóc Trăng

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 10 9 1 10 9 1 10 9 1 10 9 1 10 9 1

Huyện Long Phú – Tỉnh Sóc Trăng

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 19 18 1 19 18 1 15 14 1 15 14 1 15 14 1

Huyện Cù Lao Dung – Tỉnh Sóc Trăng

Số xã, phường, thị trấn Xã Thị trấn 8 7 1 8 7 1 8 7 1

Nguồn: Số liệu KT-XH 371 huyện thị

Giải pháp cho vấn đề lấn biển là kết hợp giữa phát triển rừng ngập mặn

(cố định đất), làm đê ngăn mặn và di giãn dân, nhiều địa phương đã kết hợp

với lấn biển với quy hoạch dân cư ven biển

8.2.5. Phát triển giao thông

Các tuyến đường thủy nội vùng đồng bằng sông Cửu Long (đường

sông) và ngoại vùng (kết hợp sông – biển) đảm nhiệm vai trò vận chuyển

hàng hoá. Khoảng 65% khối lượng hàng hoá và khoảng 70% số lượng hành

khách đi lại trên vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở khu vực cửa

sông nói riêng được vận chuyển bằng các phương tiện thuỷ. Các tuyến vận tải

thuỷ liên quan chặt chẽ đến các luồng lạch và có ảnh hưởng đến quá trình tự

340

nhiên trên các dòng sông, các kênh rạch. Các hệ thống đường thuỷ lại liên

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

quan nhiều đến các cảng sông, cảng biển.

Hệ thống sông Tiền và sông Hậu, cũng như các nhánh kênh rạch khác

trong khu vực có khả năng phục vụ nhiệm vụ vận tải cho các loại tàu thuyền

hầu như quanh năm. Các đoạn tuyến đường thuỷ chủ chốt cho phép tàu sông

200-300 DWT lưu thông thuận tiện trên vùng cửa sông ven biển gồm:

- Kênh Chợ Gạo: từ vàm kênh Chợ Gạo (sông Vàm Cỏ) đến vàm Kỳ

Hoà (sông Tiền) dài 11,7 km

- Sông Tiền: từ vàm kênh Giao Hoà đến biên giới Cam Pu Chia dài

khoảng 190 km

- Kênh Giao Hoà - Chẹt Sậy – Mỏ Cày; từ vàm kênh Giao Hoà qua Bến

Tre, Mỏ Cày đến vàm kênh Mỏ Cày (sông Cổ Chiên) dài 32 km

- Kênh Chợ Lách dài 7,4 km

- Kênh Lấp Vò – Sa Đéc: từ vàm rạch Sa Đéc đến vàm rạch Lấp Vò

(sông Hậu) dài 17,4 km

- Sông Mang Thít: từ vàm kênh Chợ Lách (sông Tiền) qua sông Cổ

Chiên – sông Mang Thít – kênh Tắt – cù lao Mây đến vàm Cái Côn (sông

Hậu) dài 16 km

- Kênh Cái Sắn: từ vàm Cái Sắn (sông Hậu) qua kênh Rạch Sỏi đến ngã

ba kênh Tắc Ráng - ông Hiển – Tà Niên (TX Rạch Giá) qua Kiên Lương đến

Hà Tiên

Vì vậy, để giao thông thuận tiện vùng ven biển và trên các sông rạch, cần

có những giải pháp hữu hiệu như:

- Giải pháp quy hoạch giao thông đường thủy

Tại Trà Vinh đã quy hoạch hệ thống các tuyến giao thông thủy theo các

341

trục

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Giao thông trục dọc là những tuyến chính, bao gồm hai tuyến sông Cổ

Chiên và sông Bassac. Ngoài ra, tuyến Kênh Trà Ngoa – kênh 3 tháng 2 là

một tuyến giao thông thủy trục dọc quan trọng.

Tuyến sông Cổ Chiên và sông Bassac là hai tuyến giao thông trọng yếu

của tỉnh và vùng. Tuyến sông Bassac có thể nạo vét và nâng cấp để có thể đón

nhận tàu 5.000 - 10.000 tấn ra vào cảng Mỹ Thới, Cần Thơ. Tuyến Sông Cổ

Chiên là tuyến lưu thông hàng hóa ra ngoài về phía Đông Bắc tỉnh Trà Vinh,

do đó, Trà Vinh cần tranh thủ khai thác có hiệu quả cao hai tuyến sông này,

mà rước hết, cần đầu tư xây dựng và trang bị hệ thống cảng Trà Vinh, trên

sông Cổ Chiên và cảng Đại An trên sông Bassac.

Kênh Trà Ngoa - 3/2 là tuyến kênh dọc duy nhất chạy xuyên tâm tỉnh,

bắt đầu từ sông Măng Thít qua kênh Trà Ngoa, kênh Tiểu Cần đến kênh Lóp -

kênh Ba Tiêu - kênh Thống Nhất - kênh 3/2 và cuối cùng gặp kênh Quan

Chánh Bố - Láng Sắc gần làng cá Đại An. Đây là tuyến kênh quan trọng kết

hợp giao thông thuỷ với thủy lợi, nằm trong dự án dẫn nước ngọt của Nam

Măng Thít.

+ Các tuyến giao thông thủy trục ngang

Tuyến kênh Quan Chánh Bố - Láng Sắc là một tuyến cắt ngang (kênh

tắt) quan trọng, sẽ được nâng cấp, nhằm thông thương giữa thương cảng Đại

An và cảng Long Toàn. Tuyến này có độ sâu cho phép tàu trọng tải 250 tấn

lưu thông.

Tuyến kênh Mỹ Văn - 19/5 - Ba Si-Láng Thé nối sông Bassac với sông

Cổ Chiên. Toàn tuyến có độ dài 49 km, có thể cho phép tàu 50 - 100 tấn lưu

thông không phải đi vòng qua sông Măng Thít. Theo qui hoạch, trên hai đầu

tuyến kênh sẽ xây dựng hai cống Mỹ Văn (đầu kênh phía sông Bassac) và

cống Láng Thé (đầu kênh phía sông Cổ Chiên).

Tuyến Rạch Cần Chông - Thống Nhất - Lương Hòa là kênh thủy lợi kết

342

hợp với giao thông, nối Cầu Ngang, Châu Thành với sông Bassac. Tổng chiều

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

dài toàn tuyến dài 47 km, sẽ xây thêm một cống tại Cần Chông, nhằm điều

tiết lưu lượng nước và giao thông trên toàn tuyến. Đây là một tuyến giao

thông thuỷ liên huyện quan trọng cho phép tàu từ 50 tấn lưu thông; đoạn Rạch

Cần Chông có thể cho phép tàu 100 tấn qua lại.

Tuyến kênh Trà Vinh dài 17 km. Trên tuyến kênh này có cống

Đa Lộc chỉ cho phép tàu nhỏ hơn 50 tấn lưu thông từ huyện Châu Thành đi

cảng Trà Vinh.

Nhìn chung, các tuyến giao thông thủy trên địa bàn thường là kết hợp

giao thông với thủy lợi. Theo qui hoạch thủy lợi của hệ thống ngọt hóa Nam

Măng Thít, đa số các cống thủy lợi chỉ cho phép tàu 100 tấn đi qua. Vì vậy,

việc qui hoạch giao thông thủy cũng cần kết hợp theo hướng cải tạo, nạo vét

nhằm thông thương tàu dưới 100 tấn. Tuy nhiên, để thông suốt giao thông

hàng hóa, trường hợp ở mùa nước mặn các cửa sông, cửa cống sẽ được đóng

lại, nên cần phải chú ý mở điểm tập kết hàng hóa ở ngoài mặt đập

Ngoài ra, những hệ thống kênh rạch nhỏ, cho phép tàu thuyền có trọng

tải 5 - 25 tấn sẽ được qui hoạch chi tiết thêm trong qui hoạch huyện.

Cảng Trà Vinh tọa lạc trên diện tích 30.000 m2. Hiện nay, vận tải lương

thực, xi măng, phân bón phần lớn qua cảng này. Tuy nhiên, do hạn chế của

cửa Cung Hầu bị cạn lắng, không ổn định, cho nên tàu pha sông biển qua

cảng Trà Vinh không thể thực hiện qua cảng này. Hướng qui hoạch cảng Trà

Vinh sẽ là cảng sông chính phục vụ vận tải liên tỉnh. Công trình cảng Trà

Vinh sẽ được cải tạo và nâng cấp để đảm bảo hàng hóa thông qua cảng vào

năm 2015 là 255.000 tấn, với 3 bến có tổng chiều dài cầu cảng là150 m. Diện tích kho chứa dự kiến là 800 m2, và 2.700 m2 bãi chứa hàng. Cảng sẽ được

xây dựng và cải tạo trong hai giai đoạn. Giai đoạn I từ nay đến 2005; giai

đoạn II từ 2005 trở đi và sẽ hoàn chỉnh vào năm 2015.

Cảng Đại An (hoặc Cầu Quan) là hướng qui hoạch giao thông thuỷ mở

343

ra biển, nó sẽ là một cảng vệ tinh của hệ thống cụm cảng quốc tế ở khu vực

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ĐBSCL. Khu vực Đại An hoặc Cầu Quan có thể thích hợp để xây dựng một

cảng pha sông biển của tỉnh. ở đây, tàu có trọng tải 250 tấn có thể ra vào

được. Hơn nữa, khu vực này có QL 53-54-60 đi qua. ở đây, có nhiều khả năng

để thu hút hàng hoá của các tỉnh như Sóc Trăng, Tiền Giang và một số tỉnh

trong vùng xuất qua cảng, nếu cửa Định An được nạo vét thường xuyên và

nâng cấp thì tàu 10.000 tấn có thể ra vào cảng Cần Thơ thuận lợi. Ngoài ra, ở

đây có một khu qui hoạch phát triển đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản tập trung,

dân cư đông đúc sẽ thuận tiện để phát triển khu công nghiệp khép kín nuôi

trồng và đánh bắt thủy sản xuất khẩu.

Vì vậy, Cảng này sẽ được qui hoạch với tổng chiều dài bến vào năm 2015 là 270 m. Diện tích kho là 800 m2 và bãi sẽ là 24.000 m2 vào năm 2015.

Đến năm 2010 cảng có thể cho tàu 3.000 DWT ra vào và tàu 5.000 DWT ra

vào cảng sau năm 2015. Khối lượng hàng hóa qua cảng có thể đạt 142.000 tấn

vào năm 2005; 263.000 tấn vào năm 2015.

Hệ thống cảng huyện cũng được qui hoạch nhằm khai thác thế mạnh

giao thông thủy trên điạ bàn. Dự kiến sẽ xây dựng 7 cảng huyện với tổng

công suất 294.000 tấn vào năm 2010.

Bảng 8.8. Dự kiến lượng hàng hoá qua cảng huyện tại Trà Vinh

Tên cảng Càng Long Cầu Kè Tiểu Cần Châu Thành Trà Cú Cầu Ngang Duyên Hải Tổng cộng Năm 2000 48.000 47.000 40.000 25.000 31.000 24.000 9.000 224.000 Năm 2015 57.000 60.000 49.000 30.000 47.000 37.000 14.000 294.000

Nguồn: Trung tâm Khoa Học Kinh Tế Giao Thông Vận Tải Phía Nam

Đô thị cảng sông Hậu có thể bố trí tại Đại An hoặc Cầu Quan.... đây là

344

đô thị quan trọng vừa có khu công nghiệp chế biến vừa là cảng của tỉnh.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Tại Sóc Trăng đã tiến hành các quy hoạch:

* Xây dựng cảng Đại Ngãi vừa là khu công nghiệp, vừa là cảng của

tỉnh có công suất khoảng 500 nghìn tấn/năm.

* Đô thị Trần Đề có diện tích khoảng 500 ha sẽ bố trí các xí nghiệp chế

biến đồ hộp hải sản, nước mắm, thức ăn gia súc và xây dựng một cảng cá lớn

của tỉnh.

- Giải pháp nạo vét thường xuyên hoặc định kỳ các luồng lạch khơi

thông dòng chảy cho tàu bè ra vào.

Trong các cửa biển, cửa Định An được xem là phức tạp nhất, luồng

Định An cho tàu có trọng tải lớn qua lại. Đây là luồng được nhận định là

tương đối ổn định ứng với độ sâu có thể đảm bảo cho tàu trọng tải 5000 tấn ra

vào. Nhưng muốn cho tàu có tải trọng 10.000 tấn đầy tải ra vào thì phải nạo

vét với chiều dài 1,5 km.

Đã có ý kiến là vét sâu thêm cửa Định An để khai thác tiềm năng kinh tế

Mỹ Tho; sau đó đến phương án 2 là nạo vét kênh Láng Sắc; rồi cuối cùng thì

dự án Nhật lại tiến hành khoét cửa Định An.

Theo nguồn tài liệu của Viện Quy hoạch thủy lợi , Ở khu vực cửa Định

An, sự biến đổi của trường véctơ dòng chảy tổng hợp mang tính chu kỳ của

thuỷ triều và quy luật khác rõ là hướng dòng chảy vào ra và dao động qua lại

tạo ra sự bất ổn định và dao động chuyển dịch của tuyến luồng. Trong quá

trình đổi hướng, các véctơ dòng chảy cắt tuyến luồng tạo điều kiện bồi lấp

tuyến luồng. Trong khu vực các vùng bãi giữa Cù lao Dung và các bãi bồi

nông ở khu vực Định An và Tranh Đề, hình thành các khu dòng chảy vòng,

tạo điều kiện cho việc hình thành các khu vực bồi, các bãi cạn chắn cửa làm

thay đổi hình dạn và dịch chuyển các giồng cát dạng lống, dẫn đến sự chuyển

dịch hướng và bồi lấp tuyến luồng. Mặt khác, cửa Định An nằm trên giao

điểm của hai đứt gãy sông Hậu vàThuận Hải – Minh Hải, hệ thống đứat gãy

345

này góp phần quyết định hình thái và xu thế phát triển của sông Hậu và khu

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

vực vùng cửa sông, tham gia thúc đẩy sự phát triển của bờ biển giai đoạn hiện

nay.

Toàn vùng cửa Định An được xác định là một delta triều rút khá rộng,

vươn ra biển tới 5 - 7 km. Cùng với cửa Tranh Đề, cửa Định An tạo ra một

bãi bồi rộng lớn. Cù Lao Dung kéo dài ra biển là bãi triều rút nằm ở phía Nam

cửa Định An. Bãi cồn chắn cửa là bãi cạn ngay trước cửa sông Định An có

hình cung quay lưng về phía biển. Bãi cồn chắn cửa là ranh giới cuối cùng

của rãnh triều rút. Rãnh triều rút chính kéo dài từ cửa sông ra đến bãi cồn

chắn cửa, phía trong được bao bọc bởi hai bờ sông, phí ngoài được bao chắn

bởi Cù lao Dung và các bãi cồn vỗ sóng phía Bắc.

Theo tài liệu trên, hình thái cửa sông Định An – Tranh Đề có miệng

rộng, các doi cát tích tụ ngầm (cồn ngầm) có dạng kéo dài theo hướng của

dòng triều nằm kẹp giữa các rãnh xói, rãnh thoát triều. Các bãi tích tụ giữa

sông (cù lao) thường nằm sâu trong cửa sông có diện tích lớn, phần lớn các

bãi này có quá trình phát triển địa chất lâu dài và biến thành các cồn nổi nằm

giữa các nhánh sông lớn. Rãnh triều rút chính thường trùng với trục lòng

dẫnvà kéo dài từ bên trong sông ra tận ngoài khơi cách cửa 7 – 8km, địa hình

lòng dẫn thường ổn định, ít biến động.

Các rãnh triều phụ (lạch phụ) thường bị bồi lấp ít nhiều vào mùa kiệt và

khơi thông, phát triển vào mùa lũ. Các dải cát ngầm cửa sông thường được

bồi tụ nâng cao và dịch chuyển dần ra biển. Các tích tụ val, doi cát ở cửa sông

Định An thường là các vật liệu thô (cát) nên dễ bị biến động và di chuyển khi

có tác động của dòng chảy. Tốc độ dịch chuyển TB của các dải cát ngầm khu

vực cửa sông Định An – Trạnh Đề là 20-50m/năm.

Hệ thống cảng sông và cảng biển loại vừa của vùng cửa sông và trên các

dòng sông, dòng kênh chính vùng đồng bằng Cửu Long khá phát triển. Vùng

cửa sông có hai cảng quan trọng là cảng Trần Đề và cảng Đại Ngãi, đi theo

hai cảng này là hai khu công nghiệp Trần Đề và Đại Ngãi (Vàm Tấn). Nhưng

346

tại vùng cửa Trần Đề quá trình bồi lắng diễn ra liên tục. Những năm gần đây,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

do các vùng An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ bị lở mạnh, vật liệu

được đưa xuống vùng ven biển Sóc Trăng, gây hiện tượng bồi liên tục ở cửa

Trần Đề. Theo báo cáo khảo sát của phân viện khảo sát quy hoạch thuỷ lợi miền Nam thì vùng cửa Trần Đề hiện nay bị sa bồi nặng nên rất nông, chỉ cho

tàu 200- 300 tấn thông qua.

Điều này cho thấy, việc nạo vét vùng cửa Định An, Tranh Đề và dòng

chảy sông Hậu là phức tạp, đòi hỏi việc nạo vét luồng cần phải dựa trên

những cứ liệu khoa học chuẩn xác.

Tuyến sông Cổ Chiên và sông Bassac là hai tuyến giao thông trọng yếu

của tỉnh và vùng. Đây là 2 tuyến đường thủy quốc gia do TW quản lý. Hàng

hóa của tỉnh lưu thông chủ yếu trên những tuyến sông này. Do điều kiện lòng

sông rộng và sâu nên không hạn chế những phương tiện vận tải đường

sông có trọng tải lớn hoạt động (phương tiện vận tải đường sông từ 200 tấn

trở lên).

Tuyến sông Bassac vẫn là tuyến đường thủy tiếp nhận tàu quốc tế ra vào

cảng Mỹ Thới. Hiện tại tàu 3.000 DWT ra vào thuận lợi qua cửa Định An, tàu

5000 DWT ra vào cửa Định An khi triều cao. Tuyến sông Bassac có thể nạo

vét và nâng cấp để có thể đón nhận tàu 5.000 - 10.000 tấn ra vào cảng Mỹ

Thới, Cần Thơ.

Tuyến Sông Cổ Chiên là tuyến lưu thông hàng hóa ra ngoài về phía

Đông Bắc tỉnh. Vì vậy, Trà Vinh cần tranh thủ khai thác có hiệu quả cao hai

tuyến sông này. Trước hết, cần đầu tư xây dựng và trang bị hệ thống cảng Trà

Vinh, trên sông Cổ Chiên và cảng Đại An trên sông Bassac.

Kênh Trà Ngoa - 3/2 là tuyến kênh dọc duy nhất chạy xuyên tâm tỉnh,

bắt đầu từ sông Măng Thít qua kênh Trà Ngoa, kênh Tiểu Cần đến kênh Lóp -

kênh Ba Tiêu - kênh Thống Nhất - kênh 3/2 và cuối cùng gặp kênh Quan

Chánh Bố - Láng Sắc gần làng cá Đại An. Đây là tuyến kênh quan trọng kết

347

hợp giao thông thuỷ với thủy lợi, nằm trong dự án dẫn nước ngọt của Nam

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Măng Thít. Theo qui hoạch trong dự án, tuyến kênh này sẽ được cải tạo, nạo

vét mở rộng khả năng dẫn nước, với chiều rộng từ 9 - 12 m và có độ sâu 2 - 3

m/MSL. Đồng thời, cần nạo vét kênh Trà ếch và nâng cấp các cầu Tổng Tồn,

Sa Bích, Khánh Lộc, Đạp Sen, Ô Chát, ất ếch, Cầu Xây, Phước Hưng, Long

Hiệp và Sà Vần đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật thì có thể tàu có trọng tải 50 tấn

lưu thông trên toàn tuyến an toàn, thuận lợi.

Một số luồng lạch quan trọng như Luồng cửa Tiểu (sông Tiền) bị sa bồi

nặng, khó nạo vét, chỉ có thể cho tàu 3000 tấn trở xuống ra vào.

- Giải pháp mở thêm hệ thống kênh rạch mới cho tàu bè qua lại

Trong hệ thống các kênh ngang dọc quy hoạch trên địa bàn tỉnh Trà

Vinh, kênh Quan Chánh Bố có vị trí quan trọng, theo những nghiên sơ bộ cứu

trước đây về sạt lở, cồn nổi, v.v. thì việc phóng luồng kênh Láng Sắc – Quan

Chánh Bố sẽ giảm được chi phí cho nạo vét lòng sông. Tỉnh đang chuẩn bị đề

án quy hoạch khu kinh tế mở, kéo từ bến cá Định An qua bên Cầu Ngang lên

đến huyện Duyên Hải. Kênh Quan Chánh Bố thực thi sẽ tạo nhiều điều kiện

348

thuận lợi cho phát triển khu kinh tế mở.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hình 8.2. Vị trí kênh tắt Quan Chánh Bố - huyện Duyên Hải, Trà Vinh

Kênh Quan Chánh Bố - Láng Sắc là tuyến kênh rộng và sâu cho phép

tàu thuyền có trọng tải lớn lưu thông (đến 250 tấn), cửa kênh mở ra vùng biển

xã Mù U, phía Nam Khu công nghiệp tổng hợp khí - điện - đạm Cà Mau (hình

bên), nối với sông Long Toàn

Kênh Chính Tắt đang được đào dài trên 8.000 m, bắt đầu năm 2008 đào

nối với kênh Quan Chánh Bố, sau đó nối vào sông Hậu và như vậy, tàu bè sẽ

349

không phải đi qua cửa Định An.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Cửa Định An là nơi nối tiếp kênh Quan Chánh Bố với sông Hậu, cửa

này ở phía bờ lồi của sông Hậu có bãi bồi lớn, độ sâu bé, dòng chủ lưu ở bờ

đối diện, việc đào kênh có thể ảnh hưởng đến cân bằng tự nhiên và chưa biết

được điều gì sẽ xảy ra đối với cửa Định An và dòng chảy kênh Quan Chánh

Bố cũng như vùng biển và môi trường sinh thái vùng dân cư Nam Trà Vinh

[7]. Dòng Kênh Tắt (đào mới) tạo nên một cửa sông mới chen vào hai cửa

sông lớn là cửa Cổ Chiên và cửa Định An sẽ làm cho bờ biển thay đổi va cán

cân bùn cát sẽ thay đổi theo. Phía ngoài cửa kênh Tắt, ngoài tác động của

dòng bùn cát ven bờ từ phía Bắc xuống còn hứng chịu phù sa từ sông Hậu

thải ra mà khi mở Kênh Tắt, dòng bùn cát đó sẽ hoàn toàn thay đổi, ảnh

hưởng đến bãi tắm Ba Động trên biển Đông Hải – Trà Vinh.

Ngày 9-4-2009, 29 chiếc thuyền từ 3 cửa biển: Đông Hải, Láng Chim,

Long Toàn của huyện Duyên Hải đã nhổ neo ra biển, bắt đầu cuộc khảo sát

thủy văn, phục vụ cho công tác thiết kế luồng tàu biển lớn. Đợt 1 sẽ tập trung

khảo sát dòng chảy, sóng, bùn cát, độ mặn liên tục trong 73 giờ. Dự kiến đợt

2 sẽ thực hiện vào tháng 8-2009.

350

Hình 8.3. Kênh tắt Quan Chánh Bố nhìn từ ảnh vệ tinh

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Theo kế hoạch, kênh Quan Chánh Bố sẽ được mở rộng, đào mới (có độ

sâu mớn nước 8 mét) trên địa bàn 3 xã Long Vĩnh, Long Khánh, Dân Thành

(huyện Duyên Hải, Trà Vinh) nối với cửa Định An với các hạng mục chính

như mở rộng đoạn sông Hậu (dài 6km, rộng 95 mét). Con kênh Quan Chánh

Bố cũ dài 19 km (rộng 85 mét) sẽ đào mới thêm 9 km kênh tắt thông ra biển

(rộng 85 mét) và 6 km kênh biển (rộng 150 mét); xây dựng đê biển chắn cát,

giảm sóng, khu nước tránh tàu...

Chủ đầu tư dự án xây dựng luồng tàu biển dài 40 km này là Cục Hàng hải

vừa tiếp nhận 333,5 héc ta mặt bằng phục vụ thi công do tỉnh Trà Vinh bàn

giao và chuẩn bị khởi công trong thời gian sớm nhất. Khi được đưa vào khai

thác, luồng tàu này phục vụ tàu biển tải trọng từ 10.000 – 20.000 tấn và tàu

chở hàng container lưu thông với công suất vận chuyển 21 – 22 triệu tấn/

năm.

Ngày 27/12, tại Trà Vinh, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã

chính thức phát lệnh khởi công dự án luồng tàu biển trọng tải lớn vào sông

Hậu. Đây là dự án trọng điểm quốc gia với mục tiêu xây dựng luồng tàu biển

ổn định hơn cho tàu có trọng tải 10.000 DWT và tàu 20.000 DWT ra vào các

cảng trên sông Hậu. Việc đầu tư xây dựng dự án luồng tàu biển cho tàu lớn

vào sông Hậu sẽ tạo thuận lợi lớn cho các tàu có tải trọng lớn hơn ra vào sông

Hậu và tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hoá ở đồng bằng sông Cửu

Long, qua đó giúp giảm chi phí vận chuyển hàng hóa cho các tỉnh thuộc khu

vực này.

Dự án bao gồm các hạng mục công trình chính như: luồng tàu 1 chiều dài

40km, khu tránh tàu, đê biển, kè bảo vệ bờ, bến phà, bến sà lan 500T, cầu

đường bộ qua kênh Tắt, đường ven luồng, hệ thống phao tiêu báo hiệu và thiết

bị thông tin hàng hải. Trong đó, đoạn luồng sông dài 6 km, đoạn kênh Quan

Chánh Bố dài 19km, đoạn kênh Tắt cắt qua đất liền dài 9km và đoạn luồng

biển dài 6km. Toàn bộ dự án nằm trên địa phận hai huyện Duyên Hải và Trà

351

Cú tỉnh Trà Vinh.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

8.2.6. Giải pháp quy hoạch dân cư ven biển

Dân cư trong khu vực cửa sông ven biển song Cửu Long là dân cư tại

chỗ, ổn định, không biến động bởi các luồng dân di cư, không có hiện tượng

di cư tự do đến các khu vực này. Do vậy, quỹ đất ở đây phù hợp với các

ngành nghề truyền thống vẫn phát triển từ ngàn xưa đến nay, chỉ có kỹ thuật

canh tác đổi mới phù hợp với công nghệ và điều kiện chăm sóc mới, tuy nhiên

phương thức sản xuất cũng chưa thay đổi nhiều, mà chỉ có việc tăng cường

thuỷ lợi như nạo vét, đào mới các tuyến kênh mương để thâm canh tăng vụ.

Việc quy hoạch dân cư ven biển liên quan chặt chẽ với việc quy hoạch các

vùng ngọt hóa và xây dựng các tuyến đê biển và cũng là giải pháp quan trọng

ổn định dân cư vùng ven biển.

Bằng các hoạt động phát triển quần cư, đô thị hợp lý, phù hợp quy

luật, các tỉnh ven biển sông Cửu Long đang tạo điều kiện ổn định dân cư.

Tại Tiền Giang, đến nay (2008) toàn tỉnh đã đưa vào triển khai thi công

80 công trình, dự án cụm tuyến dân cư. Về cụm, đã hoàn thành xây dựng hạ

tầng kỹ thuật 12/12 cụm với tổng diện tích 80,62 ha. Kế hoạch bố trí dân cư

vào 12 cụm là 3.245 hộ, trong đó có 2.269 hộ thuộc đối tượng của chương

trình và 976 nền bán giá cao. Về tuyến dân cư, đã hoàn thành cơ bản 68/68

tuyến đê bao dân cư với diện tích bao đê khoảng 15.692 ha, bảo vệ trên

33.000 hộ dân.

Tại Bến Tre, Kế hoạch 5 năm 2006-2010 có những yêu cầu mới về phát triển kinh tế - xã hội, xuất phất từ đòi hỏi ở tầm cao hơn của tiến trình đổi mới các

mặt hoạt động trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế nhanh hơn là một yêu cầu cấp bách; song tốc độ tăng trưởng phải gắn với nâng cao chất lượng phát triển, thể hiện ở sức cạnh tranh và hiệu quả của

nền kinh tế, ở sự phát triển con người gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, ở việc bảo vệ và cải thiện môi trường. Chất lượng và tính bền vững

của sự phát triển đòi hỏi phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ 5 năm 2006-2010.

352

Về lĩnh vực kinh tế:

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

-Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững. Phấn đấu đến năm 2010, đưa GDP gấp 2,89 lần so năm 2000,

nhịp độ tăng GDP bình quân trong 5 năm 2006-2010 là 13%/năm, GDP bình quân đầu người đạt trên 950 USD/người/năm.

Tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tập trung đầu tư , tạo bước đột phá trong phát triển công nghiệp và dịch vụ; phát triển kinh tế thủy sản và kinh tế

vườn theo chiều sâu, bền vững. Phấn đấu đến năm 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh như sau: nông lâm ngư 42%, công nghiệp-xây dựng 29% và dịch vụ 29%.

-Vận dụng và thực hiện thông thoáng các chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút mạnh các nguồn vốn từ nước ngoài và các thành phần kinh tế trong, ngoài tỉnh. Tăng cường các giải pháp phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến hàng

xuất khẩu, xem xuất khẩu là nhiệm vụ hết sức quan trọng để tiêu thụ hàng hóa và tăng giá trị sản phẩm. Phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 750 triệu USD, tăng bình quân 20%/năm.

-Khai thác đúng và đủ các nguồn thu để nâng cao hơn nữa khả năng huy động vào ngân sách; thực hành tiết kiệm, dành tỷ lệ hợp lý để chi cho đầu tư phát triển. Phấn đấu 5 năm 2006-2010, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 4.074 tỷ đồng, tăng bình quân 8,25%/năm. Huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, tập trung phục vụ

phát triển kinh tế thủy sản và kinh tế vườn; xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; triển khai các dự án trọng điểm, giải quyết cơ bản các yêu cầu về giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước ngọt, nước sạch cho sản xuất và đời sống. Phấn đấu đến năm 2010, số hộ sử dụng điện đạt 95%, 85% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch.

Về lĩnh vực văn hoá-xã hội:

-Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2010 đạt trên 950 USD/năm. -Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo; thực hiện tốt các chính sách giáo dục đào tạo, thu hút mạnh nguồn nhân lực, nhất là cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật; tập trung đào tạo lao động có tay nghề; giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc. Nâng cao hiệu quả hoạt

353

động khoa học và công nghệ phục vụ phát triển sản xuất và đời sống. Tăng cường quản lý tài nguyên môi trường nhằm đảm bảo phát triển bền vững. Tạo chuyển biến trong đầu tư, phát triển toàn diện các hoạt động văn hóa. Quan

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tâm chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Phấn đấu hạ tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 3,5%, lao động qua đào tạo đạt 40%; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn

dứơi 10% (theo tiêu chí mới); tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 95%; tỷ lệ dân nông thôn được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 85%; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 18%.

-Đến năm 2010, toàn tỉnh có 40% trường Tiểu học, 20% trường Trung học cơ sở và 20% trường Trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; có 50% xã

được công nhận xã Văn hóa;

-Tăng cường xây dựng lực lượng quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đề cao ý thức cảnh giác chống khủng

bố, phá hoại, chống diễn biến hoà bình; chủ động phòng chống, hạn chế đến mức thấp nhất các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.

Tại Trà Vinh

- Đất nông nghiệp: trong 5 - 10 năm tới đất nông nghiệp vẫn chiếm tỉ

trọng 76,8% năm 2005 và 76,2% năm 2010 trong tổng quỹ đất. Đất lúa màu

có diện tích lớn nhất trong đất nông nghiệp, năm 2005 là 90.520, 98 ha và đến

2010 giảm còn 77.797,34 ha, chiếm 44,3% trong tổng số đất nông nghiệp.

Diện tích màu và cây công nghiệp là 9.357 ha năm 2000 sẽ tăng lên 14.376 ha

năm 2010, trong đó có 10.000 ha đất chuyên trồng mía đường. Đất trồng cây

ăn quả sẽ giữ ổn định từ 27.000 – 28.000 ha, trong đó đất vườn tạp chỉ còn

270 ha. Diện tích ruộng muối giữ ở mức 360 ha ổn định để thâm canh tăng

năng suất và chất lượng. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2010 là 36.544,98

ha, tăng 15.294, 6 ha so năm 2000. Trong thời kỳ quy hoạch dành 6.698 ha

ven biển huyện Duyên Hải và Cầu Ngang dùng để khôi phục lại rừng phòng

hộ ven biển.

- Đất chuyên dùng: Dự báo trong 5 - 10 năm tới đất chuyên dùng sẽ

tăng nhanh, chủ yếu dùng vào các công trình thủy lợi giao thông, xây dựng.

- Đất dùng cho thủy lợi, năm 2000 là 5.038,7 ha, đến 2005 lên 6.805, 8

ha và đạt 7.106, 5 ha cho năm 2010.

Tại Sóc Trăng, xây dựng mới kết hợp với cải tạo nhằm hình thành

354

mạng lưới đô thị các cấp, phấn đầu đưa tỷ lệ đô thị hoá toàn tỉnh đật 31% năm

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

2010. CHú trọng phát triển các điểm dân cư khu vực nông thôn, tạo điều kiện

phát triển vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, khắc phục tình

trạng chênh lệch giữa các vùng.

Phát triển du lịch vùng ven biển và cù lao. Xây dựng cơ spở hạ tầng

nông thôn, làm đường xã, cung cấp điện, nước sạch, đồng thời phát triển

mạng lưới chợ và các cơ sở văn hoá, y tế, giáo dục, đảm bảo cho địa bàn nông

thôn đến năm 2010 có hơn 85% số hộ được dùng điện, 80% số hộ được dùng

nước sạch, trên 95% số hộ có hố xí hợp vệ sinh.

Phương hướng quy hoạch bố trí các khu dân cư vùng đê biển của các

địa phương như sau:

* Khu vực Tiền Giang là khu vực đã có sẵn hệ thống đê biển nên dân cư

được quy hoạch theo các hướng sau:

- Định hướng phát triển nông nghiệp là chính nên mật độ dân số sẽ ở

mức độ vừa phải, đất đai để khai thác cho mục đích nông nghiệp không còn

nhiều nên cần thiết phải đưa thêm các ngành nghề mới như phát triển thuỷ

sản, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhằm đa dạng hoá việc làm và thu

nhập cho người dân. Các tuyến dân cư chính hiện hữu sẽ được nâng cấp mạng

lưới cơ sở hạ tầng, củng cố các điểm dân cư tập trung trên cơ sở phát triển các

ngành dịch vụ cho nông thôn và nông nghiệp.

- Từng bước di chuyển các hộ lẻ tẻ xa trung tâm tới các điểm tập trung

nhằm đảm bảo tiếp cận thuận lợi đến các công trình phúc lợi công cộng, đồng

thời xây dựg các trung tâm xã thành cấc trung tâm dịch vụ tổng hợp, làm cầu

nối giữa đô thị và nông thôn.

* Khu vực Bến Tre, tại huyện Thạnh Phú, vùng đê biển thuộc các xã

Giao Thạnh, Thanh Phong, Thanh Hải, An Thuận, An Quy, An Nhơn, hiện

nối với bên ngoài duy nhất bằng đường tỉnh lộ 30. Nông dân chủ yếu trồng

lúa trên đất bị nhiễm mặn và phân bố chủ yếu trên các giồng đất cao, hẹp chạy

355

song song với bờ biển. Do vậy tiếp tục củng cố hệ thống các khu dân cư này

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

và liên kết thành các cụm dân cư để tiếp cận dễ hơn với các công trình phúc

lợi công cộng.

* Khu vực Trà Vinh trên cơ sở hình thành thống nhất mạng lưới đê biển

gắn với các dự án Nam Mang Thít, nông nghiệp trong vùng sẽ có cơ hội phát

triển, trong đó chú trọng tăng vụ và mở rộng diện tích ở các khu vực có đê

biển là yếu tố thuận lợi để ổn định và phát triển dân cư. Các tuyến đê biển và

đê sông sẽ là các tuyến giao thông quan trọng nối liền các khu vực dân cư. Do

vậy, trên các tuyến này sẽ ổn định các điểm dân cư tập trung, các trung tâm

ấp, các trung tâm xã thị tứ của khu vực.

Cụ thể trên địa bàn của Trà Vinh sẽ củng cố các tuyến dân cư hiện hữu

trên 3 hành lang chính hiện nằm trên các giồng cát như hành lang từ Long

Hữu qua Trà Cú, hành lang chạy qua thị trấn huyện lỵ về phía sông Hậu và

hành lang ven biển.

Tại khu vực khai hoang mới đã và đang hình thành các khu tái định cư.

Các điểm tái định cư được bố trí phía trong đê biển và đê sông. Tại các cửa

sông lớn ra biển đã và đang hình thành các điểm dân cư hướng về khai thác,

đánh bắt hải sản. Từng bước di chuyển các hộ lẻ tẻ, xa trung tâm về các điểm

tập trung nhằm đảm bảo cho các hộ dân cư tiếp cận thuận lợi đối với các công

trình phúc lợi công cộng.

* Khu vực Sóc Trăng trên cơ sở xây dựng hệ thống đê biển và đê sông

kết hợp với các chương trình ngọt hoá và khai thác thuỷ sản, có thể củng cố,

ổn định và phát triển các điểm dân cư. Bên cạnh đó, việc hình thành cảng cá

Trần Đề cho tàu đánh bắt xa bờ, cảng Đại Ngãi và các cơ sở dịch vụ chế biến,

cùng tác động của tổ hợp khí điện đạm sẽ có ảnh hưởng mạnh đến cơ cấu dân

cư vốn rất thuần nông trong khu vực.

Để củng cố các tuyến điểm dân cư hiện đang phân bố trên các giồng cát,

sẽ phải cải thiện các hệ thống giao thông liên xã, liên ấp và từng bước di

356

chuyển các hộ lẻ tẻ về nơi tập trung. Biến hệ thống đê biển thành tuyến giao

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

thông quan trọng nối liền các điểm dân cư.

Về tổng thể trên toàn vùng sẽ hình thành các hành lang đô thị ven biển

Đông gồm hai tuyến: tuyến “tiền” và tuyến “hậu”.

a/ Tuyến tiền sẽ là tuyến ven biển, trong đó có các thị trấn ven biển: Gò

Công Đông của Tiền Giang, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú của Bến Tre,

Duyên Hải của Trà Vinh, Long Phú, Vĩnh Châu của Sóc Trăng.

b/ Tuyến hậu là các đô thị tỉnh lỵ trên quốc lộ 60 và 1A gồm thị xã Bến

Tre, thị xã Sóc Trăng, thị xã Bạc Liêu và thị xã Cà Mau.

Các hướng phát triển trên sẽ có tác động đến việc sử dụng đất, kể cả quy

mô và tính chất sử dụng, nên sẽ có những ảnh hưởng đến động lực dòng chảy,

ảnh hưởng đến quá trình bồi tụ và phát triển vùng cửa sông, ven biển và

đường bờ.

8.2.7. Các giải pháp phát triển vùng cửa sông ven biển

a. Phát triển mạng lưới thủy lợi

Hệ thống kênh mương lớn nhỏ trên địa bàn ngoài tác dụng giao thông

còn có chức năng rất quan trọng là chức năng thuỷ lợi, tạo điều kiện trao đổi

nước theo mùa và theo con nước hàng ngày. Vì thế, phát triển mạng lưới

kênh mương thuỷ lợi là nhiệm vụ quan trọng của các huyện vùng 9 cửa sông

Cửu Long. Hệ thống kênh mương thuỷ lợi cùng nối với các hệ thống sông

làm thành mạng lưới chằng chịt, chia nước - thoát lũ và giảm ảnh hưởng của

thuỷ triều vào địa bàn thấp vùng cửa sông.

Tại Trà Vinh, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tiến hành triển

khai đầu tư xây dựng các hệ thống công trình thủy lợi trọng điểm thuộc dự án

ngọt hóa Nam Mang Thít như: Nhà thờ, Vàm Buôn, Chà Và, Thâu Râu, Bắc

Trang, Trẹm, Bà Trầm -Điệp Thạch. Trong đó, hệ thống Nhà thờ hoàn thành

trong năm 1997, hệ thống Vàm Buôn, hệ thống Trẹm hoàn thành trong năm

357

1998 đã phát huy tốt hiệu quả phục vụ sản xuất và dân sinh trong khu vực.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Các hệ thống công trình vào năm 1999,2000, 2003 đã hoàn thành.

Để đồng bộ, một số công trình cấp I và cấp II bức xúc đã được tỉnh đầu

tư xây dựng tập trung vào khu vực vùng ruột, nơi có đông đồng bào dân tộc

Khơmer ở các huyện: Cầu Ngang, Trà Cú, Châu Thành thuộc hệ thống thủy

lợi nội đồng: Chà Và, Thâu Râu, Đông Kênh 3/2, Nhà thờ, cống Trà Cú,

cống Hàm Giang; và một số công trình thật bức xúc khác ở các huyện Tiểu

Cần, Cầu Kè, Càng Long. Tổng số các công trình đã xây dựng gồm 16 kênh

cấp I, 49 kênh cấp II, 6 đê, 2 cống cấp II và nhiều bọng tạm.

Trong thời gian qua, công tác thủy lợi đã được quan tâm rất lớn, hình

thành được hệ thống các kênh trục dọc và ngang trên toàn địa bàn tỉnh.

Các tuyến thủy lợi trục dọc

Kênh Trà Ngoa từ Thạnh Phú của huyện Cầu Kè đến Rạch Basi ở

huyện Tiểu Cần, dài 26 km, rộng 50 m, có độ sâu khoảng 2 - 3 m.

Kênh 3 tháng 2 từ rạch Cần Chông - kênh Thống Nhất tại xã Ngãi

Hùng đến cống La Bang (Kênh Quan Chánh Bố K), dài 24 km, rộng 25 - 30

m, sâu 2 - 4 m.

Hai tuyến kênh trục này chạy gần như song song với hai sông Cổ Chiên

và sông Hậu, tạo ra trục chính chia nội địa thành hai phần tương đối đồng

đều. Nhưng cần nạo vét và mở rộng một đoạn nối hai kênh này với nhau từ

rạch Đại Sư đến rạch Cần Chông.

Các tuyến kênh ngang

Các tuyến kênh ngang có chiều dài ngắn khác nhau. Đặc điểm chung

của hệ thống kênh ngang là độ sâu của lòng kênh giảm dần từ cửa sông vào

nội địa. Mạng lưới kênh ngang trục chính tương đối nhiều và phân bố đồng

đều trên lãnh thổ, được mô tả như sau:

358

Kênh Quan Chánh Bố - Láng Sắc chạy từ sông Hậu đến thị trấn Long

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Toàn, dài 23, 5 km là tuyến kênh ngang tổng hợp quan trọng, vừa có nhiệm

vụ giao thông, vừa điều tiết nước cho vùng ven biển.

Sông Cái Hóp - Rạch Mương Đào -Kênh An Trường chạy từ Sông Cổ

Chiên đến kênh Trà Ngoa, dài 22,3 km, rộng từ 50 - 80 m, sâu 3 - 8 m.

Kênh Trà Vinh Thống Nhất chạy từ Sông Cổ Chiên đến kênh 3/2,

dài 25,8 km, rộng 25 - 53 m, sâu từ 4 - 6 m.

Sông Láng The - Rạch Basi - Kênh Ngang chạy từ Sông Cổ Chiên đến

kênh Ba Tiêu, dài 27,7 km, rộng 25 - 200 m, sâu 10 - 12 m.

Rạch Bông - Kênh Chà Và - Rạch Thâu Râu chạy từ Sông Cổ Chiên

đến Bến Chùa, dài 32,6 km, rộng 25-70 m.

Rạch Cần Chông - Tiểu Cần chạy từ Sông Hậu đến Kênh Trà ếch,

dài 28,9 km, rộng 15 - 80 m.

Kênh Mỹ Văn - Kênh 19 tháng 5 chạy từ Sông Hậu đến rạch Ba Si dài

25 km, rộng 50 m.

Rạch Rùm Sóc - Kênh Tổng Tồn chạy từ sông Hậu đến Kênh Trà Ngoa,

dài 19 km, rộng 15 m.

Rạch Rong Bốt - Rạch Ba Nghè chạy từ Sông Hậu đến Kênh Trà Ngoa

dài 16 km, rộng 25 - 65 m.

Rạch Cầu Kè - Kênh Tổng Tồn chạy từ Rạch Long Bốt đến

Kênh Trà Ngoa dài 14,7 km, rộng 20 - 25 m.

Sông Láng Nước - Rạch Bến Giá chạy từ Vàm Láng Nước đến Đập

Bến Giá dài 12,8 m, rộng 200 - 300 m.

Rạch Sâu chạy từ Bến Giá đến thị trấn Long Toàn dài 11, 7 km

rộng 150 m.

359

Rạch Trà Cú chạy từ Sông Hậu đến Cống Trà Cú dài 12 km, rộng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

30 - 40 m.

Kênh Sa Rày chạy từ kênh 3/2 đến cống Sa Rày, dài 16 km, rộng

18 m, sâu 3 m.

Kênh Thị Ròn -Lạc Sơn chạy từ kênh 3/2 đến cống Lạc Hòa dài 16 km,

rộng 18 m, sâu 2 - 3 m.

Kênh Long Hiệp - Ba So-Nhị Trường Bình Tân chạy từ kênh 3/2 đến

kênh Thống Nhất dài 18 km, rộng 18 m, sâu 2,5 - 3,5 m.

Kênh Sóc Cụt chạy từ kênh 3/2 đến kênh Thống Nhất dài 13 km, rộng

15 - 18 m, sâu 2 - 3 m.

Kênh Bàng Đa chạy từ cống Chà Và đến Rạch Trà Vinh dài 10 km,

rộng 15 - 20 m.

Kênh Nhà Thờ chạy từ cống Nhà Thờ đến rạch Trà Vinh dài 16 km,

rộng 20 m, sâu 3 m.

Kênh Vàm Buông chạy từ sông Hậu qua cống Vàm Buông đến kênh 3/2

dài 18 km, rộng 15 - 20 m sâu 3 - 4 m.

Đến nay các công trình đầu mối, tạo nguồn, ngăn mặn như: Vùng Nhà

thờ, Bà Trầm - Điệp Thạch, Chà Và, Thâu Râu, Vàm Buông, Bắc Trang và hệ

thống thủy lợi Bắc Trang - Trẹm cơ bản đã hoàn thành. Tuy nhiên, các công

trình cấp II và III và hệ thống thủy lợi nội đồng vẫn đang cần được tiếp tục

đầu tư nhằm tạo ra mạng lưới thủy lợi đồng bộ trên địa bàn.

Tại Bến Tre cũng là chương trình ngọt hoá và xây dựng hệ thống thuỷ

lợi cầu Sập

b. Giải pháp đáp ứng nhu cầu cấp nước

Hệ thống kênh mương lớn nhỏ trên địa bàn ngoài tác dụng giao thông

360

còn có chức năng rất quan trọng là chức năng thuỷ lợi, tạo điều kiện trao đổi

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nước theo mùa và theo con nưcớ hàng ngày. Vì thế, phát triển mạng lưới kênh

mương thuỷ lợi là nhiệm vụ quan trọng của các huyện vùng 9 cửa sông Cửu

Long. Hệ thống kênh mương thuỷ lợi cùng nối với các hệ thống sông làm

thành mạng lưới chằng chịt, chia nước - thoát lũ và giảm ảnh hưởng của thuỷ

triều vào địa bàn thấp vùng cửa sông.

Tại Trà Vinh, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tiến hành triển

khai đầu tư xây dựng các hệ thống công trình thủy lợi trọng điểm thuộc dự án

ngọt hóa Nam Mang Thít như: Nhà thờ, Vàm Buôn, Chà Và, Thâu Râu, Bắc

Trang, Trẹm, Bà Trầm -Điệp Thạch. Trong đó, hệ thống Nhà thờ hoàn thành

trong năm 1997, hệ thống Vàm Buôn, hệ thống Trẹm hoàn thành trong năm

1998 đã phát huy tốt hiệu quả phục vụ sản xuất và dân sinh trong khu vực.

Các hệ thống công trình đang thi công dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 1999,

2000; các công trình còn lại của dự án Nam Măng Thít dự kiến sẽ hoàn thành

vào năm 2003.

Để đồng bộ, một số công trình cấp I và cấp II bức xúc đã được tỉnh đầu

tư xây dựng tập trung vào khu vực vùng ruột, nơi có đông đồng bào dân tộc

Khơmer ở các huyện: Cầu Ngang, Trà Cú, Châu Thành thuộc hệ thống thủy

lợi nội đồng: Chà Và, Thâu Râu, Đông Kênh 3/2, Nhà thờ, cống Trà Cú, cống

Hàm Giang; và một số công trình thật bức xúc khác ở các huyện Tiểu Cần,

Cầu Kè, Càng Long. Tổng số các công trình đã xây dựng gồm 16 kênh cấp I,

49 kênh cấp II, 6 đê, 2 cống cấp II và nhiều bọng tạm.

Trong thời gian qua, công tác thủy lợi đã được quan tâm rất lớn, hình

thành được hệ thống các kênh trục dọc và ngang trên toàn địa bàn tỉnh.

Các tuyến thủy lợi trục dọc

Kênh Trà Ngoa từ Thạnh Phú của huyện Cầu Kè đến Rạch Basi ở

huyện Tiểu Cần, dài 26 km, rộng 50 m, có độ sâu khoảng 2 - 3 m.

Kênh 3 tháng 2 từ rạch Cần Chông - kênh Thống Nhất tại xã Ngãi

361

Hùng đến cống La Bang (Kênh Quan Chánh Bố K), dài 24 km, rộng 25 - 30

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

m, sâu 2 - 4 m.

Hai tuyến kênh trục này chạy gần như song song với hai sông Cổ Chiên

và sông Bassac, tạo ra trục chính chia nội địa thành hai phần tương đối đồng

đều. Nhưng cần nạo vét và mở rộng một đoạn nối hai kênh này với nhau từ

rạch Đại Sư đến rạch Cần Chông.

Các tuyến kênh ngang

Các tuyến kênh ngang có chiều dài ngắn khác nhau. Đặc điểm chung

của hệ thống kênh ngang là độ sâu của lòng kênh giảm dần từ cửa sông vào

nội địa. Mạng lưới kênh ngang trục chính tương đối nhiều và phân bố đồng

đều trên lãnh thổ, được mô tả như sau:

Kênh Quan Chánh Bố - Láng Sắc chạy từ sông Hậu đến thị trấn Long

Toàn, dài 23, 5 km là tuyến kênh ngang tổng hợp quan trọng, vừa có nhiệm

vụ giao thông, vừa điều tiết nước cho vùng ven biển.

Sông Cái Hóp - Rạch Mương Đào -Kênh An Trường chạy từ Sông Cổ

Chiên đến kênh Trà Ngoa, dài 22,3 km, rộng từ 50 - 80 m, sâu 3 - 8 m.

Kênh Trà Vinh Thống Nhất chạy từ Sông Cổ Chiên đến kênh 3/2,

dài 25,8 km, rộng 25 - 53 m, sâu từ 4 - 6 m.

Sông Láng The - Rạch Basi - Kênh Ngang chạy từ Sông Cổ Chiên đến

kênh Ba Tiêu, dài 27,7 km, rộng 25 - 200 m, sâu 10 - 12 m.

Rạch Bông - Kênh Chà Và - Rạch Thâu Râu chạy từ Sông Cổ Chiên

đến Bến Chùa, dài 32,6 km, rộng 25-70 m.

Rạch Cần Chông - Tiểu Cần chạy từ Sông Hậu đến Kênh Trà ếch,

dài 28,9 km, rộng 15 - 80 m.

Kênh Mỹ Văn - Kênh 19 tháng 5 chạy từ Sông Hậu đến rạch Ba Si dài

362

25 km, rộng 50 m.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Rạch Rùm Sóc - Kênh Tổng Tồn chạy từ sông Hậu đến Kênh Trà Ngoa,

dài 19 km, rộng 15 m.

Rạch Rong Bốt - Rạch Ba Nghè chạy từ Sông Hậu đến Kênh Trà Ngoa

dài 16 km, rộng 25 - 65 m.

Rạch Cầu Kè - Kênh Tổng Tồn chạy từ Rạch Long Bốt đến

Kênh Trà Ngoa dài 14,7 km, rộng 20 - 25 m.

Sông Láng Nước - Rạch Bến Giá chạy từ Vàm Láng Nước đến Đập

Bến Giá dài 12,8 m, rộng 200 - 300 m.

Rạch Sâu chạy từ Bến Giá đến thị trấn Long Toàn dài 11, 7 km

rộng 150 m.

Rạch Trà Cú chạy từ Sông Hậu đến Cống Trà Cú dài 12 km, rộng

30 - 40 m.

Kênh Sa Rày chạy từ kênh 3/2 đến cống Sa Rày, dài 16 km, rộng

18 m, sâu 3 m.

Kênh Thị Ròn -Lạc Sơn chạy từ kênh 3/2 đến cống Lạc Hòa dài 16 km,

rộng 18 m, sâu 2 - 3 m.

Kênh Long Hiệp - Ba So-Nhị Trường Bình Tân chạy từ kênh 3/2 đến

kênh Thống Nhất dài 18 km, rộng 18 m, sâu 2,5 - 3,5 m.

Kênh Sóc Cụt chạy từ kênh 3/2 đến kênh Thống Nhất dài 13 km, rộng

15 - 18 m, sâu 2 - 3 m.

Kênh Bàng Đa chạy từ cống Chà Và đến Rạch Trà Vinh dài 10 km, rộng 15-

20m.

Kênh Nhà Thờ chạy từ cống Nhà Thờ đến rạch Trà Vinh dài 16

km, rộng 20 m, sâu 3 m.

363

Kênh Vàm Buông chạy từ sông Hậu qua cống Vàm Buông đến kênh 3/2

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

dài 18 km, rộng 15 - 20 m sâu 3 - 4 m.

Đến nay các công trình đầu mối, tạo nguồn, ngăn mặn như: Vùng Nhà

thờ, Bà Trầm - Điệp Thạch, Chà Và, Thâu Râu, Vàm Buông, Bắc Trang và hệ

thống thủy lợi Bắc Trang - Trẹm cơ bản đã hoàn thành. Tuy nhiên, các công

trình cấp II và III và hệ thống thủy lợi nội đồng vẫn đang cần được tiếp tục

đầu tư nhằm tạo ra mạng lưới thủy lợi đồng bộ trên địa bàn.

Tại Bến Tre cũng là chương trình ngọt hoá và xây dựng hệ thống thuỷ

lợi cầu Sập

Tuy vậy, giải pháp thủy lợi hiện nay có những vấn đề bất cập riêng, theo ý

kiến của kỹ sư Nguyễn Minh Quang (là kỹ sư công chánh chuyên nghiệp

(professional engineer) của tiểu bang California và cũng là một chuyên viên

thuộc Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Trước năm 1975, KS Quang là

một chuyên viên phục vụ tại Ủy ban Quốc gia Thủy lợi trực thuộc Bộ Công

Chánh và Giao thông ở Sài Gòn. Ông phụ trách công tác nghiên cứu và soạn

thảo các kế hoạch phát triển thủy lợi ở miền Nam Việt Nam cũng như công

tác đo đạc thủy học và tiên đoán lũ lụt ở ÐBSCL) về các phương diện thủy

học và môi trường, là hai phương diện quan trọng nhất và có ảnh hưởng đến

các phương diện khác, chẳng hạn như nông ngư nghiệp và xã hội.

Về phương diện thủy học, hệ thống thủy lợi ở ÐBSCL đã làm thay đổi cơ

chế thủy học (flow regime) tự nhiên của ÐBSCL, mà hậu quả là (1) thay đổi tình

trạng lũ lụt ở ÐBSCL, (2) gia tăng mức độ sạt lỡ và bồi lắng ở lòng lạch và cửa

sông, và có khả năng ảnh hưởng đến việc xói mòn của bán đảo Cà Mau, và (3)

giúp cho nước mặn xâm nhập vào đất liền xa hơn, lâu hơn, và cao hơn.

Về phương diện môi trường, hệ thống thủy lợi ở ÐBSCL (1) làm nhiều

vùng ở hạ nguồn bị nhiễm nước phèn (acid water) nhiều hơn, nhất là ở cuối

Ðồng Tháp Mười (ÐTM), (2) là một trong những tác nhân làm suy thoái

phẩm chất nước ở ÐBSCL, và (3) góp phần không nhỏ trong việc xâm lấn vào

những vùng sinh thái tự nhiên còn lại trong vùng ÐTM và Tứ giác Long

364

Xuyên (TGLX) và có thể làm cho chúng suy thoái trong tương lai.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Hệ thống kinh đào hiện nay ở ÐBSCL; sâu hơn, rộng hơn, và dày đặc hơn

so với hệ thống kinh đào trước năm 1975; đã tạo thành những lòng lạch thuận

lợi khiến cho nước lũ từ Kampuchia và sông Tiền và Hậu chảy vào ÐTM và

TGLX sớm hơn, nhiều hơn, và nhanh hơn. Ở thượng nguồn, hệ thống đê đập

làm giảm diện tích của đường thoát lũ khiến mực nước lụt dâng cao hơn. Ở

hạ nguồn, lượng nước lũ nầy đã bị hệ thống đường giao thông được nâng cao

hoặc hệ thống đê đập cống ngăn mặn ngăn chận khiến cho mực nước lụt ở

ÐBSCL sâu hơn và thời gian ngập lụt kéo dài hơn trước.

Tình trạng ngập lụt hiện nay, không chỉ ở những vùng trũng ở ÐBSCL mà

còn ở cả những vùng tương đối cao như Bình Chánh và Thủ Ðức ở thành phố

Hồ Chí Minh có thể không phải là do triều cường gây ra, mà do tác hại của hệ

thống đê biển, đê đập ngăn mặn, và đê bao. Chính hệ thống đê đập nầy đã

khiến cho thủy triều không thể chảy tràn vào những vùng ngập mặn trước kia

mà chỉ dồn vào những sông rạch không bị hoặc chưa bị ngăn chận và hệ thống

kinh mương thủy lợi không hoặc chưa được kiểm soát có hiệu quả. Hậu quả là

thủy triều trong sông rạch và hệ thống kinh thủy lợi dâng cao hơn và đi sâu vào

đất liền hơn trước năm 1975.

b/ Giải pháp đáp ứng nhu cầu cấp nước

Nguồn nước chính hiện nay sử dụng cho các mục đích dân sinh kinh tế

trên toàn địa bàn vẫn là nguồn nước trên các kênh rạch của vùng, đây là

nguồn nước cấp cho các nhà máy nước tại các đô thị và là nguồn nước sử

dụng trực tiếp trong sinh hoạt hàng gày của toàn bộ khối dân cư ven biển.

Nguồn nước mặt ở khu vực tỉnh Trà Vinh (chủ yếu cho thành phố Trà

Vinh) được cung cấp bởi nguồn nước của hệ thống sông Cổ Chiên, sông Hậu

và hệ thống kênh rạch trên địa bàn. Tuy nhiên, chất lượng nước ở đây không

tốt do bị ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều đưa nước mặn hòa vào hệ

thống cung cấp nước mặt trên địa bàn.

Vào mùa khô, nước mặn xuất hiện trên các sông chính và đầu các kênh

365

nhánh. Hàm lượng muối tới 4 phần ngàn trong suốt mùa khô ở những vùng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

gần biển. Với mức độ mặn như vậy, nước sông không thể dùng trực tiếp cho

sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp được. Hơn nữa nồng độ ô nhiễm hữu cơ

trong nước khá cao. Chỉ có nguồn nước sông Măng Thít có thể dùng được.

8.2.8. Giải pháp phát triển các khu công nghiệp, các cụm dịch vụ tổng hợp vùng ven biển

a/ Tại Tiền Giang

Để tăng cường thu hút đầu tư trên địa bàn, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban

hành Quyết định số 60/2005/ QĐ-UBND về ban hành Quy chế quản lý và sử

dụng Quỹ khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, Quyết định số 08/2007/QĐ-UBND ngày

28/3/2007 về Quy định khuyến khích, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư trên địa bàn

tỉnh Tiền Giang (thay cho Quyết định số 66/2005/QĐ-UBND ngày

29/12/2005 về Quy định khuyến khích, ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Tiền

Giang).

Để chuẩn bị kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp, đáp ứng nhu

cầu về mặt bằng cho các nhà đầu tư, tỉnh đã và đang tiếp tục tập trung triển

khai xây dựng một số khu, cụm công nghiệp sau:

* KCN Tân Hương (huyện Châu Thành):

Khu Công nghiệp Tân Hương có diện tích 197 ha, tổng vốn đầu tư của

dự án là 581 tỷ đồng do Công ty TNHH Nhựt Thành Tân làm chủ đầu tư.

Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp được triển khai tháng

10/2006, đến nay, đã tiến hành san lấp hoàn thiện san nền khu 58 ha, đang

tiếp tục san bù cát 42 ha khác; đã xây dựng và đưa vào sử dụng Nhà làm việc Ban quản lý KCN Tân Hương (diện tích 1.000 m2); đang tiến hành

khoan giếng tầng sâu và xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật khác như:

đường nội bộ, hệ thống thoát nước, đã khoan khảo sát xong 01 giếng và

chuyển sang khoan khai thác và triển khai khoan thăm dò một giếng khác.

366

Công ty TNHH Nhựt Thành Tân cũng đã ký hợp đồng cho thuê đất

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

với 4 đơn vị (tổng diện tích cho thuê 4,84 ha). Ngoài ra, Công ty đang

chuẩn bị ký hợp đồng với Công ty EAST HOPE của Trung Quốc cho thuê 3

ha để sản xuất thức ăn chăn nuôi.

* CCN Tân Mỹ Chánh (thành phố Mỹ Tho):

Cụm Công nghiệp Tân Mỹ Chánh có diện tích 23,57 ha, vốn đầu tư hạ

tầng khoảng 77,7 tỷ đồng. Đến nay đã hoàn thành các công trình hạ tầng kỹ

thuật trong cụm công nghiệp như: hệ thống cấp nước, thoát nước; hệ thống

điện; viễn thông. Còn hai công trình chưa hoàn thành là đường giao thông

nội bộ và hệ thống xử lý nước thải. Đã giao 5 ha đất cho 6 doanh nghiệp,

trong đó có 2 doanh nghiệp (thuê 1,5 ha) đã xây dựng xong nhà xưởng và

đang lắp đặt máy móc chuẩn bị cho sản xuất.

* CCN Long Hưng (thị xã Gò Công):

Cụm Công nghiệp Long Hưng có diện tích 23 ha, vốn đầu tư hạ tầng

dự kiến 72,97 tỷ đồng. Đang tiến hành san lấp mặt bằng, dự kiến hoàn thành

san lấp trong tháng 6/2007.

* CCN Vàm Láng (huyện Gò Công Đông):

Cụm Công nghiệp Vàm Láng có diện tích 26,74 ha, tổng vốn đầu tư

hạ tầng dự kiến 70 tỷ đồng. Hiện Ủy ban nhân dân huyện đang chuẩn bị đấu

thầu lập dự án và tiến hành công tác kê biên trong khu vực xây dựng cụm

công nghiệp.

* Cụm Công nghiệp Tam Hiệp (huyện Châu Thành):

Công ty TNHH Nhựt Thành Tân (chủ đầu tư KCN Tân Hương) đã có

văn bản xin Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép đầu tư xây dựng và kinh doanh

hạ tầng kỹ thuật CCN Tam Hiệp và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp

thuận. Công ty đã thuê Công ty Tư vấn đầu tư huyện Bình Chánh lập qui

hoạch chi tiết. Hiện nay, tư vấn đang tiến hành khảo sát, đo đạc và thu thập

367

tài liệu; theo dự kiến chậm nhất là đầu tháng 5/2007 sẽ trình tỉnh nhiệm vụ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

qui hoạch Cụm công nghiệp Tam Hiệp.

Ngoài ra, Khu công nghiệp tàu thủy Soài Rạp (qui mô 500 ha) do

Tổng Công ty công nghiệp Tàu thủy làm chủ đầu tư và Khu công nghiệp

Long Giang ở huyện Tân Phước do Công ty TNHH ngành mỏ Qian Sheng

Tứ Xuyên và Công ty TNHH Cổ phần thuộc da Xie Li tỉnh Triết Giang

Trung Quốc làm chủ đầu tư (qui mô 285 ha) cũng đang trong quá trình khởi

động tích cực, hứa hẹn một chuyển biến cơ bản của ngành công nghiệp Tiền

Giang trong những năm tiếp theo. Ngoài ra 34 dự án đã được quy hoạch và

đang kêu gọi đầu tư gồm:

Ước tính vốn đầu Mục tiêu dự án Quy mô STT Tên dự án Địa điểm

tư (tỷ đồng)

1 30,000.00 Diện tích: 100 ha Nhà máy nhiệt điện (than hoặc khí) Huyện Gò Công Đông hoặc Tân Phước

18,000.00 2 Diện tích: 540ha Xã Tân Lập 1 - huyện Tân Phước Các dự án thứ cấp vào KCN Long Giang

7,950.00 3

Diện tích: 197,33 ha Các dự án thứ cấp vào KCN Tân Hương Xã Tân Hương - huyện Châu Thành Nâng cao khả năng cung cấp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về điện cho sản xuất và tiêu dùng. Thu hút các nhóm ngành vào KCN như điện tử, điện lạnh, cơ khí-lắp ráp, sản xuất gỗ, thiết bị gia dụng, dược phẩm, thiết bị ty tế, chế biến nông lâm sản, vật liệu xây dựng, công nghiệp giấy… Thu hút các nhóm ngành vào KCN như điện, điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí, hóa chất, hàng tiêu dùng…

368

4 1,260.00 Thu hút các nhà đầu tư vào KCN để phát triển CN địa phương Diện tích: 300ha Hạ tầng Khu công nghiệp Tân Phước 2 Xã Tân Lập 2, huyện Tân Phước

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

5 306.00 Nhà máy nhiệt điện đốt trấu Xã Thạnh Mỹ, huyện Tân Phước Diện tích: 25-30 ha

275.00 6 Hạ tầng Cụm Công nghiệp An Thạnh 2 Diện tích: 36,18ha. Giảm phát thải nhà kính và góp phần đáp ứng nhu cầu về điện cho sản xuất và tiêu dùng. Thu hút đầu tư phát triển CN địa phương, khai thác nguồn nguyên liệu tai chổ, giải quyết việc làm

7 Phát triển CN chế biến, cơ khí Hạ tầng Cụm CN Long Trung Diện tích: 50 ha 120.00

8 47.00 Phát triển công nghiệp địa phương theo quy hoạch Diện tích: 14,6ha Hạ tầng Cụm công nghiệp Bình Ninh

9 27,000.00 Phát triển cảng và cơ khí tàu thuyền Diện tích: 500 ha Cụm cảng tổng hợp và công nghiệp Soài Rạp

10 10,000.00 Diện tích: 600 ha Cụm cảng tổng hợp và công nghiệp Gia Thuận Ấp An Thạnh, xã Đông Hòa Hiệp – Cái Bè Xã Long Trung, huyện Cai Lậy Xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo Xã Vàm Láng huyện Gò Công Đông Xã Gia Thuận huyện Gò Công Đông Phát triển cảng và các ngành hóa dầu, chế tạo thiết bị gia dụng, công nghiệp nhẹ, cơ khí…

Phường 10, TP Mỹ Tho 11 Tổng diện tích 150 ha II. Lĩnh vực đô thị và khu dân cư: 07 dự án 4,000.00 Khu đô thị phường 10 thành phố Mỹ Tho

870.00 12 Phường 4, 6 – TP Mỹ Tho Tổng diện tích 25 ha Khu dân cư dọc sông Tiền TP. Mỹ Tho

Xây dựng khu dân cư chất lượng cao, môi trường sống thoải mái, tiện nghi Chỉnh trang và phát triển hạ tầng đô thị nhằm cải thiện điều kiện sinh hoạt của nhân dân, cải tạo môi trường và sử dụng có hiệu quả quỹ đất.

369

13 420.00 Phục vụ cho người có thu nhập thấp + tái định cư Phường 10, thành phố Mỹ Tho Quy mô 70m2/hộ (1.500 hộ) Nhà ở cho người có thu nhập thấp thành phố Mỹ Tho

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

400.00 Quy mô 10,5ha 14 Nhà ở chuyên gia và chung cư công nhân Phục vụ chuyên gia và công nhân lao động KCN Tân Hương và các KCN lân cận

Khu tái định cư Tân Hương, huyện Châu Thành

15 300.00 Phục vụ tái định cư các KCN địa bàn TX Gò Công Xã Tân Trung – thị xã Gò Công D. tích 50ha. TĐC 1.000 hộ

16 250.00 D. tích 34,15 ha. Xã Đạo Thạnh, TP. Mỹ Tho. Bố trí tái định cư, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ và nhà ở thương mại. Khu tái định cư Khu công nghiệp Bắc Gò Công Khu dân cư phía Bắc đường Hùng Vương

17 27,000.00 Khu đô thị mới Diện tích: 1.305 ha

Hình thành khu đô thị phức hợp gắn với thương mại, dịch vụ, công nghiệp góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương

Xã Bình Đông và Bình Xuân thị xã Gò Công III. Lĩnh vực du lịch: 04 dự án

100.00 18 Phát triển du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học Diện tích: 100ha Xã Thạnh Tân, huyện Tân Phước

100.00 Xã Tân Thành 19 Phục vụ du lịch sinh thái biển. Diện tích: 66 ha

Vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch 20 Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười Khu du lịch sinh thái Hàng Dương Khu thể thao dưới nước Xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho 70.00 Diện tích: 7,5ha,

10,000.00 21 Khu du lịch sinh thái Cồn Ngang Xã Phú Tân -Tân Phú Đông Diện tích: 150ha

Phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí trên vùng đất mới IV. Lĩnh vực thương mại-dịch vụ: 03 dự án

370

22 40.00 Phục vụ dân cư thị trấn và khu vực lân cận Diện tích: 10 ha Khu th. mại -dịch vụ-đô thị Vĩnh Kim TT Vĩnh Kim, huyện Châu Thành

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

300.00 23 D. tích: 50 ha Công viên nghĩa trang Tân Phước Phục vụ nhu cầu mai táng khu vực phía Tây của huyện Xã Thạnh Tân- huyện Tân Phước

24 250.00

Phục vụ nhu cầu mai táng khu vực Gò Công Diện tích: 40ha Xã Tân Trung -thị xã Gò Công Công viên nghĩa trang khu vực Bắc Gò Công

25 150.00 Diện tích: 10ha Đảm bảo tránh gây ô nhiễm môi trường, dễ kiểm soát dịch bệnh Trang trại chăn nuôi heo V. Lĩnh vực nông nghiệp: 03 dự án Xã Tân Thới – huyện Tân Phú Đông

26 150.00 Diện tích: 100ha Khu nông nghiệp kỹ thuật cao Xã Tân Lập I - huyện Tân Phước

60.00 27

Diện tích: 5 ha Ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, nhân giống cây ăn trái phục vụ nhu cầu phát triển nông nghiệp Sản xuất và cung cấp trứng và thịt gia cầm sạch, an tòan cho người tiêu dung Xã Phú Mỹ huyện Tân Phước Trại nuôi gia cầm công nghệ sạch

VI. Lĩnh vực giao thông: 03 dự án

Huyện Tân Phước Đường BT nhựa cấp I. B 28 Phục vụ vận tải hàng hóa và container từ KCN ra đường cao tốc, QL1A đi TP HCM và các tỉnh 1,310.00 Đường kênh Năng vào khu công nghiệp Đông Nam Tân Phước

570.00 29

Đường vào khu kinh tế phía Đông Đường BT nhựa cấp I. B Phục vụ vận tải hàng hóa và container từ KCN Soài Rạp ra QL.50 đi TP HCM và các tỉnh TX Gò Công và huyện Gò Công Đông

45.00 30

Huyện Châu Thành Đường BT nhựa

Phục vụ phát triển đô thị và khu vực chợ trung tâm trái cây, vú sữa Vĩnh Kim kết nối với QL1A đi TPHCM và miền Tây Nâng cấp mở rộng ĐT.876 đoạn từ QL.1A đến cầu Vĩnh Kim

371

VII. Lĩnh vực xã hội: 02 dự án

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

31 100.00

Xã Bình Đông, TX Gò Công Diện tích: 05 ha Phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân khu vực Gò Công

32 40.00 Đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân trên địa bàn Xã Tân Trung, thị xã Gò Công

33 Bảo vệ môi trường 1,600.00 Thành phố Mỹ Tho Dân số: 204.142 người.

Bảo vệ môi trường 34 Thị xã Gò Công 400.00

Dân số: 120 ngàn người

Bệnh viện khu vực phục vụ phát triển khu công nghiệp phía Đông Trường mầm non, tiểu học liên thông chất lượng cao TX Gò Công Thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị thành phố Mỹ Tho Thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị thị xã Gò Công

b/ Tại Bến Tre

Tỉnh đã ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến hàng nông, thủy sản;

phấn đấu trang bị công nghệ tiên tiến cho hai ngành chế biến thủy sản và dừa

trên cơ sở chuyển giao, ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ trong và

ngoài nước phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương. Có chính sách

khuyến khích, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển

các ngành hàng có lợi thế về nguồn nguyên liệu. Xây dựng chiến lược phát

triển ngành công nghiệp, xác định sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư

khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ để nâng

cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của

sản phẩm tại thị trường nội địa và xuất khẩu.

372

Vận dụng các hình thức đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng các khu,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

cụm công nghiệp trọng điểm Giao Long, An Hiệp và Bình Phú. Quy hoạch và

đầu tư cho các huyện: Bình Đại, Ba Tri, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Chợ Lách và

Thị xã mỗi huyện, thị một cụm công nghiệp nhỏ và vừa. Quan tâm đầu tư, hỗ

trợ các làng nghề truyền thống phát triển; phấn đấu xây dựng đạt tiêu chí làng

nghề sản xuất bánh kẹo, chế biến thủy sản, sản xuất chỉ xơ dừa, các sản phẩm

thủ công mỹ nghệ... năm 2009 tỉnh đã cấp thêm 5 giấy chứng nhận đầu tư cho

các nhà đầu tư nước ngoài gồm: Dự án sản xuất than hoạt tính của Tập đoàn

PICA – Pháp, có vốn đầu tư 5 triệu USD, với quy mô công suất sản xuất

10.000 tấn than hoạt tính năm tại Khu công nghiệp Giao Long. Dự án sản

xuất thức ăn chăn nuôi của Mỹ với vốn đầu tư 1 triệu USD, thuê 1 ha đất tại

Khu công nghiệp Giao Long; Dự án sản xuất thức ăn thuỷ sản, chăn nuôi của

Mỹ với số vốn đăng ký 1 triệu USD trong Khu công nghiệp Giao Long; ngoài

ra, 3 dự án được cấp phép khác của các nhà đầu tư nước ngoài gồm Dự án

khách sạn và du lịch của NewZealand, Dự án dịch vụ kinh doanh nông sản

của Srilanka và Dự án nuôi thủy sản của Trung Quốc tại Bình Đại. Trong năm

2009, Công ty TNHH Việt World của Thái Lan cũng tăng vốn đầu tư từ 5,5

triệu USD lên 12 triệu USD để đầu tư thêm dây chuyền sản xuất dây sữa dừa

và các sản phẩm thực phẩm đông lạnh – Công ty đang khẩn trương triển khai

để bắt đầu hoạt động vào tháng 4 năm 2010.

c/ Tại Trà Vinh

Trong triển vọng, nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng một phần quan trọng

là nhờ khối lượng sản phẩm của các ngành công nghiệp và xây dựng tăng lên.

Phát triển công nghiệp và xây dựng là con đường cần thiết để tỉnh có giá trị

gia tăng ngày càng cao, thực hiện CNH - HĐH tỉnh.

Với phương châm xây dựng ngành công nghiệp tỉnh trở thành ngành

kinh tế đóng góp ngày càng tăng vào nền kinh tế tỉnh về các mặt tốc độ, cơ

cấu, thu ngân sách và giải quyết việc làm. Phát triển các ngành công nghiệp

theo hướng phát huy lợi thế so sánh và xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động.

373

Đẩy mạnh đổi mới công nghệ và thiết bị đưa công nghiệp tỉnh đạt trình độ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tương đối tiên tiến, sản xuất những sản phẩm đạt chất lượng có khả năng cạnh

tranh trong điều kiện cơ chế thị trường ở trong nước và ngoài nước.

Hình thành các tổ chức sản xuất đa dạng nhằm phát huy khả năng của

các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp, gắn nơi cung cấp

nguyên liệu với sản xuất và tiêu thụ, gắn với nguồn lao động, đưa công

nghiệp về nông thôn, gắn công nghiệp với nông nghiệp. Phát triển công

nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa, bảo vệ môi trường, không gây ô nhiễm

môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng.

Các dự án được kêu gọi đầu tư tại Trà Vinh bao gồm các lĩnh vực như:

- Đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp Long Đức.

- Đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp Cầu Quan.

- Đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp Cổ Chiên.

- Đầu tư xây dựng khu đô thị phía Bắc thị xã Trà Vinh..v.v..

- Phát triển lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp.

- Phát triển lĩnh vực Thương Mại - Dịch vụ.

Ngoài ra, các khu, cụm công nghiệp và làng nghề sẽ được bố trí là:

+ Các khu công nghiệp, theo dự báo đất chuyên dùng, trong đó có đất

cho xây dựng công nghiệp là 576 ha, chiếm 0,25% diện tích tự nhiên. Dự kiến

tỉnh sẽ xây dựng một khu công nghiệp có diện tích xây dựng trên dưới 200 ha.

Khu công nghiệp tỉnh được bố trí ở xã Long Đức (cặp sông Cổ Chiên) thị xã

Trà Vinh, ảnh hưởng rất ít đến đất trồng trọt của tỉnh.

Với định mức sử dụng lao động cho khu công nghiệp là 100 - 120 lao

động /ha, nhu cầu lao động cho khu công nghiệp là 20 - 24 ngàn người. Nhu

cầu lao động này có thể đáp ứng tại chỗ và cần có quy hoạch đào tạo nâng cao

374

tay nghề cho số lao động này.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Ngoài ra dự kiến hình thành một vài cụm công nghiệp ở những nơi có

đất xây dựng không lấn vào đất nông nghiệp, có khả năng cấp điện, cấp nước,

thuận lợi giao thông và giải quyết việc làm cho lao động thị trấn, nông thôn.

Ngoài các cụm công nghiệp xay xát, đánh bóng, vận chuyển lúa gạo, đóng

tàu, cần hình thành các loại cụm công nghiệp khác như VLXD...

+ Việc xây dựng các làng nghề, cụm công nghiệp nhỏ cần làm từng

bước, duy trì tồn tại 8 làng nghề hiện nay với nghề dệt chiếu, đan lát, tiến lên

hình thành một số làng nghề, cụm công nghiệp nhỏ với các ngành nghề truyền

thống, cùng với ngành nghề mới, sơ chế nông lâm thủy sản, khai thác sản xuất

vật liệu xây dựng, ngành chế tạo công cụ đơn giản và sửa chữa cơ khí,....

Biến các cơ sở sản xuất công nghiệp ở nông thôn thành những chi

nhánh, vệ tinh của các doanh nghiệp lớn, của khu công nghiệp trong tỉnh và

ngoài tỉnh.

Thúc đẩy xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn có làng nghề tiểu thủ

công nghiệp, cụm công nghiệp nhỏ để đảm bảo sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

- Tại Sóc Trăng

Đến 2010, Sóc Trăng phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng công nghiệp và

xây dựng là 16,53%, trong đó, chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng ưu tiên cho

các công trình trọng điểm phục vụ nền kinh tế: hoàn thành ngư cảng Trần Đề,

từng bước đầu tư cụm công nghiệp thị xã Sóc Trăng, cảng và khu công nghiệp

Đại Ngãi, cụm công nghiệp Ngã Năm, v.v.

- Xây dựng cảng Đại Ngãi vừa là khu công nghiệp, vừa là cảng của tỉnh.

Ở đây bố trí các cơ sở công nghiệp: tôm đông lạnh, may mặc xuất khẩu, sửa

chữa cơ khí, dịch vụ tàu thuyền. Cảng Đại Ngãi có công suất khoảng 500

375

nghìn tấn/năm.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

- Đô thị Trần Đề có diện tích khoảng 500 ha, sẽ bố trí các xí nghiệp chế

biến đồ hộp hải sản, nước mắm, thức ăn gia súc và xây dựng một cảng cá lớn

của tỉnh.

- Thị trấn Ngã Năm sẽ phát triển vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm

- Thị trấn Kế Sách tập trung phát triển chế biến trái cây: chế biến chuối,

đồ hộp trái cây,…

Kết quả thu hút đầu tư trong và ngoài nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

(Sơ bộ đến tháng 6/2008) như sau:

TT Lĩnh vực ngành nghề Địa điểm thực hiện Quốc tịch Loại hình Tên công ty Vốn đầu tư(triệu đồng)

131.200 1 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước

Công ty TNHH Phương Nam

A Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước I Các doanh nghiệp đầu tư tại các Khu công nghiệp (KCN) Kho chứa hàng đông lạnh quy mô 2.000 tấn và Nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu

KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Nhà máy sản xuất sản phẩm nhựa gia dụng

2

Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Sản xuất các sản phẩm bao bì nhựa Giai đoạn 1 triển khai 19.900 Giai đoạn 2 triển khai 18.759

KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước

3 77.000

KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Công ty TNHH Một thành viên Ngọc Thu

376

14.300 4 Giai đoạn 1 triển khai Dự án Nhà máy chế biến bột cá Giai đoạn 2 triển khai Dự án Nhà máy chế biến thức ăn thủy sản Nhà máy sản xuất chế phẩm KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Công ty CP sản

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

sinh học, thức ăn vi lượng

5 109.943 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Nhà máy chế biến thủy hải sản xuất khẩu

6 10.000 Chế biến thực phẩm bánh kẹo KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước

7 102.237 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Nhà máy chế biến thủy sản, kho lạnh, bao bì

8 50.113 Nhà máy cấp nước KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước

9 50.456 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Nhà máy chế biến nông sản xuất nhập khẩu

24.900 10 Nhà máy sản xuất thuốc KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước

11 17.888 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Sản xuất bao bì, giấy nhựa các loại

20.000 12 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Nhà máy cầu kiện bê tông dự ứng lực

13 50.000 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Sản xuất bột giấy, giấy Duplex

377

14 5000 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước xuất thương mại Vị Xuyên Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng Công ty TNHH Tân Huê Viên Công ty TNHH Kim Anh Công ty CP nhà máy nước KCN An Nghiệp Công ty CP Thực phẩm Sao Ta Công ty CP Dược phẩm Sóc Trăng Công ty CP Công nghiệp Sài Gòn Công ty TNHH Đức Thịnh Công ty CP Công nghiệp Giấy Á 50Châu Chi nhánh Công ty Chế biến thực phẩm, mì gói, nước giải khát

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

268.000 15 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước

Nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu

16 20.959 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước Dự án trồng và chế biến rau, củ, quả xuất khẩu

17 100.000 KCN An Nghiệp Việt Nam Trong nước

Đầu tư Dự án Trung tâm công nghiệp chế biến gỗ

Trong nước 18 Huyện Kế Sách Việt Nam Đang triển khai dự án

TNHH SX-TM Thịnh Sơn Hưng Công ty CP Cá Chẻm Việt Công ty CP Gừng Việt Nam Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam Công ty TNHH Phương Nam

Dự án nuôi và chế biến cá tra, cá ba sa xuất khẩu II Các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoài các Khu công nghiệp

19 Việt Nam Trong nước

Nhà máy đóng tàu và sữa chữa tàu thủy Trần Đề Đang trình văn bản đề nghị chấp thuận chủ trương Công ty CP đầu tư xây dựng Anh Phú Cảng cá Trần Đề, xã Trung Bình, huyện Long Phú

20 Việt Nam Trong nước Tàu khách tuyến du lịch Sóc Trăng-Côn Đảo xã Trung Bình, huyện Long Phú Đang quan tâm và có ý định đầu tư

21 2.600.0000 Việt Nam

Phường 4, Tp. Sóc Trăng Liên doanh trong nước Dự án phát triển đô thị và tái định cư Khu 5A Mạc Đỉnh Chi

22 Đang triển khai dự án Khách sạn 4-5 sao Việt Nam Trong nước

378

Công ty CP đầu tư xây dựng Anh Phú Công ty TNHH xây dựng thương mại Minh Châu Công ty xây dựng công trình giao thông 586 Đường Hùng Vương, p.6, Tp. Sóc Trăng

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

23 Việt Nam Hạ tầng KCN Đang triển khai dự án

Tp. Sóc Trăng và Cụm Công nghiệp Cái Côn Công ty xây dựng công trình giao thông 586 Khu nhà ở thương mại đường Trần Quang Diệu và Đầu tư hạ tầng Cụm công nghiệp Cái Côn

24 Đang triển khai dự án Việt Nam Hạ tầng KCN Công ty TNHH Tiến Phát Đầu tư hạ tầng Cụm Công nghiệp Cái Côn Cụm Công nghiệp Cái Côn

25 KCN Trần Đề Việt Nam Trong nước Đang triển khai dự án

Dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến Surimi

30.000 26 Việt Nam Trong nước Nhà máy chế biến nông, lâm, thủy sản Huyện Mỹ Xuyên

130.000 27 Việt Nam Trong nước Nhà máy chế biến thủy sản Huyện Mỹ Xuyên

113.000 28 Nhà máy chế biến thủy sản TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

10.000 29 Nhà máy chế biến thủy sản Việt Nam Trong nước Huyện Mỹ Xuyên

55.000 30 Sản xuất, chế biến các loại bia TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

80.000 31 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước Sản xuất các loại thức ăn thủy sản

580.000 32 Việt Nam Trong nước Hạ tầng KCN, cảng nước sâu

379

Huyện Kế Sách và Long Phú Công ty TNHH Khánh Hoàng Công ty TNHH Khánh Sủng Công ty CP thủy sản Út Xi Công ty TNHH Kim Anh Công ty TNHH Minh Đăng Công ty CP Bia Sài Gòn Sóc Trăng Công ty CP Sản xuất dịch vụ NTTS kỹ thuật cao Sóc Trăng Công ty CP MeKong Pearl

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

100.000 33 Khu du lịch sinh thái Huyện Long Phú Việt Nam Trong nước

300.000 34 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước Khu dân cư, kinh doanh sản phẩm dầu khí

35 25.591 Chế biến thủy hải sản Việt Nam Trong nước Huyện Mỹ Xuyên

9.000 36 Việt Nam Trong nước Nuôi trồng thủy sản Huyện Vĩnh Châu

1.000 37 Tư vấn thiết kế xây dựng TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

Công ty CP Tiến Thành Công ty CP Đầu tư phát triển đô thị dầu khí Cửu Long Công ty TNHH Quốc Hải Công ty TNHH Vĩnh Thuận Công ty CP Tư vấn Xây dựng Sóc Trăng

38 40.000 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

Công ty TNHH Trần Liên Hưng

39 21.280 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

40 5.000 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

Xây dựng công trình dân dụng, giao thông, kinh doanh vật liệu xây dựng(VLXD) Xây dựng công trình dân dụng, giao thông, kinh doanh VLXD Xây dựng công trình dân dụng, giao thông, kinh doanh VLXD

41 4.500 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước Xây dựng công trình dân dụng, giao thông

380

150.000 42 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước Xây dựng công trình Ánh Quang Plaza Công ty TNHH Đại Thành Công ty TNHH Dũ Phong Công ty CP giao thông Sóc Trăng Công ty TNHH Ánh Quang

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

15.750 43 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

44 296.775 TP. Sóc Trăng Việt Nam Trong nước

Xây dựng trường đào tạo Anh ngữ, Vi tính Đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa Triều Châu

136.098 45 Huyện Kế Sách Việt Nam Trong nước Nhà máy chế biến, xuất khẩu cá tra, ba sa

16.000 46 Việt Nam Trong nước Huyện Vĩnh Châu Trung tâm thương mại thủy sản Mỹ Thanh

Plaza Công ty TNHH TM Việt Mỹ Công ty TNHH Triều Châu Công ty TNHH Kim Phương Nam Công ty CP XD- TM Chế biến XNK thủy sản Mỹ Thanh

47 100.000 Việt Nam TP. Sóc Trăng Trong nước DNTN Hoàng Minh

48 15.000 Huyện Long Phú Việt Nam Trong nước

DNTN TM-XD- DV Hồng Ngọc

Đầu tư xây dựng nhà ở, kinh doanh bất động sản Đầu tư kinh doanh nuôi cá nước ngọt kết hợp với trồng rừng sinh thái B Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

49 Úc Huyện Kế Sách Nước ngoài Công ty TNHH Việt Úc Đàu tư sản xuất giống thủy sản nước ngọt

Địa phương đã chấp thuận chủ trương đầu tư, đang triển khai các bước tiếp theo

381

1.800.000 50 Đài Loan Nước ngoài Huyện Mỹ Xuyên Dự án đầu tư nhà máy chế biến thức ăn tôm cá Công ty TNHH Chế biến thực

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

51 8.000 USA Nước ngoài Huyện Mỹ Tú

Nhà máy gia công chế tác vàng, bạc, các loại đá quý

phẩm Đài Việt Hưng Công ty TNHH một thành viên Gala

d. Giải pháp phát triển xây dựng hệ thống đê biển, đê sông thích ứng

với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

Các hoạt động phát triển KT-XH trên vùng cửa sông ven biển đồng bằng

sông Cửu Long có những tác động trái chiều đối với việc bồi tụ, xói lở, nhất

là dọc theo các hệ thống sông nhỏ và các kênh rạch.

Các hoạt động phát triển giao thông có tác động mạnh đến xói lở hai bên

bờ sông và vùng ven biển, nhất là các cửa lớn đổ ra biển là nơi các luồng tàu

chạy từ nội địa ra các vùng ven biển và ngược lại thì hiện tượng xói lở diễn ra

mạnh và bồi tụ đáy cũng không nhiều, điều này còn được diễn giải bởi các

hoạt đông nạo vét luồng tàu diễn ra thường xuyên và liên tục.

Trong khi đó, hoạt động định cư tự do của cư dân sông nước, nhất là tại

các ngã ba, ngã tư - các điểm giao nhau của hệ thống kênh rạch, đặc biệt là

những nơi gần đô thị, gần các khu công nghiệp thì việc định cư này diễn ra

mạnh mẽ, cộng với việc đánh bắt cá trên sông bằng nò, bằng đăng lưới chắn

và phát triển các đầm nuôi thủy sản gần vùng cửa sông càng tăng khả năng

bồi tụ vùng ven sông, cửa biển, tập trung vào những nút giao nhau của hệ

thống kênh rạch làm cản trở dòng chảy rắn, tạo điều kiện cho bồi tụ không chỉ

tại điểm giao cắt của kênh rạch mà còn xuôi xuống hạ du ra ngoài cửa biển.

Vì vậy, giải pháp quy hoạch đồng bộ, có tính toán đến xu hướng phát

triển dân cư trong quy hoạch phát triển dân cư và quy hoạch phát triển hệ

thống kênh thoát nước vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long có

382

ý nghĩa quan trọng đối với quá trình bồi tụ - xói lở trên địa bàn. Đây cũng là

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

giải pháp quan trọng nhất liên quan đến động lực vùng cửa sông, ven biển

trên quan điểm phát triển KT-XH.

- Các hoạt động phát triển cảng, phát triển các khu công nghiệp, các khu

dịch vụ và du lịch ven sông và vùng cửa biển tham gia vào quá trình cố định

đường bờ bằng các kè chắn sóng, bằng các kết cấu xây dựng mang tính công

trình bền vững, vì vậy, việc phát triển các khu công nghiệp, phát triển du lịch,

các cơ sở hậu cần khác (cảng vụ, dịch vụ nghề cá, v.v.) mang tính bền vững

cao hơn trong tiến trình phát triển đường bờ hiện đại.

- Các hoạt động phóng luồng, nạo vét kênh, mở thêm các luồng tàu,

chuyển nước qua các vùng khác nhau, v.v. thường gây nên những tác động

không mong muốn ít được tiên liệu trong động lực đường bờ hiện đại, khó dự

báo nếu không có những mô hình động lực hiện đại dự báo biến động đường

bờ vùng cửa sông ven biển. Đây là hoạt động cần nghiên cứu sâu mang tính

liên ngành cao, không chỉ có các ngành giao thông, thủy lợi, mà còn cần các

ngành nghiên cứu cơ sở nền rắn (địa chất – địa lý) và các ngành KT-XH để

đảm bảo phát triển bền vững.

- Hình thành các tuyến đê sông – đê biển để ổn định đường bờ.

Việc khoanh vùng đê biển gắn liền với việc bố trí dân cư vùng cửa sông,

ven biển là vấn đề xã hội bức thiết, ngoài việc ngăn đê ảnh hưởng đến động

lực hình thành cửa sông, ven biển, các khu vực dân cư bố trí dọc theo các

kênh rạch và vùng ven biển cùng các hoạt động sinh sống và hoạt động sản

xuất đã cải tạo bề mặt địa hình, hình thành các dạng địa hình nhân tạo, ngăn

trở quá trình bồi lắng và tạo thành các dòng vận chuyển phù sa ra biển, điều

này có liên quan nhiều đến biến động đường bờ, cửa sông thời kỳ hiện đại ở

vùng ven biển sông Cửu Long. Tuy nhiên, do kênh rạch là đặc điểm quan

trọng của ĐBSCL nên tại vùng này chỉ chú trọng hình thành hệ thống đê biển-

383

cửa sông.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Bộ NN-PTNT sau khi khảo sát, đánh giá hiện trạng (2009) đã đệ trình

Chính phủ phương án cải tạo, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến

Kiên Giang với kinh phí thực hiện lên đến 70.000 tỷ đồng. Đây là vấn đề

được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Ngày 27-5-2009, Thủ tướng Chính phủ

ban hành Quyết định

667/QĐ-TTg về việc phê

duyệt chương trình củng

cố, nâng cấp hệ thống đê

biển từ Quảng Ngãi đến

Kiên Giang.

Vùng ven biển

ĐBSCL có sinh thái đa

dạng và tiềm năng kinh tế

lớn trong nông nghiệp,

thủy sản, lâm nghiệp, muối,..., song có mức phát triển thấp, nhân dân còn

nghèo, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, mà nguyên nhân chính là chưa khắc

phục được những trở ngại do thiên nhiên gây ra như xâm nhập mặn, triều

cường và bão tố tàn phá. Để phòng chống thiên tai, bảo vệ và phát triển một

cách ổn định vùng ven biển, việc xây dựng hệ thống đê biển, đê cửa sông

ĐBSCL là cần thiết và là bước đi tất yếu cần thực hiện. Theo Viện khoa học

thủy lợi miền Nam, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cần xây dựng chiến

lược cụ thể về ngăn triều, giữ ngọt nhằm bảo vệ sản xuất, ổn định đời sống

của người dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu.

Mục tiêu của quy hoạch đê biển, đê cửa sông ĐBSCL là nghiên cứu đề

xuất một hệ thống công trình hợp lý nhằm (i) Phòng chống thiên tai do tác

động từ biển để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ sản xuất, hạ

tầng cơ sở, hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại do thiên tai gây ra; (ii)

Tạo điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế-xã hội một cách toàn diện và ổn

định, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, kết hợp quốc phòng-an ninh. Hệ

384

thống đê biển-cửa sông ĐBSCL là hệ thống công trình lợi dụng tổng hợp,

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

trong quy hoạch là bài toán đa mục tiêu, việc đánh giá hiệu quả của dự án

được phân tích đầy đủ các mặt về kinh tế, kỹ thuật, nhân văn và môi trường.

Mặt khác, ngoài vùng nghiên cứu còn xem xét các vùng khác có liên quan,

đặc biệt là trong tính toán thủy lực, sơ đồ được nối với hệ thống toàn ĐBSCL

và biển Đông-biển Tây.

Tuyến đê ĐBSCL 1359

km trong đó đê trực tiếp với

biển 618 km nhưng phần lớn

mới hình thành, có cao trình

phía biển Đông +3.5 - +4m,

phía biển tây +2,5 - +3m đê

thiết kế tiêu chuẩn cấp 4

Qua quy hoạch, xác định tuyến đê biển - cửa sông ĐBSCL như sau:

Tổng chiều dài tuyến đê là 1.359 km, trong đó 618 km đê biển và 741

km đê cửa sông. Chiều dài đê cửa sông là 30 km cho sông lớn và 10-15 km

cho các sông rạch nhỏ. Hầu hết các tuyến đê biển nằm dọc và cách bờ biển

200-500 m đối với tuyến biển Tây, 500-2.000 m đối với các tuyến biển Đông.

Riêng đoạn Bảy Háp - Gành Hào (Cà Mau) tuyến đê lùi vào trong.

Chiều rộng đê 6,0 m để kết hợp giao thông, mái trong 2-3, mái ngoài 3-

4, lưu không 10 m phía đồng và 50 m phía biển; bên ngoài đê là rừng phòng

hộ để bảo vệ và giảm sóng.

Các công trình dưới đê bố trí theo quan điểm vừa đảm bảo phòng chống

thiên tai, vừa bảo đảm kiểm sóat mặn, giữ ngọt, tiêu úng, xổ phèn, thoát lũ,

nuôi trồng thủy sản giao thông thủy và các nhu cầu khác.

Kinh phí xây dựng cho toàn hệ thống là 2.310 tỷ đồng, trong đó đê

biển 1.422 tỷ đồng và đê cửa sông 888 tỷ đồng.

Viện khoa học thủy lợi miền Nam cũng lưu ý các tỉnh cần nhanh chóng

385

hoàn thiện xây dựng hệ thống đê biển, đê cửa sông tại đồng bằng sông Cửu

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Long cùng các công trình ngăn sông và điều tiết nước tại các cửa sông, trước

hết tại các cửa sông Hàm Luông, Cái Lớn, Cái Bé, Vàm Cỏ để khi nước sông

cao thì xả ra biển, khi nước triều cao thì ngăn lại, không cho tràn vào nội địa.

Việc xây dựng các dự án kiểm soát mặn ở vùng ven biển Gò Công, Bến

Tre, Nam Măng Thít, Quản Lộ-Phụng Hiệp, tứ giác Long Xuyên; chuyển đổi

thời vụ thích hợp để tránh thời kỳ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn; xây

dựng củng cố các tuyến đê biển và đê cửa sông để kiểm soát mặn và giảm thất

thoát nguồn nước... đang được xem là giải pháp cấp bách.

(Tuyến đê biển tại Gò Công)

Tuyến đê biển tại Gò

Công (Tiền Giang) dài 21 km

(từ xã Vàm Láng đến cửa

Tiểu) có vai trò cực kỳ quan

trọng trong việc bảo vệ vùng

ngọt hóa Gò Công (dự án thủy

lợi lớn và quan trọng ở khu

vực đồng bằng sông Cửu

Long).

Chính phủ đã phê duyệt dự án nâng cấp, mở rộng đê biển Gò Công, với

kinh phí đầu tư là 1.400 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự án từ nay đến năm

2020. Trước mắt, từ 2009-2012, tỉnh sẽ thực hiện những hạng mục như đầu tư

nâng cấp tuyến đê có chiều dài hơn 21km chạy dọc theo bờ biển từ xã Tân

Thành đến xã Vàm Láng, huyện Gò Công Đông với cao trình +4m, bề rộng

mặt đê 7,5m được trải nhựa.

Ngoài ra, tỉnh còn thực hiện trồng rừng phòng hộ bảo vệ đê tại đoạn

xung yếu có bề dày rừng tối thiểu 200m về phía biển với diện tích 100ha và

trồng rừng bổ sung một số đoạn phía đồng dọc theo chân đê có chiều dài

386

4,5km, diện tích 9,15ha.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Tỉnh sẽ xây dựng tuyến đê phòng thủ song song và cách đê chính khoảng

1km chạy dọc theo kênh Ba (Gò Công Đông) có chiều dài gần 12km, cao

trình đê +3m, bề rộng mặt đê 6m với tổng nguồn vốn đầu tư 281 tỉ đồng.

Tại địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre vùng đê biển nằm trên địa

bàn các xã Giao Thạnh, Thanh Phong, Thanh Hải, An Thuận, An Quy, An

Nhơn chiều dài bờ biển đến 65 km, riêng khu vực này của Bến Tre có 4 cửa

sông Cửu Long: cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên đổ ra

biển tạo nên khả năng phát triển mạnh mẽ của các bãi bồi cửa sông ven biển,

lượng phù sa bồi tụ hàng năm là rất lớn, có nơi bồi tụ lấn biển gần 100 mét và

hình thành một số bãi bồi, cồn nổi ở cửa sông và ven biển nên trong tương lai

không xa sẽ hình thành những vùng đất mới có khả năng nối đất liền với một

số cồn nổi ven sông và ven biển. Phương châm của tỉnh là lấn biển dựa vào

qui luật bồi lắng tự nhiên hơn là lấn biển bằng hoạt động cưỡng bức cơ học

(san lấp mặt bằng), vì thế, việc xây dựng củng cố đê biển tạo điều kiện ổn

định các vùng đất mới hình thành của Bến Tre.

Tại tỉnh Sóc Trăng có hệ thống đê biển dài 72 km, tập trung chủ yếu tại

địa bàn huyện Vĩnh Châu

Tuyến đê biển Hiệp Thạnh (Trà Vinh) có chiều dài 1,5km, chạy dài từ

vàm Khâu Râu tới vàm Láng Nước được xây dựng từ năm 97 để ngăn nước

biển tràn vào đất liền, bảo vệ hơn 200 ha đất sản xuất nông nghiệp và nuôi

trồng thuỷ sản. Để bảo vệ đê, năm 2006 tỉnh đã xây dựng thêm một tuyến đê

làm bằng rọ đá bao quanh vòng ngoài đê đất đỏ, hình thành hai lớp đê bao

cùng lúc.

Hiện nay, tình trạng xói lở các khu vực sông đang diễn ra nghiêm trọng

tại một số nơi vùng cửa sông, ven biển Cửu Long.

Tuyến đê biển này dài 21 km (từ xã Vàm Láng đến cửa Tiểu) đang bị

387

mất dần lá chắn là rừng phòng hộ, có đoạn đã mất trắng làm cho tuyến đê biển

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

trở nên rất mong manh. Nếu bão ập đến khu vực này dễ lâm vào cảnh tan

hoang.

Trong đó, cả 72 km tuyến đê biển của Sóc Trăng đang trong quá trình

xói lở rất nghiêm trọng. Tại địa bàn huyện Vĩnh Châu, nơi chủ yếu tuyến đê

đi qua, nhiều đoạn sạt lở kéo dài đến 3 - 4 km.

Theo các kỹ sư ở đây, những vùng bị xói lở một phần do ảnh hưởng của

quá trình tự nhiên như các dòng hải lưu, thủy triều, gió chướng, hoạt động của

sóng, nhưng chủ yếu do rừng ngập mặn bảo vệ bờ biển bị chặt phá, không còn

khả năng chống chọi, bảo vệ tuyến đê. Năm 1987, khi phong trào nuôi tôm

phát triển, nhiều cánh rừng phòng hộ ở đây bị người dân chặt phá trắng. Hậu

quả là trận triều cường năm 1992 gây thiệt hại nặng nề đến tính mạng và tài

sản của người dân vùng ven biển tại đây. Tình trạng này khiến hơn 4 nghìn hộ

dân với gần 17 nghìn người đang sống trong khu vực ảnh hưởng xói lở, triều

cường, bão lũ đe dọa thường xuyên rất cần được di dời đến các cụm, tuyến

dân cư an toàn trong thời gian tới. Ðó là chưa kể đến nguồn tài nguyên thiên

nhiên phong phú ven biển Sóc Trăng đã biến mất, như các loại cây bần, đước,

mắm; các loại động, thực vật quý hiếm khác như khỉ đuôi dài, rái cá lông

mượt, dơi ngựa lớn, hệ động vật lưỡng cư và bò sát...

Tuy nhiên, theo các chuyên gia của dự án, quá trình xói lở và bồi tụ cũng

diễn ra rất mạnh mẽ ngay trên một đoạn bờ biển và tuần tự theo mùa. Sau khi

quá trình xói lở được bồi tụ ngay ở sát bờ, hình thành ra phía biển những bãi

bồi không ổn định, vào lúc thủy triều xuống để lộ ra bãi bồi rộng khoảng 2 - 3

km với tầng bùn dày, nhất là vào mùa gió chướng bắt đầu từ tháng 9 - 10 hằng

năm. Điều này cho thấy, hiện tượng vừa bồi vừa lở này làm cho hệ thống đê

Biển – cửa sông ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu... ngày càng trở nên nguy

hiểm hơn, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống người dân nơi đây.

Để khắc phục tình trạng xói lở và bảo vệ lâu dài tuyến đê biển, hiện nay

được sự hỗ trợ của tổ chức hợp tác kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức (GTZ)

388

thông qua "Dự án Bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển tỉnh Sóc

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trăng", ngành nông nghiệp phát triển nông thôn Sóc Trăng đang tiến hành

khảo sát, xây dựng các mô hình thủy lực về dòng chảy ngoài biển để thiết kế

rào phá sóng hiệu quả và phòng, chống sạt lở cho toàn bộ hệ thống đê biển

của tỉnh. Ðáng chú ý, dự án bảo vệ và phát triển những vùng ngập nước ven

biển được thực hiện từ năm 2000 đến nay, Sóc Trăng đã thực hiện được nhiều

hợp phần quan trọng. Đáng chú ý là việc tổ chức tái định cư cho hàng trăm hộ

dân sống ngoài đê có nơi ở an toàn, từ đó hạn chế việc phá rừng.

Trước nguy cơ bị vỡ tuyến đê biển Hiệp Thạnh (Trà Vinh), năm 2006

tỉnh đã xây dựng thêm một tuyến đê làm bằng rọ đá bao quanh vòng ngoài đê

đất đỏ, hình thành hai lớp đê bao cùng lúc. Nhưng chẳng bao lâu tuyến đê xây

bằng rọ đá bị sóng biển đánh vỡ tan, tuyến đê chính hiện có nhiều đoạn bị lở

sâu vào thân đê khoảng 2- 3 mét. Nếu không gia cố kịp thời, tuyến đê này khó

có khả năng chống chọi khi triều cường, sóng biển dâng cao trong mùa mưa

lũ năm nay.

Tóm lại:

- Các hoạt động phát triển KT-XH trên vùng cửa sông ven biển đồng

bằng sông Cửu Long có những tác động trái chiều đối với việc bồi tụ, xói lở,

nhất là dọc theo các hệ thống sông nhỏ và các kênh rạch.

Các hoạt động phát triển giao thông có tác động mạnh đến xói lở hai bên

bờ sông và vùng ven biển, nhất là các cửa lớn đổ ra biển là nơi các luồng tàu

chạy từ nội địa ra các vùng ven biển và ngược lại thì hiện tượng xói lở diễn ra

mạnh và bồi tụ đáy cũng không nhiều, điều này còn được diễn giải bởi các

hoạt đông nạo vét luồng tàu diễn ra thường xuyên và liên tục.

Trong khi đó, hoạt động định cư tự do của cư dân sông nước, nhất là tại

các ngã ba, ngã tư – các điểm giao nhau của hệ thống kênh rạch, đặc biệt là

những nơi gần đô thị, gần các khu công nghiệp thì việc định cư này diễn ra

mạnh mẽ, cộng với việc đánh bắt cá trên sông bằng nò, bằng đăng lưới chắn

389

và phát triển các đầm nuôi thủy sản gần vùng cửa sông lại tăng khả năng bồi

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

tụ vùng ven sông, cửa biển, tập trung vào những nút giao nhau của hệ thống

kênh rạch làm cản trở dòng chảy rắn, tạo điều kiện cho bồi tụ không chỉ tại

điểm giao cắt của kênh rạch mà còn xuôi xuống hạ du ra ngoài cửa biển.

Vì vậy, giải pháp quy hoạch đồng bộ, có tính toán đến xu hướng phát

triển dân cư trong quy hoạch phát triển dân cư và quy hoạch phát triển hệ

thống kênh thoát nước vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long có

ý nghĩa quan trọng đối với quá trình bồi tụ - xói lở trên địa bàn. Đây cũng là

giải pháp quan trọng nhất liên quan đến động lực vùng cửa sông, ven biển

trên quan điểm phát triển KT-XH.

- Các hoạt động phát triển cảng, phát triển các khu công nghiệp, các khu

dịch vụ và du lịch ven sông và vùng cửa biển tham gia vào quá trình cố định

đường bờ bằng các kè chắn sóng, bằng các kết cấu xây dựng mang tính công

trình bền vững, vì vậy, việc phát triển các khu công nghiệp, phát triển du lịch,

các cơ sở hậu cần khác (cảng vụ, dịch vụ nghề cá, v.v.) mang tính bền vững

cao hơn trong tiến trình phát triển đường bờ hiện đại.

- Các hoạt động phóng luồng, nạo vét kênh, mở thêm các luồng tàu,

chuyển nước qua các vùng khác nhau, v.v. thường gây nên những tác động

không mong muốn ít được tiên liệu trong động lực đường bờ hiện đại, khó dự

báo nếu không có những mô hình động lực hiện đại dự báo biến động đường

bờ vùng cửa sông ven biển. Đây là hoạt động cần nghiên cứu sâu mang tính

liên ngành cao, không chỉ có các ngành giao thông, thủy lợi, mà còn cần các

ngành nghiên cứu cơ sở nền rắn (địa chất – địa lý) và các ngành KT-XH để

390

đảm bảo phát triển bền vững.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN

1. Các cửa sông vùng bờ châu thổ sông Cửu Long biến động trong

Holocen-hiện đại phức tạp và đa dạng. Nơi đây đã từng trải qua giai đoạn

11.700-8.000 năm BP lục địa với quá trình xói mòn, phong hóa; giai đoạn

toàn vùng đồng bằng Cửu Long là biển nông ven bờ với quá trình biển tiến

Holocen giữa-biển tiến Flandrian đạt tới đỉnh, đạt tới độ cao 4-5m trên lục địa

vào 5.000-5.500 năm BP. Giai đoạn biển thoái, từ từ rút ra khỏi đồng bằng

sông Cửu Long và vùng nghiên cứu của đề tài đạt tới đường bờ biển hiện nay,

trong khoảng thời gian 3.000 năm tới ngày nay.

2. Trong thời gian từ 11.700 năm đến ngày nay, các cửa sông và đường

bờ vùng nghiên cứu khi thì vươn ra ngoài vùng biển hiện nay tới -120m, -

90m, -30m, -25m so với đường bờ biển và các cửa sông hiện nay vào thời kỳ

biển còn ở xa; khi thì các cửa sông và đường bờ biển tiến dần vào đồng bằng

và có nơi ra khỏi đường biên giới nước ta đạt tới độ cao 4-5m, thời kỳ biển

tiến Holocen giữa khoảng 8.000-3.000 năm BP. Khi mà mực xâm thực cơ sở

luôn lùi ra phía biển, các cửa sông và đường bờ biển cũng tiến dần dần để đạt

tới đường bờ biển, các cửa sông vào khoảng từ 3.000 năm tới ngày nay.

3. Đặc điểm địa mạo vùng nghiên cứu thuộc 2 đơn vị địa hình lớn là:

Đồng bằng châu thổ và biển nông ven bờ. Ranh giới giữa chúng là các đoạn

đường bờ với 9 cửa sông hiện tại nối tiếp nhau, trải dài khoảng 155km,

phương ĐB-TN cong lồi về phía Đông Nam. Xây dựng bản đồ địa mạo cho

các đơn vị địa hình tỷ lệ 1: 200.000 cho toàn vùng nghiên cứu và 1: 50.000

cho 3 vùng cửa sông: Tranh Đề, Định An và Hàm Luông. Bản đồ địa mạo

được xây dựng theo nguyên tắc hình thai, nguồn gốc, tuổi cho vùng lục địa

ven bờ, nguyên tắc hình thái, nguồn gốc, động lực cho vùng đáy biển ven bờ.

Bản đồ thể hiện địa hình lục địa ven biển Holocen với các đơn vị địa hình:

đồng bằng tích tụ do sóng và thủy triều là chủ yếu, sông và các cù lao dọc

391

sông (sông Hậu, sông Tiền, sông Mỹ Tho, sông Hàm Luông); địa hình đáy

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

biển ven bờ Holocen muộn; các đơn vị địa mạo thành tạo trong đới sóng vỡ;

các đơn vị địa mạo thành tạo trong đới sóng biến dạng phá hủy.

4. Vùng nghiên cứu chiếm một diện tích nhỏ ở cánh Tây Bắc của bồn

trũng Cửu Long. Bồn trũng Cửu Long được khống chế bởi 2 hệ thống đứt gãy

có phương ĐB-TN và TB-ĐN. Bồn trũng được hình thành trên móng vỏ lục

địa tuổi Mezozoi bị phá vỡ với cấu trúc 2 tầng: tầng móng đa nguồn gốc tuổi

trước Kainozoi và tầng phủ gồm các thành tạo Kainozoi. Vùng nghiên cứu

khống chế của 3 đứt gãy sâu: sông Hậu, Lộc Ninh-Vũng Tầu và Thuận Hải-

Minh Hải (Phan Thiết-Cà Mau). Vùng nghiên cứu nằm trong khối sụt sông

Hậu, sông Tiền. Đề tài thành lập bản đồ địa chất Holocen-hiện đại vùng nghiên cứu trên cơ sở kết quả nghiên cứu của cổ sinh, địa tầng, C14, tướng đá

2cl).

cổ địa lý, dao động mực nước biển, địa vật lý…để phân chia địa tầng 1bđ), hệ tầng Hậu Holocen-hiện đại thành 3 hệ tầng: hệ tầng Bình Đại (Q2

2hg) và hệ tầng Cửu Long (Q2

Giang (Q2

5. Môi trường trầm tích Holocen-hiện đại biến động phụ thuộc và dao

động mực nước biển qua các thời kỳ từ 11.700 năm BP đến ngày nay của các

thành tạo trầm tích thuộc hệ tầng Bình Đại, Hậu Giang và Cửu Long. Mặt

khác sụ biến động môi trường trầm tích là mối quan hệ nhân quả giữa quá

trình dao động mực nước biển với quá trình tích tụ trầm tích dẫn tới những

biến động vùng cửa sông ven biển và sự hình thành các kiểu nguồn gốc trầm

tích với các tướng trầm tích tương ứng.

6. Những biến động tại các cửa sông, đường bờ vùng ven bờ châu thổ

sông Cửu Long thông qua 2 hiện tượng ngược nhau là bồi tụ và xói lở. Biến

động bồi tụ và xói lở mạnh dưới tác động của các nhân tố tự nhiên và con

người như 2 cửa trong 9 cửa sông là cửa BaLai được xây đập và cống, cửa

Bát Sắc bị bồi lấp. Tại các cửa thuộc sông Tiền phát triển theo phương thức

bồi tụ-xói lở diễn ra xen kẽ nhau làm cho vùng ven biển các cửa sông biến

động với những quy mô khác nhau. Khu vực các cửa sông thuộc sông Hậu có

đoạn sông chảy khá thẳng, lòng dẫn phát triển theo phương thức đảo cát trôi

392

dần về phía cửa sông. Vùng ven biển biến động theo phương thức bồi tụ-xói

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

lở, thiên về trạng thái bồi tụ và ít ổn định.

7. Từ những kết quả nghiên cứu hiện trạng KT-XH, an ninh quốc

phòng và rừng ngập mặn vùng nghiên cứu, để phát triển KT-XH ven bờ châu

thổ sông Cửu Long, đề tài đề suất 7 giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn

tài nguyên thiên nhiên và giảm nhẹ thiên tai như sau:

- Phát triển rừng ngập mặn

- Phát triển nuôi trồng thủy sản

- Phát triển du lịch sinh thái

- Giải pháp lấn biển

- Phát triển giao thông

- Giải pháp quy hoạch dân cư ven biển

- Các giải pháp phát triển vùng cửa sông với các mục đích khác;

a. Giải pháp phát triển mạng lưới thủy lợi.

b. Giải pháp đáp ứng nhu cầu cấp nước, đặc biệt nguồn nước cho sinh

hoạt.

c. Giải pháp phát triển các khu công nghiệp các cụm dịch vụ tổng hợp

vùng ven biển.

d. Xây dựng và phát triển hệ thống đê biển và đê sông thích hợp với sự

biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nước ta là một trong 5 nước chịu ảnh

hưởng lớn của biến đổi khí hậu.

8. Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài cho phép thành lập bản đồ

dự báo xu thế phát triển biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen-

hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, tỷ lệ 1:200.000 cho toàn vùng

nghiên cứu và 1:50.000 cho 3 cửa sông: Tranh Đề, Định An và Hàm Luông.

Từ cơ sở tài liệu cũng như cách tiếp cận cho việc dự báo, đề tài đi từ đối

tượng dự báo, tính chất của dự báo, phương pháp dự báo, các yếu tố chính cần

393

dự báo đến kết quả của dự báo để phân tích cụ thể nội dung dự báo xu thế

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

phát triển, biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen-hiện đại vùng

nghiên cứu của đề tài.

KIẾN NGHỊ

1. Việc nghiên cứu diễn biến các vùng cửa sông ở nước ta còn mang tính

đơn lẻ, để có cơ sở khoa học cho việc tổ chức quy hoạch lãnh thổ vùng

cửa sông cần có điều tra khảo sát một cách tổng hợp. Vì vậy, kiến nghị

hướng nghiên cứu này cần được tiếp tục trong những năm tới.

2. Nghiên cứu diễn biến vùng cửa sông không chỉ phục vụ nghiên cứu

tổng hợp mà cần gắn với quy luật biến đổi khí hậu toàn cầu cả trong

quá khứ (thời kỳ Đệ tứ) và hiện tại. Từ những kết quả thu được của

việc nghiên cứu diễn biến vùng cửa sông trong quá khứ làm cơ sở khoa

học cho việc xây dựng các kịch bản dự báo xu thế phát triển diễn biến

394

mực nước biển dâng.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

[1] Lê Đức An và nnk, 1984. Bản đồ địa mạo Việt nam tỷ lệ 1/500.000. Tổng cục địa chất.

Lê Đức An, 2004. Về địa tầng và kiểu tích đọng trầm tích Holocen ở đồng bằng sông Cửu Long. TT Địa tầng hệ Đệ tứ các châu thổ ở Việt [2]

Nam. Hội thảo khoa học tại Hà Nội. 2/2004. Tr.124-133.

[3]

Trịnh Việt An (chủ biên), 2006. Nghiên cứu các giải pháp khoa học- công nghệ chống sa bồi, ổn định lòng dẫn cửa Định An phục vụ nhu cầu vận chuyển hàng hoá. B/c Đề tài độc lập cấp Nhà nước. Viện Khoa học Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hà Nội. 314 tr.

[4] Nguyễn Văn Âu, 2000. Địa lý tự nhiên Biển Đông. ĐHQGHN

[5]

Nguyễn Xuân Bao và nnk, 2000. Báo cáo nghiên cứu kiến tạo và sinh khoáng Việt Nam. Lưu trữ cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam.

Nguyễn Xuân Bao và nnk, 2002. Bản đồ kiến tạo Nam Việt Nam, tỷ [6] lệ 1/200.000. Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam.

[7]

Đặng Văn Bào, Nguyễn Vi Dân, 1996. Lịch sử phát triển địa hình dải đồng bằng Huế-Quảng Ngãi. Tạp chí Khoa học-Chuyên san Địa lý 1996-Đại học Quốc gia Hà Nội. Tr. 7-14.

Lê Ngọc Bích, Lê Mạnh Hùng, 2001. Nghiên cứu biến hình lòng

[8]

sông và công trình chỉnh trị trên sông Cửu Long. Hội thảo KH Môi trường và thiên tai đồng bằng sông Cửu Long. NXB ĐHQG HN. Trang 101-111.

Nguyễn Biểu và n.n.k, 2000. “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ Việt Nam (0 - 30m nước) tỉ lệ 1/500.000”. Lưu [9]

trữ tại Trung tâm ĐC&KS biển, Hà Nội.

[10]

395

Nguyễn Biểu và n.n.k, 2001. Kết quả điều tra địa chất và khoáng sản biển nông ven bờ 0-30 m nước Việt Nam tỷ lệ 1/500 000 (1991- 2001). Lưu trữ Địa chất.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, 2005. Đặc điểm địa tầng Pliocen-Đệ tứ và bản đồ địa chất tầng nông vùng Đông Nam thềm lục địa Việt [11]

nam. TT báo cáo Hội nghị 60 năm Địa chất Việt Nam. Hà Nội, tr.226- 241.

Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, nnk, 2008. Sequen địa tầng phân giải cao trầm tích Pliocen-Đệ tứ biển Nam Trung Bộ. Trong “Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền vững”. TT BC KH Hội nghị [12]

KH Địa chất biển toàn quốc lần thứ nhất. Hạ Long 9-10/10/2008. Tr.199-210.

Nguyễn Văn Cư, Phạm Quang Sơn và nnk, 1990. Động lực vùng

[13] ven biển và cửa sông Việt Nam. Chương trình nghiên cứu Biển 48B (1986-1990). B/c đề tài 48B-02.01- Phần nghiên cứu các cửa sông.

Viện Khoa học Việt Nam. Hà Nội. 355 tr.

Hoàng Thọ Điền, Nguyễn Ngọc Anh, 2001. Tổng quan nghiên cứu, nhận diện toàn diện về lũ, dự báo kiểm soát và thoát lũ phục vụ yêu

[14]

cầu chung sống với lũ ở đồng bằng sông Cửu Long. Hội thảo KH Môi trường và thiên tai đồng bằng sông Cửu Long. NXB ĐHQG Hà Nội. Trang 11- 22.

Nguyễn Huy Dũng và nnk, 2004. Phân chia địa tầng N-Q và nghiên cứu cấu trúc Đồng bằng Nam bộ. Lưu trữ Cục địa chất và Khoáng [15]

sản Việt Nam.

Nguyễn Huy Dũng, Ngô Quang Toàn, nnk, 2004. Địa tầng trầm tích Đệ Tứ vùng đồng bằng Nam Bộ. TT Địa tầng hệ Đệ tứ các châu [16]

thổ ở Việt Nam. Hội thảo khoa học tại Hà Nội. 2/2004. Tr. 133-148.

Nguyễn Huy Dũng, Ngô Quang Toàn và nnk, 2004. Địa tầng trầm

[17]

tích Đệ tứ vùng đồng bằng Nam Bộ. In “Stratigraphy of Quaternary system in deltas of Vietnam” Conference proceedings, Feb. 12, Hochiminh city, 2004. 123-147.

[18] Nguyễn Huy Dũng, Nguyễn Ngọc Hoa và nnk, 2005. Đánh giá biến động đường bờ biển từ Kê Gà đến mũi Cà Mau thời kỳ 1965- 2009, nguyên nhân và dự báo xu thế phát triển. ĐC-TN-MT Nam

Việt Nam. TPHCM.

396

[19] Nguyễn Phú Duyên, 2006. Ứng dụng kỹ thuật đồng vị Radon

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

nghiên cứu hoạt động hiện đại của đứt gãy Sông Sài Gòn, liên quan đến sạt lở bờ sông và hoạt động địa chấn ngoài khơi phía nam biển

Đông. Tạp chí Địa chất, Loạt A, số 295 tháng 7-8/2006.

[20]

Nguyễn Địch Dỹ, 1987. Địa tầng Kainozoi và cổ địa lý Việt Nam và các vùng kế cận. Luận án tiến sĩ khoa học (Tiếng Nga) lưu trữ tại Viện Địa chất - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Nguyễn Địch Dỹ và nnk, Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng

khoáng sản liên quan, Đề tài cấp nhà nước KT01-07, Bộ KH CN và [21]

Môi trường, Hà Nội, 1995.

Nguyễn Địch Dỹ và nnk, năm 2004. Đặc điểm cổ địa lý đồng bằng sông Cửu Long trong kỷ Đệ tứ. “Hội thảo Khoa học văn hóa Óc Eo [22]

và vương quốc Phù Nam, TPHCM”.

Nguyễn Địch Dỹ, 2005. Thành tựu nghiên cứu địa chất Đệ Tứ Việt

[23]

Nam trong 60 năm và phương hướng nghiên cứu trong giai đoạn tới. TT báo cáo Hội nghị 60 năm Địa chất Việt Nam. Hà Nội, tr.43-48.

Nguyễn Địch Dỹ, Doãn Đình Lâm, Vũ Văn Hà, 2008. Các cửa

[24]

sông và vùng châu thổ sông Cửu Long, vị thế và dự báo xu thế phát triển. Trong “Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền vững”. TT BC KH Hội nghị KH Địa chất biển toàn quốc lần thứ nhất. Hạ Long 9-10/10/2008. Tr.284-288.

Nguyễn Đich Dỹ và nnk, 2008. Khái quát về cổ địa lý trong kỷ Đệ

[25]

tứ ở đồng bằng Nam Bộ, các khoa học về trái đất, số 4 (T30), Hà Nội.

[26]

Nguyễn Địch Dỹ và nnk, 2010. Vị thế và dự báo xu thế phát triển vùng cửa sông châu thổ sông Cửu Long. TC các Khoa học về Trái đất, số 2/2010. Hà Nội

Nguyễn Tiến Hải, Statteger, 2005. Báo cáo “Tiến hóa đới ven biển,

[27]

dao động mực nước và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen thềm lục địa ven biển giữa châu thổ sông MeKong và Nha Trang đông nam Việt Nam“ . Viện Địa chất và Địa vật lý biển

397

[28] Nguyễn Ngọc Hoa, Nguyễn Huy Dũng và nnk, 1991. Báo cáo kết quả đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản đồng bằng Nam bộ

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Trần Như Hối, 2003. Đê biển Nam bộ. Nhà xuất bản Trần Thanh Xuân, 2007. Đặc điểm thuỷ văn và nguồn nước sông Việt Nam. NXB [29]

Nông nghiệp. Hà Nội. 427 tr.

[30] Phan Nguyên Hồng, 1991. Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam. Luận án tiến sĩ khoa học. Hà Nội: 35-40.

Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Bội Quỳnh, Nguyễn Hoàng Trí, 1988. Rừng ngập mặn. Tập I: Tiềm năng và sử dụng. NXB Nông [31]

nghiệp, Hà Nội: 165tr.

[32]

Nguyễn Mạnh Hùng và nnk (2000), Kết quả tính dòng chảy gió, dòng chảy sóng và dòng vận chuyển bùn cát phục vụ thiết kế các công trình biển ven bờ Việt Nam . Đề tài KHCN 06.10.

Lê Mạnh Hùng, 2001. Tổng quan về vấn đề xói lở bờ, bồi lắng lòng

[33]

dẫn hệ thống sông ĐBSCL. Hội thảo KH Môi trường và thiên tai đồng bằng sông Cửu Long. NXB ĐHQG Hà Nội. Trang 23-30.

[34] Lê Hương, 1974. Sử Liệu Phù Nam. NXB Nguyễn Nhiều. Sài Gòn 1974

Hoàng Ngọc kỷ, Vũ Đình Lưu. Loess nguồn gốc gió ở Việt Nam và

Đông Nam Á.. Địa chất – Tài nguyên – Môi trường Việt Nam. Thành [35]

phố Hồ Chí Minh, 2005.

[36] Doãn Đình Lâm, 2003. Lịch sử tiến hóa trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng. Luận án Tiến sỹ. Hà Nội

Doãn Đình Lâm, 2004. Địa tầng phân tập và trầm tích Holocen châu thổ Sông Hồng. Phụ trương tạp chí “Các khoa học về trái đất” 26(4). [37]

12-2004, tr. 465-473.

Doãn Đình Lâm, 2004b. Tiến hóa trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng. TT Địa tầng hệ Đệ tứ các châu thổ ở Việt Nam. Hội thảo khoa [38]

học tại Hà Nội. 2/2004. Tr. 199-215.

Nguyễn Văn Lập, Tạ Thị Kim Oanh, 2004. Môi trường trầm tích

[39]

Pleistocen muộn - Holocen vùng Cà Mau. Tạp chí Các khoa học về Trái đất.

398

[40] Vũ Tự Lập, 1978. Địa lý tự nhiên Việt nam, NXB Giáo dục. Hà Nội

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

1978.

Phạm Huy Long, Vũ Văn Vĩnh và nnk, 1995. Điều tra nguyên

[41]

nhân và đề xuất phương án khắc phục, phòng ngừa sự cố sụt lở đất trên Sông Tiền tại các điểm Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Mỹ Thuận, Măng Thít. Cục Môi Trường, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi Trường.

Trần Nghi, 2005. Quy luật chuyển tướng lòng sông cổ của trầm tích

[42]

Neogen muộn - Đệ tứ trong mối quan hệ với hoạt động kiến tạo vùng đồng bằng Nam Bộ. Tạp chí Khoa học Công nghệ Biển, số 3 (T5), 2005. 1-9.

Trần Nghi, 2005. Đặc điểm tướng đá cổ địa lý và lịch sử phát triển

địa chất Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam. Báo cáo kỷ niệm 60 [43]

năm thành lập Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam. Hà Nội, 2005.

[44]

Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Doãn Đình Lâm, La Thế Phúc, Đinh Xuân Thành, Nguyễn Đình Nguyên (2001). Đặc điểm tướng đá cổ địa lí trong Pliocen-Đệ tứ tại thềm lục địa Việt Nam. Tạp chí Các khoa học về trái đất, (2), tr. 105-117.

[45]

Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Doãn Đình Lâm, La Thế Phúc, Đinh Xuân Thành, Nguyễn Đình Nguyên (2001). Đặc điểm tướng đá cổ địa lí trong Pliocen-Đệ tứ tại thềm lục địa Việt Nam. Tạp chí Các khoa học về trái đất, (2), tr. 105-117.

Trần Nghi, Mai Thanh Tân và nnk, 2004. Nhìn lại sự thay đổi mực

[46]

nước biển trong Đệ tứ trên cơ sở nghiên cứu trầm tích vùng ven biển và biển nông ven bờ từ Nha Trang đến Bạc Liêu. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, số 3, tập 4, 1-9.

[47]

Nguyễn Siêu Nhân và nnk, 1999. Đặc điểm một số giồng cát Holocen vùng đồng bằng sông Cửu Long. Phân viện Địa lý tại Tp Hồ Chí Minh. 1999.

Lương Ninh, 2005. Nước Phù Nam xem lại: Tháo gỡ những cổ xưa. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử. Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam. Số [48]

7 (350) 2005

399

[49] Phạm Văn Ninh, Đỗ Ngọc Quỳnh, Lê Văn Thành, 1995. Báo cáo

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

kết quả khảo sát năm 1994 “ Điều kiện khí tượng thuỷ văn và động lực khu vực biển quanh Côn Đảo phục vụ yêu cầu qui hoạch, phát

triển kinh tế xã hội, xây dựng công trình và bảo vệ môi trường”. - Hà nội 2/1995.

Phạm Văn Ninh, Đỗ Ngọc Quỳnh, Lê Văn Thành, 1996. Báo cáo kết quả khảo sát năm 1995 “ Điều kiện khí tượng thuỷ văn và động lực khu vực biển quanh Côn Đảo phục vụ yêu cầu qui hoạch, phát [50]

triển kinh tế xã hội, xây dựng công trình và bảo vệ môi trường”. -Hà nội 3/1996.

Tạ Thị Kim Oanh, Nguyễn Văn Lập, 2008. Quá trình phát triển

[51]

đồng bằng sông Cửu long trong thời Holocen..Trong “Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền vững”. TT BC KH Hội nghị KH Địa chất biển toàn quốc lần thứ nhất. Hạ Long 9-10/10/2008. tr.297-302.

Vũ Văn Phái, Đặng Văn Bào, Nguyễn Hiệu, 2001. Báo cáo thành lập bản đồ địa mạo biển vùng ven bờ (0-30 m nước) Việt Nam tỷ lệ [52]

1/500 000, HN, 118 trg. (lưu trữ cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam).

Vũ Văn Phái, 2007. “Lập bản đồ địa mạo đáy biển và dọc đường bờ

[53]

vùng biển ven bờ từ cửa Định An đến cửa Mỹ Thạnh tỷ lệ 1:100.000”. Trường Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội.

[54]

Phạm Quang Sơn, 2005. Sử dụng thông tin viễn thám và GIS trong nghiên cứu, quản lý tài nguyên và môi trường vùng ven biển. Tài nguyên và môi trường biển. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

Lê Thông (Chủ biên), 2006. Địa lý các tỉnh thành phố Việt Nam. Tập 6 - Các tỉnh và thành phố đồng bằng sông Cửu Long. NXB Giáo [55]

dục. HN. 2006.

Phạm Huy Tiến, 2005. Dự báo hiện tượng xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông và và giải pháp phòng tránh. Báo cáo tổng kết đề tài KHCN [56]

cấp Nhà nước KC09.05. Lưu trữ Viện Địa lý. Hà Nội.

Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Bảo Khanh (1996), ″Đặc

điểm phân bố thực vật ngập mặn trong trầm tích Holocen ở các đồng bằng ven [57]

400

biển Việt nam″, Tạp chí Các khoa học về trái đất, (18/2), tr. 96-98.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, 2004. Các giai đoạn phát triển của thực vật ngập mặn với các đợt biển tiến, biển thoái trong kỷ Đệ [58]

tứ ở đồng bằng Sông Cửu Long. Tạp chí Các khoa học về Trái đất. Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, 2005. Các phức hệ sinh thái bào tử phấn hoa trong trầm tích Holoxen ở đồng bằng Nam Bộ. Tạp [59]

chí Các khoa học về Trái đất. Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, 2005. Các phức hệ sinh thái

[60]

bào tử phấn hoa trong trầm tích Holoxen ở đồng bằng Nam Bộ. Tạp chí Các khoa học về Trái đất. Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, 2005. Những nét chính về cổ

[61]

địa lý kỷ Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ. Tạp chí Các khoa học về Trái đất. Đinh Văn Thuận, 2005. Các phức hệ sinh thái bào tử phấn hoa trong

[62]

trầm tích Đệ tứ ở đồng bằng Nam Bộ. Luận án Tiến sĩ Địa chất, 150 tr. Hà Nội 2005.

[63]

Nguyễn Thế Tiệp, 1989. Lịch sử phát triển các mực nước biển cổ ở Việt Nam. Địa chất biển Đông và các miền kế cận, tr 50-54, Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội. Nguyễn Thế Tiệp, 1997. Liên hệ các bậc địa hình với các thời kỳ biển dừng trên thềm lục địa Việt Nam. Các công trình nghiên cứu [64]

Địa chất và Địa vật lý biển, tập III, tr 192-198, NXB KH&KT, Hà Nội.

[65] Nguyễn Thế Tiệp, Nguyễn Ngọc, 1993. Các thời kỳ biển trong kỷ Đệ tứ ở nước ta và việc nghiên cứu chúng. Báo cáo viện địa lý. [66] Nguyễn Thế Thôn, Nguyễn Thế Tiệp, 1987. Các thềm biển ở Đông

[67]

Dương. Tạp chí các khoa học về trái đất. Cao Đình Triều, 1998. Hệ thống đứt gãy chính lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở phân tích kết hợp tài liệu trọng lực, từ và ảnh vệ tinh. Tạp chí Địa chất, Loạt A, số 247, tháng 7-8/1998.

Tô Văn Trường, 2006. Nhận dạng, dự báo và kiểm soát lũ ở đồng [68] bằng sông Cửu Long. NXB Nông nghiệp, tp.HCM, 459 tr.

[69] Trần Tuất, Trần Thanh Xuân, Nguyễn Đức Nhật,1987. Địa lý thuỷ văn sông ngòi Việt Nam. Nhà xuất bản KHKT, Hà Nội. 107 tr.

401

[70] Vũ Văn Vĩnh và nnk, 1999. Phân tích các điều kiện địa chất,địa mạo

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

để dự báo và xác định các biện pháp phòng ngừa sạt lở dọc sông Tiền. Hội nghị Khoa học Địa chất công trình và Môi trường Việt

Nam, Tp Hồ chí Minh, 19-20/11/1999.

[71]

Vũ Văn Vĩnh và nnk, 2000. Nhận định mới về các thành tạo trầm tích Holocen dọc sông Tiền. Hội nghị Địa chất-Tài nguyên-Môi trường Nam Việt Nam, Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam, 2000.

[72] Vũ Văn Vĩnh, Nguyễn Ngọc Sơn, Bùi Anh Lân, 2002. Bản đồ địa mạo đới ven bờ, đoạn Bình Thuận –Hà Tiên tỷ lệ 1/200.000. Đề tài KHCN cấp Nhà Nước KC09.05: “Nghiên cứu hiện trạng và qui luật

xói lở, bồi tụ bờ biển Việt Nam”. Viện Hải dương học Nha Trang.

TÀI LIỆU TIẾNG ANH

[73] A. Schimanski, K. stattegger (2005) Deglacial and Holocene

evolusion of the Vietnam shelf Stratigraphy, sediments and sea-level change. Marine Geology 214, 365-387

[74]

Adger W.N, Kelly P.M, Tri N.H. 2001. Costs and benefits of mangrove conservation and restoration (Chapter 10), in “Economics of Coastal and Water Resources: Valuing Environmental Functions”, edited by R.K. Turner, I.J. Bateman and W.N. Adger, Kluwer

Academic Publisher, 235-259.

[75]

Anikiev VV, Shumilin EN, Dudarev OV, et al. (2004) Spatial variability in the distribution of lithological characteristics and chemical elements in the bottom sediments of the South China Sea near deltas. GEOCHEMISTRY river the Mekong and Saigon

INTERNATIONAL, 42 (12), pp. 1154-1171.

Catuneanu O., 2006. Principles of Sequence Stratigraphy. [76]

Elsevier, New York, 375p

[77]

Clark, J.R, 1992. Integrated Management of Coastal zones. Food and Agriculture Organization of the United Nations, Rome. FAO Fisheries Technical Paper No 327.

[78] Clark, J.R, 1996. Coastal zone Management Handbook. Lewis

402

Publisher/CRC Press. 694 p.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

[79] Dynamic in the Mekong River Estuary, Vietnam. Estuary

Coastal and Shelf Science, 1996.

[80]

Gupta A (2004) The Mekong River: Morphology, evolution and palaeoenvironment. JOURNAL OF THE GEOLOGICAL SOCIETY OF INDIA, 64 (4), pp. 525-533.

[81]

Hanebuth TJ, Stattegger K (2004) Depositional sequences on a Late Pleistocene-Holocene tropical siliciclastic shelf (Sunda Shelf,

Southeast Asia) Journal of Asian Earth Sciences, 3 (1): 113-126.

[82] Phan Nguyen Hong, Hoang Thi San, 1993. Mangroves of

Vietnam -IUCN. Bangkok: 35-50.

[83]

Jean-Pierre Debenay and Bui Thi Luan (2006) Foraminiferal assemblages and the confinement index as tools for assessment of saline intrusion and human impact in the Mekong Delta and

neighboring areas (Vietnam). Revue de Micropaleontologie, vol. 49, no. 2, pp. 74-85.

[84]

Jelgerman S. and Tooley M.J., 1986, Future sea level rise: its impact on coastal lowland. P4, IGCP, 200 Inter. Symp. On sea level change & application, Quindao, China, 1986.

[85] Kidson C., 1982, Sea level change in the Holocene. Quaternary

Science Reviews, 1 (2), 121-151.

[86] Hoang Ngoc Ky, 1994. Stratigraphic Correlation of Quaternary

transgessed and regressed deposits in Vietnam and adjencent countries In ESCAP Atlas of Stratigraphic XIII. Quaternary stratigraphic of Asia and Pacific. IGCP 296.63, 141-146. United Nations Publication. New

York.

[87] Luan BT, Debenay JP (2005) Foraminifera, environmental

bioindicators in the highly impacted environments of the Mekong Delta. HYDROBIOLOGIA, 548, pp. 75-83.

[88]

Mazda Yoshihiro, Michimasa Magi, Motohiko Kogo and Phan Nguyen Hong, 1997. Mangroves as a coastal protection from waves in the Ton Kin delta, Vienam. Mangroves and Salt Marshes 1: 127-135.

[89]

403

Mekong Delta Coastal Zone. Technical Report of the Second Field Survey EU Cuulong Project. Center for Marine Environment Survey, Research and Consultation. Hanoi, February, 1998.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

[90] Nguyễn Thị Hồng Liễu, 2006. Holocen evolution of Central

Red River Delta. Doctor thesis. Greiswald, Germany.

[91]

Nguyen, V.L., Ta, T.K.O., Tateishi, M., (1998) Late Holocene deppositional environments and coastal evolution of the Mekong River Delta, Southern Vietnam. Journal of Asian Earth Science 18, 427-439.

[92]

Nguyen V.L, Ta T. K.O., Tateishi M. 2000. Late Holocene depositional environment and coastal evolution of the Mekong River

Delta, Southern Viet Nam. Journal of Asian Earth Science, 18, 427-439

[93]

Nguyen Van Lap, Ta Thi Kim Oanh, Tateishi, M., Kobayashi, I., Tanabe, S., Saito, Y, 2002. Holocene evolution of the

Mekong River Delta, Vietnam. International workshop on ASIAN DELTAS: Their evolution and recent changes. Tsukuba-Japan, March 2002, 21-23.

[94]

Nguyen Van Lap, Ta, T.K.O., Tateishi, M., Kobayashi, I., Saito, Y, 2004. Late Quaternary depositional sequences of the Mekong River Delta, Vietnam… 5th Int. Conference on Asian Marine Geology,

Bangkok, Thailand, 2004, 157.

[95]

Nguyen, V.L., Ta, T.K.O., Tateishi, M., Kobayashi, I., Saito,2004. Facies distribution and Late Quaternary depositional succession in the Mekong River Delta, Vietnam. Y. IAG Yangtze Fluvial Conference, Shanghai, China, 2004, 44.

[96]

Nguyễn Văn Lập, Tạ Thị Kim Oanh, 2005. Holocene Evolution of the Mekong river delta and recent human inpacts. International Conference on Deltas (Mekong venue): Geological

Modeling and Management. Hochiminh city, 2005

[97]

Nguyễn Văn Lập, Tạ Thị Kim Oanh, 2005. Facies architectture and late quaternary depositional history of the Mekong river delta, South Viet Nam. International Conference on Deltas (Mekong venue): Geological Modeling and Management. Hochiminh

[98]

city, 2005

Mazlin B. Mokhtar et all., 2003. Integrated coastal management

using the ecosystem approach, some perspectives.

[99]

404

Phan, P.M.T., Populus, J., (2006) Status and changes of manggrove forest in Traving, in Mekong Delta: Case study Vietnam.Estuarine, Coastal and Shelf Science 71, 98-109

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

[100]

Saito, Y., S. Tanabe, Q. L. Vu, T. J. J. Hanebuth, A. Kitamura and Q. T. Ngo, Eds. (2004). Stratigraphy and Holocene

evolution of the Song Hong (Red River) delta, Vietnam. Trong “Stratigraphy of Quaternary system in deltas of Vietnam”. Hanoi, Vietnam, Department of Geology and Minerals of Vietnam. Tr. 101-

108.

[101] Saurin E., 1937. Présence du Norien fossilifère sur la côta du

Sud. CR. Acad. Sci France, 205: 618-619. Paris

[102]

Schimanski, A. 2002. Holocene sedimentation on source the sink. Mathematisch- shelf: from to Vietnamese

Fakultät, Kiel, Christian-Albrechts-

Naturwissenschaftlichen Universtität zu Kiel .

[103] Schimanski, A., Stattegger, K., 2005, Deglacial and Holocene

evolution on the Vietnam shelf: stratigraphy, sediments and sea-level change. Marine Geology 214, 365-387

[104] Susmita D., Benoit L., Craiy M., David W., Fianping Y., 2007

“ảnh hưởng của mực nước biển dâng cao ở các nước đang phát triển: phân tích so sánh”. Bài nghiên cứu chính sách của ngân hàng thế giới, 4136 tháng 12/2007.

[105]

Stattegger K. 2008 Holocen evolution and actual geologic process in the Coastal Zone of South Viêt Nam. Trong “Địa chất biển

Việt Nam và phát triển bền vững”. TT BC KH Hội nghị KH Địa chất biển toàn quốc lần thứ nhất. Hạ Long 9-10/10/2008. Tr. 42-54.

[106] Ta, T.K.O., Nguyen, V.L.,

(2000) Diatom-indicator of sedimentary environments and sea-level changes in late Pleistocene- Holocene. Journal of Science of the Earth 22, 226-233 (in Vietnamese with English abstract).

[107]

Ta, T.K.O., Nguyen, V.L., Tateishi, M., Kobayashi, I., Saito, Y., (2001) Sedimentary facies, diatom and foraminifer assemblages in a

late Pleistocene-Holocene incised-valley sequence from the Mekong River Delta, Bentre Privince, Southern Vietnam: the BT2 core. Journal of Asian Earth Science. 20, 83-94.

[108]

405

Ta, T.K.O., Nguyen, V.L., Tateishi, M., Kobayashi, I., Saito, Y., (2002a) Sediment facies, diatom and late Holocene progradation of the Mekong River Delta, Bentre Privince, Southern Vietnam: an

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

example of the tide-and wave-dominated delta. Sedimentary Geology 152, 313-325.

[109]

Ta T. K. O., Nguyen V. L. Tateishi M., Kobayashi I., Tanabe S., Saito Y., (2002b) Late Holocene delta progradation and sediments discharge of the Mekong River, Southern Vietnam. Quaternary Science Reviews, 21 (16-17): 1807-1819.

[110]

Tạ Thi Kim Oanh, Nguyen Van Lap, Kobayashi I, Tateishi, T., Tanabe, S., Saito, Y, 2004. Late Pleistocene-Holocene stratigraphy and delta progradation of the Mekong River Delta, South Vietnam. International Geoscience Journal Gondwana Research, 2001,

4/4, 799-800.

[111]

Ta Thi Kim Oanh, Nguyen Van Lap, Tateishi M., Kobayashi I., Saito Y., 2005. Sedimentary facies change and delta evolution

during Holocene in the Mekong River Delta, Vietnam. Mega-deltas of Asia-geological evolution and human impact. Eds by Zhongyuan Chen, Saito Y., Goodbred S.L., China Ocean Press, pp. 107-112

[112]

Ta, T.K.O., Nguyen, V.L., Tateishi, M., Kobayashi, I., Saito, Y., (2005) Holocene delta evolution and depositional models of the

Mekong river delta, southern Vietnam. In L. Giosan and J.P. Bhattacharya, eds., River Deltas - Concepts, Models, and Examples, SEPM Spec. Publ. no. 83, pp. 453-466.

[113]

Tajimu Kinoshita and Liu Zhaoshu, 1993-1994. Evolution of oceanic crust of the Marginal seas in the South China Sea. Japan-China cooperative joint study.

[114]

Tanabe, S., Ta, T.K.O., Nguyen, V.L., Tateishi, M., Kobayashi, I., Saito, Y., (2003) Delta Evolution Model Inferred from

the Holocene Mekong Delta, Southern Vietnam. In F. H. Sidi, D. Nummedal, P. Imbert, H. Darman, H. W. Posamentier (eds.) Tropical Deltas of Southeast Asia - Sedimentology, Stratigraphy, and Petroleum Geology, SEPM Special Publication no. 76, pp. 175-188 (2003.09).

[115]

406

Tanabe S, Saito Y, Quang L.V, Hanebuth TJJ, Quang L.N, Kitamura A (2006) Holocene evolution of the Song Hong (Red River) delta system, Northern Vietnam. Sedimentary Geology, 187 (1-2): 29- 61.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

[116]

Tri, N.H., Adger, N., Kelly, M., Granich, S., and Nimh, N.H. 1996. The Role of Natural Resource Management in Mitigating

Climate Impacts: Mangrove Restoration in Vietnam. CSERGE (Centre for Social and Economic Research on the Global Environment) Working Paper GEC 96-06.

[117] Wassmann R, Hien NX, Hoanh CT, et al. (2004) Sea level rise affecting the Vietnamese Mekong Delta: Water elevation in the flood season and implications for rice production. CLIMATIC CHANGE, 66 (1-2), pp. 89-107.

[118] Wosten J.H.M, P.de Wiligen, N.H. Tri, T.V. Lien, S.V. Smith, 2003. Nutrient dynamics in mangrove areas of the Red River Estuary in Vietnam. Estuarine, Coastal and Shelf Science 57 (2003) 65-72.

[119] Wright L.D, 1985. River Deltas. In “Coastal sedmintary

environments”. Springer Verlag-New York Publ.

[120]

Zhenguo H., Li Pingri, Zhang Zhongling, 1991. Sea level change along the coastal area of the South China since Late

Pleistocene. In: Quaternary coastline changes in China, Ed. by Quin Y.S and Zhao S.L China Ocean press, 142-154, Beijing.

TÀI LIỆU LƯU TRỮ

Bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 tờ An Biên-Sóc Trăng,

[121]

tờ Trà Vinh-Côn Đảo và tờ Mỹ Tho. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 1996.

[122] Báo cáo bản đồ địa chất vùng biển cửa Xoài Ráp-cửa Mỹ Thạnh, tỷ lệ 1:500.000. Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển. Hà Nội, 2007

Bộ KH&ĐT. Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH các tỉnh, thành [123] phố Việt Nam thời kỳ đến năm 2010. Hà Nội 2000.

[124] Bộ KH&ĐT. Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ đến năm 2010. Tp HCM 6/1996

407

[125] Bộ NN&PTNT, Phân viện KSQH thuỷ lợi miền Nam. Quy hoạch hệ thống đê biển và đê cửa sông ĐB sông Cửu Long. Báo cáo chuyên

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

ngành GTVT. Tp. HCM 3/2000.

[126] Chương trình 60B, 1990. Đồng bằng sông Cửu Long: Tài nguyên- Môi trường-Phát triển. Báo cáo tổng hợp Chương trình “Điều tra cơ bản vùng đồng bằng sông Cửu Long”. Chủ biên: GS.TS Nguyễn Ngọc Trân. tp.HCM. 403 tr.

[127] Cục thống kê Bến Tre. Niêm giám thống kê 2006. Bến Tre. 2007.

Cục thống kê Trà Vinh. Niêm giám thống kê 2006. Trà Vinh 8/2007.

[128] Cục thống kê Tiền Giang. Niêm giám thống kê 2006.

[129] Cục thống kê tỉnh Sóc Trăng. Tình hình KT-XH tỉnh Sóc Trăng sau

15 năm tái lập. NXB Thống kê. HN. 2007.

[130] Cục thống kê Trà Vinh. Niêm giám thống kê 1995-1999.

[131] Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt

Nam. NXB Thế giới. 2006.

[132] Phòng thống kê huyện Cù Lao Dung. Niêm giám thống kê năm 2005. 4/2006.

Phòng thống kê huyện Long Phú. Long Phú 26 năm xây dựng và phát [133] triển KT-XH . 3/2004.

Phòng thống kê huyện Long Phú. Niêm giám thống kê năm 2005. 4/2006.

[134]

Sơ đồ thi công khảo sát lập bản đồ đứt gãy hoạt động và địa động lực hiện đại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ 1:100.000. Liên đoàn bản đồ

Địa chất miền Nam, 2005.

[135] Sở KH&CN Bến Tre. Kỷ Yếu Hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2001-2003. Bến Tre. 12/2003.

[136]

Sở KH&CN Sóc Trăng. Kỷ Yếu các đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng Khoa học và công nghệ tỉnh Sóc Trăng (giai đoạn 1992-2004). Sóc Trăng.2006.

[137]

Tổng cục khí tượng-thủy văn,1989. Tập số liệu khí tượng-thủy văn: tập I, II, III. Phụ lục báo cáo chương trình TBKH cấp nhà nước 42A. Hà Nội. 1169tr.

408

[138] Tổng cục thống kê. Niên giám thống kê 1984. HN. 1985.

Đề tài “Nghiên cứu biến động cửa sông và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ Sông Cửu Long, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội” KC09.06/06-10

[139] Tổng cục thống kê. Niên giám thống kê. HN. 2006.

Tổng cục thống kê. Số liệu thống kê tình hình cơ bản và cơ sở hạ [140] tầng nông thôn Việt Nam. NXB Thống kê. Hà Nội 1995.

[141]

Trung tâm Khảo sát, Nghiên cứu, Tư vấn Môi trường biển. Báo cáo kết quả khảo sát và tính toán các yếu tố khí tượng thuỷ văn vùng cửa Định An. Hà nội 1995.

Trung tâm Khảo sát, Nghiên cứu, Tư vấn Môi trường biển. Báo cáo

[142]

kết quả khảo sát, tính toán chế độ các yếu tố khí tượng thuỷ văn và đo lưu lượng tại các mặt cắt Cù Lao Dung, Cần Thơ. Hà Nội 1994.

409

[143] Trung tâm khí tượng-thủy văn biển,1988. Khí tượng-thuỷ văn vùng biển Việt Nam. Nhà xuất bản KHKT, Hà Nội. 117 tr.