
101
225 mg/ngày hoặc Ticlid 250 mg 2 viên/ngày. . .
+ Các thuốc cải thiện tuần hoàn não: Duxil, Tanakan, Pervincamin, Cavinton,
Stugeron, Lucidril hoặc Nootropyl… Những ngày đầu có thể dùng dạng
tiêm. Có thể dùng Cerebrolysin 5 - 10 ml/ngày TM chậm trong 4 tuần.
+ Các thuốc bảo vệ thành mạch như vitamin C lg/ngày, rutin.
+ Chống phù não đối với cả chảy máu và nhồi máu não: mannitol 20% truyền
TM bắt đầu liều 300 ml trong 30 phút, sau đó cứ 4 giờ lại truyền thêm
100ml, tiếp tục trong 24 giờ; Lasix 20 - 40 mg TM. DD glycerin 50% 100
ml/ngày chia làm 2 lần, uống hoặc cho vào ống thông dạ dày vừa chống phù
não, vừa chống được táo bón.
- Nếu mạch > 110 - 120 chu kỳ/phút, dùng thuốc ức chế β nếu không có chứng
chỉ định.
- Nếu có loạn nhịp tim, suy tim xử trí theo phác đồ.
- Nếu có cơn động kinh: carbamazepin hoặc phenytoin, Iorazepam, diazepam…
- Kháng sinh chống nhiễm khuẩn đường hô hấp, đường tiết niệu, dự phòng
nhiễm khuẩn ở ổ máu tụ trong chảy máu não.
- Nếu chảy máu não do suy gan, thiếu hụt các yếu tố đông máu, dùng thuốc theo
phác đồ.
- Nếu sốt cao quá dùng Paracetamol.
- Không dùng thuốc an thần, thuốc ngủ trừ khi bệnh nhân bị kích động.
- Phòng chống loét bằng cách xoay trở bệnh nhân khi cho phép, nằm đệm hơi,
đệm nước.
4.1.2. Can thiệp ngoại khoa
Cân nhắc khi thấy có dị dạng mạch máu bị vỡ và khối máu tụ ở não hay tiểu
não.
Ở giai đoạn ổn định cần phối hợp thêm các phương pháp vật lý trị liệu, y học cổ
truyền (châm cứu) , liệu pháp phản xạ thần kinh để phục hồi di chứng.
* Đối với tuyến cơ sở việc xử trí ban đầu TBMMN cần thực hiện:
- Để bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng an toàn tránh tụt lưỡi và trào ngược.
- Đảm bảo hô hấp cho bệnh nhân: làm thông thoáng đường thở, hút đờm dãi, hỗ
trợ hô hấp bằng bóp bóng.
- Tìm cách vận chuyển bệnh nhân lên tuyến trên khi điều kiện cho phép.
4.2. Phòng bệnh
Tai biến mạch máu não để lại di chứng tàn phế nghiêm trọng như di chứng vận
động, giảm hoặc mất trí tuệ, để lại cho xã hội một gánh nặng, do vậy phòng bệnh có ý
nghĩa rất quan trọng
4 2.1. Dự phòng cấp 1

102
- Chiến lược cộng đồng (dự phòng khi chưa xảy ra tai biến)
Mục tiêu chính là phòng chống và hạn chế vữa xơ mạch, một nguyên nhân chủ
yếu gây tai biến bằng các biện pháp:
- Giữ HA ở mức bình thường.
- Chế độ ăn giảm các chất mỡ bão hoà, khuyên ăn các loại thịt trắng, hạn chế thịt
có màu đỏ.
- Cai thuốc lá.
- Dùng thuốc Aspirin: đã thử nghiệm trên 22000 thầy thuốc Mỹ khỏe mạnh thấy
tác dụng giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim, và ít tác dụng với nhồi máu não. Giữa
nhồi máu cơ tim và nhồi máu não có liên quan chặt chẽ vì vậy Aspirin được coi
là biện pháp dự phòng cấp I quan trọng trong TBMMN.
- Cần thay đổi nếp sống phối hợp tập luyện thể dục đều.
- Phát hiện và điều trị xơ vữa động mạch, tăng huyết áp một cách căn bản.
- Phát hiện và xử trí những dị động mạch máu có thể là nguyên nhân của
TBMMN.
- Cần tránh những yếu tố có thể tạo điều kiện xuất hiện tai biến mạch máu não:
Stress tâm lý, gắng sức quá nhiều, lạnh đột ngột, rượu, cơn tăng huyết áp.
- Khi có những dấu hiệu báo trước (như nhức đầu quá mức, chóng mặt, ù tai, tê
buồn chân tay, đom đóm mắt…) Ở người có tăng huyết áp, cần xử trí kịp thời
ngay.
- Quản lý và điều trị bệnh nhân TBMMN và những người có yếu tố nguy cơ
4.2.2. Dự phòng cấp II (Dự phòng các tai biến mạch máu não)
Tiến hành khi xuất hiện các biểu hiện của thiếu máu cục bộ ở não hay ở võng
mạc, có nghĩa là khi dự phòng cấp 1 đã thất bại. Ở giai đoạn này dự phòng chủ yếu
nhằm:
- Phát hiện và điều trị các yếu tố nguy cơ (huyết áp cao, đái tháo đường, các bệnh
tim…) .
- Dùng thuốc chống đông và thuốc chống kết dính tiểu cầu.
- Phòng các tai biến mạch máu não tái phát.
- Phòng chống loét và bội nhiễm; quản lý và điều trị bệnh nhân ở cộng đồng.
* Điều trị các yếu tố nguy cơ
- Chống tăng huyết áp:
+ Áp dụng các biện pháp giảm trọng lượng cơ thể (chống béo phì) .
+ Ắn nhạt.
+ Tập thể dục.
+ Dùng thuốc hạ huyết áp đều đặn.

103
+ Tránh dùng các thuốc gây tăng HA khi có bệnh khác phối hợp.
- Cai thuốc lá triệt để
Thuốc lá làm tăng Fthrinogen máu, kích thích dính tiểu cầu, tăng thể tích hồng
cầu do đó làm tăng độ quánh của máu.
- Chống tăng cholesterol máu, đặc biệt là tăng thành phần lipoprotein tỷ trọng
thấp (LDL) và giảm lipoprolein tỷ trọng cao (HDL), đó là yếu tố nguy cơ của
nhồi máu cơ tim và thiếu máu cục bộ não. Dự phòng bằng chế độ ăn giảm mỡ
và dùng thuốc giảm cholesterol trong máu (Clorflbral) .
- Chế độ ăn muối và kali
Ăn mặn làm tăng HA. Đối với các nước nhiệt đới, chỉ nên giảm muối vừa phải
do mất muối qua mồ hôi.
Chế độ ăn ít kali làm tăng nguy cơ TBMMN có lẽ do tăng HA. Bổ sung kim
bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi.
- Cai rượu:
Rượu gây tăng huyết áp, tăng triglycerid máu, dễ gây rung nhĩ từng đợt.
- Tập thể dục có tác dụng giảm huyết áp tâm thu, tăng tỷ lệ lipoprotein tỷ trọng
cao (HDL), giảm béo phì. Thể dục làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim do đó cũng
làm giảm tỷ lệ TBMMN.
- Chống bệnh tăng thể tích hồng cầu:
Tăng thể tích hồng cầu gây tăng tỷ lệ TBMMN, nhất là ở phụ nữ. Cần phát hiện
các nguyên nhân gây tăng thể tích hồng cầu và điều trị.
- Chống tăng tiểu cầu: cần phải điều trị khi số lượng tiểu cầu trên 600.000/mm3.
- Chọn thuốc tránh thai có nồng độ Estrogen thấp.
- Điều trị bệnh đái tháo đường
- Bệnh hồng cầu liềm là bệnh dù ở giai đoạn tiềm tàng hay rõ rệt đều gây tỷ lệ
cao TBMMN.
- Phát hiện và điều trị sớm các bệnh tim: các bệnh tim là yếu tố nguy cơ
TBMMN đứng hàng thứ hai sau vữa xơ mạch bao gồm: loạn nhịp (đặc biệt là
rung nhĩ hoặc bệnh tâm nhĩ), tổn thương van tim (hẹp van hai lá, sa van hai lá,
vôi hóa van hai lá, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn), các tổn thương cơ tim (đặc
biệt là nhồi máu mới, nhồi máu cũ có túi phồng vách), giảm động từng khúc
(Akinésie segmentaire) và bệnh cơ tim.
- Các bệnh viêm mạch
* Dùng thuốc
- Thuốc chống đông máu
Vì có thể có biến chứng xuất huyết nên khi dùng thuốc chống đông máu phải
tuân theo các nguyên tắc sau:

104
+ Chỉ dùng được ở các cơ sở có trang bị xét nghiệm đảm bảo không chẩn đoán
nhầm với TBMMN loại XH.
+ Đối với thiếu máu cục bộ não (TMCBN) rộng và mới chỉ dùng sau khi bị tai
biến 72 giờ nếu có chỉ định.
+ Biết rằng các nhồi máu xuất huyết hay xảy ra sau một nghẽn tắc mạch não
do tim, sau đó trong vòng 15 ngày nguy cơ tái phát xuất huyết là 1% mỗi
ngày.
Các thuốc như fraxiparin, kháng vitamin K
- Các thuốc chống kết dính tiểu cầu như: Aspirin, Ticlopidin, Dipyridamol.
Kết luận
Tai biến mạch máu não là một bệnh nặng hay gặp ở người có tuổi. Có thể gây
tử vong và nếu không chết cũng hay để lại di chứng. Cần chú ý đến tăng huyết áp, vữa
xơ động mạch và một số bệnh tim mạch để có biện pháp phòng chống, tránh để xảy ra
tai biến.
TÁO BÓN
MỞ ĐẦU
Thông thường mỗi ngày đi đại tiện một lần, lượng phân của người lớn trong
một ngày đêm khoảng 200-300g. Phân mềm đóng thành khuôn. Khi táo bón lượng
phân ít và khô làm cho phân rắn hơn bình thường
1. SỰ THƯỜNG GẶP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÁO BÓN VỚI BN
Khoảng 10% dân số châu Âu phải sử dụng thường xuyên thuốc nhuận tràng để
chống táo bón (Hsrrison's 2000). Ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê đầy đủ nhưng
tỷ lệ táo bón chắc chắn không cao như ở châu Âu do sự đặc thù của chế độ ăn nhiều
xơ. Táo bón thường gặp ở tất cả mọi lứa tuổi và cả 2 giới nhưng có xu hướng cao hơn
ở phụ nữ, ở người lớn và đặc biệt ở người cao tuổi. Nó thường không phải là nguyên
nhân gây những rối loạn trầm trọng nhưng gây rất nhiều phiền hà cho BN. Làm giảm
khả năng lao động làm giảm chất lượng cuộc sống. Đôi khi táo bón chức năng cũng
góp phần cho một số tai biến tim mạch như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.
2. NGUYÊN NHÂN TÁO BÓN
2.1. Đào thải phân ở người bình thường
Thức ăn sau khi tiêu hóa và hấp thụ ở ruột non, xuống đại tràng. Phần lớn nước
được hấp thu lại. Phân trở nên dẻo hơn, đi xuống đại tràng sigma và được chứa ở đó.
Khi khối lượng tăng lên khoảng 200-300g sẽ xuống trực tràng và kích thích niêm mạc
trực tràng gây nên phản xạ mót, rặn. Cơ nâng hậu môn co lại, cơ vòng hậu môn mở ra,
đại tràng co bóp mạnh, đồng thời cơ hoành và các cơ thành bụng cũng co bóp mạnh

105
làm tăng áp lực trong ổ bụng, tống phân ra ngoài. Khi cơ chế này bị rối loạn sẽ sinh ra
táo bón.
2.2. Nguyên nhân
* Táo bón chức năng: loại này hay gặp nhưng không có tổn thương ở đại trực
tràng và hậu môn
- Táo bón thời gian ngắn:
+ Thường do các bệnh toàn thân như sốt, nhiễm khuẩn, sau phẫu thuật.
+ Do dùng một số thuốc giảm nhu động ruột như thuốc phiện, thuốc an thần,
sắt…
+ Do phản xạ: táo bón đi kèm các bệnh sỏi thận, sỏi mật, phù…
+ Táo bón trong nhiễm độc chì
- Táo bón mạn tính
+ Do thói quen, do nghề nghiệp ngồi nhiều, ít hoạt động. Phần nhiều do thói
quen nhịn đi ngoài từ tuổi ấu thơ hoặc làm việc ở nơi không tiện điều kiện đi
ngoài. Lâu dần trực tràng mất dần phản xạ và áp lực không tống phân đều
đặn nữa.
+ Hội chứng ruột kích thích vào thời kỳ giảm nhu động ruột hoặc co thắt
nhiều.
+ Do chế độ ăn uống ít, khẩu phần quá ít.
+ Do suy nhược thần kinh làm giảm trương lực cơ, giảm nhu động ruột hoặc
do rối loạn tâm thần dẫn đến mất phản xạ đại tiện gây nên.
* Táo bón do tổn thương thực thể
- Do loét dạ dày, hành tá tràng, có tăng tiết acid
- Do cản trở đường đi của phân trong các trường hợp u đại trực tràng hoặc u
trong ổ bụng chèn ép đại trực tràng
- Do các bệnh bẩm sinh của đại tràng như đại tràng dài, đại tràng to giữ phân lại
đại tràng lâu và nhiều, bị tái hấp thu kiệt nước gây nên.
- Do viêm đại tràng mạn tính
- Các bệnh mạch máu vùng hậu môn trực tràng như trĩ. . .
- Các trường hợp dính tắc sau mổ
- Các u não, viêm não màng não, tăng áp lực nội sọ, tổn thương tuỷ sống cũng
gây táo bón
3. TRIỆU CHỨNG
3.1. Lâm sàng
- Hỏi kỹ về tiền sử thói quen nghề nghiệp, chế độ ăn uống sinh hoạt cùng các rối
loạn tiêu hóa của người bệnh, chủ yếu người bệnh đại tiện khó nhiều ngày mới

