
121
MO: không có di căn.
M1: di căn não, gan, xương
Kết hợp khối u, hạch, di căn xếp 4 giai đoạn:
1. Giai đoạn tiềm tàng: TX, NO, MO
2. Giai đoạn I: Tl. , NO, MO hoặc
Tl, Nl, MO hoặc
T2, NO, MO
3. Giai đoạn II: T2, Nl, MO
4. Giai đoạn III: T3, với N hoặc M bất kỳ, hoặc
N2 với T hoặc M bất kỳ, hoặc
M1 với T hoặc N bất kỳ
Chỉ định phẫu thuật ở giai đoạn I và II.
6. ĐIỀU TRỊ
Nhằm hai mục đích:
- Hạn chế khối u phát triển.
- Điều trị triệu chứng và biến chứng.
6.1. Hạn chế khối u phát triển
- Phẫu thuật: nếu ung thư ở giai đoạn I và II.
Nếu ung thư thứ phát (ung thư ở tạng khác di căn đến) thì không có chỉ định
phẫu thuật.
- Tia xạ: dùng Cobalt 60
- Hóa trị liệu:
Dùng thuốc huỷ hoại Nucleoprotein như: Dcgranol, Endoxan, Myleran.
Thuốc chống phân bào: Aminopterine, Methotrexate, 6 MP.
Kháng sinh chống ung thư: Actinomycin-D, Bleomycine.
- Miễn dịch trị liệu: Dùng BCG.
Có thể phối hợp các biện pháp điều trị.
6.2. Điều trị triệu chứng và biến chứng
- Chống nhiễm khuẩn: dùng kháng sinh phối hợp.
- Giảm ho: các dẫn xuất từ thuốc phiện.
- Chống đau: các thuốc giảm đau và an thần.
- Chống khó thở: chọc hút dịch màng phổi, thuốc giãn phế quản, corticoid…
7. PHÒNG BỆNH
- Phát hiện bệnh sớm, chú ý các đối tượng có nguy cơ ung thư phế quản cao như
nam giới trên 45 tuổi, nghiện thuốc lá lâu năm, làm việc ở môi trường ô

122
nhiễm… bằng cách:
Chụp phổi hàng loạt.
Tìm tế bào ung thư trong đờm.
- Tuyên truyền rộng rãi chống hút thuốc lá, bảo vệ môi trường sống.
LEUCÉMIE CẤP
1. ĐỊNH NGHĨA
Leucémine cấp là bệnh máu ác tính trong đó chủ yếu là tăng sinh bạch cầu non
loại chưa biệt hóa hoặc biệt hóa rất ít do đó trong tuỷ đồ và huyết đồ có khoảng trống
bạch cầu.
2. NGUYÊN NHÂN
Hiện nay chưa xác định được nguyên nhân, bệnh thường gặp ở trẻ em và người
trẻ tuổi không phân biệt nam và nữ. Tuy nhiên người ta cũng công nhận một số yếu tố
thuận lợi.
Những người thường xuyên tiếp xúc với tia X hoặc các tia phóng xạ như những
người làm việc ở khoa X quang hoặc công nhân mỏ rất hiếm, đặc biệt những nạn nhân
của các vụ tai nạn hoặc chiến tranh hạt nhân như vụ ném bom nguyên tử ở Nhật Bản
hoặc vụ rò rỉ của nhà máy điện nguyên tử Trec- nô-bưn. Những người thường xuyên
tiếp xúc với hóa chất độc hại như Toluen, et xăng.
Có tác giả còn cho rằng do virus thường, nhất là virus cúm trong cúm ác tính.
3. SINH LÝ BỆNH
Theo định nghĩa đây là bệnh sinh ra do tăng sinh bạch cầu non chưa biệt hóa
những tế bào này sẽ lấn át sự sản sinh những tế bào khác nên dẫn tới những hậu quả
sau:
- Lấn át dòng hồng cầu: hồng cầu được sản sinh ra ít, hậu quả là thiếu máu trên
lâm sàng và xét nghiệm.
- Lấn át dòng tiểu cầu: thiếu tiểu cầu nên lâm sàng có hội chứng xuất huyết với
tính chất xuất huyết giảm tiểu cầu - xét nghiệm dòng tiểu cầu cũng giảm.
- Bản thân dòng bạch cầu mặc dù tăng về số lượng nhưng thiếu những bạch cầu
trưởng thành nên khả năng chống nhiễm trùng bị suy giảm.
- Những tế bào non chưa biệt hóa rất dễ thâm nhập vào những tổ chức liên võng
như gan, lách, hạch làm cho những tổ chức này to ra.
Với cách giải thích này ta dễ dàng hiểu được tại sao thể điển hình biểu hiện
bằng những hội chứng lâm sàng tương ứng mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây.
4. TRIỆU CHỨNG
4.1. Thể điển hình

123
Mặc dù gọi là thể điển hình nhưng triệu chứng lâm sàng chỉ mang tính chất gợi
ý để ta nghĩ đến một bệnh về máu còn quyết định chẩn đoán phải dựa vào huyết đồ và
tuỷ đồ. Ở tuyến cơ sở và cộng đồng không thể chẩn đoán được cần chuyển bệnh nhân
đến cơ sở có thể xét nghiệm được để chẩn đoán.
- Triệu chứng đầu tiên bao giờ cũng có là sốt. Thường là sốt cao liên tục có thể
dao động sốt kéo dài suất quá trình tiến triển của bệnh các thuốc hạ sốt thông
thường không hạ được sất chỉ chờ khi điều trị được lui bệnh sốt mới được cải
thiện.
- Thiếu máu: cũng giống như thiếu máu khác là giảm số lượng hồng cầu và huyết
sắc tố nhưng thiếu máu ở đây có đặc điểm là thiếu máu rất nhanh và nhiều, có
khi chỉ trong vòng 1 tuần hoặc 10 ngày người bệnh đã thiếu máu rất nặng.
- Xuất huyết: Cùng với sốt và thiếu máu xuất huyết có thể xuất hiện rất sớm
mang đủ tính chất của xuất huyết giảm tiểu cầu nghĩa là xuất huyết tự nhiên,
nhiều nơi nếu xuất huyết dưới da đa hình thái và nhiều lứa tuổi, dấu hiệu dây
thắt (+) .
- Gan, lách, hạch to: thường là to ít chỉ là độ một nhưng thường là to nhanh chỉ
trong vài ngày đã sờ thấy lách, người bệnh có thể đau.
- Hội chứng loét: thường loét ở miệng, lưỡi, vùng họng hầu. Trên ổ loét có thể
phủ một lớp màng trắng bẩn, động vào dễ chảy máu, nếu không để ý rất dễ
nhầm với giả mạc trong bệnh bạch hầu.
- Triệu chứng cận lâm sàng: với những triệu chứng lâm sàng trên bắt buộc ta
phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên, tối thiểu phải là tuyến bệnh viện tỉnh có
thể làm tuỷ đồ và huyết đồ để chẩn đoán xác định.
Huyết đồ:
- Số lượng hồng cầu giảm nặng
- Số lượng tiểu cầu giảm độ tập trung kém
- Số lượng bạch cầu tăng nhưng chủ yếu là những bạch cầu đầu dòng chưa biệt
hóa hoặc biệt hóa ít. Trong đó bạch cầu trưởng thành rất ít xuất hiện khoảng
trống bạch cầu.
- Tuỷ đồ: tuỷ giàu tế bào nhưng chủ yếu là tế bào dòng bạch cầu mà là những
bạch cầu non đầu dòng xuất hiện khoảng trống bạch cầu. Trong khi dòng hồng
cầu và tiểu cầu bị lấn át nặng.
- Thời gian chảy máu kéo dài (>l0phút)
4.2. Thể không điển hình
Đây là thể khó chẩn đoán và thường là chẩn đoán được nhờ tình cờ hoặc là sau
khi suy xét và làm những xét nghiệm cần thiết. Có nhiều cách phân loại thể bệnh
nhưng thường phân chia theo.
* Lâm sàng

124
- Thể đột ngột: bệnh tiến triển rất nhanh người bệnh có thể chết trong vài giờ do
xuất huyết nhất là xuất huyết não và xuất huyết tiêu hóa.
- Thể chỉ có thiếu máu và sốt: người bệnh chỉ thấy sất kéo dài và thiếu máu dần
chỉ chẩn đoán được khi chúng ta nghĩ đến và làm huyết đồ và tuỷ đồ.
- Thể chỉ có sốt và xuất huyết: người bệnh sốt kéo dài kèm theo xuất huyết với
tính chất xuất huyết giảm tiểu cầu rất dễ nhầm với sất xuất huyết do virus
Dengue. Chẩn đoán phân biệt dựa vào dịch tễ, huyết thanh chẩn đoán và huyết
đồ, tuỷ đồ.
- Thể bắt đầu bằng những khối u ở xương: thường là ở xương sọ, xương hàm
trên, xương sườn khi sinh thiết những u này thường có màu xanh (màu của
Porphyrin) '
* Thể theo huyết học:
- Thể tân: thường gặp ở trẻ em và người trẻ điều trị thường dễ đạt tới lui bệnh và
thời gian lui bệnh dài.
Hình thái tế bào là những nguyên bào lympho có nhân to tròn lưới nhân mịn, ít
hạt nhân.
Nhuộm hóa học tế bào:
+ Peroxydase (-)
+ P.A.S (+)
- Thể tuỷ: thường gặp ở người lớn tuổi, điều trị khó lui bệnh và nếu lui bệnh
thường được ngắn ngày hơn thể trên. Hình thái tế bào là những nguyên bào tuỷ
nhân to ít nguyên sinh chất, lưới nhân thô và có nhiều hạt nhân.
Nhuộm hóa học tế bào: - Peroxydase (+) : - P.A.S (-)
5. CHẨN ĐOÁN
5.1. Chẩn đoán xác định
Đây là bệnh dễ chẩn đoán được nhờ vào huyết học. Những đơn vị chưa đủ điều
kiện nhất thiết phải gửi bệnh nhân đến tuyến có đủ điều kiện làm huyết đồ và tuỷ đồ.
5.2. Chẩn đoán phân biệt
Trên thực tế sau khi đã có kết quả huyết đồ và tuỷ đồ bệnh ít khi cần phân biệt
nhưng cần lưu ý với một thể bệnh của lao cấp có thể là lao phổi cấp hoặc lao toàn thể
bạch cầu dòng tân cũng có thể tăng làm ta nhầm với bệnh Leucose cấp dòng tân để
phân biệt nên làm huyết đồ và tuỷ đồ nhiều lần ở nhiều thời điểm khác nhau để phân
biệt.
6. TIẾN TRIỂN
Trước đây bệnh thường gây tử vong trong vài tuần hoặc vài tháng. Nay với sự
tiến bộ của điều trị đời sống người bệnh có thể kéo dài đến vài năm. Bệnh thường tiến
triển từng đợt xen kẽ với thời gian lui bệnh nhờ điều trị. Thông thường cuộc sống

125
người bệnh thường kết thúc bằng:
- Xuất huyết ồ ạt ở nhiều nơi nặng nhất là xuất huyết màng não - não.
- Nhiễm trùng: thường nhiễm trùng nhiều nơi và nặng nề nhất là nhiễm trùng
máu.
- Tắc mạch: thường ít xảy ra trừ khi bạch cầu tăng quá cao.
7. ĐIỀU TRỊ
7.1. Chống tăng sinh bạch cầu non
- Đa hóa học trị liệu thường áp dụng phương thức tấn công và tái tấn công.
- Tấn công thường áp dụng công thức V.A.M.P
- Vineriltin leng x 1-2 ống/1m2 da/ tuần
- Alexan loomg x 4-6 viên/ngày
- 6 M.P 50mg x 1-2 mg/kg/ngày
- Prednisolon 5mg x 3mg lkg/ngày
- Duy trì: 6M.P x l-2mg lkg/ngày
- Tái tấn công: dùng như giai đoạn tấn công thường 2 tháng một lần.
Lưu ý: giai đoạn tấn công dùng đến khi nào hết triệu chứng lâm sàng. Xét
nghiệm thấy tỷ lệ bạch cầu non ở máu ngoại vi <5%
7.2. Miễn dịch trị liệu
- Miễn dịch chủ động không đặc hiệu. Người ta dùng BCG để đánh thức cơ quan
miễn dịch. Thường dùng BCG 75mg hoà 2ml nước cất chung cho người bệnh
hàng tuần trong tháng đầu rồi 2 tháng 1 lần và 4 tháng một lần.
- Miễn dịch thụ động đặc hiệu: dùng huyết thanh của người bị Leucose cấp ở giai
đoạn lui bệnh truyền cho người bị Leucose cấp ở giai đoạn cấp, thực tế phương
pháp này rất khó thực hiện.
7.3. Co ban liệu pháp hoặc chiếu tia X vào tuần hoàn ngoài cơ thể liều từ 3.500 -
4000 rad chia đều trong vòng 2 tuần
7.4. Điều trị triệu chứng
- Xuất huyết cần dùng máu tươi truyền tuỳ mức độ xuất huyết và thiếu máu có
thể 1 tuần một đơn vị máu hoặc hơn.
- Dùng kháng sinh để phòng nhiễm trùng thường dùng kháng sinh có phổ rộng
và ít độc với gan và thận.
7.5. Phòng bệnh
- Cần khám bệnh có định kỳ cho những công nhân hoặc những người có tiếp xúc
với những yếu tố thuận lợi kể trên.
- Động viên bệnh nhân và gia đình hợp tác điều trị đúng và đủ phác đồ điều trị.

