
HỘI CHỨNG MÀNG NÃO
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1.Trình bày được hội chứng kích thích màng não.
2.Nêu được sự thay đổi dịch não tuỷ theo nguyên nhân.
I.ÐẠI CƯƠNG
Hội chứng màng não do nhiều nguyên nhân gây nên, dù nguyên nhân gì trên lâm
sàng đều
có một số triệu chứng gộp thành ba nhóm đó là hội chứng kích thích màng não,
hội chứng về
dịch não tủy và những dấu chứng tổn thương não. Ðể quyết định chẩn đoán là dựa
vào sự
thay đổi về dịch não tủy, còn nếu có hội chứng kích thích màng não nhưng dịch
não tủy bình
thường thì không phải là hội chứng màng não, đó là phản ứng màng não.
II. TRIỆU CHỨNG HỌC
1. Hội chứng kích màng não: gồm triệu chứng cơ năng và thực thể.
1.1. Triệu chứng cơ năng: Ðó là tam chứng màng não gồm ba dấu chứng sau:

- Ðau đầu: Thường gặp, đau dữ dội, lan tỏa hoặc khu trú, liên tục nhưng cũng có
khi có cơn,
tăng lên khi có tiếng động, ánh sáng hay khi cử động đột ngột, nên bệnh nhân
thường nằm
yên quay đầu vào chổ tối. Dùng thuốc giảm đau ít đở, nhưng rút bớt dịch não tủy
thì đỡ
nhanh.
- Nôn vọt: Nôn thành vòi nhất là khi thay đổi tư thế, nôn xong đở đau đầu.
- Táo bón: không kèm chướng bụng, dùng thuốc nhuận tràng không đở.
* lưu ý: người già có khi không có đau đầu và nôn nhưng thay vào đó là bất an,
mất ngủ rồi
đi dần vào hôn mê và ít hội chứng kích thích chung; trẻ em có khi lại tiêu chảy.
1.2. Triệu chứng thực thể ( triệu chứng kích thích chung )
-Co cứng cơ:
+Tư thế cò súng: Ðầu ngữa ra sau, chân co vào bụng quay vào chổ tối; nếu có là
điển hình.
+Dấu cứng gáy: Bệnh nhân nằm ngữa, đầu không gối. Thầy thuốc để tay dưới đầu
nâng nhẹ

lên, bình thường cằm chạm đầu ngực. Nếu có dấu gáy cứng là gáy duỗi cứng, cằm
không
gập vào ngực. Có khi nâng cả ngực lên theo. Hoặc đặt hai ngón tay dưới cổ và
nhấc lên, bình
thường đầu ngữa ra sau; nếu dương tính là đầu không ưỡn ra sau, tuy nhiên phải
loại trừ
bệnh nhân gồng nên phải làm đi làm lại nhiều lần. Phân biệt với đau cột sống cổ,
chấn
thương, thấp đốt sống cổ.
Hình 1.16: Cách khám dấu gáy cứng
Hội chứng màng não
+Dấu Kernig: Nằm ngữa đầu không gối, chân duỗi thẳng, thầy thuốc luồn tay
dưới gót chân
và từ từ nâng chân lên. Bình thường nâng lên đến trên 700
hai chân vẫn duỗi thẳng. Nếu khi
nâng lên dưới 700

mà hai chân co lại là Kernig (+).
Hình 1.17: Dấu Kernig (+)
+Dấu Brudzinski: trên và dưới
*Brudzinski trên: Bệnh nhân nằm ngữa hai chân duỗi thẳng, năng đầu bệnh nhân
lên bình
thường hai chân vẫn duỗi thẳng. Nếu hai chân co lại khi nâng đầu lên là dương
tính.
Hình 1.18: Cách khám dấu Brudzinski trên (Brudzinski trên dương tính)
* Brudzinski dưới: Nằm ngữa đầu không gối, gấp chân vào bụng (từng bên một),
bình
thường chân bên kia vẫn duỗi thẳng. Nếu chân bên đối diện co lại là dương tính.
Hình 1.19: Cách khám dấu Brudzinski dưới (Brudzinski dưới +)
- Tăng cảm giác đau toàn thân nên có khi sờ vào, bóp nhẹ đã kêu đau.
- Sợ ánh sáng là do tăng cảm giác đau khi nhìn ra ánh sáng.
- Tăng phản xạ gân xương.

Hội chứng màng não
- Rối loạn giao cảm:
+Mặt khi đỏ khi tái.
+Vạch màng não (+) khi vạch ở da bụng vạch đỏ thẩm hơn, lan rộng nơi vạch và
giữ
lâu, thường trên 1 - 3 phút.
2. Những dấu chứng tổn thương não: Không bắt buộc, có thể có một hay nhiều
các
dấu chứng sau:
2.1. Rối loạn tinh thần: Lơ mơ đến hôn mê, hoặc mê sảng.
2.2.Rối loạn cơ tròn:Bí hay đại tiểu tiện không tự chủ.
2.3.Rối loạn vận động:
- Liệt hoặc tổn thương các dây sọ não.
- Ðộng kinh nhất là đối với viêm màng não ở trẻ em.
3. Hội chứng về dịch não tủy: Hội chứng này rất quan trọng để chẩn đoán xác
định
và chẩn đoán nguyên nhân.

