nh ging đoạn thơ sau trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan
Viên:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây ph
Nơi nào qua, lòng li chẳng yêu thương?
Khi ta ở,chỉ là nơi đất o
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!
Anh bng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lhoá qhương.
A - gợi ý chung
Để bình ging tốt hai khtnày, cần phải nắm được vị trí của chúng
trong i thơ. Đây những lời khái quát triết sau một đoạn dài tác gi
nhắc đến kniệm rất cthể vnhững anh”, những emnhững mế”. Tuy
có tính chất ki quát cao nhưng đoạn tkhông i vào k khan. Cn phải
chra được chiều sâu m hồn n chứa trong những u tcô đọng như
châm ngôn y. Bên cnh đó cũng cần dừng lại phân tích ch sdụng hình
ảnh rất ng tạo của nhà thơ đã làm cho bản chất của vấn đề được nổi rõ.
Phi nhận thức được rằng những lời khái quát y đã đánh dấu một bước
chuyển , bước trưởng thành trong suy nghĩ, cảm xúc của nhà thơ về cuộc
đời, về nhân dân và cách mng.
B – gợi ý cụ thể
I – Mbài
- Tiếng hát con tày một i ttiêu biểu của tập ánh sáng và psa
đã thhin rất tài hoa nim hăm hở, mê say của nhà ttrên hành trình v
với nhân dân.
- Điểm lắng đng nhất của i t llà hai khtnói lên một cách
khái quát sgắn máu thịt của nhà tđối với những miền đất đã từng
qua, từng sống.
II – Thân bài
- Đoạn thơ phát biu những khái quát triết về mối quan hệ ân nghĩa
giữa chúng ta với mọi vùng đất ớc.
- - Hình thức hỏi để khẳng định trong hai u ttác dụng khắc sâu
thêm ý thức vào lòng người đọc, nhấn mạnh itính chất thể hin của ni
nhớ. ý thức được trách nhiệm của nhà thơ trước cuộc đời được biểu hiện rõ
nét ở đây.
- - Hình thức diễn đạt vtrùng lặp hai câu mang tính nghthuật.
Nó đập mạnh vào trí giác của độc giả, buộc ta phải chú ý để nhận ra một vấn
đề có ý nghĩa quy luật đã được nêu ra đây.
- - Trong khtthứ hai, chữ tình yêu” đã được hình tượng hoá bng
những hình đẹp, có khả năng biểu đạt cao.
- - Ch“tình yêu” thhai không hoàn toàn đồng nghĩa vi chữ “tình
yêu th nhất. dùng để diễn tả với nghĩa rộng ln hơn đ i lên ý
nguyn tha thiết của nhà t muốn ôm trọn cả qhương bằng thứ tình u
nước lớn lao, kết quả của một quá trình hi nhập với cuộc sống nhân dân.
III – Kết luận
- Đoạn thơ có một vẻ đẹp vừa trí tuệ, vừa tình cm, có khả năng đi u
vào tâm hồn người đọc.
C – Bài làm
Ln đầu tiên khi tiếp xúc với Tiếng t con tàu của Chế Lan Viên, thật
si không khỏi bỡ ngỡ và xa lạ, vì thấy cái tựa đề của sao như rộng
ln và xa vời q! i v đất nước, lẽ Chế Lan Viên phải đề cập đến
những i gì cao siêulắm? Thế nhưng, cái cảm giác y dần tan biến đi khi
tôi đọc và chiểu i thơ. Cũng vi mục đích là phục vụ chính trị, nhưng
lòng thơ kng khô khan, xa lạ mà dường như vẫn còn đâu đây sức nóng hổi
của một ti tim đầy nhiệt huyết. Chưa tin ư? Mời bạn đọc hãy thxem, chỉ
một đoạn tthôi, ta sẽ thấy ngay được đó chính là những dòng thơ viết ra
bằng mạch cảm xúc thật đang dân lên tn đầu ngọn bút:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây ph
Nơi nào qua, lòng li chẳng yêu thương?
Khi ta ở,chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!
Anh bng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,
Như xuân đến chim rừng lông trbiếc
Tình yêu làm đất lhoá qơng.
đây cảm xúc chính của đoạn tcũng nói về nỗi nhớ như không ít
những i thơ khác. Đó cũng là quy luật của thường tình. Bởi vì đất nước
rộng lớn vô cùng mà:
Làm trai cho đáng làm trai
Xuống Đông, Đông tĩnh, n Đoài, Đoài yên.
Bng những tâm hồn phóng đạt và thiết tha yêu qhương những người
trai ấy đã in du trên khắp mọi nẻo đường của tổ quốc và non ng hùng vĩ,
không biết những bàn chân y đã tng đi qua đến những miền quê nào,
nhưng đâu, khung cảnh hin ra trong đoạn t với cả một hệ thống các
hình nh trong các đoạn ttrước, ta có thể biết được i đây, i cthể mà
tác giđang gửi nỗi nhớ, chính miền y Bắc. Nhưng nếu hiểu một ch
rộng n, rằng đây chính là ni nhớ vmột nét đặc trưng của miền quê T
Quốc thì có lchẳng sao, vì ngay li tự đề của i thơ, chính Chế Lan
Viên đã viêt:
y Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu?