TP CHÍ KHOA HC KINH T - S 12(04) 2025
1
BI CNH QUC T VÀ TRONG NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT
TRIN KINH T S: CƠ HI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VI VIT NAM
THE INTERNATIONAL AND DOMESTIC CONTEXT AFFECTING THE
DEVELOPMENT OF THE DIGITAL ECONOMY: OPPORTUNITIES AND CHALLENGES
FOR VIETNAM
Ngày nhn bài: 07/10/2024
Ngày nhn bn sa: 28/01/2025
Ngày chp nhận đăng: 13/02/2025
Nguyễn Đông Phong, Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phong Nguyên, La Ngc Giàu,
Phm Quc Thy
TÓM TT
Nghiên cu phân tích bi cnh quc tế và trong nước tác động đến s phát trin kinh tế s ti Vit
Nam, nhn mnh hội thách thc trong thi k chuyển đổi s. Trên thế gii, các công ngh
hiện đại như trí tuệ nhân to (AI), Internet vn vt (IoT), d liu lớn (Big Data) đã định hình các nn
kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quc và châu Âu, thúc đẩy đổi mới và đầu tư vào hạ tng s. Chính ph
Việt Nam đã đề ra chiến lược chuyển đổi s quc gia nhằm nâng cao năng suất lao động và tăng
trưởng kinh tế. Tác động ca cách mng công nghip 4.0 tạo hội để Vit Nam hc hi kinh
nghim quc tế và hợp tác, song cũng đối din thách thc v chính sách, ngun nhân lực và cơ sở
h tng. Nghiên cứu đã tng hợp các định nghĩa xác đnh ba thành phn chính ca kinh tế s,
bao gm: (1) kinh tế s ICT, (2) kinh tế s da trên nn tng Internet, và (3) kinh tế s ngành/lĩnh
vực. Đồng thời đề xut các gii pháp v hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường đào tạo nhân lc, và
phát trin h tng k thut s để thúc đẩy phát trin nn kinh tế trong bi cnh toàn cu hóa.
T khóa: Kinh tế số ICT/IT; Kinh tế số nền tảng/internet; Kinh tế số ngành/lĩnh vực; Dliệu lớn; Trí
tuệ nhân tạo; Blockchain.
ABSTRACT
The research analyzes the international and domestic contexts influencing the development of
Vietnam's digital economy, highlighting opportunities and challenges during the digital
transformation era. Globally, advanced technologies such as Artificial Intelligence (AI), the Internet
of Things (IoT), and Big Data have shaped major economies like the United States, China, and
Europe, fostering innovation and investment in digital infrastructure. The Vietnamese government
has introduced a national digital transformation strategy to enhance labor productivity and drive
economic growth. The impacts of the Fourth Industrial Revolution present opportunities for Vietnam
to learn from international experiences and foster collaboration while also posing challenges in terms
of policy, human resources, and infrastructure. The research synthesizes definitions and identifies
three main components of the digital economy: (1) ICT-based digital economy, (2) Internet platform-
based digital economy, and (3) sectoral digital economy. It also proposes solutions to refine the legal
framework, strengthen human resource training, and develop digital infrastructure to support
economic growth in the context of globalization.
Keywords: ICT/IT digital economy; Platform/internet digital economy; Sector/field digital economy;
Big Data; Artificial Intelligence; Blockchain.
1. Định nghĩa về kinh tế số
Kinh tế số là một khái niệm bao gồm tất cả
các hoạt động kinh tế dựa trên công nghệ số và
Internet. bao gồm các giao dịch điện tử, các
nền tảng số, và việc sử dụng dữ liệu lớn, trí tuệ
nhân tạo, blockchain, các công nghệ khác
để tạo ra giá trị kinh tế mới. Theo Tổ chức Hợp
tác Phát triển Kinh tế (OECD, 2019), kinh
tế số “một nền kinh tế các hoạt động kinh
tế chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt
các giao dịch điện tử tiến hành thông qua
TRƯỜNG ĐẠI HC KINH T - ĐẠI HC ĐÀ NNG
2
Internet”. Kinh tế số không chỉ giới hạn trong
các lĩnh vực công nghệ mà còn mở rộng ra tất
cả các ngành kinh tế khác, bao gồm công
nghiệp, nông nghiệp, và dịch vụ. McKinsey &
Company định nghĩa kinh tế số là “tập hợp của
tất cả các hoạt động kinh tế phụ thuộc vào công
nghệ số để tạo ra phân phối giá trị. Điều này
bao gồm các dịch vụ trực tuyến, các nền tảng
thương mại điện tử, các hình kinh doanh
mới dựa trên dữ liệu trí tuệ nhân tạo
(McKinsey Global Institute, 2017). Ngân hàng
Thế giới cũng đưa ra một định nghĩa về kinh tế
số, nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu
công nghệ số trong việc thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế cải thiện chất lượng cuộc sống. Theo
Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2021),
“kinh tế số một hệ thống kinh tế trong đó các
công nghệ sdữ liệu đóng vai trò cốt i
trong việc tạo ra, phân phối tiêu dùng các
sản phẩm và dịch vụ”.
1
Phần lớn các quốc gia tổ chức quốc tế
đều thống nhất “Kinh tế số nền kinh tế với
các hoạt động kinh tế về bằng công nghệ số,
nền tảng số, đặc biệt các giao dịch điện tử
tiến hành trên internet”.
Theo Bộ Thông tin Truyền thông (2020),
nền kinh tế số được định nghĩa nền kinh tế
dựa trên công nghệ số nền tảng số, với các
hoạt động kinh tế được thực hiện bởi và thông
qua công nghệ số nền tảng số, đặc biệt
các giao dịch điện tử được tiến hành trên
Internet. Nền kinh tế số được chia thành 3 cấu
phần: Kinh tế số ICT/viễn thông (Kinh tế số
ICT); Kinh tế số Internet/nền tảng (Kinh tế số
Internet); Kinh tế số ngành/lĩnh vực (Kinh
tế số ngành).
(i) Kinh tế số ICT bao gồm: sản xuất phần
cứng, sản xuất phần mềm, sản xuất nội dung
Nguyễn Đông Phong, Võ Xuân Vinh, Nguyễn Phong Nguyên, La Ngc Giàu, Phm Quc Thy,
Đại hc Kinh tế Thành ph H Chí Minh
Email: ibr.admin1@ueh.edu.vn
số, dịch vụ công nghệ thông tin, dịch vụ viễn
thông, và dịch vụ truy cập Internet.
(ii) Kinh tế số dựa trên Internet và nền tảng
bao gồm: kinh tế dữ liệu số, kinh tế nền tảng
số, dịch vụ số, kinh doanh số, kinh tế chia sẻ,
kinh tế thuật toán, kinh tế Internet, kinh tế
Gig.
(iii) Kinh tế số theo ngành lĩnh vực bao
gồm: quản trị điện tử, thương mại điện tử, ngân
hàng điện tử, sản xuất thông minh, nông
nghiệp chính xác, và du lịch thông minh.
Sự phát triển của kinh tế số kết quả của
quá trình tích hợp nhiều công nghtiên tiến, bao
gồm dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối
(blockchain), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn
vật (IoT), mạng không dây 5G. Một lượng
lớn công việc được xử đưa ra các quyết
định thông minh hơn dựa trên công nghệ. Nh
vào những tiến bộ này, đã mở ra một cấp độ mới
cho sự phát triển của kinh tế số.
Từ các phân tích trên, khung phân tích kinh
tế số được thể hiện như hình 1, bao gồm (i)
kinh tế số ICT/IT; (ii) kinh tế số nền
tảng/internet; (iii) kinh tế số ngành/lĩnh vực.
Cụ thể như sau:
- Kinh tế số ICT/IT (kinh tế số ICT) lĩnh
vực công nghiệp điện tử - viễn thông - công
nghệ thông tin hay còn gọi ICT, gồm các
hoạt động như: sản xuất phần cứng, sản xuất
phần mềm, sản xuất nội dung số, dịch vụ công
nghệ thông tin, dịch vụ viễn thông, dịch vụ truy
cập Internet.
- Kinh tế số Internet/nền tảng (kinh tế số
internet) gồm các hoạt động kinh doanh dựa
tên mạng internet như: kinh tế dữ liệu số, kinh
tế nền tảng số, dịch vụ số, kinh tế chia sẻ, kinh
tế thuật toán, kinh tế Gig.
TP CHÍ KHOA HC KINH T - S 12(04) 2025
3
- Kinh tế số ngành/lĩnh vực (kinh tế số
ngành) hoạt động kinh tế dựa trên việc áp
dụng các công nghệ nền tảng số vào các
ngành/lĩnh vực truyền thống nhằm tăng năng
suất lao động, tạo giá trị kinh tế mới, tăng
thêm, gồm các hoạt động như thương mại điện
tử, ngân hàng điện tử, sản xuất thông minh,
nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh.
Hình 1. Khung phân tích kinh tế số (Bukht và Heeks, 2017)
2. Bi cnh quc tế c động đến phát trin
kinh tế s đi vi Vit Nam
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra
những thay đổi sâu sắc trong mọi khía cạnh của
kinh tế và xã hội toàn cầu. Internet các công
nghệ kỹ thuật số mở ra kỷ nguyên mới, nơi giới
trẻ dễ dàng tham gia thị trường kinh tế số, giảm
thiểu rào cản địa văn hóa, đồng thời tạo
nhiều hội chia sẻ thông tin kiến thức.
Tiến bộ của AI, Blockchain, IoT khuyến
khích hợp tác quốc tế, xây dựng nền kinh tế
toàn cầu liên kết chặt chẽ.
Đại dịch COVID-19 thúc đẩy chuyển đổi số,
buộc doanh nghiệp nhân thích nghi với thị
trường lao động hiện đại. Cải thiện hệ thống
giáo dục đào tạo trở nên cần thiết để chun
bị lực lượng lao động tương lai. Theo Sheehy
(2016), kinh tế số toàn cầu đạt 3.000 tỷ USD,
chiếm 3,8% giá trị nền kinh tế toàn cầu. Tại
ASEAN, giá trị này ước nh khoảng 150 tỷ
USD, tương đương 6% GDP khu vực. Năm
2020, kinh tế số ASEAN tăng trưởng 17% mỗi
năm, vượt tốc độ tăng trưởng kinh tế chung 9%.
Công nghệ thông tin thế h mới làm cho
doanh nghiệp số kinh tế số trở thành lực
lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bền
vững. Nhiều nghiên cứu về kinh tế số, phân
tích dữ liệu từ 1984-2019 đề xuất các chủ
đề: hệ thống thông tin, số hóa, thương mại điện
tử, giáo dục, kỹ thuật, tiếp thị, cách mạng công
nghiệp, công nghệ thông tin (Purnomo
cộng sự, 2022). Các nước G7 đạt tăng trưởng
kinh tế cao giai đoạn 1990-2017 nhờ cải thiện
đổi mới công nghệ (Yuan cộng sự, 2021).
Số hóa kinh tế dưới dạng ICT thay đổi động
lực kinh doanh, tăng năng suất phát triển
công nghiệp.
Tại Hoa Kỳ, kinh tế số tăng trưởng trung
bình 5,6% mỗi năm từ 2006-2016 so với mức
tăng trưởng 1,5% của nền kinh tế nói chung.
Kinh tế số chiếm 6,5% GDP, tương đương
1.209,2 tỷ USD và cung cấp 5,9 triệu việc làm
với mức lương trung bình cao hơn so với các
ngành khác.
Trung Quốc cũng ghi nhận sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế số, bất chấp thách
thức từ tranh chấp thương mại với Mỹ
COVID-19 (Li Zhang, 2022). Kinh tế số
giúp Trung Quốc duy trì tốc độ tăng trưởng
thông qua thúc đẩy kỹ thuật số, AI, 5G, điện
toán đám mây dữ liệu lớn (Ma cộng sự,
2022). Kinh tế số tăng năng suất nhân tố tổng
hợp (TFP) và đóng vai trò động lực đổi mới tại
Trung Quốc, sự khác biệt khu vực (Pan
và cộng sự, 2022).
TRƯỜNG ĐẠI HC KINH T - ĐẠI HC ĐÀ NNG
4
Tại Đông Nam Á, dụ như Indonesia, kinh
tế số góp phần quan trọng vào phát triển bền
vững. Chính phủ Indonesia đặt mục tiêu trở
thành nền kinh tế số lớn nhất Đông Nam Á vào
năm 2020, với mục tiêu giao dịch thương mại
điện tử đạt 130 tỷ USD tạo ra 1.000 doanh
nghiệp công nghệ vào năm 2020 (Aniqoh,
2020). Thị trường kỹ thuật số của Indonesia
tăng 4% vào năm 2017 và 10% vào năm 2018.
Báo cáo của Oxford Economics (2018) cho
thấy ctăng 1% tỷ lthâm nhập di động sẽ
đóng góp thêm 640 triệu USD vào GDP
Indonesia mở ra 10.700 việc làm mới vào
năm 2020. Ngành thương mại điện tử được d
báo tăng trưởng nhanh chóng, đạt 82 tỷ USD
vào năm 2025 (Google và cộng sự, 2021).
3. Xu hướng phát triển kinh tế strên thế giới
Kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ trên
toàn cầu, với nhiều xu hướng chính đang hình
thành định hình tương lai của nền kinh tế.
Những xu hướng này bao gồm sự phát triển
của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big
Data), Internet vạn vật (IoT), blockchain,
mạng không dây 5G. Các công nghệ này đang
tạo ra những thay đổi lớn trong cách thức các
doanh nghiệp vận hành, tạo ra các hình
kinh doanh mới mở rộng khả năng kết nối
toàn cầu.
Trí tuệ nhân tạo đang trở thành một phần
không thể thiếu trong nhiều ngành công
nghiệp. AI được ứng dụng rộng rãi trong các
lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, tài chính, sản
xuất và dịch vụ khách hàng, mang lại hiệu quả
cao hơn khả năng ra quyết định tốt hơn.
Theo một báo cáo của McKinsey & Company
(2017), AI tiềm năng đóng góp tm
khoảng 13 nghìn tỷ USD vào nền kinh tế toàn
cầu vào năm 2030. Dữ liệu lớn đang thay đổi
cách thức các doanh nghiệp thu thập, phân tích
sử dụng dữ liệu để đưa ra c quyết định
kinh doanh. Sự phát triển của dữ liệu lớn giúp
các doanh nghiệp hiểu hơn về khách hàng,
tối ưu hóa quy trình sản xuất và tạo ra các sản
phẩm và dịch vụ tùy chỉnh. Theo một báo cáo
của IDC, thị trường dữ liệu lớn phân tích dữ
liệu toàn cầu dự kiến sẽ đạt 274,3 tỷ USD vào
năm 2022 (Framingham, 2019). Internet vạn
vật đang kết nối hàng tỷ thiết bị trên toàn thế
giới, tạo ra một mạng lưới thông minh
tương tác. IoT được ứng dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực như sản xuất thông minh, quản
năng lượng, chăm sóc sức khỏe. Theo
một báo cáo của Gartner, số lượng thiết bị IoT
được kết nối sẽ đạt 25 t vào năm 2025
(Gartner, 2014). Blockchain, công nghệ đứng
sau tiền điện tnhư Bitcoin, đang dần được
chấp nhận trong nhiều ngành công nghiệp nhờ
vào khả năng cung cấp sự minh bạch an
ninh cao. Blockchain đang được sử dụng trong
các lĩnh vực như tài chính, chuỗi cung ứng, và
quản lý tài sản. Theo một báo cáo của PwC,
84% các tổ chức đang tham gia vào blockchain
theo một cách nào đó (PwC, 2018). Mạng
không dây 5G hứa hẹn sẽ cung cấp tốc độ kết
nối nhanh hơn và độ trễ thấp hơn, mở ra nhiều
hội mới cho các ứng dụng công nghệ cao
như xe tự lái, thực tế ảo (VR), y tế từ xa.
Theo một báo cáo của Ericsson, đến năm 2026,
mạng 5G sẽ đóng góp khoảng 1,5 nghìn tỷ
USD vào GDP toàn cầu (Ericsson, 2021).
Những xu hướng phát triển kinh tế số đang
định hình lại cách thức c doanh nghiệp
nền kinh tế toàn cầu hoạt động. Sự phát triển
của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT,
blockchain mạng không dây 5G không chỉ
tạo ra các cơ hội kinh doanh mới mà còn thúc
đẩy sphát triển bền vững tăng trưởng kinh
tế trong tương lai.
4. Định hướng phát triển kinh tế số của các
nước phát triển
Các nước phát triển đang chú trọng đầu
vào hạ tầng công nghệ số nhằm thúc đẩy sự
tăng trưởng của kinh tế số. Hạ tầng này bao
gồm mạng lưới viễn thông hiện đại, hệ thống
dữ liệu lớn và các trung tâm dữ liệu mạnh mẽ.
dụ, Liên minh châu Âu đã triển khai chương
TP CHÍ KHOA HC KINH T - S 12(04) 2025
5
trình Digital Europe nhằm đầu vào các
công nghệ chủ chốt như AI, blockchain điện
toán đám mây, với mục tiêu nâng cao năng lực
số hóa và sự cạnh tranh của các doanh nghiệp
châu Âu (European Commission, 2020).
Bên cạnh đó, các nước phát triển còn đẩy
mạnh việc hỗ trợ nghiên cứu phát triển
(R&D) trong lĩnh vực công nghệ. Chính phủ
Mỹ, thông qua các chương trình của Quỹ Khoa
học Quốc gia (NSF) quan Dán Nghiên
cứu Tiên tiến Quốc phòng (DARPA), đã đầu
hàng tỷ đô la vào nghiên cứu AI các công
nghệ tiên tiến khác. Điều này không chỉ thúc
đẩy sự đổi mới còn tạo ra các hội kinh
tế mới, nâng cao năng suất lao động khả
năng cạnh tranh toàn cầu (National Science
Board, 2020).
Khuyến khích đổi mới trong các nh vực
công nghệ cao cũng là một yếu tố then chốt
trong kinh nghiệm phát triển kinh tế số của các
nước phát triển. Nhật Bản đã triển khai
Society 5.0”, một sáng kiến nhằm tích hợp
công nghệ số vào mọi lĩnh vực của hội, từ
sản xuất đến y tế và giao thông. Sáng kiến này
nhằm tạo ra một hội thông minh, nơi
công nghệ số giúp nâng cao chất lượng cuộc
sống và tạo ra các giải pháp bền vững cho các
vấn đề xã hội (Government of Japan, 2020).
Đại dịch COVID-19 đã làm tăng tốc quá
trình chuyển đổi số nhiều nước phát triển.
Theo một báo cáo của McKinsey & Company,
các doanh nghiệp tại Mỹ châu Âu đã chuyển
đổi số nhanh hơn dự kiến, khi sự ưu tiên đầu
vào các nền tảng thương mại điện tử, dịch vụ
kỹ thuật số làm việc txa. Quá trình này
không chỉ giúp các doanh nghiệp tồn tại những
hội mới cho sự phát triển kinh tế (McKinsey
& Company, 2020).
5. Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của
một số quốc gia trên thế giới
Dựa trên những sở kinh nghiệm v
phát triển kinh tế số từ các quốc gia trên thế giới,
Việt Nam đưa ra những chiến lược đi tắt đón
đầu xu thế. Các quốc gia trên thế giới theo đuổi
các cách tiếp cận khác nhau về phát triển kinh
tế số. Hai quốc gia được lựa chọn phân tích kinh
nghiệm về kinh tế số Hoa Kỳ Trung Quốc.
Trong đó, Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong
phát triển kỹ thuật số của thế giới, Trung Quốc
đại diện cho các nước Châu Á với cách tiếp cận
trái ngược với Hoa Kỳ, trong khi Pháp một
quốc gia điển hình phát triển kinh tế số liên
minh Châu Âu. Việc tìm hiểu thực tiễn triển
khai phát triển kinh tế số, từ định ớng chiến
lược, giải pháp chính sách khắc phục những
điểm yếu của quá trình triển khai của các nước
đi trước để đưa ra bài học cho kiện toàn định
hướng giải pháp chính sách.
5.1. Hoa Kỳ - Khuyến khích thị trường tự do
và đổi mới sáng tạo
Hoa Kỳ được xem như người “anh cả” của
thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin
kỹ thuật số toàn cầu. Mạng Internet không bị
chia cắt luồng thông tin tự do xuyên biên giới
những phần không thể thiếu trong triết kinh
tế chính trị của Hoa Kỳ (Clinton, 2010). Hoa
Kỳ lựa chọn cách tiếp cận thị trường tự do
hướng tới nền kinh tế sốa, gồm cả các chính
sách tự do tương tự cho c nguồn dữ liệu xuyên
quốc gia (United States Department of Defense,
2016). Trong đó, Hoa Kỳ đã ủng hộ cách tiếp
cận định ớng thị trường nhân nhằm mục
đích kích thích sự đổi mới thông qua các công
ty kỹ thuật số, bằng các hiệp định thương mại,
nhằm đảm bảo c công ty của mình tiếp cận th
trường nước ngoài một cách thoải i bằng
cách ưu tiên các luồng dữ liệu miễn phí và cm
các hành vi như yêu cầu bản địa hóa dữ liệu và
máy chủ. Theo các báo o của Dịch vụ Nghiên
cứu Quốc hội Hoa Kỳ, nhìn chung, Hoa Kỳ áp
dụng phương pháp tiếp cận theo định hướng thị
trường, hỗ trợ mạng internet mở, ơng tác, an
toàn đáng tin cậy, tạo điều kiện cho luồng
thông tin trực tuyến t do (Congressional
Research Service, 2021). ch tiếp cận này cho
phép dữ liệu chảy ngược tr lại Hoa Kkhi