CÁC THẾ TAY CỦA QUAN ÂM VÀ
NHỮNG SỰ CHUYỂN BIẾN TƯỢNG
HÌNH
Một trong những vấn đề khó khăn nhất khi phân tích luận giải các
tượng Quan Âm Thiên Th Thiên Nhãn ở Việt Nam là việc xác định
các thế tay. ở các tượng điển hình các thế tay này vừa có các nguyên
tắc chung nhưng đng thời lại có những sự “ứng xử” riêng mỗi pho.
Có thể chia ra làm hai loi tượng, một loại tay có cầm bảo pháp, và m
t
loại tay chỉ thực hiện các ấn quyết. Loại đầu được xem là tượng Quan
Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn thuộc về Mật Tông, còn loại sau là Quan
Âm phái Thiền Tông. Sở dĩ có sự phân biệt này là do phương pháp tu
luyện ở mỗi môn phái của đạo Phật là rt khác nhau. Thiền Tông coi
trọng việc luyện tâm, tĩnh tâm, còn M
ật Tông lại coi trọng việc nhờ đến
một tha lực bên ngoài trợ giúp, do vậy phải dùng đến các ấn pháp. Tuy
nhiên ở các tượng Việt Nam thì sphân biệt này hay môn phái kia là
rất khiên cưỡng. Việc cầm bảo pháp theo đúng qui cách Mật Tông thì
trong các tượng Việt Nam cũng không đầy đủ. Tượng có cầm nhiều
bảo pháp nhất có lẽ là tượng chùa Hội Hạ. Nhưng các bảo pháp này ch
giống một phần với kinh sách qui định.
Theo kinh Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp thì
nghìn tay ở tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn liên quan đến sự
biểu hiện dùng bốn mươi hai tay, mỗi tay để tế độ hai mươi lăm loài
cho nên không hẳn phải đủ 1.000, chỉ dùng bốn mươi tay là có th
ể tế độ
được hết. Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni chép, những vật mà ngài nắm
trong bn mươi tay, hoặc những cái tướng tay được lộ rõ ra đều nằm
trong năm bộ và năm pháp.
Ta có thể kể ra các bảo pháp mà Quan Âm chùa Hội Hạ cầm là: tràng
hạt, mặt trời, mặt trăng, mây báu, bình bát bảo, bàng bài, vòng dây,
ngọc như ý, vòng vàng, đầu của cái phất trần, ngọc, hòm kinh, ốc,
chuông, cung điện, bình nước, gương báu, vòng luân xa. Như vậy chỉ
có 17/38 tay nắm bảo pháp, còn lại nhng tay kia là kết ấn. Trong số
các bảo pháp kể ra một cách đại lược, qua phỏng đoán hình dng, ta
nhận thấy có rất nhiều những vật xem như giống nhau hoàn toàn. T
ừ đó
ta vừa có thể qui vào là vật này, vừa có thể qui vào là vật kia. Ví dụ
dạng hình tròn, dẹt, có thể là hình bánh xe, cũng có thể là hình gương,
hay mặt trời, mặt trăng. Điều khá đặc biệt là, tuy đây là tượng lớn có
cầm nhiều bảo pháp nhất, nhưng hình tượng bảo pháp quan trọng nhất
của Phật Quan Âm là tay nâng Hóa Phật lại không có. Phải chăng bảo
vật này đã bị mất (?). Trong khi tượng khác như chùa Đa Tốn, đa số
các tay đều không cầm bảo vật, riêng bốn tay ở đỉnh cao nhất có nâng
mặt trời và mặt trăng cùng hai Hóa Phật. Tượng chùa M Sở không chỉ
nâng Hóa Phật mà còn được các nghệ nhân tạc chụm hai tay ở trên đầu
nâng bộ Adà Tam Tôn gồm Adiđà đứng giữa, Quan Thế Âm Bồ Tát
và Đại Thế Chí Bồ Tát hai bên. Cách thức này thay thế cho hình ảnh
Phật Adiđà thường tọa lạc trên mũ Quan Âm. Như vậy ta có thể thấy
tính chất rất tương đi trong việc tạo tác tượng Phật Việt Nam. Nếu so
sánh với tượng Quan Âm Nhật Bản, thì tính chất nghiêm luật này được
tuân theo rất đầy đủ. Bốn mươi hai tay tượng cầm những vật gì và ấn
quyết như thế nào và vị trí của nó ra sao đều được tôn trọng.
Từ sự tuỳ nghi của các thế tay trong tượng Quan Âm Việt Nam đã tạo
ra sự chồng chéo tên gọi của Quan Âm. Quan Âm Chuẩn Đề thường
được tạc là tay chắp trước ngực kết ấn Chuẩn Đề. Nhưng rất nhiều
những Quan Âm Thiên Th Thiên Nhãn ở Việt Nam cũng được tạc nh
ư
vậy thay vì tay kết theo lối Liên Hoa Hp Chưởng ấn. Do đó tượng
Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn đây nhiều khi còn có thêm tên
Quan Âm Chun Đề Thiên Thủ Thiên Nhãn. Hiện tượng này cũng
giống trường hợp Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thiên Thủ Thiên
Nhãn khi biểu hiện ra trong điêu khắc. Đó là việc thêm hình ảnh quỉ
đầu rồng đội đài sen. Sự chồng chéo của các tên gọi, và sự tích hợp
trong tiếu tượng khiến các thể loại tượng Quan Âm Việt Nam mang
nhiều tính chất phức tạp. Tuy nhiên, chúng lại rất đặc trưng cho lối suy
nghĩ của người Việt.
Trở lại nguồn gốc tạo hình và mối liên quan của tượng Thiên Th
Thiên Nhãn với các mẫu hình ấn Độ, trên các cánh tay người ta có thể
đọc được không ít các chứng cứ xác thực. Đầu tiên là những chiếc v
òng
đeo tay. Chúng là loại trang sức mang đậm chất ấn giáo, và là vật dụng
quen thuộc của thần Shiva trong điệu múa vũ trụ. Khi Shiva vung
những chiếc vòng lắc này theo những tư thế khác nhau đã tạo ra những
âm hưởng khác nhau chinh phục thế giới. Còn ở tượng Quan Âm B
Tát, nhng chiếc vòng này không nói lên mt công dụng cụ thể nào cả.
Nó chỉ có giá trị trang sức, và giá trị làm đẹp, hay khẳng định tính chất
Nữ của mình. Tuy nhiên điều này c
ũng chỉ thích hợp khi lý giải với các
tượng Quan Âm Việt Nam. Còn với tượng Nhật Bản, yếu tố này dường
như không cần thiết vì cho dù có trang sức, thì Quan Âm v
ẫn mang một
bộ ria mép và mt thân hình rất Nam tính. Ngaythế ngồi của các
tượng Quan Âm Nhật cũng rất vuông vắn, nghiêm cn như dáng hình
của một đức Adà “nhiều tay”. Những chiếc vòng tay trong các tượng
Việt Nam có thể mang tính chất vô thức do người ta tạc chúng như m
thói quen và ý nim cần thiết. Và vì chỉ có ý nghĩa trang trí nên không
phải tượng nào cũng có, có tượng có, có tư
ợng không. Đứng về mặt tạo
hình, nó có giá trnhư một điểm nhấn cho cả một cánh tay trần được lộ
ra, và làm cho nhng cánh tay thêm yểu điệu.
Ngoài ra, đi sâu hơn trong việc lý giải nguồn gốc ấn Độ của các tượng
Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn thì các vật dụng trong tay ngài cũng đóng
mt vai trò khá quan trng. Đối chiếu về hình thức biểu hiện của tượng
Quan Âm và các vị thần nhiều tay trong ấn Độ giáo, người ta bắt gặp
rất nhiều những điểm tương đng. Chúng tôi đã lp ra một bảng thng
kê các bảo pháp như sau:
Tượng Quan Âm Thần linh Ấn Độ
Cây giáo dài Cây đinh ba
Cung báu Cung tên
Mũi tên báu Mũi tên
Sợi dây ngũ sắc (sợi dây Dây thòng lọng
quyển tố)