
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
---------------------------------------
NGUYỄN ĐỨC MẠNH
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ 3G
CHO THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
HÀ NỘI, NĂM 2011

2
Luận văn được hoàn thành tại
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
Phản biện 1: ..........................................................................
.........................................................................
Phản biện 2: ..........................................................................
.........................................................................
Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: ..... giờ ..... ngày ..... tháng ..... năm .....
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên phạm vi thế giới, 3G bắt đầu được đưa vào khai thác thương mại một
cách rộng rãi kể từ 2001 với quốc gia thành công đầu tiên là Nhật Bản. Kể từ đó
đến nay đã có thêm rất nhiều quốc gia khác nghiên cứu và đưa 3G vào ứng dụng
trong đời sống hàng ngày.
Tại Việt Nam, cuộc thi tuyển cấp phép 3G do Bộ Thông tin và Truyền thông
tổ chức vào tháng 2/2009 đã chọn lựa ra 4 doanh nghiệp có tiềm năng, hứa hẹn
thúc đẩy thị trường dịch vụ 3G sẽ phát triển sôi động trong thời gian tới. Tính đến
thời điểm hiện tại, cả bốn nhà mạng được cấp giấy phép 3G gồm Vinaphone,
Mobifone, Viettel và liên minh EVN Telecom và Hanoi Telecom đều đã chính
thức triển khai cung cấp dịch vụ 3G cho khách hàng của mình trên phạm vi cả
nước theo đúng cam kết.
Tuy nhiên, 3G ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Các
hình thức sử dụng 3G tương đối đa dạng nhưng sự phát triển của 3G vẫn chưa
tương xứng với tiềm năng đầu tư. Bên cạnh đó, cho đến nay chưa có tài liệu
nghiên cứu khoa học nào đánh giá cụ thể về sự phát triển cũng như các kết quả
đạt được của 3G tại Việt Nam. Mặt khác, cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh
vực, cụ thể là Bộ Thông tin và Truyền thông cũng chưa xây dựng một chính sách
cụ thể nào để thúc đẩy sự phát triển 3G tại Việt Nam. Chính vì thế, cần có cơ chế,
chính sách ra sao để thúc đẩy 3G phát triển tại thị trường viễn thông Việt Nam là
một bài toán đòi hỏi phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng để có lời giải đáp thỏa đáng.
Đây cũng chính là lý do em chọn thực hiện đề tài “Chính sách thúc đẩy phát triển
dịch vụ 3G cho thị trường viễn thông Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ chuyên
ngành Quản trị kinh doanh tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phát triển cũng như những bất cập trong quá trình phát
triển 3G tại Việt Nam; từ đó đề xuất chính sách thúc đẩy phát triển 3G cho
thị trường viễn thông Việt Nam.
- Xây dựng tư liệu tham khảo mang tính khoa học phục vụ cho công tác tham
mưu hoạch định chính sách, ban hành cơ chế quản lý của cơ quan quản lý
chuyên ngành, đồng thời là cơ sở tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp
cung cấp, khai thác 3G tại thị trường viễn thông Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: thị trường viễn thông nói chung và thị
trường 3G Việt Nam nói riêng
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các điều kiện phát triển 3G tại thị trường
viễn thông Việt Nam và cứu chính sách thúc đẩy phát triển dịch vụ trên nền
3G, không bao gồm chính sách đối với lĩnh vực sản xuất thiết bị phần cứng
3G.

4
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu cơ bản: Phương pháp thu thập -
tổng hợp thông tin, phương pháp phân tích, đánh giá.
5. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan về 3G và chính sách phát triển viễn thông Việt Nam
Chương 2: Hiện trạng phát triển 3G và các chính sách đã được xây dựng có
liên quan đến phát triển 3G
Chương 3: Đề xuất chính sách thúc đẩy phát triển dịch vụ 3G cho thị trường
viễn thông Việt Nam

5
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ 3G VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIỄN THÔNG
VIỆT NAM
1.1. TỔNG QUAN VỀ 3G
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 3G
1.1.1.1. Lịch sử hình thành công nghệ 3G
Thế hệ thứ nhất (1G): Mạng di động thế hệ thứ nhất khơi mào ở Nhật vào
năm 1979. Đây là hệ thống truyền tín hiệu tương tự (analog). Tuy chưa hoàn hảo
về mặt công nghệ và kỹ thuật, thế hệ thông tin di động 1G này thực sự là một mốc
phát triển quan trọng của ngành viễn thông. Những điểm yếu nổi bật của thế hệ
1G liên quan đến chất lượng truyền tin kém, vấn đề bảo mật và việc sử dụng tài
nguyên tần số kém hiệu quả.
Thế hệ thứ hai (2G): Đến những năm 1980 hệ thống thông tin thế hệ thứ
nhất đã trở nên quá tải khi nhu cầu về số người sử dụng ngày càng tăng lên, là
động lực cho sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 2. Hệ thống
mạng 2G được đặc trưng bởi công nghệ chuyển mạch kỹ thuật số (digital circuit-
switched). Kỹ thuật này cho phép sử dụng tài nguyên băng tần hiệu quả hơn nhiều
so với 1G. Hầu hết các thuê bao di động trên thế giới hiện đang dùng công nghệ
2G này.
Thế hệ di động thứ ba (3G):
Sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ dữ liệu đã đặt ra các yêu mới đối
với công nghệ viễn thông di động. Thông tin di động thế hệ thứ hai mặc dù sử
dụng công nghệ số nhưng là hệ thống băng hẹp và được xây dựng trên cơ chế
chuyển mạch kênh nên không thể đáp ứng được yêu cầu về băng thông của các
dịch vụ mới. Trong bối cảnh đó ITU đã đưa ra đề án tiêu chuẩn hóa hệ thống
thông tin di động thế hệ thứ 3 với tên gọi IMT-2000. IMT-2000 đã mở rộng đáng
kể khả năng cung cấp dịch vụ và cho phép sử dụng nhiều phương tiện thông tin.
Mục đích của IMT-2000 là đưa ra nhiều khả năng mới đồng thời đảm bảo sự phát
triển liên tục của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai (2G) vào những năm
2000. IMT-2000 sau này được gọi là 3G, và điểm nổi bật nhất của mạng 3G so
với mạng 2G nằm ở khả năng cung ứng truyền thông gói tốc độ cao nhằm triển
khai các dịch vụ truyền thông đa phương tiện trên mạng di động.
Do có nhiều chuẩn công nghệ cho 2G nên sẽ có nhiều chuẩn công nghệ 3G đi
theo, tuy nhiên trên thực tế chỉ có 02 tiêu chuẩn quan trọng nhất đã có sản phẩm
thương mại và có khả năng được triển khai rộng rãi trên toàn thế giới là WCDMA
và CDMA 2000.
Cùng với đó, Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) đã và đang làm việc để
hướng tới một chuẩn cho mạng di động tế bào mới thế hệ sau 3G (có thể gọi là
thế hệ 4G).

