intTypePromotion=1

Chọn giống, nhân giống tạo dòng vật nuôi - Sổ tay hướng dẫn thực hành: Phần 2

Chia sẻ: 1234 1234 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:114

0
30
lượt xem
2
download

Chọn giống, nhân giống tạo dòng vật nuôi - Sổ tay hướng dẫn thực hành: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hiện nay nước ta có đầy đủ tập đoàn giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao; có hơn 230 cơ sở sản xuất thức ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng cho mỗi loại vật nuôi theo phương thức công nghiệp. Tuy nhiên người chăn nuôi cũng cần tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về chọn giống, nhân giống tạo dòng vật nuôi. Mời các bạn cùng tham khảo phần 2 tài liệu Chọn giống, nhân giống tạo dòng vật nuôi - Sổ tay hướng dẫn thực hành được chia sẻ dưới đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chọn giống, nhân giống tạo dòng vật nuôi - Sổ tay hướng dẫn thực hành: Phần 2

CHƯƠNG IV<br /> HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CHỌN GIỐNG,<br /> NHÂN GIỐNG, TẠO DÒNG VẬT NUÔI<br /> I. NHÂN GIỐNG VÀ NUÔI DUONG bố sữa - BÒ THỊT<br /> 1. Nguồn gốc<br /> Bò, trâu, ngựa... đều thuộc lớp Mammaỉia, bộ Ungulata trong đó<br /> bộ phụ Ruminantia (nhai lại) là quan trọng và có nhiều lợi ích nhất<br /> cho con người. Trong Rumỉnantia có Oxen, Bỉsori... (bò rừng), Yak<br /> (bò Tây Tạng), Buffaloes (trâu)... chính từ bò rừng Oxen con người<br /> đã thuần dưỡng, nuôi thích nghi, chọn lọc, nhân giống thành bò nhà ở<br /> các vùng trên th ế giới. Bò nhà thuộc họ Boridac, loài Bos Jaurus, Bos<br /> indicus và Bos primigenus. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các nước<br /> Ấn Độ, Pakistan, Mianmar, Thái Lan, Inđônêxia, Đông Dương... là<br /> vùng gốc của bò thuộc Bos indỉcus. Theo W.Wagner (1926) bò u Bos<br /> Indicus có u, cao hay thấp tuỳ từng nơi, từng nhóm, tai rủ, có yếm<br /> dưới cổ, cao chân, trán vổng. Trên thế giới người ta đã chia các loại<br /> bò u thành 6 nhóm gồm khoảng 30 giống:<br /> Nhóm 1: Lông xám, sừng cong vào trong, trán rộng, đầu thanh,<br /> trắc diện thẳng hay lõm. Đại diện: giống Mali.<br /> Nhóm 2: Lông trắng hoặc xám nhạt, sừng ngắn, đầu dài, trán<br /> rộng, trắc diện hơi lõm. Đại diện: các giống Hariana, Ongole.<br /> Nhóm 3: Nặng nề, sừng ngang, trán rộng có khi quặp; lông đốm<br /> nâu hay trắng, nâu tuyền đậm hay nhạt. Đại diện: giống Gir.<br /> Nhóm 4: Dạng trung bình, hơi lùn, trán nổi gốc sừng gần nhau,<br /> song thẳng, hơi ngả về sau, rất nhọn, chạy nhanh, kéo khoẻ, tính dữ,<br /> lông xám, nâu, từ trắng đến đen. Đại diện: Giống Sindhi, Sahivaỉ...<br /> 79<br /> <br /> Nhóm 5: Bé, lông đen, nâu hay nâu sẫm có con có châm trắng to.<br /> Đầu có bướu hay lông thô, sừng hơi uốn vào trong, cho sữa, sức kéo.<br /> Đại diện: Giông Sỉri, Lohani...<br /> Nhóm 6: Trung bình, lùn, hoạt tính. Lông lang, trắng, có chấm đen<br /> hay nâu, có khi trắng tuyền chỉ có vài chấm màu. Có nhiều ở Pakistan.<br /> Ở Việt Nam có hai loài bò chính: Bos Indicus và Bos Prinigenus.<br /> Phần lớn bò địa phương của Việt Nam như bò Vàng, bò Mèo, bò<br /> Nghệ An, bò Yên Bái, bò Sind và lai Sind... thuộc Bos Indicus.<br /> “Bò u ở Việt Nam có tai rủ và dài, cổ ngắn và dày, ngấn rộng,<br /> dài; có u ở vùng tiếp giáp thân - cổ, mức độ ở con đực phát triển cao<br /> hơn; lưng ít khi thẳng bằng, phần mông hơi xuôi, có khi xương mông<br /> hơi nhô, khi con vật đứng yên nhìn thấy đầu bé, khô, tạo nên một trắc<br /> diện hơi nhô lên so với cổ; chân khoẻ, khô, đường gân và khớp nổi rõ,<br /> những con nuôi dưỡng kém có khi chấn vòng kiềng; đuôi dài, mỏng; da<br /> mỏng, sít thân, lông ngắn, thưa, mầu lông phổ biến nhất là đen, vàng<br /> đậm, ít khi thấy loang, trên một đàn có thể có 75% đen, 11% vàng nâu,<br /> 158% thuộc mầu sắc khác; vú phát triển nửa phải, núm vú dài, gân vú<br /> nổi rõ; sọ, trán (nhất là con đực) dô cao, vùng dưới mặt hơi xệ, sừng<br /> cao có khi ngả ra sau, mõm hơi dài”. (Trần Đình Miên, 1996).<br /> Trong số bò địa phương của Việt Nam cũng khá phổ biến giống<br /> bò Sind (Bos Indicus) và những nhóm lai Sind. Theo BEDI (sô" 192,<br /> 1928, trang 115.-117) "... ở Đông Dương có được bò u giông Sind là<br /> do M. Scheinder đi công cán ở Ân Độ để mua 80 con bò. Lúc bấy giờ<br /> Phó vương Ân Độ không chịu bán loại bò Ongole vì cho đó là giổrig<br /> quý đã được lễ nghi đất nước bảo trợ và cũng đã bị xuất đi rất nhiều,<br /> nên ông cho chọn bò Sind mà theo ông là loại cho sữa khá ở Ân Độ,<br /> quần đảo Nam Dương, Philippin. Năm 1923 M. Scheinder đưa được<br /> về Sài Gòn một đàn bê Sind. Lúc bây giờ đã chứng minh:<br /> 80<br /> <br /> - Đàn bê không hao hụt khi chuyển về đến nơi.<br /> - Bò tiếp tục phát triển và sinh sản bình thường;<br /> - Con cái cho sữa khá cao, hình như khí hậu không ảnh hưởng gì<br /> đến khả năng này.<br /> Có tài liệu cũng đã nói rằng Scheinder nhập đàn bò 87 con vào<br /> Đông Dương năm 1924. Đàn đầu tiên này được phân bố ở Tân Sơn<br /> Nhất, Suối Dầu, Lục Nam. Sau đó nhiều đàn khác được nhập tiếp,<br /> nuôi tại các nơi: Phủ Quỳ, Bãi Áng, xung quanh Hà Nội và Nam<br /> Định. Hiện nay giống bồ Sind đã khá phổ biến ở nhiều vùng của Việt<br /> Nam, được nuôi thuần chủng và lai tạo với các giông bò địa phương<br /> theo hướng cho sữa, sữa - thịt, cày kéo...<br /> Bos Prỉmigenus là một nhánh thuộc Bos Planiýrons (nhưng không<br /> đi thẳng từ nó) được khảo cổ tìm thấy ở Ân Độ. Người ta cho rằng<br /> Bos Planiírons từ Ấn Độ lan ra trên đất Á, Âu, từ Đại Tây Dương đến<br /> Thái Bình Dương. “Thời Néôlit, một nhóm Bos Primigenus khi di cư<br /> qua Trung Âu trở thành nhóm bò đặc biệt (không có u sừng dài), có<br /> thay đổi ít nhiều về dạng hình...” (Nobis, 1957). Một giống bò sữa<br /> khá nổi tiếng thuộc nhóm này là Holstein - Friesian (còn gọi là bò<br /> Hà Lan). Nhánh chính thông, cổ xưa nhất được hình thành 300 năm<br /> trước công nguyên từ hai giống Friesian - Waterber ở vùng cửa sồng<br /> Fhin, lúc đó là giống địa phương. Đến đầu th ế kỷ 18 - 19 các giông<br /> này đã khá phát triển, được nuôi phổ biến ở Hà Lan cùng với sự cải<br /> tiến các đồng cỏ thiên nhiên và sự giao lưu thương mại về bò và sữa.<br /> Giông này vì vậy, từ lúc đó, đã có nền văn minh khá cao. Đến lúc<br /> này nhánh gốc chính thống cũng đã chia ra thành nhiều nhánh nhỏ<br /> khấc trong đó nhánh quan trọng nhất là nhánh Frỉesian sắc lông lang<br /> đen trắng. Quá trình cải tiến bò Hà Lan cũng là cả một quá trình tạo<br /> dáng bò sữa, tạo thể chất chắc chắn, cải tiến chất lượng thịt đi đôi với<br /> việc nâng cao không ngừng sản lượng sữa và tỉ lệ mỡ sữa.<br /> 81<br /> <br /> Đến cuối thế kỷ XX bò Hà Lan đã đạt được mức cao sản: lượng<br /> sữa chu kỳ đến 10.0001, mỡ sữa 4%, ngoại hình đẹp, thể chất vững<br /> chắc. Tuy nhiên bồ Hà Lan chưa phổ biến đại trà được vì trình độ<br /> cao sản bao giờ cũng đi đôi với cải tiến môi sinh, điều kiện kinh tế<br /> và điều kiện kỹ thuật liên tục.<br /> Ở Việt Nam, bò lang đen trắng (gốc Holstein) được nhập từ Trung<br /> Quốc năm 1960, được nuôi tại Ba Vì (Sơn Tây, Hà Nội). Bò trong 10<br /> năm nuôi tại đó tỏ ra kém thích nghi vì hay chết chóc, bệnh tật và<br /> sản lượng sữa/chu kỳ thấp: quãng 2.000kg với tỉ lệ mỡ sữa 3,8%...<br /> Năm 1970 bò Holsteỉn Friz được nhập tiếp từ Cu Ba, th ế hệ con cái<br /> của hai con giống đực, cái:<br /> Đực<br /> <br /> Réjĩection Sovereign<br /> <br /> Cái Femina<br /> <br /> 198-998<br /> 547 - 099<br /> <br /> đã tạo nên 3 dòng:<br /> Đực Rosaýe Cỉtation<br /> <br /> RC 267 - 150<br /> <br /> Đực Rosaỷe sỉgnet<br /> <br /> 112-276<br /> <br /> Đực Sharmock Frersens<br /> <br /> 260 - 599<br /> <br /> Từ năm 1969 chúng ta đã chọn lọc một số bò sữa lang đẹn trắng ở<br /> Ba Vì và sau đó cả bò nhập từ Cu Ba về nuôi ở vùng cao nguyên Mộc<br /> Châu (Sơn La); sau 1975 chuyển tiếp vào cao nguyên Đức Trọng<br /> (Lâm Đồng), nơi có điều kiện dễ thích nghi cho bò sữa cao sản hơn.<br /> Hiện nay bò Holsteỉn đang tiếp tục nuôi để lấy sữa, mỡ sữa và cho<br /> lai Bos Primigenus với Bos Indicus.<br /> <br /> 2. Sự sinh sản<br /> Vào quãng 12 tháng tuổi, sự thành thục về tính dục ở bò xuất hiện.<br /> Lúc bấy giờ khối lượng cơ thể của bò sữa đạt 30 - 40% thể trọng của<br /> lúc trưởng thành; bò chuyên dụng thịt thì ở mức cao hơn: 45 - 50%<br /> 82<br /> <br /> (theo Roy, 1975). Bò nhà hiện nay không biểu hiện rõ rệt tính mùa<br /> vụ trong tính dục, nên có thể phối giống quanh năm theo k ế hoạch<br /> bằng thụ tinh nhân tạo. Dâu hiệu động dục dễ nhìn thấy vào sớm ban<br /> mai trong một đàn, con nọ nhảy lên con kia. Hiện tượng này lại càng<br /> rõ rệt hơn ở một đàn bò u (Bos Indicus) so với một đàn bò sữa thường<br /> (Bos Priningenus) (Theo c .s . Galina và H.H.Arthur, 1991). Sự động<br /> dục kéo dài từ 4 đến 14 giờ tuỳ theo giống và mùa vụ trong năm; đối<br /> với bồ nuôi ở các vùng nhiệt đới, chu kỳ động dục thường quãng 20<br /> - 24 ngày (theo Courot, 1968). Người ta thường chia chu kỳ động dục<br /> thành 4 thời kỳ và theo dõi những biểu hiện bên ngoài của cơ thể bò<br /> cái mà xấc định thời điểm thụ tinh hay cho nhảy trực tiếp. (Xem dưới<br /> đây bảng nhận xét biểu hiện động dục của bò, theo Nguyễn Thiện,<br /> Đào Đức Thà, 1998).<br /> Trong thực tế, việc theo dõi chu kỳ cũng có nhiều khó khăn nên<br /> có nơi người ta cho đực nhảy trực tiếp, nhất là đối với các đàn khép<br /> kín, chưa được chọn lọc kỹ càng.<br /> Các thời<br /> kỳ dâu<br /> hiệu<br /> <br /> Trước chịu đực<br /> <br /> Chịu đực<br /> <br /> Sau chịu đực<br /> <br /> Cân bằng<br /> <br /> (1)<br /> <br /> (2)<br /> <br /> (3)<br /> <br /> (4)<br /> <br /> (5)<br /> <br /> Biểu hiện<br /> bên ngoài,<br /> dáng vẻ<br /> <br /> Dáng ngơ ngác,<br /> không đứng yên,<br /> hay đi lại, hay kêu,<br /> đái rắt. Nhảy con<br /> khác nhưng không<br /> cho con khác nhảy<br /> <br /> Tìm đực, đến<br /> gần con khác<br /> chịu cho nhẩy.<br /> Mê ì<br /> <br /> Còn một thời<br /> gian ngắn còn<br /> chịu cho nhảy<br /> tiếp<br /> <br /> Bình thường<br /> <br /> Ăn uống<br /> <br /> Kém ăn, gặm cỏ<br /> lơ la<br /> <br /> Ăn ít hoặc<br /> không ăn<br /> <br /> Ăn ít<br /> <br /> Bình thường<br /> <br /> Ở âm hộ<br /> <br /> Sưng, xung huyết<br /> đỏ, hơi phù, bóng,<br /> ướt. Mép âm hộ hé<br /> mở<br /> <br /> 83<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2