intTypePromotion=1
ADSENSE

Đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống lúa chất lượng cao tại Điện Biên

Chia sẻ: ViHana2711 ViHana2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

38
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số giống lúa chất lượng cao mới chọn tạo tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong vụ mùa năm 2017. Kết quả cho thấy các giống lúa thí nghiệm đều sinh trưởng tốt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng suất của một số giống lúa chất lượng cao tại Điện Biên

TẠP CHÍ KHOA HỌC<br /> Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 14 (4/2019) tr.119 -126<br /> <br /> ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT<br /> CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG CAO TẠI ĐIỆN BIÊN<br /> <br /> Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Thị Kiều Chinh<br /> Trường Đại học Tây Bắc<br /> <br /> Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số giống lúa<br /> chất lượng cao mới chọn tạo tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong vụ mùa năm 2017. Kết quả cho thấy các<br /> giông lúa thí nghiệm đều sinh trưởng tốt. Thời gian sinh trưởng từ 92-113 ngày, chiều cao cây từ 114,4-123,3cm,<br /> năng suất thực thu đạt từ44,8- 63,65 tạ/ha. Chỉ có giống N25 có năng suất thực thu (đạt 63,6 tạ/ha) cao hơn<br /> giống đối chứng, các giống còn lại năng suất thấp hơn giống đối chứng. Các giống lúa thí nghiệm đều có hạt<br /> gạo dài, tỷ lệ gạo nguyên đạt từ 59,3-70,3%, các giống đều có mùi thơm nhẹ và gạo hơi mềm.<br /> <br /> Từ khóa: Điện Biên, lúa, chất lượng, năng suất, sinh trưởng.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Những năm gần đây, nhu cầu về gạo chất lượng cao của người tiêu dùng ngày càng<br /> tăng. Chất lượng gạo được quyết định chủ yếu do đặc điểm của giống, tuy nhiên điều kiện khí<br /> hậu, đất đai và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hạt<br /> gạo. Nhiều tác giả cho rằng, nhiệt độ thấp và sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm cao giúp lúa có<br /> mùi thơm tốt hơn. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng chỉ đúng với một số giống [1], [6]. Điều này<br /> chỉ ra rằng mỗi khu vực, mỗi giống đều phải có nghiên cứu riêng cụ thể chứ không thể áp<br /> dụng khuôn mẫu chung trên toàn thế giới hay bất kỳ quốc gia nào [5]. Vì vậy, mỗi một giống<br /> lúa chất lượng cao được chọn tạo ra khi được trồng trọt ở những vùng thích hợp với biện pháp<br /> kỹ thuật tốt sẽ càng phát huy hơn nữa chất lượng hạt gạo.<br /> Điện Biên là một tỉnh miền núi có điều kiện khá lý tưởng cho việc trồng lúa, với cánh<br /> đồng Mường Thanh rộng lớn và đã rất nổi tiếng với năng suất và chất lượng gạo cao. Hai loại<br /> gạo phổ biến của tỉnh Điện Biên là Bắc Thơm 7 và IR64, cho chất lượng gạo thơm, ngon và<br /> được nhiều người ưa chuộng. Mặc dù vậy, việc trồng lặp đi lặp lại một vài giống sẽ ảnh<br /> hưởng không tốt đến năng suất, chất lượng và làm gia tăng mức độ nhiễm sâu bệnh hại. Do<br /> đó, việc nghiên cứu, ứng dụng các giống lúa chất lượng cao mới vào sản xuất tại Điện Biên<br /> nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường là cần thiết.<br /> Viện Cây lương thực và cây thực phẩm là nơi chọn tạo ra khá nhiều giống lúa chất<br /> lượng cao phục vụ sản xuất như: AC5, N25, GL159, GL102,... đã được Bộ Nông nghiệp và<br /> Phát triển Nông thôn cho sản xuất thử năm 2015. Các giống này bước đầu đã khẳng định<br /> được năng suất và chất lượng tại một số tỉnh ở Đồng bằng Bắc Bộ. Trong nghiên cứu này,<br /> chúng tôi tiến hành thử nghiệm một số giống lúa mới chất lượng cao do Viện Cây lương thực<br /> và cây thực phẩm chọn tạo tại Điện Biên nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, năng<br /> <br /> <br /> <br /> Ngày nhận bài: 08/10/2018. Ngày nhận đăng: 18/11/2018.<br /> Liên lạc: Nguyễn Văn Khoa, e-mail: nguyenvankhoatbu@gmail.com<br /> 119<br /> suất và chất lượng của các giống,từ đó chọn và đề xuất giống phù hợp nhất cho sản xuất lúa<br /> gạo chất lượng cao tại Điện Biên.<br /> <br /> 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu<br /> 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu<br /> 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu<br /> Các giống lúa chất lượng cao do Viện Cây lương thực và cây thực phẩm chọn tạo gồm:<br /> AC5, N25, GL159, GL102; và giống Bắc thơm số 7 được sử dụng làm giống đối chứng.<br /> 2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu<br /> Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành tại xã Thanh Yên, huyện Điện Biên,<br /> tỉnh Điện Biên. Thí nghiệm thực hiện trong vụ mùa năm 2017.<br /> 2.2. Nội dung nghiên cứu<br /> Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và mức độ sâu bệnh<br /> hại của các giống lúa tham gia thí nghiệm.<br /> <br /> 2.3. Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.3.1. Bố trí thí nghiệm<br /> - Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), với 5 công và 3 lần<br /> nhắc lại.<br /> + Công thức 1: Giống lúa Bắc thơm số 7 (ĐC).<br /> + Công thức 2: Giống lúa AC5.<br /> + Công thức 3: Giống lúa N25.<br /> + Công thức 4: Giống lúa GL102.<br /> + Công thức 5: Giống lúa GL159.<br /> - Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 20m2 (10mx 2m).<br /> - Phương thức gieo cấy: Gieo vãi ướt với lượng giống 60kg/ha/mỗi công thức.<br /> - Kỹ thuật áp dụng: Lúa trong thí nghiệm được gieo thẳng với lượng giống 60 kg/ha.<br /> Lượng phân bón gồm: phân NPK Lâm Thao (5: 10 : 3): 500 kg/ha, đạm urê Hà Bắc (46,3%<br /> N): 250 kg/ha, Kaliclorua (60% K O): 220 kg/ha.<br /> <br /> 2.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi<br /> - Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Động thái tăng trưởng chiều cao<br /> cây (đo 2 tuần 1 lần, cắm cố định và đo 10 cây/ô thí nghiệm).Các yếu tố cấu thành năng suất<br /> và năng suất (Số bông trên đơn vị diện tích, số hạt chắc trên bông, khối lượng 1.000 hạt).<br /> <br /> - Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = (Số bông/m² x Số hạt chắc/bông x M1.000 hạt)/10.000.<br /> <br /> - Năng suất thực thu: Gặt toàn bộ ô thí nghiệm kể cả các khóm lấy mẫu, tuốt hạt, phơi<br /> khô đến khi độ ẩm đạt 13-14%, quạt sạch, cân toàn bộ khối lượng (kg), sau đó quy ra tạ/ha.<br /> <br /> <br /> 120<br /> - Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại: Theo dõi ruộng cây, đánh giá các loại sâu bệnh hại:<br /> Bệnh đạo ôn hại, bệnh bạc lá, bệnh đốm nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu. Đánh giá<br /> theo thang điểm trong Quy phạm khảo nghiệm giống lúa năm 2011 [4].<br /> <br /> - Các chỉ tiêu về chất lượng: Đánh giá chất lượng từng loại giống theo phương pháp<br /> cảm quan bằng cánh nấu chín, đánh giá mùi thơm, độ dẻo, vị ngon cơm của các loại gạo của<br /> các giống tham gia thí nghiệm, theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8373:2010 về đánh giá chất<br /> lượng cảm quan cơm gạo trắng [7]. Tỷ lệ gạo nguyên(lấy 100 g gạo xát rồi chọn riêng tất cả<br /> hạt gạo nguyên ra, cân khối lượng gạo nguyên, làm nhắc lại 3 lần). Tính tỷ lệ gạo nguyên theo<br /> phần trăm khối lượng gạo xát. Kích thước hạt gạo (Sau khi phơi khô, quạt sạch và xát, đo<br /> chiều dài (D) và chiều rộng(R) hạt gạo (tính bằng mm)).<br /> <br /> 2.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu<br /> <br /> Xử lý số liệu bằng chương trình Excel và phần mềm IRRISTAT 5.0.<br /> <br /> 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> <br /> 3.1. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các giống lúa<br /> <br /> Thời gian sinh trưởng của các giống lúa luôn biến động theo giống, mùa vụ, điều kiện<br /> thời tiết khí hậu và biện pháp kỹ thuật trong chăm sóc.<br /> <br /> Bảng 1. Thời gian qua các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của các giống lúa<br /> <br /> Thời gian từ gieo đến … (ngày) Tổng thời gian<br /> Giống lúa Thời gian sinh trưởng<br /> Đẻ nhánh Làm đòng Trỗ (ngày)<br /> trỗ<br /> <br /> Bắc thơm số 7 26 62 75 5 103<br /> <br /> AC5 33 61 76 5 110<br /> <br /> N25 27 49 69 4 92<br /> <br /> GL102 31 45 61 5 94<br /> <br /> GL159 32 66 80 7 113<br /> <br /> Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 1 cho thấy: Thời gian từ gieo đến đẻ nhánh của<br /> các giống lúa dao dộng từ 26-33 ngày; thời gian từ gieo đến làm đòngdao động từ 45-66<br /> ngày;thời gian từ gieo đến trỗ của các giống lúa dao động từ 61-80 ngày. Các giống lúa khác<br /> nhau có tổng thời gian sinh trưởng khác nhau, theo phân nhóm của tác giả Nguyễn Văn Luật<br /> và cộng sự thì các giống lúa thí nghiệm đều thuộc nhóm ngắn ngày chín sớm A1 (từ 91-115<br /> ngày) [3]. Trong đó, 2 giống có tổng thời gian sinh trưởng ngắn hơn đối chứng là N25 (ngắn<br /> hơn đối chứng 11 ngày), GL102 (ngắn hơn đối chứng 9 ngày). Hai giống lúa có thời gian sinh<br /> trưởng dài hơn đối chứng là AC5 (dài hơn đối chứng 7 ngày), GL159 (dài hơn 10 ngày).<br /> <br /> <br /> 121<br /> 3.2. Chiều cao cây của các giống lúa<br /> <br /> Chiều cao cây ngoài phụ thuộc vào giống còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như<br /> nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa… Mặc dù chiều cao cây không liên quan trực tiếp đến năng<br /> suất nhưng liên quan đến khả năng chống đổ và khả năng chịu thâm canh.<br /> <br /> Bảng 2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa (cm)<br /> <br /> Ngày sau gieo Bắc thơm số 7 AC5 N25 GL102 GL159<br /> 14 21,7 19,3 25,4 22,6 18,2<br /> 28 41,1 38,8 45,6 40,2 40,6<br /> 42 59,4 58,3 71,5 64,5 62,5<br /> 56 77,8 79,5 89,2 84,3 83,2<br /> 70 86,8 88,0 98,7 100,1 90,7<br /> 84 99,7 101,5 110,6 104,67 96,5<br /> 98 109,4 112,1 - - 109,3<br /> CCC 120,9 121,4 120,9 114,4 123,3<br /> <br /> Kết quả ở bảng 2 cho thấy, cùng điều kiện chăm sóc như nhau thì chiều cao cây của các<br /> giống lúa có sự khác nhau không đáng kể. Chiều cao cây của các giống lúa tham gia thí nghiệm<br /> dao động từ 114,4-123,3cm, thuộc nhóm có chiều cao cây ở mức trung bình [3].<br /> <br /> 3.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất<br /> <br /> Năng suất là một trong những chỉ tiêu quan trọng quyết định sự tồn tại của các giống<br /> lúa. Để có năng suất cao ngoài đặc điểm giống thì cần có các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho<br /> giống, đồng thời điều kiện sinh thái cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng suất lúa. Kết quả<br /> nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.<br /> <br /> Bảng 3. Các yếu tố cấu thành năng suất lúa và năng suất của các giống lúa<br /> <br /> Năng suất Năng suất<br /> Số bông/m² Số hạt chắc/bông Khối lượng<br /> Giống lúa lý thuyết thực thu<br /> (bông) (hạt) 1000 hạt (g)<br /> (tạ/ha) (tạ/ha)<br /> <br /> Bắc thơm số 7 317,4a 99,47d 19,0 59,99 53,00b<br /> <br /> AC5 174,4c 149,13c 22,9 59,82 44,85c<br /> <br /> N25 187,0b 175,27a 23,1 75,71 63,65a<br /> <br /> GL102 169,1c 166,67b 31,0 87,35 46,50c<br /> <br /> GL159 156,3d 174,8a 24,0 65,56 52,05b<br /> <br /> CV(%) 2,80 3,2 0,30 - 7,10<br /> <br /> LSD0,05 10,18 8,80 0,13 - 6,68<br /> <br /> 122<br /> Qua bảng 3 ta thấy: số bông/m2 của các giống lúa tham gia thí nghiệm dao động từ<br /> 156,27-317,4 bông. Các giống lúa tham gia thí nghiệm đều có số bông/m² thấp hơn so với<br /> giống lúa đối chứng ở mức ý nghĩa LSD0.05. Giữa các giống cũng có sự khác nhau rõ rệt về<br /> số bông/m2, trong đó giống N25 có số bông/m2 lớn nhất (187 bông), thấp nhất là giống<br /> GL159 (156 bông/m²). Theo Yoshida và Parao (1976) thì số hạt/m2 quyết định đến 74% năng<br /> suất lúa [8]. Chỉ tiêu này lại phụ thuộc rất lớn vào số bông/m2, số bông/m2 đối với lúa gieo<br /> thẳng cần đạt 300-350 bông [8] thì mới cho năng suất cao. Ngoài ra, số hạt/m2 còn phụ thuộc<br /> nhiều vào số hạt chắc/bông, thời kỳ quyết định số hạt chắc/bông là thời kỳ từ làm đòng đến<br /> chín sữa. Số hạt chắc trên bông phụ thuộc vào đặc tính giống, điều kiện ngoại cảnh, quá trình<br /> kỹ thuật chăm sóc. Kết quả nghiên cứu ở bảng 3 cho thấy số hạt chắc/bông của các giống lúa<br /> tham gia thí nghiệm dao động từ 99,47-175,27 hạt. Tất cả các giống thí nghiệm đều có số hạt<br /> chắc/bông cao hơn đối chứng ở mức có ý nghĩa. Trong đó, hai giống lúa có số hạt chắc/bông<br /> cao nhất là N25 (175,27 hạt/bông), và GL159 (175,27 hạt/bông).<br /> Năng suất lý thuyết: Phản ánh tiềm năng năng suất của từng giống. Năng suất lý<br /> thuyết của các giống tham gia thí nghiệm dao động từ 59,82-87,35 tạ/ha. Có 3 giống có năng<br /> suất lý thuyết cao hơn đối chứng ở mức ý nghĩa LSD 0.05 là N25, GL102 và GL159. Giống<br /> AC5 có năng suất lý thuyết đạt 59,82 tạ/ha tương tự giống đối chứng và thấp hơn các giống<br /> còn lại.<br /> Năng suất thực thu: Kết quả thí nghiệm ở bảng 3 cho thấy năng suất thực thu của các<br /> giống tham gia thí nghiệm dao động từ 44,85-63,65 tạ/ha. Giống lúa N25 cho năng suất thực<br /> thu cao nhất (63,65 tạ/ha), cao hơn đối chứng 10,65 tạ/ha. Giống GL159 có năng suất tương<br /> đương so với giống đối chứng, trong khi giống GL102 và AC5 đều cho năng suất thực thu<br /> thấp hơn đối chứng.<br /> <br /> 3.4. Mức độ nhiễm sâu bệnh hại<br /> Thí nghiệm được thực hiện trong vụ mùa có khí hậu nắng nóng kèm theo mưa nhiều<br /> tại Điện Biên là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát sinh và phát triển gây hại cho lúa.<br /> Do đó, việc theo dõi, đánh giá mức độ sâu bệnh gây hại trên các giống lúa thí nghiệm là cơ sở<br /> quan trọng để có những khuyến cáo phù hợp trong sản xuất. Kết quả đánh giá mức độ nhiễm<br /> sâu bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.<br /> <br /> Bảng 4. Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống lúa<br /> <br /> Đơn vị tính: Điểm<br /> <br /> Giống Rầy nâu Bệnh bạc lá Bệnh đốm nâu<br /> <br /> Bắc thơm số 7 1 1 1<br /> <br /> AC5 1 1 1<br /> <br /> N25 1 1 0<br /> <br /> GL102 1 7 1<br /> <br /> GL159 1 1 1<br /> <br /> 123<br /> Qua bảng 4 cho thấy, hầu như các giống chỉ nhiễm sâu bệnh ở mức nhẹ. Các giống<br /> lúa tham gia thí nghiệm đều nhiễm rầy nâu ở mức độ nhẹ (Điểm 1: hơi biến vàng trên một<br /> số cây) [4].<br /> <br /> Về bệnh hại: Trong giai đoạn lúa làm đòng đến trỗ (tháng 8 đến tháng 9), thường<br /> xuyên có mưa rào, gió và các giống lúa tham gia thí nghiệm đều lá giống lúa chất lượng nên<br /> đều bị nhiễm bệnh bạc lá, đặc biệt giống GL102 là bị hại nặng nhất (điểm 7: 50% diện tích lá<br /> nhiễm), các giống lúa còn lại đều bị nhiễm ở điểm 1 (1 - 5% diện tích lá bị hại). Bên cạnh đó,<br /> hầu như các giống lúa tham gia thí nghiệm đều nhiễm bệnh đốm nâu ở mức độ nhẹ (điểm 1:<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2