Đấu tranh giữa cái thiện và cái ác qua
truyện "Tấm Cám"
Tấm Cám một câu truyện cổ tích kinh điển của dân tộc Việt Nam. mang
đậm tính chất giáo dục con người. Thông wa câu chuyện cuộc đời cô Tấm, câu chuyện
đã đánh bật lên mâu thuẫn giữa thiện ác trong hội. Tôi đã nghe ktừ lâu
nhưng giờ đây khi có hội ngồi suy nghĩ và phân tích tôi mới thể cảm nhận được
bài học đạo lý mà câu chuyện này muốn truyền đạt.
Sớm mồ côi cha mẹ,cô Tấm sống trong sghẻ lạnh của gì ghẻ m.Hằng
ngày cô phải m mọi công việc chỉ để đổi lấy đòn roi của gì và những câu mắng chửi
của em.Cuộc sống cnhư thế trôi wa đlại cho gái hiền lành những vết thương
khó có thể lành. Không ai biết về cô, không ai làm bạn cùng cô trong những đêm buồn
tủi Tấm chỉ biết khóc. nỗi đau nối tiếp nỗi đau, vết thương in thêm nhưng vết
thuong nhưng vẫn giữ trọn chữ hiếu cùng nghĩa với đứa em cay ác. Nếu tôi
được nói một câu cùng cô, tôi sẽ nói rằng Cô yếu đuối Tấm àh! Hạnh phúc thật
sự chỉ do bản thân mình tự mang lại mà thôi, vậy tại sao không thử đừng dậy đấu
tranh cho bản thân mình?
Từ xưa đến nay, hình ảnh Tấm đã trở thành một khuôn mẫu để đánh gnét
đẹp của người phụ nữ. Tấm xinh đẹp, nhân hậu, chăm chỉ rất hiếu thảo.
Nhưng không được sống trong hạnh phúc thứ đáng lẽ phải được nhận để
xứng đáng với nhân cách tốt đẹp của mình.
Việc hằng ngày ghẻ m luôn ngược đãi Tấm đã thể hiện cho
chúng ta thấy được mâu thuẫn hội đã hình thành từ rất lâu. Từ khi con người hình
thành tri thức, cái thiện cái ác đã cùng song hành trong hội. Không nơi nào tồn
tại toàn những người tốt, cũng sẽ chẳng thmột hội với tất cả nhưng công
dân xấu cả. Cái tốt cái xấu đã đang hiện hữu trong mỗi chúng ta, thật sai lầm khi
chúng ta sống chỉ cố gắng làm điều tốt! Người tốt thật sự người biết tự nhìn
nhận ra những sai lầm của bản thân và tránh lập lại chúng.
Trở lại cùng câu chuyện của Tấm, đoạn kết chúng ta thấy được một kết
thúc đẹp cho nhân vật chính của chúng ta nhưng ít ai nhận ra rằng để đạt được hạnh
phúc đó thì Tấm đã phải đứng đấu tranh cùng vất vả. chết đi và sống lại bao
nhiêu lần để có được cái hạnh phúc ấy? Giả sử câu chuyện ấy kết thúc tại thời điểm cô
Tấm chết, m làm hoànng hậu và hạnh phúc sông cùng vua và người mẹ độc ác của
mình đến cuối đời thì sao? Lúc đó bạn sẽ không thể 1 lần nhìn thấy 2 tiếng "hòa bình"
trong hội này đâu. Khi ấy những trẻ con đến trường nhận được lòng thù
hận, sự ích kỷ đố kỵ. Hãy tưởng tượng mộ buổi sáng bạn bước ra đường, tình
bạn thấy một bà cụ vấp ngã và tất cả mọi người chung quang bạn vẫn dửng dưng bước
đi? Tưởng tượng rằng bạn phải đến viện bảo tàng để đọc được cuốn tiểu thuyết
"Những người khốn khổ" của H.Way mà lúc này nó bị xem là tư tưởng phát-xit ???
thử tưởng tượng rằng một ngày nọ... Đèn đỏ, xe cộ đậu chỉnh tề ngay sau
vạch trắng. Một va chạm xảy ra hai thanh niên rồi rít xin lỗi nhau. Anh cảnh sát
giao thông nhìn cả hai trìu mến rồi tặng mỗi người một cai nón bảo hiểm.
Sếp đứng cổng, dịu dàng bắt tay từng người và hỏi lương đủ sống không
làm chị lao công xúc động nấc lên từng chập. Bản tin trên đài truyền hình cho biết g
cả đang giảm trong khi mỗi nời ai cũng được tăng hai bậc lương khiến mấy chị nhà
bếp vỗ tay rần rần.
các khu phố, người ta cửa từng nhà để tặng sách giáo khoa cho trẻ. Chỉ
cần một tiếng ho xe cấp cứu chạy đến tức thời. Mưa, người dân mở cửa cho khách
bộ hành trú nhờ.Tụi nhỏ thích nghịch nước khóc rấm rứt vì khôngm đâu ra một đoạn
đường ngập nước. Ông giám đốc công ty giải trí tức thời lên tivi hứa sẽ xây thật nhiều
công viên nước miễn phí cho bọn trẻ...
Cái ác th mạnh nhưng không thể tồn tại vĩnh viễn, cái thiện thể yếu
nhưng sẽ vẫn luôn tồn tại để đấu tranh chống lại cái ác. như thể một chân lý,
người ở hiên thì sẽ gặp lành và kẻ gieo gió ắt cũng có ngày gặp bão.
Bài viết số 1 lớp 11 đề 2: Bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề tác giả
Thân Nhân Trung đã nêu trong "Bài kí đề danh tiến khoa Nhâm Tuất, niên
hiệu Đại Bảo thba - 1442":
Thế hệ ngày nay, chắc nhiều nời biết Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm
bia đầu tiên Văn Miếu, ông ghi nhận vtrí thức Hiền tài nguyên khí của quốc
gia, nguyên kthịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên ksuy thì nước
yếu ngày càng xuống cấp.Theo tôi hiểu, hiền tài nguyên kcủa quốc gia, đấy
chính khát vọng của cả dân tộc. Nếu nói theo nghĩa đen của Đông y, “nguyên khí”
không mùi, không màu, không vị nhưng con người không nguyên khí là con người
chết. Nguyên khí chính sức sống của mỗi quốc gia. Ngay từ khi còn nhỏ, mới cắp
sách đến trường, tôi đã được các thày dậy vng tự hào quê hương Thái Bình đã
sản sinh ra nhà bác học, nhà giáo Quý Đôn, ông đã những nhận định trở thành
chân cho mọi thời đại Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi
trí bất hưng” có nghĩa là đất nước muốn hưng vượng phải nhờ vào trí thức.
rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức cho đến nay vẫn chưa định hình.
Hiền tài đương nhiên trí thức. Người xưa, quan niệm trí thức người được học
rộng, biết nhiều, trình độ đào tạo cao hơn mặt bằng chung của hội. Theo từ điển
:”Trí thức người sử dụng trí tuệ làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để
hỏi trả lời các các câu hỏi liên quan hàng loạt những ý tưởng khác nhau”. C.Mac
định nghĩa :” Trí thức nời nói sự thật, phê bình không nhân nhượng vnhững
hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của
chính mình, hoặc xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”.
Ngày nay, theo quan điểm chính thống, trí thức những người lao động trí óc.
Thái độ của trí thức thước đo sự tiến triển của chế độ. Gs Cao Huy Thuần đại học
Picardie (Pháp) định nghĩa :“Ai đánh thức không cho hội ngủ, người ấy trí thức
bất kỳ họ là ai”. J.P.Sartre, triết gia lừng danh người Pháp đã nói “Nếu ai đó chế tạo ra
quả bom nguyên tử, thì người đó bác học, chỉ khi nào ông bác học ý thức được cái
khí giới giết nơi ghê gớm ấy, đứng lên hào chống bom nguyên tử, lúc đó ông ta
là trí thức”.
Lịch snhân loại, việc dùng người mỗi thời khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch
sử, thời thế vai trò, nhiệm vụ. Đông-Tây, kim-cổ người thực tài người trí
thức chân chính đều mẫu số chung” trong cách ứng xử với hội và tầng lớp cầm
quyền. Người chân chính có thực tài thật là hiếm hoi, cần phải biết tìm, biết trân trọng.
Thời Tam quốc chí, u Bị được lên làm vua cai trị nước Thục nhờ sáng suốt biết thu
phục nhân m và trọng dụng người i. Điển hình ông đã 3 lần thực tâm cầu hiền,
không quản đường xa, khẩn cầu Khổng Minh một nhân tài đa mưu, túc kế ra phò
làm quân sư. Tần Thủy Hoàng vị Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên công thống nhất
đất nước nhưng cai trị đất nước bằng bạo quyền, đốt sách, không coi trọng trí thức chỉ
được thời gian ngắn đất nước lại hỗn loạn, phân ly.
Đất nước ta, ta đến nay lúc nào ng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng
thời kỳ, từng lúc mà nguồn hiền tài đó được khơi ra như thế nào. Có nghĩa là khi được
quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có, tri thức sẽ nhiều. Người học vấn thường
khả năng phán đoán nhận định tình nh ng suốt hơn người thường. Thời phong
kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ
tổ quốc, chống ngoại xâm xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp
trí thức lãnh đạo biết khơi dạy, hòa đồng cùng với nhân dân xả thân vì nghiệp lớn. Bài
“Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài thơ bất hủ của Lý
Thường Kiệt xác định chủ quyền của đất nước “Nam quốc n Nam đế cư” hay
bản hùng văn lịch sử của Nguyễn Trãi :”Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng
suốt của các tiền nhân biết coi trọng và sdụng trí thức các nhà quân sự, nhà
tưởng chiến lược của thời đại.
Mặc dù, chế độ phong kiến chỉ cho phép phu tiến thân trong chốn quan
trường nhưng các bậc trí thức hiền tài khi thấy ý kiến của mình không được Vua tôn
trọng, đã sẵn sàng áo, từ quan về ẩn. Ông Chu Văn An nổi tiếng bậc Thánh
hiền, ngay khi đỗ Thái học sinh, ông từ chối làm quan, không màng danh lợi về quê
mở trường dạy học nhiều môn sinh. Vua Trần Minh Tông biết tài của Chu Văn An
mời ông vào triều dạy học cho thái tử và các con đại thần. Đến đời vua Trần Dụ Tông
thấy nhiều đại thần xung quanh Vua là nịnh thần, tham quan, nhà giáo Chu Văn An đã