
1
NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN VIỆT NAM
Câu 1: Anh (chị) hãy phân tích và làm rõ quan niệm Nghệ thuật diễn xướng dân gian?
Diễn xướng dân gian là tổng hợp những biểu hiện cơ bản nhất của đời sống thẩm mỹ dân
gian, nói cách khác là biểu hiện ra bên ngoài của đời sống thẩm mĩ đó
Về cấu trúc, diễn xướng dân gian bao gồm các bộ phận sau:
+ Hát, nói (phần xướng): đây là bộ phận biểu hiện lời ca tiếng hát thành những làn điệu,
những giọng điệu, cách nói xét về mặt biểu hiện của âm thanh và giai điệu.
+ Trình diễn (phần diễn): cung cách thể hiện bằng những điệu múa, cử chỉ, phong cách, cấu
trúc, không gian biểu diễn… Kết hợp với phần xướng, phần này giúp những giá trị trong lời được
biểu hiện ra, tạo hiệu quả thẩm mĩ
+ Phần âm nhạc: bộ phận này tuy được tách ra nhưng lại có giá trị phối hợp, như 1 mối liên
kết và hỗ trợ, làm tăng thêm hiệu quả cho toàn bộ quá trình diễn xướng
Về quan niệm về diễn xướng và diễn xướng dân gian có rất nhiều, nên có thể hiểu nghệ thuật
diễn xướng dân gian như sau: “Diễn xướng dân gian là những hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ
thuật gắn liền với mọi mặt đời sống của người dân, được người dân sáng tạo, gìn giữ và trình diễn
thông qua các phương tiện biểu hiện khác nhau. Diễn xướng dân gian thể hiện tâm tư, tình cảm,
nguyện vọng, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của đời sống, phản ánh nhận thức về nhân sinh quan và
thế giới quan của người dân Việt Nam từ xưa tới nay”.
Câu 2: Anh (chị) hãy phân tích các đặc trưng cơ bản của Nghệ thuật diễn xướng dân
gian Việt Nam?
Các đặc trưng
cơ bản
Miêu tả
Tính nguyên hợp
- Là sự gắn bó hữu cơ những giá trị thẩm mĩ, trí tuệ, trình diễn... của nhiều
thành tố.
- Tính nguyên hợp có nguồn gốc từ đặc điểm hình thành, của nghệ thuật
nguyên thủy.
VD: Đẻ đất đẻ nước là áng sử thi - thần thoại của người Việt - Mường ban
đầu là các thầy mo hát bên thi hài người chết giúp cho hồn người chết ôn lại
sự việc ở trần gian từ khi khai thiên lập địa cho tới lúc bản Mường ổn định,
chế độ xã hội được hình thành và mỗi chặng hát có những quy trình lễ thức,
diễn xướng kèm theo).
- Là hiện tượng tự nhiên vốn có của nghệ thuật diễn xướng dân gian.
+ Về nội dung: diễn xướng dân gian phản ánh nhiều phương diện khác nhau
của đời sống vật chất và tinh thần trong xã hội, do vậy nó vừa thực hiện chức
năng của văn học, dân tộc học, triết học…
+ Về hình thức: diễn xướng sử dụng rất nhiều ngôn ngữ, âm nhạc, vũ điệu…
để phản ánh các giá trị tinh thần, nghệ thuật, cảm xúc…
- Đứng ở góc độ nào đó, tính đa chức năng chính là hệ quả của tính nguyên
hợp. Chúng tuy vừa khác nhau, vừa quan hệ mật thiết với nhau.

2
Tính tập thể
+ Diễn xướng dân gian là sản phẩm sáng tạo của nhiều người, thuộc nhiều
thế hệ qua những thời gian và không gian khac nhau.
+ Tính tập thể trong sáng tác nghệ thuật dân gian được biểu hiện ở phương
diện thẩm mĩ. Đối tượng của những sáng tác nghệ thuật dân gian là toàn bộ
những gì liên quan đến cộng đồng tập thể. Và vì thế diễn xướng dân gian rất
coi trọng hành động và tâm lí tập thể.
+ Tính tập thể của nghệ thuật diễn xướng dân gian biểu hiện trong quá trình
sáng tác, biểu diễn và lưu truyền tác phẩm, trong nội dung và hình thức sáng
tác, biểu diễn. Tính tập thể còn quyết định sự ra đời và tồn tại của tác phẩm
và hình thức, cách thức biểu diễn.
Tính truyền
miệng
+ Là 1 đặc trưng cơ bản của diễn xướng dân gian, sáng tác dân gian đi từ
người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác dưới hình thức
truyền miệng.
+ Truyền miệng là môi trường diễn xướng của sáng tác nghệ thuật dân gian.
Truyền miệng khi tách khỏi môi trường diễn xướng thì sẽ không còn là truyền
miệng nữa. Truyền miệng không gắn với phòng kín mà gắn với những hoạt
động bên ngoài của đời sống.
+ Truyền miệng là hình thức bảo lưu, lan tỏa của nghệ thuật diễn xướng dân
gian. Truyền việc gắn với việc ghi nhận tác phẩm bằng trí nhớ, ghi nhận
trong sự hào hứng của tập thể, quá trình ghi nhận được chuyển hóa thành quá
trình diễn xướng.
+ Truyền miệng là phương thức sáng tác của nghệ thuật diễn xướng dân gian
- sáng tác ngẫu hứng và ứng tác, là một đặc điểm cơ bản của nghệ thuật
không chuyên.
Tính bản địa
và vùng miền
+ Trong văn hóa dân gian, tính bản địa là cơ sở để phân vùng và xác định
ranh giới giữa các vùng văn hóa dân gian mỗi quốc gia, dân tộc; góp phần
làm tăng sự phong phú, đa dạng của nền văn nghệ dân gian của mỗi dân tộc.
+ Nước ta rất đa dạng về địa lý, thành phần dân tộc, điều kiện tự nhiên, ngôn
ngữ... Vì vậy nghệ thuật dân gian cũng rất đa sắc, sinh động, muôn vẻ.
+ Nước ta có 54 dân tộc, có 54 nền văn hóa dân tộc, tức là cũng có 54 nền
âm nhạc dân tộc khác nhau.
+ Do phương thức lưu truyền và sáng tạo tập thể nên sáng tạo nghệ thuật
diễn xướng dân gian mang đậm tính bản địa, vùng miền.
+ Hoàn cảnh lịch sử của mỗi vùng cũng chi phối đến tính bản địa, vùng miền
của nghệ thuật diễn xướng dân gian.
VD: Bắc Bộ là vùng đất cổ, đất cội nguồn nên đây là vùng sản sinh là nhiều
di sản dân ca nghi lễ lâu đời như: Hát Chèo Tàu, hát Xoan, hát Chầu Văn...
Nam Bộ là vùng đất mới, đất khai phá nên vùng này sản sinh ra dân ca Nam
Bộ là sự kế thừa, tiếp nối dân ca của người Việt ở phía ngoài, đặc biệt là Bắc
Trung Bộ, Nam Trung Bộ.

3
+ Đặc trưng về giọng nói hoặc phương ngữ của mỗi vùng cũng chi phối nhiều
tới tính địa phương của nghệ thuật diễn xướng dân gian.
Chẳng hạn như xứ Huế, nhất là xứ Nghệ, có hệ thống phương ngữ rất đậm
đặc, âm vực của giọng nói cạn hẹp nhất nước cho nên dân ca của họ cũng
mang thổ âm, thổ ngữ rất rõ.
+ Phương ngữ là trong những yếu tố vô cùng quan trọng để nhận ra tính bản
địa, tính địa phương của sáng tác nghệ thuật dân gian. Phương ngữ không
chỉ là phương tiện nhấn nhá, đệm lót cho từng làn điệu mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của ca dao dân ca từng vùng. Phương ngữ đáp ứng đầy đủ các
nhu cầu giao tiếp thông thường của 1 nhóm cư dân cùng sinh sống trên địa
bàn nhất định.
Tính phi lợi
nhuận
+ Diễn xướng dân gian phần lớn phục vụ cho nhu cầu thưởng thức tại chỗ
của những người trong cộng đồng làng xã, dòng họ nên tính tự túc rất rõ nét.
+ Diễn xướng dân gian cơ bản không phải là phương thức làm ra của cải vật
chất, nó không sinh lợi nhuận kinh tế mà đem lại giá trị tinh thần là chính.
Ngay cả khi nghệ thuật diễn xướng phát triển cả về quy mô và hình thức thì
vẫn mang tính chất hoạt động văn nghệ quần chúng phục vụ đời sống tinh
thần của đông đảo người dân.
Câu 3: Anh (chị) hãy kể tên các vùng dân ca Việt Nam và trình bày đặc điểm của một
trong các vùng dân ca đó?
Hiện nay tại Việt Nam có tất cả 6 vùng dân ca. Bao gồm:
+ Vùng dân ca miền núi phía Bắc
+ Vùng dân ca đồng bằng, trung du Bắc Bộ và cực bắc Trung Bộ
+ Vùng dân ca đồng bằng và ven biển Bắc Trung Bộ
+ Vùng dân ca đồng bằng và ven biển Nam Trung Bộ
+ Vùng dân ca đồng bằng Nam Bộ
+ Vùng dân ca Trường Sơn – Tây Nguyên.
Sau đây, là đặc điểm của một số vùng dân ca đáng chú ý (lựa chọn ngẫu nhiên của tác giả):
Vùng dân ca
Đặc điểm
Vùng dân ca
đồng bằng,
trung du Bắc Bộ
và cực bắc
Trung Bộ
+ Là vùng địa lý được coi như là cái nôi văn minh của người Việt, là địa
bàn sinh tụ từ lâu đời, là vùng đất tổ của người Việt. Đó cũng là cái nôi đầu
tiên sinh thành và nuôi dưỡng những thể loại dân ca rất đặc trưng như: Hát
Ghẹo, Hát Đúm, Hát Trống quân, Hát Quan họ; các điệu hát chèo; Cò lả,
Hát ví, Hát ghẹo, Hát cửa Đình, Hát Chầu văn…
+ Môi trường trung du và đồng bằng là môi trường đặc trưng của nông
nghiệp ruộng nước => là những bức ảnh thiên nhiên và xã hội chủ yếu của
các sáng tác dân gian.
+ Vùng còn phân ra đặc sản dân ca riêng của từng địa phương như Phú Thọ
có Hát Xoan, hát Ghẹo anh; Kinh Bắc có hát Quan họ; Hà Nội có hát Ải
lao; Hà Tây có Hát Dô, chèo tàu; Hải Phòng có Hát Đúm; Hà Nam có hát

4
Dậm; Hà Nam Ninh là cái nôi và là trung tâm lớn của hát Chầu văn và hát
Xẩm; Thanh Hóa có Hò Sông Mã…
+ Khá phong phú về chủng loại, đa dạng về hình thức ca hát, sâu rộng và
sinh động về nội dung lời ca, âm nhạc. Nhiều loại, nhiều bài đượm màu sắc
vui tươi, duyên dáng.
Vùng dân ca
đồng bằng
Nam Bộ
+ Nam Bộ là nơi tụ cư của những con người tứ xứ, bởi vậy dân ca vùng này
cũng mang nhiều màu sắc. Trong đó nổi lên là dân ca người Việt và dân ca
người Khmer, Chăm, Hoa…
+ Dân ca Nam Bộ là sự kế thừa dân ca Việt phía Bắc, đặc trưng là của miền
Trung. Nói tới dân ca vùng này phải nói tới Hò với Lý.
+ Hò Nam Bộ cũng đa dạng về mặt chủng loại như hò miền Trung nhưng
sự đa dạng ấy còn được đẩy thêm 1 bước nữa với sự hình thành những điệu
Hò mang phong cách riêng của từng địa phương như: Hò Bạc Liêu, Hò
Đồng Tháp, Hò Trà Vinh...
+ Lý Nam Bộ cũng phát triển lên tới đỉnh cao về số lượng và về sự đa dạng
phong phú của đặc tính âm nhạc và hệ đề tài. Những bài mang đến tên cụ
thể của những "cây" , những "con" thường thấy trong vùng như: Lý cây đa,
Lý cây chanh, Lý con chuột, Lý ngựa ô.
+ Âm nhạc của những điệu Hò, Lý cũng như lời ca đã phản ánh sinh động
tâm hồn con người sống trong vùng đất được thiên nhiên dành cho những
ưu đãi.
+ Ngoài ra dân ca Việt Nam Bộ còn phát triển mạnh hát Ru và tục Nối thơ.
+ Bên cạnh sự chiếm ưu thế của dân ca Việt, cũng cần phải kể đến dân ca
của dân tộc Khmer Nam Bộ. Kho tàng dân ca Khơ me Nam Bộ cũng rất
phong phú và đặc sắc, ngoài hát đồng dao, hát ru, còn có những bài hát lao
động, hát huê tình, đặc biệt là có những loại bài hát kèm với múa, hát trong
đám cưới… rất phổ biến.
Câu 4: Anh (chị) hãy cho biết thế nào là Âm nhạc dân gian? Hãy phân tích những đặc
trưng cơ bản của âm nhạc dân gian Việt Nam?
- Khái niệm âm nhạc dân gian:
+ Theo nghĩa rộng: Âm nhạc dân gian là các thể loại ca nhạc tồn tại có tính chất thường trực
trong môi trường sinh hoạt dân gian. Trong âm nhạc dân gian theo nghĩa rộng có cả những yếu tố,
thể loại mang tính chất dân gian và những yếu tố, thể loại mang tính chất bác học do sự đóng góp
của giới trí thức bình dân hoặc có nguồn gốc từ dòng cung đình.
+ Theo nghĩa hẹp: Âm nhạc dân gian là những thể loại ca nhạc được sáng tạo và biểu diễn
chủ yếu bằng cảm xúc và kinh nghiệm, mặc dầu 1 số loại cũng đã có những nguyên tắc cho việc
thực hành biểu diễn nhưng vẫn chưa hình thành hệ thống lý luận chi phối mọi hoạt động sáng tác
và biểu diễn.
- Đặc trưng cơ bản:
+ Mang tính nguyên hợp: một tác phẩm diễn xướng dân gian thường có sự tham gia đồng

5
bộ của thơ ca, âm nhạc, múa, trò diễn, hoá trang và cả các nghi thức. Hình thái này thể hiện đặc
trưng trong phương pháp phản ánh thực tại của folklore, được gọi là đặc trưng tổng thể nguyên
hợp (Syncretisme).
+ Mang bản chất xã hội: Diễn xướng dân gian phản ánh tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng
của người lao động, nảy sinh ra ngay trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt xã hội của họ.
+ Có tính thực hành xã hội: Âm nhạc dân gian được sáng tác và trình diễn gắn liền với
những hoạt động sản xuất và sinh hoạt xã hội cụ thể của người lao động. Tính thực hành xã hội
thường được chỉ rõ ngay trong tên gọi của nhiều thể loại, chẳng hạn như: Hò giã vôi, Hò giã gạo,
Hò chèo thuyền…
+ Không tồn tại dưới dạng văn bản, mà nằm trong trí nhớ của mỗi người dân và chỉ xuất
hiện khi được người dân trình diễn ra.
+ Trình diễn âm nhạc dân gian là quá trình sáng tác tại chỗ.
+ Quá trình trình diễn một tác phẩm âm nhạc dân gian lại cũng là lúc nó được truyền bá.
+ Do được lưu truyền theo cách truyền miệng, và do quá trình trình diễn cũng là quá trình
sáng tác, nên các tác phẩm âm nhạc dân gian luôn ở trong tình trạng biến động.
+ Âm nhạc dân gian có tính tập thể hay tính khuyết danh.
Câu 5: Anh (chị) hãy cho biết thế nào là múa dân gian? Hãy phân tích những đặc điểm
cơ bản của nghệ thuật múa dân gian Việt Nam?
- Khái niệm múa dân gian:
Múa dân gian là hình thái múa do quần chúng nhân dân sáng tạo được lưu truyền từ đời này
qua đời khác. Múa dân gian được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Nó tiêu
biểu cho bản sắc văn hóa của từng cộng đồng và là cơ sở để phát triển các hình thái múa khác.
- Đặc điểm:
Đặc điểm cơ bản
Miêu tả
Thường gắn liền với
phong tục, tập quán,
lễ nghi, tín ngưỡng
+ Trong đời sống văn hóa tâm linh của quần chúng nhân dân, có 1 loại
múa được sản sinh và nuôi dưỡng trong môi trường sinh hoạt văn hóa
tâm linh đó là múa tín ngưỡng hay còn gọi là múa tín ngưỡng dân gian.
Múa tín ngưỡng thể hiện cho các loại nghi lễ.
VD: người Việt có múa tín ngưỡng hầu bóng (múa lên đồng) là 1 bộ
phận của chương trình lễ hội và nghi lễ đạo Mẫu. Nhìn từ góc độ tín
ngưỡng thì động tác, điệu bộ của người múa thể hiện tiếng nói, ý nguyện
của thánh thần. Theo quan niệm dân gian, phần xác (ông, bà đồng) là
của con người, còn phần hồn là của thánh thần => con người và thánh
thần có thể gần gũi, hòa quyện với nhau.
+ Những động tác biểu hiện thể giới tâm linh của con người (cầu mong
sự che chở, phù hộ…).
Giàu tính hiện thực
+ Múa dân gian do mô phỏng hiện thực nên mặc dù đã được cách điệu
hóa vẫn mang tới cho người xem những thông điệp sát thực.
Được thể hiện cả 2 chiều. Chiều 1 là tự luận điệu múa được “ tác giả dân
gian” ghi nhận trong thực tế, từ đó sáng tạo nên. Chiều 2 là người thể

