intTypePromotion=1

Đề tài: Tìm hiểu về điện toán đám mây và các ứng dụng đa phương tiện

Chia sẻ: Nguyễn Đình Bắc | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:76

0
275
lượt xem
102
download

Đề tài: Tìm hiểu về điện toán đám mây và các ứng dụng đa phương tiện

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Tìm hiểu về điện toán đám mây và các ứng dụng đa phương tiện nhằm đi nghiên cứu, tìm hiểu về sự ra đời, phát triển của điện toán đám mây, giúp mọi người có thể hiểu sâu hơn về công nghệ điện toán đám mây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Tìm hiểu về điện toán đám mây và các ứng dụng đa phương tiện

  1.  TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH KHOA KỸ THUẬT CÔNG – NGHỆ                                                      BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN Đề tài: Tìm hiểu về điện toán đám mây và các ứng dụng đa phương tiện Giảng viên hướng dẫn  : Nguyễn Quốc Dũng. Sinh viên thực hiện  : Nguyễn Đình Bắc. Lớp  : K19 – CNTT. Khóa : 2014 – 2015
  2. Hà Tĩnh, tháng 2, năm 2015 Mục lục           Trang 2
  3. LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát triển, máy vi tính đã trở thành một   phần tất yếu của cuộc sống. Chúng ta cần máy tính ở khắp mọi nơi, có thể là do công   việc nghiên cứu hoặc trong bất cứ lĩnh vực nào. Khi sử dụng máy tính hằng ngày của  chúng ta tăng lên thì nguồn tài nguyên máy tính của chúng ta cũng cần tăng lên. Vậy  chúng ta đã giải quyết vấn đề này như thế nào?  Đối với các công ty lớn như Google,  Microsoft thì việc khai thác nguồn tài nguyên lớn như vậy cũng không phải là vấn đề  lớn. Nhưng đối với các doanh nghiệp nhỏ  hơn thì nguồn tài nguyên lớn như  vậy tác   động không nhỏ  tới kinh doanh. Với những vấn đề  lớn về  cơ  sở  hạ  tầng công nghệ  thông tin (CNTT) như máy hỏng, treo  ổ cúng, lổi phần mềm.v.v...  Đây là một vấn đề  đau đầu cho các chủ doanh nghiệp. Giải pháp nào có thể  đáp ứng nhu cầu trên? Điện  toán đám mây ra đời đã cung cấp một giải pháp cho tình trạng này. Điện toán đám mây là một kiểu tính toán mà  ở  đó các công việc CNTT được  cung cấp như một dịch vụ trên Internet đến nhiều khách hàng bên ngoài và khách hàng  được tính tiền theo sựu  ủng hộc của họ. Nhiều nhà cung cấp điện toán đám mây đã   xuất hiên và có một sự  tang trưởng đáng kể  trong công việc sữ  dụng dịch vụ  này.  Google, Microsoft, Yahoo, IBM, và Amazon đã bắt dầu cung cấp dịch vụ điện toán đám  mây. Trong đó Amazon là nhà tiên phong trong lĩnh vực này. Các công ty nhỏ  như  SmugMug, một trang web lưu trử hình  ảnh trực tuyến, có sữ  dụng dịch vụ  điện toán  đám mây để lưu trử tất cả dữ liệu và thực hiện một số dịch vụ của mình. Không nằm ngoài xu thế chung của ngành công nghệ thông tin thế giới, Việt Nam   đang dần tiếp cận dịch vụ  đám mây thông qua các dự  án của một số  doanh nghiệp   nước ngoài như  Microsoft, Intel, IBM… Công nghệ  này được coi là giải pháp cho  những vấn đề mà nhiều công ty đang gặp phải như thiếu năng lực công nghệ thông tin,  chi phí đầu tư  hạn chế… Hầu hết các nhà lãnh đạo công nghệ  thông tin đều khá kỳ  vọng khi nhận định về  công nghệ  này. Với những sự kì vọng to lớn như  vậy đối với   công nghệ  điện toán đám mây. Việc nghiên cứu và triển khai các dịch vụ  sao cho có   hiệu quả về chi phí cũng như chất lượng và đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng  đang là yêu cầu được đặt ra bức thiết đối với các nhà cung cấp dịch vụ. 3
  4. Điện toán đám mây được sữ dụng trong các lĩnh vực khác nhau như web hosting,  lập trình song song, dựng hình đồ  họa, mô hình tài chính (IBM Clounds), các phương   pháp duyệt và tìm kiếm trên web (web spider), phân tích gen (Amazon Clounds),... Để tìm hiểu về điện toán đám mây em đã làm đề tài nghiên cứu này để tìm hiểu  về sự ra đời, phát triển của điện toán đám mây. Cho mọi người có thể hiểu sâu hơn về  công nghệ  điện toán đám mây. Một xu hướng công nghệ  đang được các nhà doanh   nghiệp cũng như người “tiêu dùng” để ý. Đề tài nghiên cứu này được thực hiện bằng   sự  tìm hiểu của bản thân qua hệ  thống thông tin trên mạng Internet, dựa trên những   phần mềm em tìm hiểu về công nghệ điện toán đám mây. Mong rằng qua đề tài nghiên  cứu về  điện toán đám mây này sẽ  giúp mọi người hiểu hơn về  công nghệ  điện toán  đám mây. Trong quá trình làm đề tài này còn nhiều thiếu sót về nội dung và cách trình bày,  mong các thầy cô cùng các bạn có thể  đóng góp ý kiến để  có thể  hoàn thiện đề  tài   nghiên cứu này một cách hoàn chỉnh hơn. Em xin trân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Quốc Dũng đã hướng dẫn, giúp đỡ  em trong quá trình học tập cũng như làm bài tập lớn môn học. 4
  5. CHƯƠNG I: Điện Toán Đám Mây I. Tổng quan về điện toán đám mây 1. Đặt vấn đề Ngày nay, đối với các công ty, doanh nghiệp, việc quản lý tốt, hiệu quả  dữ  liệu   của riêng công ty cũng như  dữ  liệu khách hàng, đối tác là một trong những bài toán   được ưu tiên hàng đầu và đang không ngừng gây khó khăn cho họ. Để  có thể quản lý   được nguồn dữ liệu đó, ban đầu các doanh nghiệp phải đầu tư, tính toán rất nhiều loại   chi phí như chi phí cho phần cứng, phần mềm, mạng, chi phí cho quản trị viên, chi phí  bảo trì, sửa chữa,.vv… Ngoài ra họ  còn phải tính toán khả  năng mở  rộng, nâng cấp   thiết bị, phải kiểm soát việc bảo mật dữ liệu cũng như tính sẵn sàng cao của dữ liệu.  Từ  một bài toán điển hình như  vậy, chúng ta thấy được rằng nếu có một nơi tin   cậy giúp các doanh nghiệp quản lý tốt nguồn dữ  liệu đó, các doanh nghiệp sẽ  không   còn quan tâm đến cơ sở hạ tầng, công nghệ mà chỉ tập trung chính vào công việc kinh  doanh của họ thì sẽ mang lại cho họ hiệu quả và lợi nhuận ngày càng cao hơn. Thuật ngữ “cloud computing” còn được bắt nguồn từ ý tưởng đưa tất cả  mọi thứ  như  dữ  liệu, phần mềm, tính toán, … lên trên mạng Internet. Chúng ta sẽ  không còn  trông thấy các máy PC, máy chủ của riêng các doanh nghiệp để lưu trữ dữ liệu, phần   mềm nữa mà chỉ  còn một số các “máy chủ   ảo” tập trung ở  trên mạng. Các “máy chủ  ảo” sẽ  cung cấp các dịch vụ  giúp cho doanh nghiệp có thể  quản lý dữ  liệu dễ  dàng   hơn, họ sẽ chỉ trả chi phí cho lượng sử dụng dịch vụ của họ, mà không cần phải đầu   tư nhiều vào cơ sở hạ tầng cũng như quan tâm nhiều đến công nghệ. Xu hướng này sẽ  giúp nhiều cho các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ  mà không có cơ  sở  hạ  tầng   mạng, máy chủ để lưu trữ, quản lý dữ liệu tốt.  Vậy “cloud computing” là gì? Nó có thể giải quyết bài toán trên như thế nào và có  những đặc điểm nổi bật gì? Chúng ta sẽ đi qua các phần sau để nắm rõ vấn đề này. 2. Định nghĩa  “Điện toán đám mây (cloud computing) là một khái niệm rộng, nó tương quan với   các phương thức để  cung cấp cơ  sở  hạ  tầng, dịch vụ và phần mềm thông qua mạng   theo nhu cầu, phù hợp với quy mô. Điện toán đám mây dựa trên một nền tảng ảo hóa,   5
  6. trong đó các kho tài nguyên (ảo hóa) được tổ  chức một cách linh động vì lợi ích của   các ứng dụng và phần mềm. Điều này sẽ  làm thay đổi cách thức các ứng dụng được   viết ra và cung cấp” – Cisco System “Điện toán đám mây là một mô hình để hỗ trợ truy cập qua mạng thuận tiện, theo   nhu cầu vào một kho tài nguyên điện toán có thể định cấu hình được (như là tài nguyên   mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ) có thể  được cung cấp và thu hồi nhanh   chóng với công sức quản lý hoặc tương tác của nhà quản trị   ở mức độ  tối thiểu. Mô   hình điện toán đám mây đảm bảo độ sẵn sàng và được cấu thành từ năm đặc tính cần   thiết, ba mô hình cung cấp và bốn mô hình triển khai” – NIST (Viện tiêu chuẩn và  Công nghệ Quốc gia, Mỹ). Mô hình điện toán đám mây theo NIST được minh họa ở  hình vẽ dưới đây. Hình 1.1: Mô hình điện toán đám mây của NIST 3. Ưu và nhược điểm của cloud computing:  a) Ưu điểm : Những ưu điểm và thế mạnh dưới đây đã góp phần giúp "điện toán đám mây" trở thành mô hình điện toán được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Tính linh động: Người dùng có thể thoải mái lựa chọn các dịch vụ phù hợp với  nhu cầu của mình, cũng như  có thể  bỏ  bớt những thành phần mà mình không   6
  7. muốn. (Thay vì phải bỏ  ra hàng trăm USD cho 1 bộ  Ms office, ta có thể  mua  riêng lẻ từng phần hoặc chỉ trả 1 khoản phí rất nhỏ mỗi khi sử dụng 1 phần nào   đó của nó). Giảm bớt phí: Người dùng không chỉ giảm bớt chi phí bản quyền mà còn giảm   phần lớn chi phí cho việc mua và bảo dưỡng máy chủ. Việc tập hợp ứng dụng   của nhiều tổ chức lại 1 chỗ sẽ giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu, cũng như tăng   hiệu năng sử dụng các thiết bị này một cách tối đa. Tạo nên sự độc lập: Người dùng sẽ không còn bị bó hẹp với 1 thiết bị hay 1 vị  trí cụ thể nào nữa. Với điện toán đám mây, phần mềm, dữ liệu có thể được truy   cập và sử  dụng từ  bất kì đâu, trên bất kì thiết bị  nào mà không cần phải quan  tâm đến giới hạn phần cứng cũng như địa lý.  Tăng cường độ tin cậy: Dữ liệu trong mô hình điện toán đám mây được lưu trữ  1 cách phân tán tại nhiều cụm máy chủ tại nhiều vị trí khác nhau. Điều này giúp  tăng độ tin cậy, độ an toàn của dữ liệu mỗi khi có sự cố hoặc thảm họa xảy ra.  Bảo mật: Việc tập trung dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau sẽ  giúp các chuyên  gia bảo mật tăng cường khả  năng bảo vệ  dữ  liệu của người dùng, cũng như  giảm thiểu rủi ro bị ăn cắp toàn bộ  dữ  liệu. (Dữ  liệu được đặt tại 6 máy chủ  khác nhau → trong trường hợp hacker tấn công, bạn cũng sẻ chỉ bị lộ 1/6. Đây là   1 cách chia sẻ rủi ro giữa các tổ chức với nhau) Bảo trì dễ  dàng: Mọi phần mềm đều nằm trên server, lúc này, người dùng sẽ  không cần lo lắng cập nhật hay sửa lỗi phần mềm nữa. Và các lập trình viên   cũng dễ dàng hơn trong việc cài đặt, nâng cấp ững dụng của mình. b) Nhược điểm : Tuy nhiên, mô hình điện toán này vẫn còn mắc phải một số nhược điểm sau: Tính riêng tư: Các thông tin người dùng và dữ  liệu được chứa trên điện toán  đám mây có đảm bảo được riêng tư, và liệu các thông tin đó có bị  sử  dụng vì  một mục đích nào khác? 7
  8. Tính sẵn dùng: Liệu các dịch vụ đám mây có bị “treo” bất ngờ, khiến cho người  dùng không thể  truy cập các dịch vụ  và dữ  liệu của mình trong những khoảng   thời gian nào đó khiến ảnh hưởng đến công việc? Mất dữ liệu: Một vài dịch vụ  lưu trữ dữ liệu trực tuyến trên đám mây bất ngờ  ngừng hoạt động hoặc không tiếp tục cung cấp dịch vụ, khiến cho người dùng   phải sao lưu dữ  liệu của họ  từ  “đám mây” về  máy tính cá nhân. Điều này sẽ  mất nhiều thời gian. Thậm chí một vài trường hợp, vì một lý do nào đó, dữ liệu  người dùng bị mất và không thể phục hồi được. Tính di động của dữ liệu và quyền sở hữu: Một câu hỏi đặt ra, liệu người dùng  có thể chia sẻ dữ liệu từ dịch vụ đám mây này sang dịch vụ của đám mây khác?   Hoặc trong trường hợp không muốn tiếp tục sử  dụng dịch vụ cung cáp từ  đám  mây, liệu người dùng có thể  sao lưu toàn bộ  dữ  liệu của họ  từ  đám mây? Và   làm cách nào để  người dùng có thể  chắc chắn rằng các dịch vụ  đám mây sẽ  không hủy toàn bộ dữ liệu của họ trong trường hợp dịch vụ ngừng hoạt động. Khả  năng bảo mật : Vấn đề tập trung dữ  liệu trên các “đám mây” là cách thức  hiệu quả để tăng cường bảo mật, nhưng mặt khác cũng lại chính là mối lo của   người sử dụng dịch vụ của điện toán đám mây. Bởi lẽ  một khi các đám mây bị  tấn công hoặc đột nhập, toàn bộ dữ liệu sẽ bị chiếm dụng. Các quy định pháp luật cho các dịch vụ, giữa khách hàng và nhà cung cấp. 8
  9. 4. Mô hình tổng quan của điện toán đám mây Các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ ... sẽ nằm tại các máy chủ  ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng để mọi người   kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần. Hình 1.2: Mô hình tổng quan của điện toán đám mây Hiện nay, các nhà cung cấp đưa ra nhiều dịch vụ  của điện toán đám mây theo   nhiều hướng khác nhau, đưa ra các chuẩn riêng cũng như  cách thức hoạt động khác  nhau. Do đó, việc tích hợp các cloud để  giải quyết một bài toán lớn của khách hàng  vẫn còn là một vấn đề  khó khăn. Chính vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ  đang có xu   hướng tích hợp các đám mây lại với nhau thành “sky computing”, đưa ra các chuẩn   chung để giải quyết các bài toán lớn của khách hàng.  9
  10. 5. Các loại hình đám mây a,Đám mây công cộng Đám mây công cộng là các dịch vụ  đám mây được một bên thứ  ba (người bán)   cung cấp. Chúng tồn tại ngoài tường lửa công ty và chúng được lưu trữ  đầy đủ  và   được nhà cung cấp đám mây quản lý. Các đám mây công cộng cố  gắng cung cấp cho người tiêu dùng với các phần tử  công nghệ thông tin tốt nhất. Cho dù đó là phần mềm, cơ sở  hạ tầng  ứng dụng hoặc   cơ sở hạ tầng vật lý, nhà cung cấp đám mây chịu trách nhiệm về cài đặt, quản lý, cung  cấp và bảo trì. Khách hàng chỉ chịu phí cho các tài nguyên nào mà họ  sử  dụng, vì thế  cái chưa sử dụng được loại bỏ. Tất nhiên điều này liên quan đến chi phí. Các dịch vụ  này thường được cung cấp  với "quy  ước về cấu hình," nghĩa là chúng được phân phối với ý tưởng cung cấp các   trường hợp sử dụng phổ biến nhất. Các tùy chọn cấu hình thường là một tập hợp con   nhỏ  hơn so với những gì mà chúng đã có nếu nguồn tài nguyên đã được người tiêu   dùng kiểm soát trực tiếp. Một điều khác cần lưu ý là kể  từ  khi người tiêu dùng có   quyền kiểm soát một chút trên cơ sở hạ tầng, các quy trình đòi hỏi an ninh chặt chẽ và  tuân thủ quy định dưới luật không phải lúc nào cũng thích hợp cho các đám mây chung. b,  Đám mây riêng Đám mây riêng là các dịch vụ đám mây được cung cấp trong doanh nghiệp. Những   đám mây này tồn tại bên trong tường lửa công ty và chúng được doanh nghiệp quản lý. Các đám mây riêng đưa ra nhiều lợi ích giống như  các đám mây chung thực hiện   với sự khác biệt chính: doanh nghiệp có trách nhiệm thiết lập và bảo trì đám mây này.   Sự  khó khăn và chi phí của việc thiết lập một đám mây bên trong đôi khi có thể  có  chiều hướng ngăn cản việc sử dụng và chi phí hoạt động liên tục của đám mây có thể  vượt quá chi phí của việc sử dụng một đám mây chung. Các đám mây riêng đưa ra nhiều lợi thế hơn so với loại chung. Việc kiểm soát chi   tiết hơn trên các tài nguyên khác nhau đang tạo thành một đám mây mang lại cho công  ty tất cả các tùy chọn cấu hình có sẵn. Ngoài ra, các đám mây riêng là lý tưởng khi các   kiểu công việc đang được thực hiện không thiết thực cho một đám mây chung, do đúng   với các mối quan tâm về an ninh và về quản lý. 10
  11. c,  Đám mây lai Đám mây lai là một sự kết hợp của các đám mây công cộng và riêng. Những đám   mây này thường do doanh nghiệp tạo ra và các trách nhiệm quản lý sẽ được phân chia   giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp đám mây công cộng. Đám mây lai sử dụng các dịch  vụ có trong cả không gian công cộng và riêng. Các đám mây lai là câu trả lời khi một công ty cần sử dụng các dịch vụ của cả hai   đám mây riêng và công cộng. Theo hướng này, một công ty có thể  phác thảo các mục   tiêu và nhu cầu của các dịch vụ và nhận được chúng từ đám mây công cộng hay riêng,   khi thích hợp. Một đám mây lai được xây dựng tốt có thể phục vụ các quy trình nhiệm  vụ­tới hạn, an toàn, như  nhận các khoản thanh toán của khách hàng, cũng như  những  thứ là không quan trọng bằng kinh doanh, như xử lý bảng lương nhân viên. Hạn chế  chính với đám mây này là sự  khó khăn trong việc tạo ra và quản lý có  hiệu quả một giải pháp như vậy. Phải có thể nhận được và cung cấp các dịch vụ  lấy  từ các nguồn khác nhau như thể chúng có nguồn gốc từ một chỗ và tương tác giữa các  thành phần riêng và chung có thể làm cho việc thực hiện thậm chí phức tạp hơn nhiều.   Do đây là một khái niệm kiến trúc tương đối mới trong điện toán đám mây, nên cách  thực hành và các công cụ tốt nhất về loại này tiếp tục nổi lên và bất đắc dĩ chấp nhận   mô hình này cho đến khi hiểu rõ hơn. d,  Đám mây cộng đồng Đám mây cộng đồng là đám mây liên quan đến việc chia sẻ cơ sở hạ tầng giữa các   tổ chức, các nhóm đối tượng có mục đích chia sẻ cùng một nội dung. Ví dụ như các tổ  chức hay một nhóm đối tượng thuê những đám mây riêng để chia sẻ chung những nôi   dung về âm nhạc, phim ảnh, công nghệ, quân sự… 6. Đặc điểm của điện toán đám mây Nhanh chóng cải thiện với người dùng có khả năng cung cấp sẵn các tài nguyên cơ  sở hạ tầng công nghệ một cách nhanh chóng và ít tốn kém.  Chi phí được giảm đáng kể và chi phí vốn đầu tư được chuyển sang hoạt động chi  tiêu. Điều này làm giảm rào cản cho việc tiếp nhận, chẳng hạn như  cơ  sở  hạ  tầng   được cung cấp bởi đối tác thứ  3 và không cần phải mua để  dùng cho các tác vụ  tính   toán thực hiện 1 lần hay chuyên sâu mà không thường xuyên. Việc định giá dựa trên cơ  11
  12. sở tính toán theo nhu cầu thì tốt đối với những tùy chọn dựa trên việc sử dụng và các   kỹ năng IT được đòi hỏi tối thiểu (hay không được đòi hỏi) cho việc thực thi.  Sự  độc lập giữa thiết bị  và vị  trí làm cho người dùng có thể  truy cập hệ  thống   bằng cách sử  dụng trình duyệt web mà không quan tâm đến vị  trí của họ  hay thiết bị  nào mà họ đang dùng, ví dụ như PC, mobile. Vì cơ sở hạ tầng off­site (được cung cấp   bởi đối tác thứ 3) và được truy cập thông qua Internet, do đó người dùng có thể kết nối   từ bất kỳ nơi nào.  Việc cho thuê nhiều để có thể chia sẻ tài nguyên và chi phí giữa một phạm vi lớn   người dùng, cho phép:  ­ Tập trung hóa cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực với chi phí thấp hơn (chẳng  hạn như bất động sản, điện, v.v.)  ­ Khả  năng chịu tải nâng cao (người dùng không cần kỹ  sư  cho các mức tải   cao nhất có thể).  ­ Cải thiện việc sử dụng và hiệu quả cho các hệ thống mà thường chỉ 10­20%  được sử dụng.  Độ  tin cậy cải thiện thông qua việc sử  dụng các site có nhiều dư  thừa, làm nó  thích hợp cho tính liên tục trong kinh doanh và khôi phục sau sự  cố. Tuy nhiên, phần  lớn các dịch vụ của điện toán đám mây có những lúc thiếu hụt và người giám đốc kinh   doanh, IT phải làm cho nó ít đi.  Tính co giãn linh động (“theo nhu cầu”) cung cấp tài nguyên trên một cơ sở mịn, tự  bản thân dịch vụ và gần thời gian thực, không cần người dùng phải có kỹ sư cho chịu   tải. Hiệu suất hoạt động được quan sát và các kiến trúc nhất quán, kết nối lỏng lẽo   được cấu trúc dùng web service như giao tiếp hệ thống.  Việc bảo mật cải thiện nhờ  vào tập trung hóa dữ  liệu, các tài nguyên chú trọng   bảo mật, v.v… nhưng cũng nâng cao mối quan tâm về việc mất quyền điều khiển dữ  liệu nhạy cảm. Bảo mật thường thì tốt hay tốt hơn các hệ  thống truyền thống, một   phần bởi các nhà cung cấp có thể  dành nhiều nguồn lực cho việc giải quyết các vấn  đề bảo mật mà nhiều khách hàng không có đủ chi phí để thực hiện. Các nhà cung cấp  sẽ ghi nhớ (log) các truy cập, nhưng việc truy cập vào chính bản thân các audit log có   thể khó khăn hay không thể.  12
  13. Khả năng chịu đựng xảy ra thông qua việc tận dụng tài nguyên đã được cải thiện,  các hệ thống hiệu quả hơn. Tuy nhiên, các máy tính và cơ sở hạ tầng kết hợp là những  thứ tiêu thụ năng lượng chủ yếu.  7. Các giải pháp Điện toán đám mây ra đời để giải quyết các vấn đề sau:  ­ Vấn đề về lưu trữ dữ liệu: Dữ liệu được lưu trữ tập trung ở các kho dữ liệu  khổng lồ. Các công ty lớn như  Microsoft, Google có hàng chục kho dữ  liệu   trung tâm nằm rải rác khắp nơi trên thế  giới. Các công ty lớn này sẽ  cung   cấp các dịch vụ cho phép doanh nghiệp có thể lưu trữ và quản lý dữ liệu của  họ trên các kho lưu trữ trung tâm.  ­ Vấn đề về sức mạnh tính toán: Có 2 giải pháp chính. Sử dụng các siêu máy tính (super­computer) để xử lý tính toán.  Sử  dụng các hệ  thống tính toán song song, phân tán, tính toán lưới (grid   computing).  ­ Vấn đề về cung cấp tài nguyên, phần mềm: Cung cấp các dịch vụ như IaaS  (Infrastructure as a Service), PaaS (Platform as a Service), SaaS (Software as a  13
  14. Service). Hình 1.3: Minh họa về dịch vụ của điện toán đám mây 14
  15. 8.  So sánh điện toán đám mây và điện toán truyền thống Sự  khác nhau giữa điện toán đám mây và điện toán truyền thống được thể  hiện   trong bảng dưới đây: Điểm so sánh Điện   toán   truyền  thống Sử dụng Riêng Chia sẻ Tính dễ sử dụng Mua   sắm   phần   cứng  Tự phục vụ truyền thống Khả năng mở rộng Các   dịch   vụ   mới   được  Mở rộng theo nhu cầu bổ   sung   một   cách   thụ  động Độ sẵn sàng Sửa chữa các sự  cố  một  Tự động khôi phục nhờ tích  cách thủ công hợp/tương tác Cung cấp Sau hàng tháng Sau vài phút Chi phí Tăng dần Trả   tiền   theo   mức   độ   sử  dụng Bảng : Sự khác nhau giữa Điện toán truyền thống và điện toán Đám mây 15
  16. II. Hiện thực hóa điện toán đám mây Một số khó khăn, thách thức trong quá trình hiện thực hóa cloud computing: ­ Bảo mật: Sở hữu trí tuệ (Intellectual property)  Tính riêng tư (Privacy)  Độ tin cậy (Trust)  ­ Khả năng không kiểm soát dữ liệu  ­ Độ trễ dữ liệu  ­ Tính sẵn sàng của dịch vụ, dữ liệu  ­ Các dịch vụ kèm theo  ­ Các quy định pháp luật cho các dịch vụ, giữa khách hàng và nhà cung cấp Hình 1.4: Phân lớp điện toán đám mây 16
  17. Hình 1.4 mô tả  ba phần của một mô hình đám mây. Hình này phản ánh chính xác   qui mô của khối công nghệ thông tin khi nó liên quan đến chi phí, yêu cầu không gian  vật lý, bảo trì, quản lý, giám sát quản lý và sự lỗi thời.  1.  Các dịch vụ của đám mây a, Dịch vụ cơ sở hạ tầng ­ IaaS Những kiến trúc  ảo xếp chồng là một ví dụ  của xu hướng mọi thứ  là dịch vụ  và  có cùng những điểm hơn hẳn một máy chủ cho thuê. Không gian lưu trữ và các thiết bị  mạng tập trung, máy trạm thay vì đầu tư mua nguyên chiếc thì có thể thuê đầy đủ dịch   vụ  bên ngoài. Những dịch vụ này thông thường được tính chi phí trên cơ  sở  tính toán   chức năng và lượng tài nguyên sử dụng (và từ đó ra chi phí) sẽ phản ảnh được mức độ  của hoạt động. Đầy lầ một sự phát triển của những giải pháp lưu trữ web và máy chủ  cá nhân ảo.  Tên ban đầu được sử  dụng là dịch vụ  phần cứng (HaaS) và được tạo ra bởi một   nhà kinh tế học Nichlas Car vào thang 3 năm 2006, nhưng điều này cần thiết. Nhưng từ  này đã dần bị thay thế bởi khái niệm dịch vụ hạ tầng vào khoảng cuối năm 2006.  Những đặc trưng tiêu biểu:  ­ Cung cấp tài nguyên như là dịch vụ: bao gồm cả máy chủ, thiết bị mạng, bộ  nhớ, CPU, không gian đĩa cứng, trang thiết bị trung tâm dữ liệu.  ­ Khả năng mở rộng linh hoạt  ­ Chi phí thay đổi tùy theo thực tế  ­ Nhiều người thuê có thể cùng dùng chung trên một tài nguyên  ­ Cấp độ doanh nghiệp: đem lại lợi ích cho công ty bởi một nguồn tài nguyên  tích toán tổng hợp. b,  Dịch vụ nền tảng ­ PaaS Cung cấp nền tảng tính toán và một tập các giải pháp nhiều lớp. Nó hỗ  trợ  việc  triển khai ứng dụng mà không quan tâm đến chi phí hay sự phức tạp của việc trang bị  và quản lý các lớp phần cứng và phần mềm bên dưới, cung cấp tất cả  các tính năng  cần thiết để  hỗ  trợ  chu trình sống đầy đủ  của việc xây dựng và cung cấp một  ứng  dụng và dịch vụ Web sẵn sàng trên Internet mà không cần bất kì thao tác tải hay cài đặt  17
  18. phần mềm cho những người phát triển, quản lý tin học, hay người dùng cuối. Nó còn   được biết đến với một tên khác là cloudware.  Cung cấp dịch vụ nền tảng (PaaS) bao gồm những điều kiện cho qui trình thiết kế  ứng dụng, phát triển, kiểm thử, triển khai và lưu trữ ứng dụng có giá trị như là dịch vụ  ứng dụng như  cộng tác nhóm, sắp xếp và tích hợp dịch vụ  Web, tích hợp cơ  sở  dữ  liệu, bảo mật, khả năng mở rộng, quản lý trạng thái, phiên bản ứng dụng, các lợi ích   cho cộng đồng phát triển và nghiên cứu ứng dụng. Những dịch vụ này được chuẩn bị  như là một giải pháp tính hợp trên nền Web. Những đặc trưng tiêu biểu:  ­ Phục vụ  cho việc phát triển, kiểm thử, triển khai và vận hành  ứng dụng  giống như là môi trường phát triển tích hợp  ­ Các công cụ khởi tạo với giao diện trên nền Web.  ­ Kiến trúc đồng nhất  ­ Tích hợp dịch vụ Web và cơ sở dữ liệu  ­ Hỗ trợ cộng tác nhóm phát triển  ­ Công cụ hỗ trợ tiện tích  Các yếu tố:  ­ Thuận lợi:  Dịch vụ  nền tảng (PaaS) đang ở thời kì đầu và được ưa chuộng ở  những   tính năng vốn được  ưa thích bởi dịch vụ  phần mềm, bên cạnh đó có tích  hợp các yếu tố về nền tảng hệ thống.  Ưu điểm trong những dự án tập hợp những công việc nhóm có sự phân tán   về địa lý.  Khả năng tích hợp nhiều nguồn của dich vụ Web  Giảm chi phí ngoài lề khi tích hợp các dịch vụ về bảo mật, khả năng mở  rộng, kiểm soát lỗi…  Giảm chi phí khi trừu tượng hóa công việc lập trình ở mức cao để tạo dục   vụ, giao diện người dùng và các yếu tố ứng dụng khác.  Mong đợi ở người dùng có kiến thức có thể tiếp tục hoàn thiện và hỗ trợ  tương tác với nhiều người để giúp xác định mức đô khó khăn của vấn đề  chúng ta gặp phải.  18
  19. Hướng việc sử  dụng công nghệ  để  đạt được mục đích tạo điều kiện dễ  dàng hơn cho việc phát triển  ứng dụng đa người dùng cho những người   không chỉ  trong nhóm lập trình mà có thể  kết hợp nhiều nhóm cùng làm  việc. ­ Khó khăn:  Ràng buộc bởi nhà cung cấp: do giới hạn phụ  thuộc và dịch vụ  của nhà   cung cấp. Giới hạn phát triển: độ phức tạp khiến nó không phù hợp với yêu cầu phát  triển nhanh vì những tính năng phức tạp khi hiện thực trên nền tảng web.  c, Dịch vụ phần mềm­SaaS Dịch vụ  phần mềm (SaaS) là một mô hình triển khai  ứng dụng mà  ở  đó người  cung cấp cho phép người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu. Những nhà cung cấp SaaS có   thể  lưu trữ   ứng dụng trên máy chủ  của họ  hoặc tải  ứng dụng xuống thiết bị  khách  hàng, vô hiệu hóa nó sau khi kết thúc thời hạn. Các chức năng theo yêu cầu có thể  được kiểm soát bên trong để chia sẻ  bản quyền của một nhà cung cấp ứng dụng thứ  ba.  Những đặc trưng tiêu biểu: ­ Phần mềm sẵn có đòi hỏi việc truy xuất, quản lý qua mạng.  ­ Quản lý các hoạt động từ  một vị trí tập trung hơn là tại mỗi nơi của khách   hàng, cho phép khách hàng truy xuất từ xa thông qua Web.  ­ Cung cấp  ứng dụng thông thường gần gũi với mô hình ánh xạ  từ  một đến  nhiều hơn là mô hình 1:1 bao gồm cả các đặc trưng kiến trúc, giá cả và quản  lý.  ­ Những tính năng tập trung nâng cấp, giải phóng người dùng khỏi việc tải  các bản vá lỗi và cập nhật.  ­ Thường xuyên tích hợp những phần mềm giao tiếp trên mạng diện rộng  2.  Ảo hóa a. Ảo hóa máy chủ Một máy chủ  riêng  ảo­Virtual Private Server hay máy chủ   ảo hoá là một phương  pháp phân vùng một máy chủ vật lý thành máy tính nhiều máy chủ ảo, mỗi máy chủ đã  19
  20. có khả năng của riêng của mình chạy trên máy tính dành riêng. Mỗi máy chủ  ảo riêng  của nó có thể  chạy full­fledged hệ  điều hành, và mỗi máy chủ  độc lập có thể  được   khởi động lại. Lợi thế của ảo hoá máy chủ : ­ Tiết kiệm được chi phí đầu tư máy chủ ban đâu.  ­ Hoạt động hoàn toàn như một máy chủ riêng. ­ Có thể dùng  máy chủ ảo hoá cài đặt các ứng dụng khác tùy theo nhu cầu  của doanh nghiệp. ­ Bảo trì sửa chữa nâng cấp nhanh chóng và dễ dàng.  ­ Dễ dàng nâng cấp tài nguyên RAM, HDD, Băng thông khi cần thiết. ­ Có thể cài lại hệ điều hành từ 5­10 phút. ­ Không lãng phí tài nguyên. b. Ảo hóa lưu trữ Hiện nay các nhà lưu trữ cung cấp đã được cung cấp giải pháp lưu trữ  hiệu suất   cao cho khách hàng của họ trong một thời gian tương đối lâu. Trong hình thức cơ bản  nhất của nó, lưu trữ ảo hóa tồn tại trong việc ta lắp ráp ổ đĩa vật lý nhiều thành một  thực thể duy nhất được trình bày để các máy chủ lưu trữ và chạy hệ điều hành chẳng  hạn như triển khai RAID. Điều này có thể được coi là ảo bởi vì tất cả các ổ đĩa được   sử  dụng và tương tác với như  một  ổ  đĩa logic duy nhất, mặc dù bao gồm hai hoặc   nhiều ổ đĩa trong. Một công nghệ ảo hoá lưu trữ mà ta biết đến SAN (Storeage Area Network – lưu  trữ qua mạng). Storage Area Network (SAN) là một mạng được thiết kế cho việc thêm  các thiết bị  lưu trữ  cho máy chủ  một cách dễ  dàng như:  Disk Aray Controllers, hay  Tape Libraries. Với những  ưu điểm nổi trội SANs đã trở  thành một giải pháp rất tốt cho lưu trữ  thông tin cho doanh nghiệp hay tổ  chức. SAN cho phép kết nối từ  xa tới các thiết bị  lưu trữ  trên mạng như: Disks và Tape drivers. Các thiết bị  lưu trữ  trên mạng, hay các   ứng dụng chạy trên đó được thể hiện trên máy chủ  như  một thiết bị của máy chủ  (as  locally attached divices). Có hai sự khác nhau cơ bản trong các thành phần của SANs: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản