
DI TÍCH CHĂM
Phần 2: Tháp Bằng An
Tháp Bằng An thuộc làng Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam, nằm trên đường 606, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 27 km về phía Nam.
Theo nội dung tấm bia tìm thấy tại Bằng An, vua Bhadravarman II cho xây
dựng một đền thờ tên là Linga Paramesvara (thượng đế tuyệt đỉnh-một tên hiệu
của thần Siva). Theo các nhà nghiên cứu thì tấm bia này được xây dựng vào
khoảng năm 875 đến 977 CN.
Bằng An là ngôi tháp duy nhất có mặt bằng hình
bát giác còn tồn tại đến nay (tháp Chánh Lộ ở Quảng
Ngãi cũng có mặt bằng hình bát giác, nhưng đã sụp
đổ từ lâu, không thể biết được hình dạng bên trên của
nó).
Chiều cao hiện nay của tháp trên 20m, đế tháp
khá cao, thân tháp là một hình trụ bát giác, mỗi cạnh
tường dài 4m. Phần tiền sảnh khá lớn, cửa ra vào ở
hướng Đông, hai bên tiền sảnh có 2 cửa ra vào phụ.
Tường tháp bằng phẳng, không có cửa giả, không có
trụ ốp tường và hoa văn trang trí. Ở phần chân tường
có các đường gờ kỷ hà loe dần ra tiếp xúc với phần
đế tháp, trên đỉnh tường cũng được xây những đường
gờ kỷ hà loe dần ra đỡ lấy vòm mái hình chóp, gồm
8 mái cong thu nhỏ dần và nhọn ở trên đỉnh. Trên
các đường gờ dọc theo mái tháp còn để lại dấu vết
của những vật trang trí kiến trúc bằng sa thạch. Chóp tháp đã bị rơi mất.
Trước đây phần tiền sảnh bị hư hại nặng, được Công chánh Pháp trùng tu vào
năm 1940, hai cửa phụ ra vào ở 2 bên tiền sảnh bị biến thành 2 cửa sổ.
Bên ngoài tháp hiện nay còn 2 pho tượng Gajasimha bằng sa thạch, chiếc vòng
lục lạc của Gajasimha Bằng An giống như vòng lục lạc của Gajasimha Chánh Lộ
và Chiên Đàn, bộ lông gáy được cách điệu, các móng chân được thể hiện rõ, chiếc
vòi ngắn và cong lên.
Dựa vào 2 pho tượng Gajasimha thuộc phong cách Chánh Lộ và mặt bằng của
tháp Bằng An có hình bát giác như tháp Chánh Lộ, J.Boisselier đã định niên đại
tháp Bằng An ngang với Chánh Lộ (thế kỷ XI).
Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng kiểu thân tháp có hình trụ bát giác giống
như những chiếc cột lớn bằng gạch hình bát giác ở di tích Đồng Dương và Pô-
Nagar, do đó niên đại của tháp khoảng cuối thế kỷ IX-đầu thế kỷ X, còn 2 tượng
Gajasimha được dựng vào thế kỷ sau, khi tháp vẫn còn là nơi thờ thần Siva.

Theo ý kiến chúng tôi, hình dáng bên ngoài
của tháp Bằng An giống như chiếc Linga khổng
lồ, đó chính là Linga Paramesvara mà vua
Bhadravarman II đã cho xây dựng vào cuối thế kỷ
IX, có thể tháp đã được tu sửa đôi lần, nhưng về
cơ bản vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu.
Theo khảo tả và bản vẽ của H.Parmentier,
trước đây trong khu vực này còn dấu vết nền
móng của 2 kiến trúc phụ nhỏ, một ở phía Tây
Nam, một ở phía Đông Bắc tháp chính, nhưng ngày nay dấu vết của 2 kiến trúc
phụ này đã bị biến mất vì lũ lụt.
2. Khu đền tháp Mỹ Sơn
Khu đền tháp Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú,
huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cách thành
phố Đà Nẵng khoảng 70km về phía Tây-Nam.
Năm 1895, C. Paris cho phát quang khu tháp
này. Năm 1898-1899, hai học giả Pháp là L. Finot
và L. De Lajonquière đã đến Mỹ Sơn để nghiên
cứu các văn bia. Năm 1901, H. Parmentier - kiến
trúc sư kiêm nhà khảo cổ đã đến nghiên cứu về
kiến trúc và nghệ thuật. Những công trình nghiên cứu đầu tiên và cơ bản nhất về bi
ký và kiến trúc tại Mỹ Sơn được L. Finot và H. Parmentier công bố trong kỷ yếu
của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (B.E.F.E.O) năm 1904.
Căn cứ vào vị trí phân bố của nhóm tháp, H. Parmentier đã đặt tên các nhóm
tháp theo mẫu tự Latinh:
- Nhóm A và A' ( nhân dân địa phương thường gọi là tháp Chùa) gồm có 17
công trình.
- Nhóm B,C,D ( tháp Chợ) có 27 công trình.
- Nhóm E,F ( tháp Hố Khế) có 12 công trình.
- Nhóm G có 5 công trình.
- Nhóm H ( tháp Bàn Cờ) có 4 công trình.
- Các công trình riêng lẽ: K,L,M,N.
Cách đặt tên này chỉ mang tính chất quy ước để phân biệt các tháp cho tiện
việc nghiên cứu, chứ nó hoàn toàn không có ý
nghĩa về mặt niên đại.
Theo nội dung một tấm bia tại khu A Mỹ Sơn,
vào khoảng cuối thế kỷ IV, vua Bhadravarman đã
cho xây dựng một ngôi đền bằng gỗ để thờ thần
Siva-Bhadresvara. Trong văn bia có
đoạn:"...Bhadravarman dâng cho thần
Bhadresvara một vùng đất vĩnh viễn; phía đông là
núi Sulaha, phía nam là Đại sơn Mahaparvata,
phía tây là núi Kusaka, phía Bắc là... (làm giới

hạn). Ruộng đất trong phạm vi đó thì dâng với cả dân cư. Hoa lợi của khu này thì
phải dâng lên thần..." (1). Cho đến nay người ta vẫn chưa biết rõ số lượng cũng
như kiểu dáng của những ngôi đền được xây dựng tại Mỹ Sơn trước thế kỷ VII,
bởi lẽ chúng đã bị thiêu hủy toàn bộ. Vào đầu thế kỷ VIII, vua Sambhuvarman cho
xây dựng lại ngôi đền thờ Bhadresvara bằng gạch và đặt tên mới là Sambhu-
Bhadresvara.
Phần lớn các đền thờ chính ở Mỹ Sơn được xây dựng để thờ thần Siva dưới các
tên gọi khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ban đầu vị thần- vua
Bhadresvara của Mỹ Sơn chỉ mang tính chất địa phương, phải đến thế kỷ XI, vị
thần chủ ở Mỹ Sơn với tên gọi Srisana-Bhadresvara mới trở thành thần chủ của
toàn vương quốc Champa (2).
Với khoảng 70 công trình xây dựng từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, Mỹ Sơn là
khu đền thờ Ấn Độ giáo quan trọng nhất của vương quốc Champa, tại đây chúng
ta có thể tìm thấy hầu hết các phong cách kiến trúc trong nghệ thuật Champa.
Theo Ph.Stern, có thể chia ra:
- Phong cách cổ (Phong cách Mỹ Sơn E1) thế kỷ VII - VIII gồm tháp E1, F1.
- Phong cách Hòa Lai: thế kỷ VIII - nữa đầu thế kỷ IX, gồm các tháp A2, C7,
F3.
- Phong cách Đồng Dương: giữa thế kỷ IX - đầu thế kỷ X, có các tháp: A10,
A11, A13, B4.
- Phong cách Mỹ Sơn A1: thế kỷ X với các tháp A1, B2, B3, B5,B6 ,B8, C1,
C2, C3, C4, C5, C6, D1, D2, D4, E7.
- Phong cách Pô- Nagar: thế kỷ XI, có các tháp E4, F2.
- Phong cách Bình Định: thế kỷ XII- XIII, gồm có các tháp B1, các tháp nhóm
G, H, K...
Đền tháp ở Mỹ Sơn được bố trí theo một tổng
thể:
- Đền thờ chính (Kalan) nằm ở giữa, tượng trưng
cho núi Méru- theo quan niệm của Ấn Độ giáo, đây
là trung tâm vũ trụ, nơi ngự trị của thần linh. Thông
thường có một cửa quay về hướng Đông.
- Tháp cổng (Gopura) ngay ở phía trước Kalan,
có hai cửa thông nhau mở về hướng Đông và hướng
Tây.
- Mandapa, ngôi nhà dài tiếp với tháp cổng, dùng
làm nơi đón tiếp khách hành hương, tiếp nhận lễ
vật...
- Cạnh đền thờ chính là ngôi tháp có một hoặc
hai phòng, cửa chính quay về hướng Bắc, dùng làm
nơi cất giữ các đồ tế lễ gọi là Kosa-Graha.
- Ngoài ra quanh Kalan còn có các tháp phụ để thờ các vị thần phương hướng
(Dispalakas), các vị thần tinh tú (Grahas) hoặc các vị thần phụ như Skanda,
Ganesa...

Mỹ Sơn không chỉ được mọi người biết đến bởi các công trình kiến trúc, nơi
đây còn nổi tiếng bởi hàng trăm tác phẩm vô giá, có niên đại từ thế kỷ VII đến thế
kỷ XIII. Phần lớn những tác phẩm điêu khắc được tìm thấy vào những năm đầu
của thế kỷ XX, đã được mang về trưng bày ở Bảo tàng Điêu khắc Champa Đà
Nẵng.
Theo thống kê của người Pháp, trước năm 1946, tại Mỹ Sơn còn khoảng 50
công trình kiến trúc khá nguyên vẹn, nhưng qua 2 cuộc chiến tranh, nhất là vào
năm 1969, không quân Mỹ đã ồ ạt ném bom vào thung lũng Mỹ Sơn, làm cho khu
di tích này bị tàn phá nặng nề, nhiều công trình kiến trúc đã bị đánh sập hoàn toàn,
trong đó có ngôi đền Mỹ Sơn A1 nổi tiếng.
Sau năm 1975, ở Mỹ Sơn có khoảng 20 tháp
còn giữ được hình dạng, nhưng không có cái nào
nguyên vẹn. Để phục vụ cho công tác kiểm kê,
khảo sát và trùng tu di tích, năm 1978, công việc
phát quang và tháo gỡ mìn đã được tiến hành, 11
người bị mang thương tích và 6 người khác vĩnh
viễn nằm xuống để đem lại bình yên cho mảnh đất
này.
Từ năm 1980, chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam-Ba Lan được thực hiện,
kiến trúc sư Ba Lan Kazimier Kwiatkowski đã trực tiếp tham gia và chỉ đạo về
mặt kỹ thuật. Sau 10 năm được gia cố tu sửa, trung tâm kiến trúc bậc nhất của
nghệ thuật Champa bắt đầu hồi sinh, Mỹ Sơn đã được trả lại phần nào dáng vẻ
trước kia của nó, làm cho ta có thể hình dung được một đền thờ Ấn Độ giáo uy
nghiêm kỳ vi của vương quốc Champa trong quá khứ. Trong thời gian này, nhiều
tác phẩm điêu khắc có giá trị đã tiếp tục được tìm thấy, tất cả đang được trưng bày
tại Mỹ Sơn.
Khu di tích Mỹ Sơn đã được Bộ Văn Hóa Thông tin ra quyết định số 54-
VH/QĐ ngày 29-4-1979, công nhận là DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT.
Ngày 1-12-1999, trong phiên họp thứ 23 của Ủy Ban Di sản thế giới, Mỹ Sơn đã
được ghi vào danh sách DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI.
Ghi chú:
(1) G.Maspéro- VƯƠNG QUỐC CHAMPA- Paris 1928, tr 64 (Bản dịch tiếng Việt
của Lê Tư Lành).
(2) Ngô Văn Doanh- THÁP CỔ CHAMPA, SỰ THẬT VÀ HUYỀN THOẠI-HÀ
HỘI 1994, tr12-13.
3. Tháp Đồng Dương
Địa điểm: xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ đã khai quật và xác định ở đây nguyên là một
Phật viện lớn của vương quốc Chămpa, được xây dựng vào khoảng thế kỷ IX- X.

Nhiều hiện vật được phát hiện tại đây đã được đưa về bảo quản và trưng bày tại
Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Hiện nay tại khu vực Đồng Dương, các dấu
tích nền móng của Phật viện đã bị vùi lấp, chỉ còn nhìn thấy một phần của một
ngôi tháp, được gọi là tháp cổng.
4. Tháp Chiên Đàn
Nhóm tháp Chiên Đàn nằm cạnh quốc lộ 1A thuộc xã Tam An, huyện Phú
Ninh, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 65 km về phía Nam.
Di tích gồm có 3 tháp xếp thành một hàng
theo trục Bắc Nam, cửa ra vào ở hướng Đông. Cả
3 tháp có hình dạng gần giống nhau, mặt bằng
tháp hình vuông, mái tháp là những tầng thu nhỏ
dần lên trên.
+Tháp Bắc: là tháp nhỏ nhất trong nhóm.
Phần đỉnh tháp đã bị sụp đổ hoàn toàn, cửa ra vào
đổ mất phần tiền sảnh. Vòm cuốn trên cửa ra vào còn tương đối nguyên vẹn. Các
cửa giả bị hư hại nặng.
+Tháp Giữa: là tháp lớn nhất trong nhóm, được bảo tồn tốt hơn 2 tháp kia.
Đỉnh tháp còn lại một tầng, tiền sảnh và phần cửa giả bị sụp mất phần chân. Chóp
tháp bằng sa thạch rơi ngay sau tháp, gồm 2 thớt khá lớn ghép lại với nhau: thớt
dưới là một hình bát giác, mỗi góc chạm nổi một lá đề, trên lá đề chạm mặt Kala,
thớt trên tương tự thớt dưới nhưng nhỏ hơn và nhọn ở trên đỉnh, có chốt gắn vào lỗ
ở thớt dưới. Trên chóp tháp còn dấu vết những lỗ khoan nhỏ và những đầu đinh
bằng đồng, dường như trước kia người ta gắn những mảnh kim loại quý vào đây.
+Tháp Nam: nhỏ hơn tháp Giữa và lớn hơn tháp Bắc. Phần mái tháp đã bị sụp
đổ hoàn toàn.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, cũng như các nhóm 3 tháp khác (Khương Mỹ,
Dương Long, Hưng Thạnh, Hòa Lai), tháp Nam Chiên Đàn được xây dựng trước,
tiếp theo là tháp Giữa, sau cùng là tháp Bắc.
Trên thân các tháp ở Chiên Đàn không có hoa văn
trang trí. Các trụ ốp tường và các đường gờ của khối
chữ nhật hẹp dọc theo thân tháp làm cho tháp có vẻ
cao hơn.
Mỗi tháp có 3 cửa giả và một cửa ra vào, phía
trên các cửa có vòm uốn cong và nhọn lên thành hình
lá đề, giữa vòm cuốn có một bức phù điêu dạng lá
đề (Tympan).
Trong đợt trùng tu di tích vào năm 1989, các nhà
khảo cổ đã khai quật quanh các tháp, làm lộ ra hệ
thống chân tường và các trang trí chân tường bằng sa
thạch cùng với hàng trăm tác phẩm điêu khắc có giá trị. Phần trang trí chân tường
ở tháp Giữa còn tương đối nguyên vẹn nhất, đó là những thớt đá lớn ghép quanh
chân tháp, được chạm trổ tinh vi, gồm hình những chiến sĩ cầm vũ khí nhảy múa

