Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Định liều chiếu trong đối với 131I từ mẫu không khí và lịch sử phơi chiếu

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

14
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này hướng đến việc đánh giá liều chiếu trong bằng phép lấy mẫu không khí đối với hơi 131I cho từng cá nhân tham gia sản xuất đồng vị 131I tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Thiết bị chính được sử dụng trong nghiên cứu này gồm máy lấy mẫu khí xách tay, hệ phổ kế gamma phông thấp và điện thoại thông minh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Định liều chiếu trong đối với 131I từ mẫu không khí và lịch sử phơi chiếu

  1. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 9(118).2017 - Quyển 1 99 ĐỊNH LIỀU CHIẾU TRONG ĐỐI VỚI 131I TỪ MẪU KHÔNG KHÍ VÀ LỊCH SỬ PHƠI CHIẾU ASSESSMENT OF INTERNAL DOSE FOR I-131 USING AIR SAMPLE AND EXPOSURE PATTERN Trần Xuân Hồi1*, Huỳnh Trúc Phương2, Nguyễn Văn Hùng3 1 Trường Đại học Phú Yên; tranxuanhoi@pyu.edu.vn 2 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 3 Trung tâm Đào tạo - Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt Tóm tắt - Nghiên cứu này hướng đến việc đánh giá liều chiếu trong Abstract - This paper focuses on the assessment of individual bằng phép lấy mẫu không khí đối với hơi 131I cho từng cá nhân tham internal dose of 131I using air sampling for workers involved in gia sản xuất đồng vị 131I tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Thiết radioisotope production at Dalat Nuclear Research Institute. The bị chính được sử dụng trong nghiên cứu này gồm máy lấy mẫu khí main devices used in this research include the portable air sampler, xách tay, hệ phổ kế gamma phông thấp và điện thoại thông minh. Kết low-background gamma spectrometry and the smart phone. The quả cho thấy liều chiếu trong là khá thấp và khác nhau đáng kể giữa results show that all the dose has been classified at no or low risk các nhân viên. Hơn nữa, bài báo cũng cho thấy rằng kết quả định liều and there is a wide range of internal dose among the workers. từ mẫu không khí và từ phân tích nước tiểu có mối tương quan không Moreover, the paper indicates that the doses estimated from air cao, đặc biệt đối với các trường hợp có liều lớn hơn 1 mSv. Tuy nhiên, sample have had no-high correlation with those from urine analysis, phương pháp định liều từ mẫu không khí này chỉ hạn chế với số lượng especially for doses lower than 1 mSv. However, this air method can đối tượng ít và phạm vi nghiên cứu là trong nhà. be done as an individual monitoring for a small group in indoor areas. Từ khóa - liều chiếu trong; I-131; mẫu không khí; phân tích nước Key words - internal dose; I-131; air sample; urine analysis; tiểu; phơi chiếu. exposure. 1. Mở đầu làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu và Điều chế đồng vị Trong số các đồng vị được sử dụng trong y học thì 131I là phóng xạ, Viện NCHN Đà Lạt. Phạm vi lấy mẫu để đánh giá một đồng vị phóng xạ được dùng nhiều trong chẩn đoán và phơi chiếu 131I giới hạn trong các phòng sản xuất đồng vị. điều trị các bệnh về tuyến giáp [2]. Đồng vị này thường được Thiết bị sử dụng bao gồm điện thoại, máy lấy mẫu khí và hệ sản xuất bằng phương pháp chưng cất khô sản phẩm telua phổ kế gamma HPGe. Kết quả định liều được so sánh với điôxit được chiếu xạ nơtron từ lò phản ứng hạt nhân [1]. kết quả từ phép phân tích nước tiểu cùng thời điểm và đối tượng. Khi tiến hành sản xuất thì một lượng đáng kể 131I dạng hơi phát tán ra không khí xung quanh và gây ra phơi nhiễm 2. Phương pháp và thiết bị trong cho nhân viên bức xạ (NVBX) [1]. Do đó, các nhân 2.1. Thiết bị viên thao tác trên các đồng vị phóng xạ với hoạt độ lớn phải Thiết bị sử dụng để hút không khí qua phin lọc trong được đánh giá liều [6, 10]. nghiên cứu này là một máy lấy mẫu khí loại xách tay Tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân (NCHN) Đà Lạt, hàng RAS-1 do hãng Thermo Fisher Scientific Inc. sản xuất. chục Ci sản lượng đồng vị 131I được sản xuất hàng tháng để Phin lọc được sử dụng là loại phin lọc chuyên dụng TC-12 cung cấp cho các cơ sở y học hạt nhân trên toàn quốc [4]. cho bắt giữ i-ốt, do hãng HI-Q sản xuất. Hệ phổ kế gamma Theo các báo cáo về an toàn bức xạ của Viện thì nồng độ phông thấp tại Trung tâm An toàn bức xạ, Viện NCHN Đà 131 I trong không khí ở khu vực này là khá cao so với mức Lạt được sử dụng để đo đếm hoạt độ của các mẫu trong cho phép của Tiêu chuẩn Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ có phép nghiên cứu này. Hệ phổ kế này sử dụng đầu dò HPGe phân tích nước tiểu được áp dụng tại đây để đánh giá liều Oxford CPVDS30-30185 với hiệu suất tương đối là 33,4%, chiếu trong (LCT) cho các nhân viên [15]. Trong khi đó, buồng chì Canberra 747E và phần mềm phân tích xung PC theo Ủy ban Quốc tế về Bảo vệ Phóng xạ (ICRP) thì đánh Multiport 16K. giá liều từ mẫu không khí là một trong số các phương pháp Để thu được dữ liệu về các vị trí chiếm cứ theo thời gian được khuyên dùng [12]. thực được trải qua bởi các đối tượng, nghiên cứu này dùng Có nhiều bài báo đã công bố về định LCT cá nhân từ một ứng dụng cảm biến chuyển động có tên là Motion mẫu không khí. Trong đó, dữ liệu về thời gian phơi chiếu Recorder. Ứng dụng này chạy trên hệ điều hành Symbian hầu hết được lấy từ việc ghi nhật ký, sử dụng hệ thống định với kích thước sau cài đặt là 76 kB. vị toàn cầu hoặc thông qua phỏng vấn. Các nghiên cứu này 2.2. Bố trí thực nghiệm quan tâm đến phạm vi di chuyển rộng của các đối tượng. Đối với phạm di chuyển vi hẹp như trong các tòa nhà thì 2.2.1. Lấy mẫu không khí các nghiên cứu đã công bố thường quan tâm đến liều tập Khu vực sản xuất 131I của Viện NCHN Đà Lạt gồm có thể hoặc liều cho một số nhóm đối tượng mà không chỉ ra 3 phòng liên tiếp và thông với nhau. Chức năng của Phòng liều tính riêng cho cá nhân đối tượng nào. 1 là chưng cất, Phòng 2 là phân liều và Phòng 3 là hủy mẫu. Do đó, nghiên cứu này hướng đến việc định LCT cá nhân Đặc điểm chung của các phòng này là không có cửa sổ, hệ do hít phải không khí có chứa 131I. Đối tượng là các NVBX thống thông gió hoạt động liên tục trong quá trình diễn ra
  2. 100 Trần Xuân Hồi, Huỳnh Trúc Phương, Nguyễn Văn Hùng sản xuất. Các phòng được khép kín với hành lang và không J K bị ảnh hưởng bởi gió từ bên ngoài. Kích thước mỗi phòng là dài 6m  rộng 6m  cao 4m. Ei     C jk  tijk  (3) j 1 k 1 Trên cơ sở các khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) [7] và dựa vào đặc điểm thiết Trong đó, Di (Sv) là LCT của đối tượng i. e(g)inh là hệ bị hiện có thì thông số lấy mẫu khí được tính toán và lựa số chuyển đổi liều được chọn theo số liệu của IAEA [7] và chọn gồm: Độ cao phin lọc là 1,5m; lưu tốc hút 70 L/phút; ấn bản số 78 của Ủy ban Quốc tế về Bảo vệ Phóng xạ thời gian hút 10 phút/mẫu; hai mẫu liên tiếp lấy cách nhau (ICRP-78) [11] đối với hơi 131I thâm nhập theo đường hô khoảng 2,5 giờ. hấp (2,0×10-8 Sv/Bq). Ii (Bq) là lượng thâm nhập của 131I qua đường hít thở. R là lưu tốc hít thở chuẩn của nhân viên 2.2.2. Thu nhận lịch sử vị trí-thời gian (1,2 m3/h) [11]. Ei (Bq.h/m3) là lượng phơi chiếu của đối Ứng dụng Motion Recorder sau khi cài đặt trên điện tượng i. Cjk (Bq/m3) là nồng độ của 131I trong không khí tại thoại, nó sử dụng camera của điện thoại làm bộ phận ghi phòng j vào thời điểm k và tijk là thời gian đối tượng i phơi nhận chuyển động. Khi ứng dụng chạy, mọi cử động của chiếu tại phòng j vào thời điểm k. các vật trên màn hình giao diện của ứng dụng mà thỏa mãn các độ nhạy đã cài đặt trước sẽ được ghi vào điện thoại dưới Nồng độ tại mỗi phòng được đánh giá thông qua các dạng một tập tin phim có phụ đề là thời gian thực tại thời mẫu không khí được lấy ngẫu nhiên tại các phòng và rải điểm ghi. Ngoài ra, các thời điểm trên màn hình giao diện khắp quá trình diễn ra sản xuất 131I. Tần suất lấy mẫu không chỉ có khung hình tĩnh thì không được ghi bởi ứng dụng và khí trung bình trong bài báo này là 1,59 và 1,73 h/mẫu lần lúc đó điện thoại đang ở trạng thái chờ. Các điện thoại được lượt tại Phòng 1 và Phòng 2. Mẫu tại Phòng 3 được lấy thưa gắn tại các cửa ra vào của các phòng quan tâm và chúng hơn, với tần suất là 4 hoặc 5 mẫu/ngày. hoạt động “ngầm” khi hoạt động. Tập tin thu được sau đó 3. Kết quả và thảo luận được xử lý trên máy tính. 3.1. Định lượng phơi chiếu 2.3. Các công thức tính toán Lượng thâm nhập tính cho từng cá nhân định từ mẫu Lượng phơi chiếu được xây dựng từ công thức không khí trong nghiên cứu này được tính từ lượng phơi (3). Vị trí của các đối tượng theo thời gian và chiếu hàng ngày của riêng cá nhân đó trong một năm tại nồng độ 131I theo thời gian tương ứng được khớp với nhau các tiểu môi trường riêng biệt mà đối tượng đã từng chiếm cho từng vị trí quan tâm. Cả hai dữ liệu là nồng độ và thời cứ. Từ đó, LCT cho từng cá nhân được tính từ lượng thâm gian được khảo sát đồng thời. Hình 1 là kết quả khảo sát nhập của chính cá nhân đó trong thời gian tương ứng. Các lịch sử phơi chiếu của 1 trong số 9 nhân viên đã trải qua công thức từ (1) đến (3) được sử dụng để trong năm 2015 tại khu vực quan tâm. tính toán liều trong bài báo này [13, 14]. Lượng thâm nhập của 131I theo đường hô hấp được tính (1) từ lượng phơi chiếu nhân với lưu tốc hít thở của nhân viên Di  e ( g ) inh  I i theo công thức (2). Trong đó, lưu tốc hít thở của các nhân I i  R  Ei (2) viên được lấy theo mặc định của ICRP là 1,2 m3/h . Hình 1. Lịch sử phơi chiếu của nhân viên W6 tại 3 tiểu môi trường trong năm 2015 3.2. Định liều 131I từ mẫu không khí Liều 131I hiệu dụng tích lũy năm 2015 thể hiện trên Hình LCT của 9 cá nhân đối với 131I theo từng tháng và cả năm 2 là tổng liều từ các tháng trong năm đó của mỗi đối tượng 2015 được tính từ lượng thâm nhập của từng đối tượng tương tương ứng. Trong năm 2015, có 12 đợt sản xuất 131I từ việc ứng nhân với hệ số chuyển đổi liều bằng cách sử dụng công chưng cất khô tại Viện. Tuy nhiên, tháng 11 không thể lấy thức (1), được thể hiện trên Hình 2. Trong đó, hệ số chuyển được mẫu và do đó liều trong năm 2015 thể hiện trên Hình đổi liều được lấy theo số liệu đưa ra bởi IAEA [7] và ICRP- 2 sẽ không bao gồm đóng góp liều của tháng 11. 78 [11] đối với hơi 131I thâm nhập theo đường hít thở.
  3. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 9(118).2017 - Quyển 1 101 Hình 2. LCT hàng tháng và năm 2015 được tính từ mẫu không khí 3.3. Thảo luận 3.3.2. Mức độ nguy hại của liều nhận được đều thấp 3.3.1. Giá trị liều phụ thuộc vào nhóm công việc Mức độ nguy hại do liều 131I gây ra trên các đối tượng Các đối tượng nhận một LCT của 131I hàng tháng nằm được phân thành hai mức, đó là mức không nguy hại và trong một dải liều rộng. Các giá trị này chênh lệch hàng mức nguy hại thấp. Mức không nguy hại bao gồm các đối chục lần giữa các tháng trên cùng một đối tượng. Từ Hình tượng có số LCT hàng năm nhận được trong khoảng 2 có thể tính được rằng 54,8% liều hàng tháng của 9 đối 0,1 – 1 mSv, và mức nguy hại thấp là trong khoảng tượng là nằm trong khoảng từ 0,01 mSv đến 0,1 mSv. 1 – 6 mSv [5]. Nếu xét về cấp độ an toàn bức xạ của công Trong tháng 8, 8 trong số 9 đối tượng (ngoại trừ đối việc hoặc cấp độ tác vụ mà các nhân viên đảm nhiệm thì hai mức độ nguy hại trên tương ứng với hai cấp độ là cấp tượng W2) nhận được liều cao nhất so với các tháng trong 1 và cấp 2 [3], thể hiện trên Bảng 1. năm. Lý do là nồng độ 131I tại các phòng nghiên cứu đều cao bất thường. Chẳng hạn, tại Phòng 1, có một số mẫu đạt Các đối tượng là NVBX nhận một liều hiệu dụng tích lũy nồng độ trên 40 kBq/m3, thể hiện trên Hình 1. Số liệu đáng hàng năm được định từ lượng thâm nhập của các đồng vị ngờ này tác giả cũng đã điều tra lại nhưng chưa phát hiện phóng xạ trong khoảng 0,1 – 1 mSv, thì không cần phải sử ra sự bất thường nào. Do đó, không có cơ sở để loại bỏ số dụng một phép định liều phức tạp [3, 5]. Các thông số sử dụng liệu cao một cách bất thường này. trong phép định liều đối với các đối tượng này được khuyến Nhân viên W8 không tham gia sản xuất 131I vào tháng cáo lấy từ số liệu của ICRP. Theo kết quả ở Bảng 1, có 4 đối 1 và từ tháng 8 – 12/2015, tương tự đối với nhân viên W2 tượng thuộc nhóm liều này gồm W2, W5, W8 và W9. vào tháng 12. LCT hiệu dụng tích lũy năm 2015 của các Các nhân viên còn lại bao gồm W1, W3, W4, W6 và đối tượng này là bằng 0 đối với các khoảng thời gian trên. W7 thuộc nhóm cần phải được khảo sát chi tiết thêm trong Đối tượng nhận liều 131I cao nhất là W1 với liều tổng phép định liều cá nhân bởi LCT năm 2015 của mỗi cá nhân cộng trong năm 2015 là 3,57 mSv. Nhân viên này đảm nhận đều vượt quá 1 mSv [3, 5, 6]. Đối với phép định liều từ lấy công việc vận hành chưng cất 131I trực tiếp trên dây chuyền mẫu không khí thì các khảo sát bổ sung được khuyến cáo sản xuất, được diễn ra chủ yếu tại Phòng 1 và một ít tại gồm khảo sát kích thước hạt son khí và xác định rõ thời Phòng 3. Nếu xét về thời gian phơi chiếu, 84,7% thời gian điểm phơi chiếu. phơi chiếu của nhân viên này là tại Phòng 1. Hơn nữa, theo Đối với kích thước và loại hạt son khí, trong trường kết quả thu được thì nồng độ 131I trong không khí tại Phòng hợp không có khảo sát riêng hoặc không có thông tin gì 1 là cao nhất, với giá trị trung bình lớn hơn 1,55 lần so với liên quan thì phải lấy AMAD bằng 5 µm [6 - 9, 11]. Trong Phòng 2. Đây là các lý do rõ ràng nhất làm cho nhân viên trường hợp của nghiên cứu này, khảo sát diễn ra tại khu W1 bị nhiễm liều cao nhất so với các đối tượng khác. vực dây chuyền chưng cất 131I. Các đối tượng nghiên cứu ở đây chính là các NVBX vận hành và thao tác trực tiếp
  4. 102 Trần Xuân Hồi, Huỳnh Trúc Phương, Nguyễn Văn Hùng trên dây chuyền này. Do đó, đồng vị I tồn tại trong 131 điểm phơi chiếu mà các đối tượng đã trải qua trước đó cũng là không khí vùng hít thở được xem là ở dạng hơi là có cơ một đề nghị trong trường hợp LCT vượt quá 1 mSv [3]. Trong sở và không cần thiết phải khảo sát thêm tính chất vật lý trường hợp của nghiên cứu này, gian phơi chiếu đã xác định của đồng vị này. rõ nhờ sự hỗ trợ của điện thoại. Ngoài ra, việc sử dụng thêm Trong trường hợp định liều từ phân tích nước tiểu hoặc đo một phép định liều song song khác trong trường hợp LCT trực tiếp tuyến giáp, việc xác định lại một cách chính xác thời vượt ngưỡng cần khảo sát là nên được xem xét [11]. Bảng 1. LCT hiệu dụng tích lũy năm 2015 do hít 131I LCT định từ mẫu Phân loại cấp độ Mã nhân viên Nhiệm vụ trong kíp sản xuất 131I Phân loại mức độ nguy hại không khí (mSv) công việc W1 Vận hành dây chuyền chưng cất 3,565 ±0,648 Cấp 2 Nguy hại thấp W2 Kiểm tra, giám sát 0,299±0,055 Cấp 1 Không nguy hại W3 Phân liều 1,664±0,196 Cấp 2 Nguy hại thấp W4 Phân liều 2,13±0,558 Cấp 2 Nguy hại thấp W5 Nhiệm vụ khác 0,589±0,104 Cấp 1 Không nguy hại W6 Hỗ trợ vận hành chưng cất 1,829±0,482 Cấp 2 Nguy hại thấp W7 Đóng gói 2,109±0,273 Cấp 2 Nguy hại thấp W8 Phân liều 0,316±0,108 Cấp 1 Không nguy hại W9 Nhiệm vụ khác 0,209±0,058 Cấp 1 Không nguy hại 3.4. So sánh từ một phép định liều độc lập khác Kết quả định LCT của các đối tượng từ hai phép định Một kết quả đo LCT phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên có liều độc lập được đưa ra ở Bảng 2. Hai phép đo này được thể cho kết quả nằm trong một dải rộng, tùy thuộc vào kỹ thực hiện cùng thời điểm, trên cùng đối tượng. Các đối năng và kinh nghiệm của định liều viên cũng như thiết bị tượng được chọn để thể hiện trên Bảng 2 là các NVBX có và phần mềm được sử dụng [3]. Phép định LCT từ phép lấy LCT định từ phép lấy mẫu không khí vượt quá 1 mSv trong mẫu không khí có nhược điểm là không thể lặp lại được năm 2015 (Bảng 1). phép đo [6]. Cách duy nhất để khẳng định độ tin cậy của Có 5 trong tổng số 9 đối tượng được định liều có LCT kết quả đo là sử dụng một kết quả đo khác [11]. năm 2015 định từ mẫu không khí vượt quá 1 mSv cùng với Sau mỗi đợt sản xuất 131I, các NVBX trong nhóm sản xuất liều định từ phép phân tích nước tiểu trong thời gian tương đồng vị tại Viện NCHN Đà Lạt đều phải cho mẫu nước tiểu ứng, được thể hiện trên Bảng 1. Số lượng tháng được định để định LCT một cách thường qui. Các lọ polyethylene có LCT trong năm 2015 của các đối tượng này hầu hết là không dung tích 500 mL được rửa bằng nước cất và dung dịch HNO3 đầy đủ vì không thể lấy được mẫu. Do đó, liều tổng cộng trước khi dùng để thu mẫu nước tiểu [15]. Các mẫu nước tiểu năm 2015 là không có đóng góp từ các tháng này. Từ Bảng được lấy trong vòng 24 giờ sau khi 131I thâm nhập và sau đó 2 cho thấy rằng, 5 đối tượng gồm W1, W3, W4, W6 và W7 được đo trên hệ phổ kế gamma. Hầu hết các mẫu này có hoạt đều có LCT định từ phép phân tích nước tiểu không vượt độ đủ lớn để đo trực tiếp mà không cần phải làm giàu. Từ kết quá 6 mSv. Như vậy, giá trị LCT của các đối tượng này được quả đo hoạt độ 131I trong các mẫu nước tiểu, lượng thâm nhập ghi nhận và quá trình định liều được kết thúc mà không cần và LCT được tính toán với sự hỗ trợ của ứng dụng MONDAL 3.01. phải khảo sát thêm các thông số khác [3]. Bảng 2. LCT định từ mẫu nước tiểu (mSv) được sử dụng để so sánh và khẳng định các đối tượng có mức liều thuộc nhóm nguy hại thấp W1 W3 W4 W6 W7 Tháng DA DU DA DU DA DU DA DU DA DU 1 0,057 - 0,046 0,015 0,049 0,068 0,048 0,009 0,053 0,011 2 0,086 0,025 0,025 0,009 0,043 0,051 0,051 0,002 0,052 0,009 3 0,307 - 0,089 0,032 0,091 0,081 0,155 0,031 0,135 - 4 0,184 0,008 0,108 0,021 0,104 0,130 0,088 0,009 0,124 0,040 5 0,086 0,054 0,083 0,063 0,076 - 0,059 0,000 0,098 0,280 6 0,203 0,034 0,201 0,016 0,200 0,112 0,153 0,009 0,154 0,035 7 0,100 0,253 0,051 0,023 0,053 0,348 0,058 0,013 0,047 0,079 8 1,980 0,070 0,669 - 1,133 0,004 0,730 0,006 1,022 0,007 9 0,197 - 0,046 0,037 0,063 0,010 0,129 0,040 0,092 0,049 10 0,283 - 0,237 0,150 0,223 0,392 0,303 0,051 0,227 - 11 - - - 0,268 - 0,043 - 0,278 - 0,232 12 0,082 - 0,107 0,700 0,095 0,225 0,057 0,082 0,106 - Tổng 3,565 0,444 1,664 1,334 2,130 1,464 1,829 0,530 2,109 0,742 (SL)* (11) (6) (11) (11) (11) (11) (11) (12) (11) (9) * Tổng số tháng được định liều trong năm 2015, các tháng còn lại là không thể lấy được mẫu; DA-Liều định từ mẫu không khí; DU-Liều định từ phân tích nước tiểu.
  5. ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 9(118).2017 - Quyển 1 103 Hình 3. LCT định từ không khí và định từ nước tiểu có mức tương quan không cao Tuy nhiên, mức độ tương quan giữa hai kết quả định sánh và khẳng định kết luận cuối cùng về LCT mà các đối liều độc lập này trên cùng một đối tượng là không cao. Đối tượng nhận được trong năm 2015. Nghiên cứu này cũng chỉ với các trường hợp liều thấp thì giữa hai phương pháp cho ra rằng, kết quả định liều từ mẫu không khí so với phép phân kết quả không quá chênh lệch (Hình 3). tích nước tiểu có mối tương quan không cao. Qua so sánh cho Ngược lại, các đối tượng có liều cao thì liều định từ thấy, có sự sai lệch nhiều trong trường hợp liều cao hơn 1 mSv. không khí lại lớn hơn, từ 3,219 đến 7,259 lần, so với liều từ nước tiểu, chủ yếu rơi vào trường hợp của 2 đối tượng TÀI LIỆU THAM KHẢO W1 và W6. Có một nguyên nhân rõ hơn cả có thể dẫn đến [1] Arino H., Gemmill W., and Kramer H., Production of high purity sự khác biệt này, đó là, sau khi đối chiếu với lịch sử phơi iodine-131 radioisotope, Google Patents, 1973. chiếu thu nhận được trong nghiên cứu này thì 2 đối tượng [2] Bitar A., Maghrabi M., and Doubal A.W., “Assessment of intake and W1 và W6 có thời gian chiếm giữ chủ yếu tại phòng chưng internal dose from iodine-131 for exposed workers handling radiopharmaceutical products”, Applied Radiation and Isotopes, 82, cất (Phòng 1) - là nơi có nồng độ 131I cao hơn các vị trí 2013, pp. 370-375. khác. Thêm vào đó, 2 nhân viên này rất thường xuyên di [3] Doerfel H., Andrasi A., Bailey M., Blanchardon E., Cruz-Suarez R., chuyển khi làm việc (Hình 1) nên dẫn đến lượng thâm nhập Berkovski V., Castellani C.-M., Hurtgen C., LeGuen B., and của I-131 thực tế sẽ nhỏ hơn so với lượng thâm nhập ước Malatova I., “General guidelines for the assessment of internal dose lượng trong nghiên cứu này. from monitoring data: Progress of the IDEAS project”, Radiation protection dosimetry, 125, 2007, pp. 19-22. Kết quả đo của một phép định LCT phụ thuộc vào khá [4] Duong Van Dong, Pham Ngoc Dien, Bui Van Cuong, Mai Phuoc nhiều yếu tố, nên phép định liều sử dụng 2 phương pháp song Tho, Nguyen Thi Thu, and Vo Thi Cam Hoa, “Production of song trên cùng một đối tượng sẽ cho kết quả tương đối khác Radioisotopes and Radiopharmaceuticals at the Dalat Nuclear nhau [3]. Các nghiên cứu có liên quan đã công bố gần đây Research Reactor”, Nuclear Science and Technology, 4, 2014, pp. 46-56. cũng cho kết quả rất khác biệt khi so sánh giữa 2 phép định [5] Henrichs K., “Concepts of ISO for the monitoring of workers for liều song song. Chẳng hạn, bằng 2 phương pháp là đo tuyến internal exposure and the present approach for the dose assessment”, giáp và phân tích nước tiểu trong định LCT của 131I, một Radiation Protection Dosimetry, 124, 2007, pp. 266-273. nghiên cứu đã công bố cho thấy, liều hiệu dụng định từ phép [6] IAEA, Assessment of Occupational Exposure Due to Intakes of đo tuyến giáp lớn hơn từ phép phân tích nước tiểu từ 2 đến Radionuclides, IAEA Safety Standards Series No. RS-G-1.2, 6 lần. Cũng một nghiên cứu tương tự nhưng một nhóm Vienna, Austria, 1999. nghiên cứu khác đã cho kết quả hoàn toàn ngược lại. Cụ thể, [7] IAEA, Indirect Methods for Assessing Intakes of Radionuclides Causing Occupational Exposure, Safety Reports Series No. 18, Vienna, 2000. liều định từ nước tiểu lớn hơn liều định từ tuyến giáp đến 35 [8] IAEA, Methods for Assessing Occupational Radiation Doses due to lần đối với các liều thấp, và là 8 lần đối với liều cao hơn [2]. Intakes of Radionuclides, Safety Reports Series No. 37, Vienna, Austria, 2004. 4. Kết luận [9] ICRP, Limits for intakes of radionuclides by workers, ICRP Bài báo đã thể hiện phép định lượng phơi chiếu cho Publication 30 (Supplement to Part 1), Ann. ICRP 3 (1-4), 1979. nhóm đối tượng gồm 9 NVBX thường xuyên làm việc tại [10] ICRP, 1990 Recommendations of the International Commission on khu vực sản xuất 131I trong cả năm 2015, bằng phương pháp Radiological Protection, ICRP Publication 60, Pergamon, Oxford, 1991. [11] ICRP, Individual Monitoring for Internal Exposure of Workers (Part lấy mẫu không khí nơi làm việc. Bằng việc kết hợp nồng 1), ICRP Publication 78, Ann. ICRP 27, 1997. độ 131I trong không khí với lịch sử phơi chiếu cá nhân của [12] ICRP, Occupational Intakes of Radionuclides: Part 1, ICRP từng nhân viên, LCT năm 2015 của 131I được định lượng Publication 130, Ann. ICRP 44(2), 2015. một cách chi tiết. LCT định từ mẫu không khí sau đó được [13] Klepeis N.E., “Modeling human exposure to air pollution”, Human đánh giá trên cơ sở các tiêu chuẩn hiện hành. Sau khi phân exposure analysis, 2006, pp. 445-470. loại mức độ nguy hại của liều nhận được cho đối tượng, kết [14] Ott W.R., “Concepts of human exposure to air pollution”, quả cho thấy, 5 đối tượng thuộc nhóm có mức nguy hại Environment International, 7, 1982, pp. 179-196. thấp. 4 đối tượng còn lại thuộc nhóm không nguy hại. [15] Nguyễn Văn Hùng, Nghiên cứu định liều chiếu trong trên cơ sở phương pháp đo toàn thân và phân tích nước tiểu người, Luận án Đối với các đối tượng thuộc nhóm nguy hại thấp, kết quả Tiến sĩ, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Hà Nội, 2003. định liều từ phép phân tích nước tiểu đã được đưa ra để so (BBT nhận bài: 21/07/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 11/08/2017)
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2