Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn
ngữ học
2. Nhim vụ của ngôn ngữ học. Các ngành, các bmôn của
Nhiệm vụ của ngôn ngữ học là:
Phải miêu tả và làm lịch sử cho tất cả các ngôn ngữ, các ngữ tộc mà nó với
tới
Phải tìm ra những quy luật thường xuyên và phổ biến trong các ngôn ngữ,
rút ra những quy luật khái quát có thể giải thích tất cả các hiện tượng đặc biệt.
Nhiệm vụ đa dạng và phức tạp trên đây của ngôn ngữ học sẽ được thực hiện
trong các ngành, các bộ môn ngôn ngữ học khác nhau.
Trước hết, người ta phân biệt hai ngành ngôn ng học: ngôn ng học lịch
sngôn nghọc miêu t. Ngôn nghọc lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ trong s
phát triển lịch sử của nó, còn ngôn nghọc miêu tnghiên cứu một trạng thái nào
đó của ngôn ngữ. Sự phân biệt ngôn ngữ học lịch sử với ngôn ngữ học miêu tbắt
nguồn từ sự đối lập giữađồng đạilịch đại.
Đồng đại là trục những hiện tượng đồng thời (AB), liên quan đến những sự vật
đang cùng tồn tại, loại trừ mọi sự can thiệp của thời gian. Lịch đại là trực của
những hiện tượng kế tục (CD), trên đó bao giờ cũng chỉ thể xét một sự vật
trong một lúc thôi, nhưng trên đó tất cả những svật của trục thứ nhất với
những sự thay đổi của nó. F.Saussure so sánh đồng đại và lịch đại với nhát cắt
ngang và nhát cắt dọc một thân y: khi cắt dọc, ta trông thấy bản thân các thớ gỗ
làm thành thân cây, còn khi ct ngang ta thấy cách tập hợp các thớ đó trên một
bình diện đặc biệt. Nhưng cách cắt thứ hai khác cách cắt thứ nhất vì nó cho thấy rõ
giữa các thớmột số quan hệ mà khi cắt dọc không thể nào trông thấy được.
Cần phân biệt đồng đại và lịch đại, nhưng không nên đối lập chúng một cách
tuyệt đối. Cả trong trạng thái hiện tại lẫn trong trạng thái quá khứ, ngôn ngữ bao
gicũng là một hệ thống. Cần phải nghiên cu các hiện tượng ngôn ngữ cả trong
mối liên hlẫn nhau lẫn trong trong sự phát triển một cách đồng thời. Trong mỗi
trạng thái ngôn ngữ, cần vạch ra những hiện tượng đang lùi vào quá khvà những
hiện tượng đang xuất hiện trên cái nền của những hiện tượng ổn định, tính
chuẩn mực đối với trạng thái ngôn ngữ đó.
Ngôn nggồm ba bộ phận là ngâm, từ vựng và ng pháp. Trên sở đó,
hình thành ba b môn ngôn nghọc khác nhau: ngữ âm học, tvựng học và ng
pháp học.
Ngữ âm học là bmôn nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ. Ngữ âm có mặt
tự nhiên mặt xã hội của nó. Mặt tự nhiên của ngữ âm là những thuộc tính về âm
học (cao độ, trường độ, âm sắc...) và nhng thuộc tính về cấu âm (hoạt động của
bmáy hấp và chuyển động của các quan phát âm như môi, lưỡi... tạo ra
một âm nào đó) của chúng. Mặt xã hội hay chức năng của ngâm là những quy
định, những giá trị mà cộng đồng người sử dụng chung một ngôn ngữ gán cho các
đặc trưng âm thanh. Ngữ âm học nghiên cứu toàn bphương tiện ngữ âm trong tất
cả những hình thái và chức năng của nó và mi liên hgiữa hình thức âm thanh và
chữ viết của ngôn ngữ.
Tvựng họcbmôn ngôn ngữ học nghiên cứu các từ và các đơn vị tương
đương với từ (cụm từ cố định, thành ngữ, quán ngữ) trong các ngôn ngữ. Nội dung
của từ vựng học rất phong pđa dạng, do đó đã hình thành một số phân môn
như từ nguyên học, ngữ nghĩa học, danh họctừ điển học.
Ngpháp học một bộ môn ngôn nghọc nghiên cứu các hình thức biến đổi
từ, các hình kết hợp từ và các kiểu câu trong sự trừu tượng hoá khỏi ý nghĩa
vật chất cthể nghĩa từ vựng) của các từ, cụm tvà câu. Nói cách khác, ng
pháp học nghiên cứu cách thức phương tiện cấu tạo từ và câu. Ngpháp học
bao gồm Tpháp họcpháp học. Tpháp học nghiên cứu các phương diện
cấu tạo từ. Cú pháp học nghiên cứu các cụm từ và câu.