Dùng thuốc tiêu sợi huyết ở bệnh
nhân đột qụy não
Sợi fibrinogen.
Đột quỵ là một bệnh hiện nay khá phổ biến. Bệnh có tỉ lệ tử vong và
gây n phế rất cao. Việc điều trị triệt để là một trong những biện pháp quan
trọng để ngăn ngừa các biến chứng này. Một trong những phương pháp điều
trị là dùng các thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch.
Đột qụy -n bệnh nguy hiểm
Đột qụỵ là nguyên nhân đứng hàng th hai sau bệnh tim mạch gây tàn
phế và tvong trên thế giới. Tần suất đột qụỵ thay đổi khác nhau giữa các nước và
gia tăng theo lứa tuổi. các nước phương Tây, 80% số trường hợp đột qụy là
NMN do tắc động mạch, chỉ 20% là do xuất huyết não. Tuy nhiên Việt Nam,
chưa có con số thống kê cụ thể.
Tlệ tử vong trong tháng đầu những bệnh nhân NMN các nước phương
Tây dao động t10 -17%, tlệ này gia tăng theo lứa tuổi, các bệnh kèm theo
như bệnh tim mạch, đái tháo đường và tuỳ thuộc vào kích thước ổ nhồi máu.
Cho đến nay để làm giảm tỉ lệ tử vong ngoài các biện pháp điều trị d
phòng thì các biện pháp điều trị triệt để trong những giờ đầu sau nhồi máu là rất
quan trọng, giúp làm giảm tỉ lệ tử vong cũng ndi chứng sau nhồi máu.
Một trong những phương pháp điều trị là dùng thuốc tiêu si huyết đường
tĩnh mạch trong những giờ đầu sau khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của bệnh.
Trong đó, thời gian là yếu tố quyết định để dùng thuốc tiêu si huyết đường tĩnh
mạch. Đã rất nhiều nghiên cứu được tiến hành với nhiều loại thuốc tiêu sợi
huyết khác nhau cũng như lựa chọn thời điểm khác nhau.
Thuốc tiêu sợi huyết alteplase
Cho đến hiện nay, theo khuyến cáo của quan Quản thuốc và Thực
phẩm Hoa Kỳ (FDA), thời gian trong vòng 3 gikể từ khi có triệu chứng đầu tiên
của đột qụỵ được xem là thi gian vàng để điều trị và thuốc tiêu si huyết (t-PA,
có nguồn gốc từ tái tổ hợp ADN) được khuyến cáo hiện nay là alteplase.
Chđịnh dùng thuốc tiêu sợi huyết bệnh nhân nhồi máu não (NMN) cấp
tính:
Chẩn đoán NMN với các triệu chứng khởi phát < 3 giờ trước khi bắt đầu
điều trị.
Không có tiền sử chấn thương sọ não hoặc đột qụỵ 3 tháng trước đó.
Không có các chống chỉ định của dùng thuốc tiêu sợi huyết.
Chống chỉ định chính với thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch:
- Vtiển sử: Chấn thương sọ não hoặc đã mắc đột quỵ; nhồi máu tim 3
tháng trước đây; chảy máu đường tiết niệu hoặc đường tiêu hoá trước đó 21 ngày;
tiền sử phẫu thuật lớn trước đó 14 ngày; mới chọc dịch não tu trong vòng 7 ngày;
tiền sử xuất huyết não; chọc dò động mạch những vị trí không thể băng ép được
trong vòng 7 ngày trước đó.
- Vm sàng: Các triệu chứng về đột qụỵ cải thiện nhanh chóng; các
dấu hiệu thần kinh nhẹ; các triệu chứng gợi ý xuất huyết dưới nhện thậm chí hình
ảnh CT sọ não vẫn bình thường; biểu hiện m sàng phù hợp với nhồi máu tim
cấp hoặc viêm màng ngoài tim sau nhồi máu tim; co giật; phụ nữ mang thai
hoặc cho con bú; huyết áp m thu lớn hơn hoặc bằng 185mmHg hoặc huyết áp
tâm trương lớn hơn hoặc bằng 110mmHg; bằng chứng của chảy máu tiến triễn
hoặc chấn thương mới khi khám lâm sàng.
- Vxét nghiệm:
+ Tiểu cầu < 100.000mm3.
+ Đường máu < 2,7mmol/l hoặc > 22mmol/l.
+ Dùng thuốc chống đông đường uống và INR lớn hơn hoặc bằng 1,7.
+ Dùng heparin 48 gitrước đó và aPTT hiện tại kéo dài.
- VCT sọ não:
Hình ảnh xuất huyết não trên CT hoặc MRI.
Bằng chứng các dấu hiệu nhồi máu sớm và lớn như phù não lan tobán
cầu bên tổn thương, vùng nhu gim tỉ trọng > 33% khu vực chi phối của động
mạch não giữa.
Cách thức tiến hành
Theo khuyến cáo của Mỹ các nước châu Âu, dùng liều tối đa trong 60
phút trong đó bolus 10% trong 1 phút. Tuy nhiên theo những nghiên cứu được
công bgần đây, cũng như khuyến o của Hiệp hội Đột qụy Nhật Bản, với liều
thấp, bolus 10% trong 1 phút, 90% còn lại truyền trong vòng 1 giờ, cho hiệu quả
tương tự liều cao, trong khi ít gây các biến chứng hơn. Ngoài ra cần theo dõi bệnh
nhân trong c phòng hồi sức, tiếp đó tiến hành đánh giá thần kinh mỗi 15 phút
trong khi truyền và mỗi 30 phút sau đó trong 6 giờ tiếp theo, rồi mỗi 1 giờ cho đến
24 giờ sau điều trị. Nếu bệnh nhân xuất hiện đau đầu nhiều, tăng huyết áp cấp tính,
buồn nôn hoặc nôn thì dừng truyền và tiến hành chụp CT lại ngay lập tức. Đo
huyết áp mỗi 15 phút trong 2 giờ đầu và mỗi 30 phút trong 6 giờ tiếp theo, rồi mỗi
giờ cho đến đủ 24 giờ sau điều trị.
Các thuốc tiêu sợi huyết khác
Các thnghiệm m sàng sdụng streptokinase đã phải dừng sớm vì có t
l xuất huyết não cao không th chấp nhận được và thuốc này đã không được
khuyến cáo sử dụng. Các thuốc tiêu sợi huyết dùng tiêm tĩnh mạch khác bao gồm:
reteplase, urokinase, anistreplase và staphylokinase đã được xem xét trong điều trị
NMN cp tính, tuy nhiên chưa một thuốc o được thnghiệm rộng rãi. Thuốc
tenecteplase hứa hẹn tiêu si huyết hiệu quả với ít biến chứng chảy máu hơn,
nhưng nghiên cứu vẫn đang còn tiến hành. Desmoteplase đã được thử nghiệm
trong nghiên cứu thí điểm, các kết quả cũng mang lại nhiều hứa hẹn.