intTypePromotion=1

Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam: Phần 2

Chia sẻ: Comam1902 Comam1902 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:224

0
105
lượt xem
20
download

Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nối tiếp phần 1 của giáo trình "Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam" phần 2 tiếp tục trình bày các nội dung về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, chấm dứt hôn nhân, giám hộ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam: Phần 2

CHUONG VI<br /> NGHĨA VỤ VÀ QUYỂN CỦA CHA MẸ VÀ CON<br /> THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM<br /> <br /> I.<br /> <br /> CẢN CỨ PHÁT SINH QUAN HỆ PHÁP LUẬT<br /> <br /> GIỮA CHA MẸ VÀ CON<br /> Theo luật định, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật giữa<br /> cha mẹ và con dựa trên sự kiện sinh đẻ (huyết thống) và sự<br /> kiện nhận nuôi con nuôi.<br /> <br /> 1.<br /> Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sình<br /> dựa trên sự kiện sinh đẻ<br /> *<br /> <br /> •<br /> <br /> •<br /> <br /> Trong đời sống xã hội, việc người phụ nữ (dù có chồng<br /> hay không có chồng) mà sinh con, đã là cơ sờ làm phát sinh<br /> mối quan hệ giữa mẹ - con, cha - con. Đó là mối liên hệ<br /> huyết thống tự nhiên theo quy luật sinh học. Quan hệ mẹ con, cha - con phát sinh không phụ thuộc vào hôn nhân của<br /> cha mẹ là hợp pháp hay không hợp pháp. Nhà nước bàng<br /> pháp luật phải quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác<br /> định cha, mẹ, con; Vì đó là cơ sở nhằm xác thực mối quan<br /> hệ mẹ - con, cha - con, từ đó mới phát sinh các quyền và<br /> nghĩa vụ về nhân thân và tài sản trong quan hệ mẹ - con, cha<br /> 163<br /> <br /> - con. Đổng thời, nó còn là cơ sở pháp lý để Tòa án giải<br /> quyết các tranh chấp về việc xác định cha, mẹ và con trong<br /> thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cha, mẹ,<br /> con. Ví dụ: Các tranh chấp về nuôi dưỡng, cấp dưỡng, thừa<br /> kế... giữa cha, mẹ và con, cũng như các thành viên khác<br /> trong gia đình được bảo đảm bằng pháp luật khi quan hệ<br /> pháp luật giữa cha, mẹ và con được xác định. Tuy nhiên,<br /> trong thưc tiễn giải quyết các loại án kiện xác định cha, mẹ<br /> và con rất phức tạp.<br /> <br /> a. Xấc định cha, mẹ cho con trong giá thú<br /> - Con trong giá thú là con mà cha mẹ là vợ chồng trước<br /> pháp luật (trước đây dưới chế độ cũ gọi là con chính thức).<br /> - L u ậ t hôn nhân và gia đình năm 1959 của Nhà nước ta<br /> chưa dự liệu về nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác<br /> định cha, mẹ cho con trong giá thú cũng như con ngoài giá<br /> thú. Thông thường khi nam nữ kết hôn với nhau, trở thành<br /> vợ chồng, trong thời kỳ hôn nhân mà người vợ sinh con thì<br /> con đó mặc nhiên được coi là con chung của hai vợ chồng.<br /> Trường hợp có yêu cầu Tòa án xác định lại quan hệ mẹ con, cha - con đã thiếu hẳn cơ sỏ pháp lý để giải quyết. Có<br /> trường hợp Tòa án trưng cầu giám định về máu hoặc xem<br /> xét sự giống nhau vể hình thức giữa đứa trẻ đó với người<br /> được khai là cha, là mẹ! Hệ thống pháp luật về dân sự; hôn<br /> nhân và gia đình ở nước ta dưới chế độ cũ đã dựa hẳn vào<br /> quy định của Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp (Điều 311, Điều<br /> 312) để quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha,<br /> mẹ cho con, vói nội dung: "Đứa trê thành thai trong thòi kỳ<br /> m<br /> <br /> 164<br /> <br /> giá thú có cha là chồng người mẹ. Được coi là thụ thai trong<br /> thời kỳ giá thú trẻ nào sinh quá 180 ngày kể từ khi kết hôn<br /> hoặc không quá 300 ngày sau khi hôn thú đoạn tiéu'\w Như<br /> vậy, nhà làm luật dưói chế độ cũ đã quy định về “thời kỳ thụ<br /> thai pháp định” là cơ sở cho viộc suy đoán quan hệ cha con, mẹ - con. Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986<br /> và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của Nhà nước ta đã<br /> quy định nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định<br /> cha, mẹ cho con khác vói pháp luật dưới chế độ cũ. Quá<br /> trình điều tra, khảo sát thực tế các quan hệ hôn nhân và gia<br /> đình ở nước ta cho thấy, ngày nay nam nữ được tự do yêu<br /> đương, tìm hiểu trước khi kết hôn. Có nhiều trường hợp hai<br /> bên nam nữ đã có quan hệ sinh lý với nhau, hoặc người phụ<br /> nữ đã thụ thai trước khi kết hôn; sau khi kết hôn với nhau<br /> được một thời gian ngắn, người vợ đã sinh con. Vì vậy, Điều<br /> 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Điều 63 Luật<br /> hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định trên nguyên tắc:<br /> “7. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ<br /> có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chổng.<br /> <br /> Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ<br /> thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.<br /> 2.<br /> Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì<br /> phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.<br /> Việc xấc định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương<br /> (l).Xem: Điẻu 151 Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931; Điẻu 83 Luật gia đình ngày<br /> 2/1/1959 dưới chế độ Ngổ Đình Diệm; Điều 207 Bộ dân luật nàm 1972 Ngụy<br /> quyển Sài Gòn.<br /> <br /> 165<br /> <br /> pháp khoa học do Chính phủ quy định”.<br /> - Theo quy định trên đây, thòi kỳ hôn nhân là khoảng<br /> thời gian quan hệ vợ chổng tổn tại, được tính từ khi kết hôn<br /> cho đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật (do người<br /> chổng chết hoặc vợ chồng ly hôn, tính từ khi phán quyết ly<br /> hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật). Nếu người vợ sinh<br /> con trong thời kỳ hôn nhân này, về nguyên tắc, con đó được<br /> xác định là con chung của hai vợ chổng. Tức là người chổng<br /> của mẹ đứa trẻ được xác định là cha của đứa trẻ đó.<br /> Cũng theo khoản 1 Điều 63, được coi là “người vợ có<br /> thai trong thời kỳ hôn nhân” là kể từ khi hôn nhân chăm dứt<br /> trước pháp luật, nếu trong hạn 300 ngày (người vợ chưa kết<br /> hôn với người khác) mà sinh con thì con đó cũng đuợc xác<br /> định là “con chung” của hai vợ chồng. Tức là người chồng<br /> của mẹ đứa trẻ đã chết, hoặc đã ly hôn sẽ được “suy đoán” là<br /> cha của đứa trẻ đó. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc<br /> do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung trong giá<br /> thú của hai vợ chổng.(I)<br /> - Theo khoản 2 Điều 63, trường hợp cha, mẹ không thừa<br /> nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.<br /> Trong thực tế, có trường hợp vì nghi ngờ người vợ không<br /> chung thủy, đã có hành vi thông gian, ngoại tình với người<br /> khác; sau khi người vợ sinh con, người chổng đã không<br /> “thừa nhận” đứa trẻ đó là con của mình. Về nguyên tắc,<br /> người chổng phải có nghĩa vụ chứng minh đứa trẻ do vợ<br /> <br /> (l).Xem: Điều 21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 cùa Chính<br /> phủ quy định chỉ tiết thi hành Luật hồn nhân và gia đình năm 2000.<br /> <br /> 166<br /> <br /> mình sinh ra khổng phải là con của người chồng. Việc chứng<br /> minh của người chồng dựa trên sự thừa nhận của người vợ là<br /> đã “có thai” với người khác từ trước khi kết hôn hoặc người<br /> chồng chứng minh mình đã đi công tác “xa vắng” trong thời<br /> kỳ người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó (theo Nghị<br /> quyết sô' 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thám<br /> phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân<br /> các cấp áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia<br /> đình năm 1986). Như vậy, trong trường hợp người chổng<br /> không thừa nhận con do người vợ sinh ra là cọn của mình,<br /> khi chứng minh, người chồng có quyền đưa ra bất kỳ chứng<br /> cứ nào chứng tỏ con đó không phải là con của mình (như<br /> trường hợp người chồng mắc bệnh vô sinh, bị bất lực hoàn<br /> toàn về sinh lý, không thể có khả năng có con; hoặc người<br /> chồng thực sự đi “công tác xa vắng”, không thể có “quan hệ<br /> vợ chổng” ở vào thời kỳ người vợ có khả năng thụ thai đứa<br /> con đó; hoặc có thể trưng cầu giám định về gien...)Nếu người chổng chỉ vì nghi ngờ, không chứng minh<br /> được thì Tòa án vẫn buộc họ phải nhận con do người vợ sinh<br /> ra là con chung của hai vợ chồng. Đối với các trường hợp<br /> này, trước khi kết luận giải quyết vụ việc, Tòa án cần phải<br /> điều tra thận trọng, đánh giá chính xác.<br /> T h e o tinh thần của Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình<br /> năm 2000, thực tế cho thấy rằng, trường hợp quan hệ hồn<br /> nhân chấm dứt trước pháp luật (từ ngày người chồng chết<br /> hoặc phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật),<br /> người vợ không đợi sau hạn 300 ngày đã kết hôn ngay với<br /> người khác; nếu sau này người vợ sinh con thì con đó được<br /> <br /> 1<br /> <br /> 167<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2