
vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
180
[7]. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Bằng và cộng
sự cho thấy tỷ lệ gặp tổn thương não trên MRI là
86%, 62% gặp tổn thương màng não, 44% giãn
não thất và 14% gặp u lao ở não [2]. Như vậy
so sánh với các nghiên cứu trong và ngoài nước
thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự
với các báo cáo đã công bố trước đó về tỷ lệ các
loại tổn thương hay gặp trong lao màng não như
nhồi máu não, giãn não thất, tăng ngấm thuốc
màng não. Điều này cho thấy sự cần thiết phải
chụp phim cộng hưởng từ sọ não ở những bệnh
nhân lao màng não để đánh giá tổn thương não
cũng như di chứng của bệnh.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 3/29 bệnh
nhân được chụp cộng hưởng từ kết quả bình
thường. Cả 3 bệnh nhân này đều có thời gian
khởi phát bệnh đến khi vào viện là dưới 2 tuần
(bảng 3.2). Trong số 29 bệnh nhân lao màng
não được chụp MRI sọ não, các vị trí tổn thương
gặp trên MRI sọ não gồm tổn thương chủ yếu
hạch nền chiếm 44,8%, vùng vỏ não gặp 13,8%.
V. KẾT LUẬN
Lao màng não ở trẻ em thường gặp ở trẻ
dưới 5 tuổi. Hình ảnh MRI sọ não hay gặp là
màng não dày, tăng ngấm thuốc và giãn não
thất. Vị trí tổn thương chủ yếu là hạch nền.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A. V. Israni, D. A. Dave, A. Mandal et al
(2016), "Tubercular meningitis in children:
Clinical, pathological, and radiological profile and
factors associated with mortality", Journal of
neurosciences in rural practice, 7 (3), 400.
2. Nguyen Duc Bang, Maxine Caws ,Thai Thanh
Truc (2016), "Clinical presentations, diagnosis,
mortality and prognostic markers of tuberculous
meningitis in Vietnamese children: a prospective
descriptive study", BMC Infectious Diseases, 16 (573).
3. E. Mihailidou, M. Goutaki, A. Nanou et al
(2012), "Tuberculous meningitis in Greek
children", Scandinavian journal of infectious
diseases, 44 (5), 337-343.
4. A. Güneş, Ü. Uluca, F. Aktar et al (2015),
"Clinical, radiological and laboratory findings in 185
children with tuberculous meningitis at a single
centre and relationship with the stage of the
disease", Italian journal of pediatrics, 41 (1), 75.
5. H. Kaur, K. Sharma, M. Modi et al (2015),
"Prospective analysis of 55 cases of tuberculosis
meningitis (TBM) in North India", Journal of clinical
and diagnostic research: JCDR, 9 (1), DC15.
6. G. Dekker, S. Andronikou, R. van Toorn et al
(2011), "MRI findings in children with tuberculous
meningitis: a comparison of HIV-infected and non-
infected patients", Child's Nervous System, 27
(11), 1943-1949.
7. M.-L. S. Tai, H. MOHD NOR, K. Rahmat et al
(2017), "Neuroimaging findings are sensitive and
specific in diagnosis of tuberculous meningitis",
Neurology Asia, 22 (1).
HIỆU QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ BẰNG THÔNG FOLEY ĐẶT
KÊNH CỔ TỬ CUNG Ở CÁC THAI KỲ TRƯỞNG THÀNH CÓ CỔ TỬ CUNG
KHÔNG THUẬN LỢI TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2018
Đào Thị Mỹ Phượng1, Võ Thị Kim Anh2
TÓM TẮT46
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thành công trong KPCD
của thông Foley, thời gian trung bình từ lúc đặt thông
Foley đến khi KPCD thành công và khảo sát một số tác
dụng không mong muốn của đặt thông Foley.
Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca trên 63
thai phụ đơn thai, có tuổi thai từ ≥ 39 tuần có chỉ định
KPCD từ tháng 01/2018 đến tháng 10/2018 tại Trung
tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Bình Dương. Tất
cả thai phụ được KPCD với ống thông Foley số 18F,
đặt kênh cổ tử cung bơm 60ml nước muối sinh lý,
1Trung tâm CSSKSS tỉnh Bình Dương,
2Đại Học Thăng Long
Chịu trách nhiệm chính: Võ Thị Kim Anh
Email: kimanh7282@gmail.com
Ngày nhận bài: 10.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 9.4.2020
Ngày duyệt bài: 15.4.2020
theo dõi trong 24 giờ. Kết quả: Tỷ lệ KPCD thành
công là 90,48 với KTC 95% [85,08-95,48 ]. Tỷ lệ sinh
ngả âm đạo là 58,73% tỷ lệ sinh mổ là 41,27%. Thời
gian trung bình từ lúc KPCD đến khi Bishop CTC ≥ 7
điểm là 10 giờ 20 phút. Không có tác dụng ngoại ý
nghiêm trọng. Kết luận: KPCD bằng thông Foley đặt
kênh CTC bơm 60 ml NaCl 0,9% an toàn, hiệu quả.
Tuy nhiên cần có những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn
hơn trong tương lai.
Từ viết tắc:
KPCD khởi phát chuyển dạ, CTC cổ tử
cung
SUMMARY
EFFICIENCY IN TRANSMISSION BY FOLEY
TRANSPORT ORDERING CELEBRATION
CHANNEL IN MAJOR CONDITIONS THAT
HAVE BEEN PROFITABLE SUPPLY STOCKS
AT BINH DUONG PROVINCE HEALTH
CENTER IN 2018

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 1 - 2020
181
Objective: Determining the success rate in labor
induction of Foley catheterization method in the
cervical canal, the average time from Foley
catheterization to successful labor induction and
investigating some unexpected effects Want of Foley
pine. Method: cross-section, description. Results:
The successful induction rate was 90.48 with 95% of
the uterus [85.08-95.48]. The vaginal birth rate is
58.73% and the caesarean birth rate is 41.27%. The
average time from the onset of labor to cervical
bishop ≥ 7 points is 10 hours 20 minutes. There are
no serious side effects. Conclusion: Induction of
labor by Foley catheterization of the cervical canal
60ml NaCl 0.9% safe and effective. However, larger
sample sizes are needed in the future.
Keywords:
KPCD (induction of labor), CTC (Cervical)
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khởi phát chuyển dạ là một trong những can
thiệp lâm sàng rất hữu ích trong việc giúp xử trí
các tình huống sản khoa không thuận lợi, chưa
vào chuyển dạ tự nhiên, đặc biệt ở các thai kỳ
nguy cơ cao. Việc khởi phát chuyển dạ để chấm
dứt thai kỳ với mong muốn cho ra đời bé sơ sinh
khỏe mạnh và đảm bảo an toàn sức khỏe người
mẹ là mục tiêu quan trọng trong công tác chăm
sóc sức khỏe sinh sản của ngành sản khoa.
Theo y văn, có nhiều chỉ định khởi phát
chuyển dạ như: thai quá ngày, thiểu ối, thai
chậm tăng trưởng, bệnh lý của mẹ… trong đó cổ
tử cung không thuận lợi thường góp phần làm
tăng tỷ lệ mổ lấy thai. Tuy nhiên cần lựa chọn
một phương pháp khởi phát chuyển dạ phù hợp
tùy thuộc vào mức độ an toàn, sự hài lòng của
sản phụ, kết quả đạt được và tính kinh tế của
từng phương pháp.
Các phương pháp khởi phát chuyển dạ được
chia làm 2 nhóm: phương pháp cơ học và
phương pháp dùng thuốc, trong đó các phương
pháp cơ học được chấp nhận nhiều hơn vì đơn
giản, rẻ tiền, hiệu quả, dễ sử dụng, dễ thay đổi
và không có tác dụng toàn thân. Phương pháp
nong kênh cổ tử cung bằng ống thông Foley là
phương pháp hiện nay được ưa chuộng và có
hiệu quả thành công cao. Tùy từng thể tích bóng
bơm ống thông Foley số 16 - 22F, có thể bơm từ
30ml, 50ml, 60ml và 80ml sẽ cho các hiệu quả
khởi phát chuyển dạ thành công khác nhau. Tuy
nhiên vẫn chưa có sự đồng thuận về thể tích
bóng bao nhiêu thì hiệu quả khởi phát chuyển dạ
sẽ đạt mức tối ưu.
Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản Bình
Dương là đơn vị quản lý hệ sức khỏe sinh sản
của tỉnh Bình Dương. Tại đây, mỗi ngày chúng
tôi thu dung khám thai từ 100 - 150 thai phụ và
nhận đỡ sinh 3-5 ca. Tỷ lệ mổ lấy thai chiếm
khoảng 25% - 30%, trong đó mổ vì cổ tử cung
không thuận lợi khoảng 35% và 40% mổ vì vết
mổ cũ lấy thai. Khởi phát chuyển dạ tại Trung
tâm từ trước đến nay gồm: lóc ối và truyền
oxytocin. Truyền oxytocin khi cổ tử cung chưa
thuận lợi thường góp phần tăng tỷ lệ mổ lấy thai,
vì vậy với mong muốn thiết lập phương pháp
khởi phát chuyển dạ bằng ống thông Foley và
đánh giá hiệu quả của phương pháp này chúng
tôi tiến hành đề tài: “Hiệu quả khởi phát chuyển
dạ bằng thông Foley đặt kênh cổ tử cung ở các
thai kỳ trưởng thành có cổ tử cung không thuận
lợi”. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành
công của thông Foley với thể tích bơm 60ml
nước muối sinh lý đặt kênh cổ tử cung ở thai kỳ
trưởng thành có cổ tử cung không thuận lợi.
Xác định thời gian trung bình từ lúc khởi phát
chuyển dạ đến khi chỉ số Bishop ≥ 7 điểm, thời
gian trung bình từ lúc khởi phát chuyển dạ đến
lúc sinh và một số tác dụng không mong muốn.
Xác định tỉ lệ sinh thường, sinh mổ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu. Nghiên cứu được thực
hiện theo phương pháp báo cáo loạt ca.
Chọn mẫu. Tất cả thai phụ có tuổi thai ≥ 39
tuần nhập vào phòng sanh TTCSSKSS có chỉ
định khởi phát chuyển dạ. Thời gian từ
01/01/2018 - 31/10/2018
Phương pháp chọn mẫu. Chọn mẫu toàn
bộ. Chọn tuần tự kế tiếp theo thời gian nhập
viện, đồng ý tham gia nghiên cứu, thỏa tiêu chí
chọn mẫu và không có tiêu chí loại trừ.
Tiêu chí chọn mẫu: Thai phụ đồng ý tham
gia nghiên cứu; Tuổi thai ≥ 39 tuần (theo kinh
cuối và/hoặc theo siêu âm 3 tháng đầu); Chỉ số
Bishop ≤ 5; Đơn thai, ngôi chỏm; Nons-tresstest
có đáp ứng, stresstest âm tính; Ước lượng thai
cân nặng: 2500 - 3500g
Tiêu chí loại trừ: Đa sản; Ối rỉ hoặc vỡ;
Nhau tiền đạo; Tử cung có sẹo mổ cũ; CTC đã
từng bị tổn thương hoặc can thiệp trước đó: rách
cũ, đốt điện, đốt lạnh, khoét chóp;Các bệnh lý
nội khoa: tim, phổi, đái tháo đường, cường giáp,
thiếu máu.
Tiêu chí chấm dứt nghiên cứu: Thai phụ
thay đổi ý kiến không tiếp tục tham gia nghiên
cứu; Khi cơn gò cường tính ≥ 5 cơn/ 10 phút
kèm theo thay đổi bất thường nhịp tim thai, thai
suy, nhau bong non, dọa vỡ tử cung sẽ được mổ
lấy thai cấp cứu.
Quy trình. Thai phụ nằm tư thế phụ khoa.
Sát trùng âm hộ, âm đạo bằng dung dịch
Povidin. Dùng mỏ vịt hoặc van âm đạo bộc lộ
CTC, dùng Ring Forceps kẹp vị trí 12 giờ. Đưa

vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
182
ống thông Foley 18F vào kênh CTC, sau đó bơm
60ml nước muối sinh lý vào nhánh bóng ống
thông, trong lúc bơm theo dõi phản ứng của thai
phụ, nếu thai phụ đau hay khó chịu thì dừng thủ
thuật và xem lại kỹ thuật đặt. Khi đã bơm đủ
60ml dung dịch nước muối sinh lý vào bóng ống
thông, kéo nhẹ ống thông kiểm tra. Cố định ống
thông vào mặt trong đùi của thai phụ.
Sau đặt ống thông Foley vào kênh CTC, theo
dõi sau 12 giờ, nếu thông không tự rớt sẽ được
xả bóng, theo dõi tiếp trong 12 giờ. Nếu sau khi
thông tự rớt mà cơn co chưa đủ sẽ chỉnh cơn co
tử bằng oxytocin: pha 1 ống oxytocin 5UI trong
500ml dung dịch Glucose 5% (nồng độ
10mUI/ml), liều bắt đầu là 4mUI/phút (VIII
giọt/phút), tăng liều 4mUI mỗi 15 phút cho đến
khi đạt được 3 cơn co tử cung trong 10 phút.
Liều oxytocin tối đa là 20mUI/phút.
Theo dõi tim thai bằng Monitor sản khoa liên
tục sau khi bắt đầu chỉnh cơn co tử cung bằng
oxytocin. Sử dụng kháng sinh uống ngay sau khi
đặt ống thông Foley KPCD.
- KPCD thành công: khi CTC trở nên thuận lợi
nghĩa là chỉ số Bishop ≥ 7 điểm vào lần khám
gần nhất tính từ khi KPCD hoặc lúc rớt ống
thông Foley hoặc sau khi rút ống thông Foley
sau 12 giờ.
- KPCD thất bại khi Bishop <7 điểm sau KPCD
24 giờ.
Kết quả xử lý số liệu với phần mềm Stata 12.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm dân số nghiên cứu
Đặc điểm
N
Tỷ lệ (%)
Tuổi thai phụ:
<25
15
23.8
25 – 34
47
74.6
≥ 35
1
1.6
Nơi cư ngụ
TP. TDM
20
31.7
Huyện
40
63.5
Ngoài tỉnh
3
4.8
Nghề nghiệp
CNV – CN
38
60.3
Nội trợ
14
22.2
BB – LN – khác
11
17.5
Trình độ học vấn
≤ cấp 1
4
6.3
Cấp 2
23
36.5
≥ cấp 3
36
57.1
Tiền thai
Con so
41
65.08
Tuổi thai
< 41 tuần
59
93.65
≥ 41 tuần
4
6.35
Bảng 2. Thời gian từ khi đặt thông Foley đến
lúc CTC đạt Bishop ≥ 7 điểm trong 24 giờ
Thời gian đạt
Bishop
≥ 7 điểm
Tần số
(%)
Cộng
dồn
KPCD - < 6 giờ
10(15,87)
10(15,87)
≥ 6 giờ - 12 giờ
12(19,05)
22(34,92)
>12 giờ - 24 giờ
35(55,56)
57(90,48)
Không đạt 7 điểm
6(9,52)
63(100)
Thời gian TB đạt
Bishop ≥ 7 điểm
10g20p ± 5g33p
Nhận xét:
Thời gian trung bình từ lúc đặt
Foley đến khi Bishop đạt ≥ 7 điểm là 10 giờ 20
phút. Trường hợp sớm nhất là 2 giờ 05 phút,
muộn nhất là 24 giờ.
Bảng 3. Cách sinh
Cách sinh
N=63
Tỷ lệ %
Sinh thường
37
58,73
Sinh mổ
26
41,27
Bảng 4. Tác dụng ngoại ý và biến chứng
Tác dụng ngoại ý
N=63(%)
Cảm giác khó chịu
6 (9,52)
Đau khi đặt
11 (17,46)
Vỡ ối
2 (3,18)
Đau và khó chịu
15 (23,81)
Không
29 (46,03)
Biến chứng
Nhiễm trùng
1 (1,59)
IV. BÀN LUẬN
Các thể tích bóng bơm để KPCD của các
nghiên cứu qua y văn có thể là 30, 50, 60, 80ml;
tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào khẳng định
với thể tích bao nhiêu sẽ cho hiệu quả tối ưu.
Trong nghiên cứu của chúng tôi chọn thể tích
bóng bơm là 60 ml vì dựa theo các nghiên cứu
dẫn đường của Khaldoun 2012 với tỷ lệ sinh ngả
âm đạo là 61%, an toàn cho thai phụ.
Nghiên cứu được thiết kế theo mô hình
nghiên cứu quan sát nên các kết quả thu được bị
giới hạn về phương diện bằng chứng y khoa.
Nghiên cứu báo cáo loạt ca là loại nghiên cứu
chưa đủ mạnh khi khảo sát các mối liên quan
giữa các biến số. Do vậy các kết quả thu được
dù ảnh hưởng tích cực đến thực hành lâm sàng
tại Trung tâm CSSKSS Bình Dương nhưng mức
độ có giới hạn nhất định. Đánh giá chỉ số Bishop
còn mang tính chủ quan.
V. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu chúng tôi đạt được những
kết quả như sau:
- Tỷ lệ thai phụ có chỉ số Bishop ≤ 5 điểm trở
nên thuận lợi ≥ 7 điểm sau 24 giờ là 90,48%;
KTC 95% [85,08 – 95,48]

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 1 - 2020
183
- Thời gian trung bình từ lúc đặt Foley đến
khi Bishop đạt ≥ 7 điểm là 10 giờ 20 phút ± 5
giờ 33 phút.
- Không có tác dụng ngoại ý nghiêm trọng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bệnh viện Từ Dũ (2011) Báo cáo tổng kết cuối
năm, Phòng kế hoạch tổng hợp, TP HCM.
2. Bishop E. H. (1964), ʺPelvic scoring for elective
inductionʺ, Obstetrics and Gynecology, 24, 266
(level III).
3. Bộ Y tế (2009) Thai quá ngày sinh. Tài liệu
hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe sinh sản. Nhà xuất bản y học Hà Nội, tr. 12
4. Bộ Y tế (2009) Các phương pháp gây chuyển dạ.
Tài liệu hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản. Nhà xuất bản y học Hà Nội,
tr. 160‐162.
5. Lê Nguyễn Thy Thy, Huỳnh Nguyễn Khánh
Trang (2013) ʺHiệu quả khởi phát chuyển
dạ bằng ống thông Foley kết hợp oxytocin truyền
tĩnh mạch ở thai trưởng thành thiểu ốiʺ. Tạp chí Y
học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản tập 17 (1), tr.
55 ‐ 60.
6. Mai Thị Mỹ Duyên, Huỳnh Nguyễn Khánh
Trang (2014) “Hiệu quả khởi phát chuyển dạ với
thông Foley qua kênh cổ tử cung ở thai từ 37 tuần
tại Bênh viện đa khoa Tây Ninh”. Tạp chí Y học TP
Hồ Chí Minh, tập 18 (1), tr. 157.
NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH NHÂN NHẬP VIỆN LẠI SAU PHẪU THUẬT
UNG THƯ DẠ DÀY TẠI BỆNH VIỆN K
Phạm Văn Bình*, Lê Văn Thành*
TÓM TẮT47
Mục tiêu:
Nhận xét một số đặc điểm và các yếu tố
ảnh hưởng tới bệnh nhân nhập viện lại sau phẫu thuật
cắt dạ dày triệt căn tại bệnh viện K.
Phương pháp
nghiên cứu:
mô tả hồi cứu.
Kết quả:
664 bệnh nhân
ung thư dạ dày được phẫu thuật triệt căn, tuổi trung
bình 59, 8; nam/nữ 1,5; cắt gần toàn bộ dạ dày 520 ca,
cắt toàn bộ dạ dày 144 ca, 620 bệnh nhân mổ mở, 44
bệnh nhân mổ nội soi,11 ca biến chứng sau mổ. Bệnh
nhân nhập viện lại chiếm 4,66% (31/664) trong đó
22,5% (7/31) có biến chứng từ lần mổ đầu, nguyên
nhân nhập viện lại: rò miệng nối 29% (9/31), áp xe tồn
dư 16,1% (5/31),viêm phổi 12,9% (4/31); huyết khối
12,9% (4/31), nhiễm trùng vết mổ 9,6% (3/31), các
nguyên nhân khác 19,3 % (6/31). Phẫu thuật khi nhập
viện lại chiếm 16,1% (5/31), điều trị nội khoa 83,9%
(26/31).
Kết luận:
Bệnh nhân nhập viện lại sau phẫu
thuật triệt căn ung thư dạ dày tại bệnh viện K với tỷ lệ
thấp, nguyên nhân chủ yếu là do rò miệng nối và áp xe
tồn dư, điều trị chủ yếu là nội khoa, phẫu thuật lại cũng
chiếm tỷ lệ thấp.
Từ khóa:
ung thư dạ dày, Nhập viện lại
SUMMARY
HOSPITAL READMISSION AFTER
GASTRECTOMY FOR GASTRIC CANCER
Purpose: Accessing the features, risk factors of
hospital readmission after radical gastrectomy due to
gastric cancer at K hospital. Method: Retrospective
study. Result: The study included 664 gastric cancer
patients who underwent radical surgery. The means
age was 59.8. The ratio of male/female was 1.5, 520
subtotal gastrectomy cases, 144 total gastrectomy
*Bệnh viện K
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Văn Bình
Email: binhva@yahoo.fr
Ngày nhận bài: 11.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 14.4.2020
Ngày duyệt bài: 22.4.2020
cases. There were 620 patients who underwent open
surgery. The number of patients who received
gastrectomy laparoscopically was 44. Only 11 cases
were observed that had postoperative complications.
The percentage of hospital readmission was 4.66%
(31/664), 7/31 cases (22.5%) had complications from
previous operations. The reasons for readmission were
anastomotic leak (9/31 cases, 29%), intra-abdominal
abscess (5/31 cases, 16.1%), pneumonia (4/31 cases,
12.9%), vein thrombosis (4/31 cases, 12.9%), surgical
infection site (3/31 cases, 9.6%), other (6/31 cases,
19.3%). There were 5 (16.1%) patients who had
undergone the second operation to solve the
complication, 26 patients could tolerate and recovery
by medical treatment. Conclusion: The percentage
of hospital readmission after gastrectomy for cancer
was low. Common reasons were anastomotic leak and
intra-abdominal abscess. Most of them could be
recovery successfully by medical treatment, a few of
them had undergone laparotomy.
Keywords:
Gastric cancer, Hospital readmission
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay những trương trình áp dụng trong
điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày (UTDD) một
cách tổng thể như ERAS, Fast-track surgery với
mục đích để bệnh nhân hồi phục nhanh sau mổ,
rút ngắn thời gian nằm viện [1],[2],[7],[8]. Tuy
nhiên hồi phục nhanh, thời gian nằm viện ngắn
lại được một số nghiên cứu chứng minh là làm
tăng tỷ lệ bệnh nhân nhập viện lại sau mổ [3].
Bệnh nhân UTDD nhập viện lại sau mổ làm tăng
chi phí điều trị, làm chậm liệu trình điều trị hóa
chất bổ trợ dẫn tới giảm chất lượng cuộc sống và
ảnh hưởng đến tiên lượng ung thư học [1],[2].
Khái niệm nhập viện lại được các tác giả trên thế
giới đồng thuận là “Bệnh nhân sau phẫu thuật
ung thư dạ dày đã ra viện và phải quay trở lại
bệnh viện trong vòng 30 ngày để điều trị vì

