BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HỒ CHÍ MINH 

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI

KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG LÂN TRONG ĐẤT Ở NÔNG TRƯỜNG PHẠM VĂN CỘI – CỦ CHI

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. Trần Thị Lộc

SINH VIÊN THỰC HIỆN: Đoàn Xuân Lan

Niên Khóa: 2009 - 2013

Tp. HCM – Tháng 5 Năm 2013

1

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn tận tình

của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã có

một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài.

Ban giám hiệu nhà trường ĐH SƯ PHẠM TPHCM, Ban chủ nhiệm khoa Hóa

học.

Cô Trần Thị Lộc: Cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt thời

gian thực hiện khóa luận. Thầy Nguyễn Văn Bỉnh: Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn,

hỗ trợ em hoàn thành tốt đề tài về phương pháp, lý luận và nội dung trong suốt thời

gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp.

Bên cạnh em xin chân thành cảm ơn đến các Thầy Cô trong tổ hóa Công nghệ

và môi trường, tổ hóa phân tích đã giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian em hoàn

thành khóa luận. Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân em mà còn có

sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và các bạn.

Trong quá trình thực hiện và trình bày khóa luận không thể tránh khỏi những sai

sót và hạn chế, do vậy em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét phê bình của quý

thầy cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn.

1

Kính chúc quý thầy cô và các bạn sức khỏe!

Danh mục các bảng

Bảng 3.1: Tỷ lệ lân trong một số cây trồng. .................................................................. 13

Bảng 3.2: Một số ví dụ về lượng lân cây hút từ đất ...................................................... 14

Bảng 3.3: Thành phần các hợp chất trong hai loại DRN và ARN ................................ 15

Bảng 3.4 Lân trong dung dịch đất ảnh hưởng đến năng suất một số loại cây trồng.... 19

Bảng 3.5: Khả năng hấp phụ lân của đất của Liên Xô cũ ............................................ 24

Bảng 3.6: Khả năng hấp phụ lân của các loại đất khác nhau ở Việt Nam theo phương pháp

Axikinazi ........................................................................................................................ 24

Bảng 3.7: Hàm lượng % các loại ion trong nước phụ thuộc vào pH ........................... 25

Bảng 4.1: Chỉ tiêu đánh giá lân tổng số trong đất ........................................................ 29

Bảng 4.2: Chỉ tiêu đánh giá lân dễ tiêu trong đất theo Kiêcxanôp .............................. 30

Bảng 4.3: Chỉ tiêu đánh giá lân dễ tiêu của đất theo Oniani. ...................................... 30

Bảng 3.1. Số ml dung dịch tiêu chuẩn cho vào 5 bình định mức. ................................. 47

Bảng 3.2. Số ml dung dịch tiêu chuẩn cho vào 5 bình định mức. ................................. 48

Bảng 3.3: Số mg P2O5/100g đất khô tuyệt đối của các mẫu 4,6,9. .............................. 50

Bảng 3.4. Đánh giá lân dễ tiêu trong các mẫu đất theo Kiêcxanop. ............................ 50

Bảng 3.5: Số mg P2O5/100g đất khô tuyệt đối của các mẫu còn lại. ........................... 50

Bảng 3.6. Đánh giá lân dễ tiêu trong các mẫu đất theo Kiêcxanop. ............................ 51

Bảng 3.7. Số ml dung dịch tiêu chuẩn cho vào 5 bình định mức. ................................. 51

Bảng 3.8. % P trong đất khô tuyệt đối của các mẫu đất. .............................................. 54

Bảng 3.9. Đánh giá lân tổng số trong các mẫu đất theo phương pháp axit ascorbic. . 54

1

Bảng 3.10: Kết quả đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu và lân tổng số ............................ 55

Danh mục các hình ảnh

Hình 2.1. Biểu đồ nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới những năm gần đây từ

năm 2003-2007 .............................................................................................................. 5

Hình 2.2. Biểu đồ diện tích trồng cao su tại các vùng ở Việt Nam ............................... 6

Hình 1.1. Nông trường Phạm Văn Cội ......................................................................... 32

Hình 1.2. Văn phòng nông trường Phạm Văn Cội ....................................................... 32

Hình 1.3. Lược đồ vị trí lấy mẫu ở nông trường Phạm Văn Cội .................................. 35

Hình 2.1: Sơ đồ lấy mẫu riêng biệt và hỗn hợp ............................................................ 37

Hình 2.2. Mẫu 1 ............................................................................................................. 38

Hình 2.3. Mẫu 2 ............................................................................................................. 39

Hình 2.4. Mẫu 3 ............................................................................................................. 39

Hình 2.5. Mẫu 4 ............................................................................................................. 40

Hình 2.6. Mẫu 5 ............................................................................................................. 40

Hình 2.7. Mẫu 6 ............................................................................................................. 41

Hình 2.8. Mẫu 7 ............................................................................................................. 41

Hình 2.9. Mẫu 8 ............................................................................................................. 42

Hình 2.10. Mẫu 9 ........................................................................................................... 42

Hình 2.11. Mẫu 10 ......................................................................................................... 43

Hình 2.12. Mẫu 11 ......................................................................................................... 43

Hình 2.13. Mẫu 12 ......................................................................................................... 44

Hình 3.1. Dãy mẫu đựng đường chuẩn ......................................................................... 47

Hình 3.2. Đồ thị lân tiêu chuẩn xác định lân dễ tiêu của mẫu 4,6,9 ............................. 48

Hình 3.3. Đồ thị lân tiêu chuẩn xác định lân dễ tiêu của mẫu còn lại ........................... 51

2

Hình 3.4. Đồ thị lân tiêu chuẩn xác định lân tổng số ........................................................ 52

LỜI MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển và một trong những nhân tố góp phần quan

trọng trong con đường phát triển đó chính là sử dụng khai thác hợp lí tài nguyên đất. Hàm

lượng các chất trong đất sẽ quyết định sự màu mỡ, tơi xốp của đất. Các chỉ tiêu cần xác định

trong đất thường là độ ẩm, độ mùn, vi sinh vật, độ chua trao đổi, hàm lượng đạm, hàm

lượng lân, các khoáng chất Ca, Mg, Na, Fe, Al… Đặc biệt hàm lượng lân có vai trò đặc biệt

quan trọng.

Lân là một trong các yếu tố quan trọng của đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát

triển của cây trồng. Lân có trong thành phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành

các bộ phận mới của cây. Lân tham gia vào thành phần các enzim, các prôtêin, tham gia vào

quá trình tổng hợp các axit amin, kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào

đất và lan rộng ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ

ngã, kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều. Lân

làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống rét, chống

hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu bệnh hại…

Để hiểu rõ hơn về lân, em chọn đề tài “Khảo sát hàm lượng lân trong đất ở nông trường

Phạm Văn Cội – Củ Chi”. Hy vọng qua đề tài này sẽ giúp em và những người quan tâm

hiểu rõ hơn về vai trò quan trong của lân trong đất cũng như hàm lượng lân trong đất của

nông trường Phạm Văn Cội – Củ Chi.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Phân tích hàm lượng lân trong đất ở Nông trường Phạm Văn Cội.

- Đánh giá hàm lượng lân trong đất ở Nông trường Phạm Văn Cội.

III. CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu tổng quan về lân.

- Nghiên cứu các loại đất khảo sát.

- Nghiên cứu đặc điểm vùng khảo sát.

- Nghiên cứu cơ sở lí luận các phương pháp phân tích sử dụng trong đề tài.

- Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các ion trong đất đến hàm lượng lân.

- Phân tích, đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu và lân tổng số trong đất.

IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

3

- Phân tích hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu trong đất.

- Đất ở Nông trường Phạm Văn Cội.

- Sử dụng phương pháp trắc quang để phân tích hàm lượng lân trong đất ở nông trường.

V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thực nghiệm, sử sụng phương pháp trắc quang để phân tích hàm lượng lân

trong đấ Nông trường Phạm Văn Cội.

- Nghiên cứu tài liệu, hệ thống kiến thức.

- Phương pháp phân tích tổng hợp.

VI. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu việc phân tích chính xác sẽ đánh giá đúng được hàm lượng lân trong đất. Từ đó có

thể xác định loại phân và hàm lượng phân tích thích hợp góp phần nâng cao năng suất cây

trồng.

VII. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

- Đất ở nông trường Phạm Văn Cội.

4

- Dùng phương pháp trắc quang.

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. 1

LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................. 3

MỤC LỤC ................................................................................................... 1

Chương 1.TỔng quan VỀ ĐẤT [12] ........................................................ 1 1.1. KHÁI NIỆM VỀ ĐẤT. ...................................................................................... 1

1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT .................................................................. 2

1.3. CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT ................................................................. 2

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CAO SU ................................................... 4 2.1. GIỚI THIỆU VỀ CAO SU THIÊN NHIÊN [5],[11],[15] ...................................... 4 2.2. NGÀNH CAO SU TẠI VIỆT NAM [4],[14] .................................................... 5 2.3. ỨNG DỤNG TỪ CÂY VÀ HẠT CAO SU [13] ................................................... 6 CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ LÂN ..................................................... 8 3.1. KHÁI NIỆM PHÂN LÂN [3] ............................................................................. 8 3.2. VAI TRÒ CỦA LÂN ĐỐI VỚI ĐẤT TRỒNG, CÂY TRỒNG [1] ..................... 8 3.3. LÂN TRONG CÂY [1] ..................................................................................... 12 3.4. LÂN TRONG DUNG DỊCH ĐẤT [2] .............................................................. 17 3.5. MỐI LIÊN QUAN CỦA LÂN VỚI THÀNH PHẦN CƠ GIỚI ĐẤT [3] ....... 21 3.6. VẤN ĐỀ HẤP THỤ VÀ GIỮ CHẶT LÂN CỦA ĐẤT [1] .............................. 21

Chương 4. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH LÂN TRONG ĐẤT26 4.1. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH LÂN TỒNG SỐ TRONG ĐẤT .......... 26

4.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LÂN DỄ TIÊU TRONG ĐẤT ............. 27

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NÔNG TRƯỜNG PHẠM VĂN CỘI – CỦ CHI ...................................................................................................... 30 1.1. TỔNG QUAN VỀ NÔNG TRƯỜNG [8] ........................................................ 30

Chương 2. LẤY MẪU, XỬ LÝ MẪU .................................................... 34 2.1. CÁCH LẤY MẪU ............................................................................................ 34

2.2. XỬ LÝ MẪU .................................................................................................... 35

2.3. BẢO QUẢN MẪU ........................................................................................... 36

2.4. SƠ LƯỢC CÁC MẪU ĐẤT ............................................................................. 36

Chương 3. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ ........................................ 42

1

3.1. DỤNG CỤ - HÓA CHẤT ................................................................................ 42

3.2. KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN TỐI ƯU ................................................................. 43 3.3. XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LÂN DỄ TIÊU [9] ............................................... 43 3.4. XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LÂN TỔNG SỐ [10] ............................................ 47 KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................... 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 53

Phụ lục 1. ................................................................................................... 54

2

Chương 1.TỔng quan VỀ ĐẤT [12]

1.1. KHÁI NIỆM VỀ ĐẤT.

Theo Docutraiep (1879): “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết

quả của quá trình hoạt động tổng hợp các yếu tố hình thành đất gồm: Đá mẹ, địa hình, khí

hậu , sinh vật, thời gian và con người”.

Đất được hình thành và tiến hóa chậm hàng thế kỉ do sự phong hóa đá và sự phân hủy

xác thực vật dưới ảnh hưởng của của các yếu tố môt trường. Một số đất được hình thành do

bồi lắng phù sa sông biển hay do gió. Đất có bản chất khác cơ bản với đá là có độ phì nhiêu,

tạo sản phẩm cây trồng.

Đất có cấu trúc hình thái rất đặc trưng, xem xét một phẫu diện đất có thể thấy sự phân

tầng cấu trúc từ trên xuống dưới như sau:

• Tầng thảm mục và rễ cỏ được phân huỷ ở mức độ khác nhau.

• Tầng mùn thường có màu thẫm hơn, tập trung các chất hữu cơ và dinh dưỡng của đất.

• Tầng rửa trôi do một phần vật chất bị rửa trôi xuống tầng dưới.

• Tầng tích tụ chứa các chất hoà tan và hạt sét bị rửa trôi từ tầng trên.

• Tầng đá mẹ bị biến đổi ít nhiều nhưng vẫn giữ được cấu tạo của đá.

• Tầng đá gốc chưa bị phong hoá hoặc biến đổi.

Thành phần khoáng của đất bao gồm ba loại chính là khoáng vô cơ, khoáng hữu cơ và

chất hữu cơ. Khoáng vô cơ là các mảnh khoáng vật hoặc đá vỡ vụn đã và đang bị phân huỷ

thành các khoáng vật thứ sinh. Chất hữu cơ là xác chết của động thực vật đã và đang bị phân

huỷ bởi quần thể vi sinh vật trong đất. Khoáng hữu cơ chủ yếu là muối humat do chất hữu

cơ sau khi phân huỷ tạo thành. Ngoài các loại trên, nước, không khí, các sinh vật và keo sét

tác động tương hỗ với nhau tạo thành một hệ thống tương tác các vòng tuần hoàn của các

nguyên tố dinh dưỡng nitơ, photpho...

Các nguyên tố hoá học trong đất tồn tại dưới dạng hợp chất vô cơ, hữu cơ có hàm lượng

biến động và phụ thuộc vào quá trình hình thành đất. Thành phần hoá học của đất và đá mẹ

ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành đất có quan hệ chặt chẽ với nhau. Về sau, thành

phần hoá học của đất phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của đất, các quá trình hoá, lý, sinh

học trong đất và tác động của con người.

Sự hình thành đất là một quá trình lâu dài và phức tạp, có thể chia các quá trình hình

thành đất thành ba nhóm. Quá trình phong hoá, quá trình tích luỹ và biến đổi chất hữu cơ

1

trong đất, quá trình di chuyển khoáng chất và vật liệu hữu cơ trong đất. Tham gia vào sự

hình thành đất có các yếu tố. Đá gốc, sinh vật, chế độ khí hậu, địa hình, thời gian. Các yếu

tố trên tương tác phức tạp với nhau tạo nên sự đa dạng của các loại đất trên bề mặt thạch

quyển. Bên cạnh quá trình hình thành đất, địa hình bề mặt trái đất còn chịu sự tác động phức

tạp của nhiều hiện tượng tự nhiên khác như động đất, núi lửa làm nâng cao và sụt lún bề

mặt, tác động của nước mưa, dòng chảy, sóng biển, gió, băng hà và hoạt động của con

người.

1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT

Sự phát sinh và phát triển của đất là quá trình thống nhất giữa các mặt đối lập. Các mặt

đối lập đó tác động tương hỗ lẫn nhau được thể hiện về mặt sinh học, hóa học, lý – hóa học

như:

Sự tổng hợp chất hữu cơ và phân giải chúng. -

Sự tập trung tích lũy chất hữu cơ, vô cơ và sự rửa trôi chúng. -

Sự phân hủy khoáng chất và sự tổng hợp nên khoáng chất và hợp chất hóa học mới. -

Sự xâm nhập của nước vào đất và sự mất nước từ đất. -

Sự hấp thụ năng lượng mặt trời từ đất làm cho đất nóng lên và sự mất năng lượng từ -

đất làm cho đất lạnh đi.

Trong đất còn có những mâu thuẫn khác như:

- Từ khi sự sống xuất hiện trên trái đất thì quá trình phong hóa xảy ra đồng thời với quá

trình hình thành đất.

Đất được hình thành không ngừng phát triển, gắn liền với sự tiến hóa của sinh giới.

Trong đó những sinh vật đơn giản (tảo, vi khuẩn) đi tiên phong trong quá trình tạo thành

đất. Khi thực vật xanh bao phủ khắp mặt đất, hệ thống rễ phát triển ăn sâu vào lớp đá phong

hóa, thì quá trình hình thành đất xảy ra mạnh và thay đổi chất lượng đất được hình thành.

1.3. CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT

Các yếu tố tác động vào quá trình hình thành đất và làm cho đất được hình thành gọi là

các yếu tố hình thành đất. Đất được hình thành do sự biến đổi liên tục và sâu sắc tầng mặt

của đá dưới tác dụng của sinh vật và các yếu tố môi trường.

Vậy các yếu tố hình thành đất. Đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật, thời gian và con

người.

- Đá mẹ: Là yếu tố cơ bản cung cấp chất khoáng cho đất. Đá mẹ nào thì đất ấy. Mối liên

quan này thể hiện chặt chẽ ở giai đoạn đầu sự tạo thành đất. Sau đó thì bị các yếu tố khác

2

như khí hậu sinh vật chi phối trở nên mất tương quan chặt chẽ.

- Sinh vật: Là yếu tố cơ bản của quá trình hình thành đất, vai trò chủ yếu là tích lũy chất

hữu cơ, chuyển hóa và tổng hợp chất mùn của đất, chuyển hóa trạng thái chất dinh dưỡng

trong đất, từ trạng thái khó tiêu thành dễ tiêu và ngược lại. Không có sinh vật thì đất không

hình thành.

- Khí hậu: Là yếu tố vừa có ảnh hưởng trực tiếp thông qua lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm,

ánh sáng… và ảnh hưởng gián tiếp thông qua sinh vật đến quá trình hình thành đất. Phân bố

đất theo vĩ độ (đới) như: đất nhiệt đới, ôn đới, hàn đới.

- Địa hình: Địa hình khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau tới sự hình thành đất thông qua

lượng nước, nhiệt được xâm nhập vào. Địa hình cũng ảnh hưởng tới tốc độ và hướng gió

nên ảnh hưởng đến cường độ bốc hơi nước thông qua đó ảnh hưởng tới đất.

- Thời gian: Toàn bộ các hiện tượng xảy ra trong quá trình hình thành đất như quá trình

phong hoá đá, quá trình di chuyển vật chất trong đất, quá trình hình thành vật chất hữu cơ…

đều cần có thời gian. Thời gian từ khi bắt đầu hình thành một loại đất đến nay gọi là tuổi

của đất.

- Con người: có tác động rất mạnh đến quá trình hình thành đất thông qua hoạt động sản

xuất (đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp). Tuy nhiên chỉ ở một số loại đất nhân

tố con người mới có vai trò quan trọng (ví dụ: đất trồng lúa nước, đất bạc màu, đất xói mòn

3

trơ sỏi đá…).

Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CAO SU

2.1. GIỚI THIỆU VỀ CAO SU THIÊN NHIÊN [5],[11],[15]

Cây cao su có tên khoa học là Hevea Brasiliensis, là một loài cây thân gỗ thuộc họ

Euphorbiaceae (họ Thầu dầu). Cây cao su ban đầu chỉ mọc hoang dại tại vùng châu thổ sông Amazone (Nam Mỹ), ở vùng vĩ độ 5o Bắc và Nam. Đây là vùng nhiệt đới ẩm ướt, lượng

mưa trên 2.000 mm/năm, nhiệt độ cao và đều quanh năm có mùa khô kéo dài từ 3-4 tháng,

đất thuộc loại đất sét tương đối giàu chất dinh dưỡng, có độ pH: 4.5-5.5 với tầng đất canh

tác sâu, thoát nước trung bình.

Cây cao su trong tình trạng hoang dại là một cây rừng lớn, thân thẳng, cao trên 30m,

vành thân có thể đạt từ 5-7 m, tán lá rộng và sống trên 100 năm.

Lúc đầu cao su thiên nhiên được thổ dân Mehico và Yucatan dùng để tạo ra các hình

tượng và các bức tranh trên giấy bằng vỏ cây, người Tây Ban Nha dùng nhựa cây Castilloa

elastica làm áo choàng đi mưa, giày ống, mui xe ngựa…

Đến thế kỷ 19: nhà máy chế tạo cao su thành vật dụng đầu tiên được thành lập, sử

dụng các màng cao su mỏng để chế tạo găng tay, bít tất, áo mưa…

Và năm 1876 được xem như là năm mở đầu cho công cuộc phát triển trồng cao su với

sự thành công trong việc đưa hạt cao su từ Brazil sang các nước Châu Á của Henry

Wickham. Từ đó cây cao su đã phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi

và một phần nhỏ ở châu Mỹ La Tinh.

Từ năm 1938 – 1944 là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự thành công về mặt khoa

học cho công nghệ sản xuất cao su thiên nhiên khi hai nhà kỹ nghệ lớn là Charles Goodyear

và Thomas Hancock đã tìm ra phương pháp lưu hóa cao su bằng cách cho thêm chất lưu

huỳnh và đưa lên nhiệt độ cao đã chế tạo được loại cao su chịu nhiệt. Sản phẩm cao su lưu

hóa được dùng để chế tạo bàn ghế, lợi răng giả, dụng cụ bơm, bút máy…

Nhận thức được tầm quan trọng của cây cao su, các nhà sinh vật học đã nhân giống và

phân phối trên khắp thế giới. Diện tích cao su thiên nhiên phát triển mạnh trong những năm

đầu thế kỷ 20. Năm 1905 toàn thế giới trồng được 52.000 ha, đến 1910 là 455.000 ha. Và

4

cũng chính nhu cầu tiêu thụ cao su cao nên diện tích cao su trên thế giới ngày càng tăng cao.

Nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên thế giới

Tấn

9613

8994

8968

8582

8033

10000 9500 9000 8500 8000 7500 7000

Năm

2003

2004

2005

2006

2007

Sản lượng (tấn)

Hình 2.1. Biểu đồ nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới những năm gần đây

từ năm 2003-2007

2.2. NGÀNH CAO SU TẠI VIỆT NAM [4],[14]

Năm 1878 là năm cây cao su di nhập vào Việt nam lần đầu tiên do Pierre đưa hạt

giống vào trồng ở vườn ươm Củ Chi nhưng không sống được cây nào. Đến năm 1897,

Raoul, một dược sỹ hải quân người Pháp mang một số hạt giống cao su từ vườn thực

nghiệm Buitenzorg (Java) đem trồng lần đầu tiên tại trạm thí nghiệm ông Yệm (Sông Bé) và

tại trạm thí nghiệm của Viện Pastuer tại Suối dầu (Nha Trang) do Bác sỹ Yersin nhận 200

cây giống cao su từ vườn bách thảo Sài Gòn đã tổ chức nhân trồng. Như vậy, năm 1897

được công nhận là năm di nhập của cây cao su vào Việt Nam.

Nhà nước ta nhận thức được tầm quan trọng của cây cao su đối với phát triển kinh tế,

xã hội và môi trường nên Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch nhân giống và trồng cao su ở

các vùng đất thích hợp trên cả nước. Nhờ giá cao su liên tục tăng cao trong những năm qua

nên diện tích vườn cao su sẽ không ngừng mở rộng. Hiện cả nước có hơn 500.000 ha cao su

và được trồng trên cả nước. Sản lượng đạt trung bình 450.000 tấn/năm. Mục tiêu chính phủ

5

đưa ra đến năm 2010 là diện tích cao su sẽ tăng lên 700.000 ha

Diện tích trồng cao su tại các vùng ở Việt Nam

Đông Nam Bộ (339.000 ha)

Tây Nguyên (113000 ha)

Bắc Trung Bộ (41.500 ha)

Duyên hải Nam Trung Bộ (6500 ha)

1%

8%

23%

68%

Hình 2.2. Biểu đồ diện tích trồng cao su tại các vùng ở Việt Nam

2.3. ỨNG DỤNG TỪ CÂY VÀ HẠT CAO SU [13] * Hoa trang trí: Theo nghiên cứu của Tổng cục Cao su Malaysia, lá cao su có thể được

chuyển thành nguồn thu nhập cho người trồng cao su. Qua nghiên cứu cho thấy gân của lá

cao su vẫn còn nguyên khi các tế bào biểu bì được lấy đi trong quá trình phân hủy. Xương

của lá cao su hong khô có thể được uốn thành các hoa trang trí tuyệt đẹp trong nhà.

* Thực phẩm chức năng: Một chất khác trong mủ cao su được gọi là sugars hay

quebrachitol có thể được trích ly và sử dụng bào chế thực phẩm chức năng. Tuy nhiên việc

trích ly làm cho các phần tử cao su bị hư hại và không còn sử dụng được nên chỉ có thể thực

hiện được với serum – chất thải từ cao su. Bởi vậy nghiên cứu cho rằng có thể trích ly từ lá

cao su để sản xuất thực phẩm chức năng có giá trị cao hơn.

* Hạt cao su có giá trị cao trong công nghiệp

Hạt cao su có thể dùng để chế tạo sơn điện di, ép dầu làm

xà phòng, khô dầu cho chăn nuôi, dầu đốt. Nhân hạt cao

su làm thức ăn cho cá. Vỏ hạt cao su chế than hoạt tính

làm pin đèn, gỗ dán, gỗ cao cấp…

* Cao su hoá đường giao thông

Ý tưởng dùng cao su thay nhựa đường để làm bề mặt đường giao thông bộ bắt nguồn từ

6

việc Thái Lan đang khủng hoảng thừa cao su. Bộ Giao thông Thái Lan cho biết, nước này sẽ

cao su hóa 5.000 km mặt đường giao thông tại các khu vực nông thôn trên toàn lãnh thổ

trong 5 năm tới. Trong năm tài chính 2012-2013 bắt đầu từ tháng 10 năm nay, khoản ngân

sách 4,5 tỷ Bạt, tương đương 150 triệu USD đã được cấp để tiến hành phủ cao su 750 km

mặt đường tại những tuyến đường nông thôn hiện chưa được rải nhựa.

* Sắp có kiểu lốp xe mới

Các kỹ sư của hãng General Motor vừa kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu Lốp xe Hoa

Kỳ, cơ sở nghiên cứu độc lập mới được thành lập gần đây ở Virginia, để cùng nhau thực

hiện công trình nghiên cứu và phát triển công nghệ lốp xe mới. Nhà sản xuất ô tô hàng đầu

thế giới đã đầu tư 5 triệu USD vào Trung tâm Nghiên cứu nhằm phát triển những lốp xe

7

hiệu suất cao hơn, an toàn hơn và mức tiết kiệm nhiên liệu của xe cũng tăng thêm.

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ LÂN

3.1. KHÁI NIỆM PHÂN LÂN [3]

Phân lân là phân có chứa nguyên tố dinh dưỡng photpho. Các chất được dùng làm phân

lân là những sản phẩm chế biến từ các loại quặng chứa photpho (chủ yếu là photphorit và

apatit), những chất hữu cơ (xương động vật) và cả những cặn bã công nghiệp luyện kim

giàu hợp chất của photpho (xỉ lò Mactanh và Tomat).

Thành phần của photpho trong phân lân được biểu thị bằng phần trăm lượng P2O5 so

với khối lượng chung. Dựa vào tính tan trong các dung môi khác nhau, ta có thể chia chúng

thành 3 loại chính:

+ Loại thứ nhất: gồm những phân lân dễ tan trong nước như supephophat, amoni

photphat…

+ Loại thứ hai: tan trong axit yếu như phân lân kết tủa (prexipitat), lân nung chảy, lân

khử flo…

+ Loại thứ ba: loại phân lân khó tan như bột photphorit, phân xương…

Nếu dựa vào nguồn gốc và phương pháp chế biến, ta có thể chia chúng thành 2 loại chính:

phân lân tự nhiên và phân lân chế biến.

3.2. VAI TRÒ CỦA LÂN ĐỐI VỚI ĐẤT TRỒNG, CÂY TRỒNG [1] 3.2.1. Vai trò của lân đối với cây trồng

Lân là nguyên tố dinh dưỡng đa lượng đối với cây trồng. Lân đóng vai trò quan trọng

trong quá trình trao đổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất trong cây. Lân giữ

vai trò rất quan trọng trong đời sống tế bào.

Lân là một phần nồng cốt của chất nucleoproteit và có sự liên kết chặt chẽ với đạm, khi

cây tăng trưởng lên sẽ hình thành thêm tế bào mới nên có thêm nucleoproteit, do vậy mà cây

phải hút thêm cả đạm và lân.

Nếu trong đất có lân nhưng không có đạm thì cây không phát triển được và ngược lại,

nếu chỉ có đạm mà không có lân thì cây cũng không có nucleoproteit, nhân tế bào sẽ không

được hình thành. Những chất như photpholipit là những hợp chất béo của lân cũng tham gia

tích cực vào việc hình thành ra màng tế bào.

Lân cấu tạo nên nhiều hợp chất quan trọng nên giúp tăng tính chịu lạnh của cây trồng.

Thúc đẩy sự phát triển của bộ rễ bằng việc tăng cường quá trình tổng hợp nên nhiều hợp

8

chất hữu cơ quan trọng.

Lân thúc đẩy mô phân sinh phân chia nhanh, cho nên tạo điều kiện cho cây phát dục (ra

hoa) thuận lợi, ra hoa sớm. Lân giúp quá trình vận chuyển các hợp chất đồng hóa về cơ

quan dự trữ được thuận lợi, vì vậy giúp lúa chín sớm, hạt mẩy, cây ăn quả mẫu mã đẹp, tăng

chất lượng trái, thúc đẩy sự tổng hợp đường của mía…

Nhiều hợp chất phức tạp khác tham gia vào quá trình hô hấp và quang hợp của cây để

sống và phát triển đều có chứa lân.

Nói tóm lại, trong rất nhiều quá trình sinh hóa xảy ra trong cây, luôn luôn có sự tham

gia của chất lân.

3.2.2. Vai trò của lân đối với sự phát triển của cây trồng

Lân thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút nên có vai trò quan trọng trong

thời gian sinh trưởng đầu, trong giai đoạn hình thành hạt, giúp cây chống đỡ với điều kiện

bất thuận lợi (hạn và rét).

Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với dinh dưỡng đạm. Cây được bón cân đối đạm

– lân sẽ phát triển xanh tốt, khỏe mạnh, nhiều hoa, sai quả và phẩm chất nông sản tốt. Người

ta xem lân là yếu tố của sự phát triển, kích thích quá trình chín. Cây lúa được bón đủ lân bộ

rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm. Lúa được bón đủ lân thì hạt mẩy, sáng. Lúa thiếu lân cây

còi cọc, đẻ nhánh sớm, bộ lá lúa ngắn, phiến lá hẹp, lá có tư thế dựng đứng và có màu xanh

tối, số lá, số bông và số hạt trên bông đều giảm.

Thiếu lân vừa các lá non có vẻ bình thường song các lá già hơn chuyển sang màu nâu

rồi chết.

Thiếu lân cây trồng phát triển kém, mọc còi cọc, chậm lớn, ít phân cành, lá cứng đờ

không mềm mại, màu sắc xạm hơn, phiến lá bé đi, cây ít đẻ, bộ rễ kém phát triển, đường

tích lũy có khuynh hướng tạo thành những sắc tố “anthoxyan” nên nhiều loại cây trồng khi

thiếu lân lá chuyển sang màu tím đỏ (huyết dụ ở ngô) hay đỏ. Nếu thiếu lân trầm trọng lá có

vết tím, thân mảnh, chín chậm, hạt và quả phát triển kém. Lá già, thiếu lân thường rụng

sớm, có màu huyết dụ, xuất phát từ đầu ngọn lá rồi lan dần vào thân, có thể lan hết khắp lá.

Thiếu lân cây ngừng tăng trưởng hay tăng trưởng yếu nhưng lá vẫn xanh nhiều hơn vàng.

Thiếu lân có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của phấn hoa, ảnh hưởng đến sự hình

thành quả và hạt, có thể gây ra rụng hoa, không đậu quả hoặc rụng quả non trầm trọng.

Đối với cây họ đậu, thiếu lân thì việc hình thành nốt sần bị giảm sút, cây phát triển kém,

năng suất thấp vì ngoài khả năng tham gia trực tiếp vào các quá trình sống của cây, chúng

9

còn thúc đẩy khả năng cố định đạm của vi sinh vật cộng sinh.

Thiếu lân, cây hút đạm vào tích lũy trong lá ở dạng đạm khoáng không chuyển sang

dạng protit được, và đó cũng là một môi trường thuận lợi cho công việc phát triển của nhiều

loại bệnh nấm. Đối với những cây họ lúa, thiếu lân lá mềm yếu, sự sinh trưởng của rễ và

toàn cây, sự đẻ nhánh, phân chia cành kém. Lá cây có màu xanh đậm, do sự thay đổi tỉ lệ

chlorophyll a và b. Ở những lá già thì đầu mút của nó màu đỏ, thân cũng có màu đỏ. Hàm

lượng protein trong cây giảm. Đối với cây ăn quả, khi thiếu lân thì tỉ lệ đậu quả kém, quả

chín chậm và trong quả có hàm lượng axit cao.

Lân đóng góp vào quá trình hình thành chất béo và tổng hợp protein trong cây. Đối với

những cây trồng để lấy dầu như dừa, đậu phộng, đậu nành… nếu bón lân đầy đủ mới có

hàm lượng chất béo cao. Lân có khả năng hình thành một số loại vitamin. Lân cần thiết để

nâng cao phẩm chất của hạt giống.

Về mặt cơ chế dinh dưỡng: trong cây, lân di chuyển dễ dàng hơn rất nhiều so với sự di

- sang dạng HPO4

chuyển của lân trong đất. Trong quá trình dinh dưỡng cho cây, lân lại có khả năng chuyển 2- + H+ nên điều biến từ dạng ion này sang dạng ion khác. Ví dụ ion H2PO4

môi trường có pH quá kiềm, hay ngược lại, từ dạng HPO4

hòa được pH trong dung dịch cây, có vai trò của tác nhân đệm, giúp cây chịu đựng được 2- + H+ của dung dịch thành - giúp cây chịu đựng được môi trường có pH quá chua. Do vậy, nhờ bón lân mà sức H2PO4

chịu đựng của cây càng cao đối với phản ứng của môi trường hay nói khác đi, lân cũng có

tác dụng giải độc cho cây.

Cây hút chất lân hòa tan trong dung dịch đất chủ yếu trong giai đoạn đầu nên phân lân

thường dùng để bón lót. Ví dụ: đối với cây lúa thì cần phải có một lượng lân hòa tan cung

cấp cho cây lúa trong giai đoạn sinh trưởng đầu, khi cây mạ bắt đầu sử dụng hết dữ trữ lân

trong hạt, bộ rễ phải hút chất lân hòa tan trong dung dịch đất. Tuy chỉ cần đến một lượng lân

rất nhỏ và nồng độ rất loãng nhưng nếu đất chua, giàu sắt, nhôm thì vẫn không đủ cho cây

hút. Vì vậy mà phải bón lót lân thế nào để ngay sau khi mạ mũ chông, trong đất đã có sẵn

lân hòa tan dễ tiêu cho nó. Vài ba tuần sau, khả năng hút lân của bộ rễ đã tăng lên nhiều,

đồng thời khối lượng phân bón cũng đã phân giải nhiều, cung cấp được nhiều lân dễ tiêu,

giúp cho cây lúa tiếp tục phát triển mạnh mẽ.

Như vậy, lân sau khi xâm nhập vào thực vật dưới dạng các hợp chất vô cơ theo con

đường đồng hóa sơ cấp lân bởi hệ rễ, đã tham gia vào nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng và

10

tham gia vào hầu hết quá trình trao đổi chất của cây. Do vậy, có thể nói rằng lân đóng vai

trò quan trọng quyết định chiều hướng, cường độ các quá trình sinh trưởng phát triển của cơ

thể thực vật và cuối cùng là năng suất của chúng.

3.2.3. Vai trò của lân đối với độ phì nhiêu của đất

Khi nói đến vai trò của lân đối với độ phì nhiêu của đất tức nói đến hàm lượng lân trong

đất mà hàm lượng này được quy ước bằng lượng “lân tổng số” trong đất, tức là tổng số hết

tất cả các hợp chất lân có trong đất mặc dù kết hợp với cation nào, ở dạng hữu cơ hoặc vô

cơ.

DeTurk (1931) đã nhận định rằng: “ Những chân đất phải làm giàu lân mới có độ phì

nhiêu cao, và ngược lại, những chân đất có độ phì nhiêu cao đều là những chân đất giàu

lân”.

Vohlt Manm (1940) đã căn cứ vào hàm lượng lân của đất để phân loại đất tốt, đất xấu

như sau:

+ Đất rất tốt: > 0,2% P2O5.

+ Đất tốt: 0,1 – 0,2% P2O5.

+ Đất xấu: < 0,06% P2O5.

Những vùng đất có độ phì nhiêu cao như vùng đất đen ôn đới của Liên Xô cũ (gọi là đất

“tchernozen”), đất đen nhiệt đới, “margallit” của Indonesia, đất đỏ “bazan” của Việt Nam,

đất hoàng thổ của Trung Quốc, đất phù sa sông Nin trồng bông của Ai Cập… cũng chính là

những vùng đất có lượng lân cao nhất hoặc rất cao.

Trong đất có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự dinh dưỡng của cây nên ảnh hưởng đến

năng suất của sản xuất nông nghiệp. Như ta đã biết, ba yếu tố dinh dưỡng nòng cốt của cây

là: đạm, lân, kali nhưng nhiều trường hợp thì đất thiếu kali, còn đạm thì có thể bổ sung từ sự

phân giải chất hữu cơ trong đất, từ nước mưa… Nhưng đặc biệt, trong thiên nhiên, không có

nguồn nào bổ sung lân cho đất thì đất thiếu lân trầm trọng, có nơi lại tích lũy thành từng mỏ

lớn hay gọi là “mỏ photphat thiên nhiên”. Chính vì vậy mà cần phải đào lấy lân từ các mỏ

đó để cung cấp lân cho những vùng còn thiếu lân để nâng cao độ phì nhiêu của đất.

Nếu như trên đất nông nghiệp mà ta chỉ trồng độc canh một loại cây mà lại chăm bón

quá ít thì chất dinh dưỡng trong đất sẽ bị cây lấy đi… và do đó, hàm lượng lân trong đất bị

tiêu hao dần và qua nhiều thế hệ canh tác đất ngày càng nghèo lân. Nếu phân bón không đầy

đủ cộng với sự hao phí lân do xói mòn, do rửa trôi … thì đất càng ngày càng kém độ phì

11

nhiêu.

Bên cạnh đó, ta còn thấy được vai trò của lân càng được đẩy lên khi có một số đạm

thích đáng được bón cùng. Ví dụ: thí nghiệm ở trạm An Lạc (Tp. Hồ Chí Minh) (Xuân

1975), trên đất phèn này bón đơn thuần photphat Lào Cai hiệu quả rất lớn nhưng thể hiện

chậm chạp, trong khi đó bón đơn thuần đạm và kali thì ngay vụ đầu, bón 6000kg photphat

Lào Cai đã làm tăng 13,4 tạ thóc/ha và qua vụ thứ hai còn tăng thêm 8,3 tạ thóc nữa. Từ đó,

có thể nói rằng, lân đã phát huy được hiệu lực của phân đạm và làm tăng tốc độ phì nhiêu

của đất.

3.3. LÂN TRONG CÂY [1] 3.3.1. Tỷ lệ lân trong cây

Trong cây trồng, lân chiếm trung bình vào khoảng 0,3 – 0,4% của chất khô.

Trong hạt, tỷ lệ lân thường cao hơn trong rơm rạ rất nhiều. Khi cây đã bắt đầu trổ hoa thì

một phần lân di chuyển vào trong hạt.

Trong cây, tính theo chất khô, tỷ lệ lân trong thân lá biến động từ 0,2% P2O5 (rơm rạ

lúa) đến 0,7% P2O5 (thân lá đậu tương), trong hạt biến động từ 0,48% P2O5 (hạt thóc) đến

1,2% P2O5 (hạt đậu tương). Như vậy là cây họ đậu chứa nhiều lân hơn cây ngũ cốc và lân

có nhiều ở hạt hơn các bộ phận khác, các cơ quan non đang phát triển tỷ lệ lân cao hơn các

bộ phận già và lân cũng có thể được vận chuyển từ các bộ phận già về các cơ quan non đang

phát triển để tái sử dụng trong điều kiện nhu cầu lân của cây bị thiếu. Do vậy, triệu chứng

thiếu lân có thể được phát hiện từ các lá già.

Tỷ lệ lân trong một số loại cây trồng

Bảng 3.1. Tỷ lệ lân trong một số cây trồng

STT Cây trồng Bộ phận (khô) Tỷ lệ P2O5

Hạt thóc 0,60 – 0,80

Hạt gạo 0,75 – 0,90 1 Lúa

Rơm rạ 0,20 – 0,60

Hạt 0,50 – 0,60 2 Ngô Thân cây 0,25 – 0,30

Lá non 1,00 – 1,20 3 Chè Lá già 0,40 – 0,50

12

Lá và thân 0,30 – 0,40 4 Đỗ tương Hạt 1,00 – 1,20

Lá và thân 0,30 – 0,40 5 Bông Hạt 0,80 – 1,20

6 Rau diếp Lá và thân 1,40 – 1,55

7 Cải xông Lá và thân 1,50 – 1,70

8 Lạc Hạt 0,60 – 0,80

Một số ví dụ về lượng lân cây hút từ đất

Bảng 3.2. Một số ví dụ về lượng lân cây hút từ đất

Thu hoạch thương phẩm Lượng P2O5 bị lấy đi Cây trồng (tạ/ha) (kg)

Ngũ cốc 10 – 15 15 – 20

30 – 40 25 – 30

50 – 70 30 – 40 Bông 80 – 90 50 – 60

120 – 130 90 – 100

200 – 250 40 – 50 Khoai tây 300 – 350 60 – 70

Ngô 60 – 70 50 – 60

Lúa 40 – 50 40 – 50

Đay 100 45

Thuốc lá 15 (lá khô) 25

Chè 20 (lá tươi) –25

3.3.2. Những dạng lân trong cây

Lân trong cây đại bộ phận nằm dưới dạng hữu cơ, chỉ một phần nhỏ nằm dưới dạng vô

cơ. Dạng lân vô cơ chủ yếu là các octhophotphat đóng vai trò quan trọng trong việc hình

- thành NH4

thành hệ thống đệm trong tế bào nhờ vào sự chuyển hóa giữa các ion photphat. Sự chuyển +, có lợi cho việc tổng hóa này cũng cung cấp thêm H+ cho quá trình khử NO3

hợp protein. Cho nên dinh dưỡng lân có liên quan đến dinh dưỡng đạm của cây (lân vô cơ

13

cũng là nguồn dự trữ cần thiết cho việc tổng hợp lân hữu cơ).

Một phần photphat mà cây hút được từ đất lên vẫn tồn tại trong cây dưới thể

octhophotphat, một phần khác bị este hóa và trở thành lân hữu cơ.

Trong cây, đa số là bộ phận sinh sản chứa nhiều lân hơn bộ phận sinh trưởng. Lá và rễ

thường chứa nhiều lân vô cơ hơn thân.

Những thể lân hữu cơ trong đất, nói chung là cây không thể trực tiếp sử dụng được (trừ

một số ít glyxerophotphat và phitin). Những dạng lân hữu cơ trong cây đều do quá trình este

hóa axit octhophotphoric.

Những dạng lân hữu cơ

* Nucleoproteit

- Trong tế bào thực vật có chứa nucleoproteit là những muối phức tạp của axit proteic.

- Axit proteic là những chất hữu cơ có chứa lân, đạm, oxi, hidro và cacbon.

- Khi ta phân hủy axit proteic sẽ cho ra 3 chất:

 Axit photphoric

 Gluxit

NH

N

N

N

N

N

 Những loại bazơ thuộc nhóm purin và nhóm pyrimidin và có công thức:

Purin Pyrimidin

Một trong những axit proteic rất quan trọng trong việc sinh sản của tế bào là

Dezoxyribonucleic (DRN), bên cạnh đó còn có axit Ribonucleic (ARN). Hai axit này khác

nhau chủ yếu ở hai thành phần bazơ. Thành phần các chất trong hai loại axit đó:

Bảng 3.3. Thành phần các hợp chất trong hai loại DRN và ARN

Axit Ribonucleic Axit Dezoxyribonucleic

Các bazơ: Các bazơ:

+ Adenin + Adenin

+ Guanin + Gluanin

+ Xytozin + Xytozin

+ Urazin + Tinin

+ 5 – metylxytozin

Ribozo (gluxit) Deroxy – ribozo

Axit photphoric Axit photphoric

14

Axit proteic thường là một tổng hợp của nhiều axit proteic đơn giản gọi là nucleotit.

NH2

N

N

OH

O P OH

H2C

N

N

O

O

H

H

H

OH

Ví dụ:

* Photphoproteit

- Photphoproteit là hợp chất lân hữu cơ rất quan trọng hình thành do sự tổng hợp của

nhiều men của protit và lân. Trong loại này có rất nhiều men của protit chi phối nhiều quá

trình sinh hóa trong cây và nó cũng thể hiện được sự tương quan chặt chẽ giữa đạm và lân.

Photphoproteit thường không tan trong nước nhưng tan trong các bazơ mạnh. Ví dụ chất

casein của sữa đậu nành là một photphoproteit, khi tan trong xút thì biến thành natri

caseinat.

- Photphoproteit khi thủy phân sinh ra nhiều loại aminoaxit. Nhưng khi thủy phân với

trypxin lại cho ra những nhóm polypeptide có chứa nhiều axit photphoric.

* Lexithin

- Lexithin là một phức hệ gồm 3 chất: glyxerol, axit photphoric và colin.

- Trong công thức của nó, một chức axit của H3PO4 este hóa chất glyxerol, một chất nữa

OH

OH

OH

H2C

H2C

N(CH 3)3

HO P OH

OH

HC

OH

H2C

OH

O

H2C

este hóa nhóm ancol của chất colin và chức thứ 3 thì tự do. Công thức điển hình như sau:

Glyxerol Axit photphoric Colin

Lexithin là một hợp chất lân béo, thường có trong hạt cây có dầu và chiếm tỷ lệ khoảng

0,25 – 1,7% chất khô, khi thủy phân sẽ cung cấp lân vô cơ, là thức ăn dự trữ cần thiết cho

quá trình nảy mầm của hạt.

Trong dầu lạc có lexithin oleic là một lexithin mà axit béo đã xà phòng hóa glyxerol là

15

axit oleic:

O

OC

H2C

R1

O

OC

HC

R2 CH2

O

H2C

P

OH O CH2

CH2

N(CH3)3

OH

Lexithin

* Phitin

- Phitin và photphat canxi magie của rượu inositol (CHOH)6. Thành phần phitin gồm:

22% P2O5, 12% CaO, 15% MgO.

- Phitin là một hợp chất lân hữu cơ không chứa đạm, dưới tác động của các loại men thì

bị phân hủy thành rượu inositol và octhophotphat.

- Phitin có nhiều trong bộ phận non của cây, nhất là trong hạt. Ví dụ: trong các hạt cây họ

đậu và cậy có dầu, phitin vào khoảng 1 – 2% trọng lượng chất khô.

- Phitin là một hợp chất lân dự trữ trong hạt, khi nảy mầm, cây non sẽ tiêu thụ dần nguồn

lân dự trữ đó. Hay nói cách khác đi, phitin là một kho dự trữ chất lân cho cây non ở thế hệ

sau.

* Saccarophotphat

- Saccarophotphat là chất lân hữu cơ có vai trò quan trọng trong việc trao đổi chất, chủ

yếu là trong quá trình quang hợp, hô hấp và quá trình tổng hợp ra các loại hydratcacbon

phức tạp.

OH

O P

O

HC

O

H2C

OH

C

O

HC

OH

HC

O

HO

CH OH

HO

CH

OH

HC

OH

HC

OH

HC

OH

HC

OH

HC

OH

HC

OH

OH

HC

OH

OH

OH

P

O

O

O

P

O

H2C

O

P

O

H2C

H2C

OH

OH

OH

-Có nhiều loại saccarophotphat, nhưng những loại thường gặp là:

- Trong cây, hàm lượng saccarophotphat chiếm khoảng 0,1 – 1% trọng lượng chất khô.

16

* Photphatit

- Photphatit là hợp chất béo của lân hữu cơ. Gồm octhophotphoric hóa hợp với một bazơ

hữu cơ phức tạp (không phải colin) và nhiều loại gluxit. Do đó phần nào photphatit giống

như lexithin.

- Photphatit có nhiều trong phôi. Những hạt giàu protit thường có tỷ lệ photphatit cao. Ví

dụ: Trong ngô, hạt ngô có 0,25% photphatit. Hạt đỗ tương có 1,82% photphatit. Cây non

thường chứa nhiều photphatit hơn cây già.

- Trong hạt những cây dầu, photphatit là nguồn gốc những quá trình lên men làm cho dầu

chóng bị chua và hỏng.

- Vậy, trong thành phần của cây cũng như trong quá trình trao đổi chất của thực vật, chất

lân đóng một vai trò rất quan trọng, tập trung vào những chất lân hữu cơ trên. Ngoài ra,

O

O

OH

O P O

P P

O

C10N5H12O3

OH

OH

OH

trong quá trình tổng hợp protit, đường, bột... Cần cung cấp rất nhiều năng lượng.

3.4. LÂN TRONG DUNG DỊCH ĐẤT [2]

2-), các

- và HPO4

Phần lớn lân được cây trồng hấp thu ở dạng ion octhophotphat (H2PO4

dạng lân này hiện diện đồng thời trong dung dịch đất. Nhưng hàm lượng hiện diện của mỗi

2- sẽ là dạng chiếm ưu thế. Cây trồng hấp thu dạng HPO4

trên bằng nhau. Khi pH < 7,2, H2PO4

7,2 HPO4

dạng phụ thuộc vào pH của dung dịch đất. Ở pH: 7,2 hàm lượng hiện diện của 2 loại ion - là dạng chính trong dung dịch đất, ngược lại khi pH > 2- chậm hơn rất nhiều so -. Nhưng có một số hợp chất lân hữu cơ hòa tan, hay hợp chất lân có trọng với dạng H2PO4

lượng phân tử thấp cũng hiện diện trong dinh dưỡng cây trồng.

Bề mặt hấp thu lân chủ yếu của rễ cây trồng là những mô non gần với chóp rễ. Lân

thường tích lũy ở chóp rễ với nồng độ tương đối cao. Do đó, khi bổ sung lân cho dung dịch

đất, điều quan trọng nhất là cần phải cung cấp lân gần nơi vùng rễ hấp thu.

Nồng độ lân trong dung dịch đất trung bình là 0,05 ppm và nồng độ này khác nhau tùy

theo loại đất. Phần lớn các loại cây trồng có nhu cầu lân trong dung dịch vào khoảng 0,003

– 0,3 ppm, phụ thuộc vào loại cây trồng và năng suất thu hoạch (bảng 3.4). Năng suất tối đa

bắp hạt có thể thu được với 0,01 ppm lân nếu tiềm năng suất thấp, nhưng nếu tiềm năng

năng suất của bắp cao, nồng độ lân trong dung dịch đất phải đạt đến 0,05 ppm. Nhu cầu lân

17

của lúa mì cao hơn bắp và cao lương một ít. Đậu nành có nhu cầu lân cao hơn bắp. Nồng độ

lân tối hảo trong dung dịch đất có thể khác nhau tùy loại cây trồng khác nhau, giai đoạn sinh

trưởng của cây trồng và các yếu tố gây khủng hoảng cho cây (bệnh, khí hậu bất lợi…) có

thể ảnh hưởng đến nhu cầu lân trong dung dịch đất.

Bảng 3.4. Lân trong dung dịch đất ảnh hưởng đến năng suất một số loại cây trồng

Lân trong dung dịch đất (ppm) Các loại cây trồng 75% năng suất tối đa 95% năng suất tối đa

0,003 Khoai mì 0,005

0,003 Đậu phộng 0,01

0,008 Bắp 0,025

0,009 Lúa mì 0,028

0,012 Bắp cải 0,04

Khoai tây 0,02 0,18

0,025 Đậu nành 0,2

Cà chua 0,05 0,2

Rau diếp 0,1 0,3

Để được rễ hấp thu, lân từ dung dịch đất phải được vận chuyển đến bề mặt rễ do cơ chế

khuếch tán và dòng chảy khối lượng. Đối với đất có hàm lượng lân thấp, sự cung cấp lân do

dòng chảy chiếm một tỉ lệ không đáng kể so với nhu cầu của cây – lượng lân được hấp thu

do dòng chảy khối lượng có thể được tính dựa trên lượng nước thoát hơi trên một đơn vị

trọng lượng chất khô của cây, nồng độ lân trong dung dịch đất và nồng độ trong chất khô

của cây lá. Nếu nồng độ trung bình của lân trong dung dịch đất là 0,05 ppm, nồng độ lân

trong chất khô là 0,2%. Lượng lân được cây trồng hấp thu do dòng chảy khối lượng có thể

tính được. Ví dụ, giả sử tỉ lệ thoát hơi nước của cây là 400 (để hình thành 1g chất khô/cây

phải thoát một lượng nước là 400g).

400g H2O/g cây . 100g cây / 0,2g P . 0,05 g P/10-6 g H2O . 100 = 1%

Trong trường hợp này, lân cung cấp cho cây bằng dòng chảy khối lượng chỉ cung cấp

được 1% tổng lượng lân cây hấp thu.

Nếu được bón phân lân và đạt nồng độ trong dung dịch đến 1 ppm, lượng lân cung cấp

cho cây do dòng chảy khối lượng cũng chỉ chiếm 20% tổng nhu cầu lân của cây.

Khi bón lân theo hàng, nồng độ lân trong dung dịch đất gần nơi có bón lân có thể tạm

18

thời tăng lên rất cao và cũng có thể điều này làm tăng khả năng hấp thụ lân do dòng chảy

khối lượng cũng như do khuếch tán. Ví dụ, người ta tìm thấy nồng độ lân có thể đạt tới 2 –

14 ppm trong vùng rễ bón phân cao.

Do lượng lân cung cấp do dòng chảy khối lượng quá thấp so với tổng nhu cầu lân của

cây nên sự vận chuyển lân đến bề mặt hấp thu của rễ chủ yếu là do cơ chế khuếch tán.

Trong đất có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự khuếch tán của lân. Những yếu tố chủ yếu

đó là: ẩm độ đất, dung trọng đất, khả năng đệm lân của đất và nhiệt độ.

3.4.1. Lân hữu cơ trong đất

Lân hữu cơ thường chiếm 50% tổng lượng lân trong đất, trung bình biến thiên từ 15 –

18% trong các loại đất khác nhau. Cũng như chất hữu cơ trong đất, lân hữu cơ thường giảm

theo độ sâu của đất, sự phân bố lân theo độ sâu cũng khác nhau tùy theo loại đất. Hàm

lượng lân hữu cơ trong đất tăng theo hàm lượng C và N trong đất, tuy nhiên tỉ lệ C/P và N/P

khác nhau rất nhiều giữa các loại đất sao với tỉ lệ C/N. Thông thường tỉ số C/N/P/S trong

đất là 140/10/1,3/1,3. Có rất nhiều hợp chất lân hữu cơ trong đất chưa được nhận biết công

thức một cách chính xác. Nhưng phần lớn lân hữu cơ trong đất là este của octhophotphoric -) như inositol photphat, photpholipit và axit nucleic. Tỉ lệ của các hợp chất này axit (H2PO4

trong hợp chất này trong tổng lân hữu cơ là:

 Inositol photphat 10 – 15%

 Photpholipit 1 – 5 %

 Axit nucleic 0,2 – 2,5 %

Như vậy trung bình chỉ có khoảng 50% hợp chất lân hữu cơ được chúng ta nhận biết.

Phytic axit (myoinosytol hexaphotphat) có những nhóm có chứa 6 octhophotphat (H2PO4

gắn vào mỗi nguyên tử C trong vòng benzen. Sự thay thế lần lượt của H2PO4

Inositol photphat là đại diện cho các photphat este, từ monophotphat đến hexaphotphat. -) - với OH- sẽ - và một hình thành 5 este photphat khác nhau. Ví dụ, pentaphotphat có 5 nhóm H2PO4 nhóm OH-. Inositol hexaphotphat là một photphat phổ biến nhất và chiếm hơn 50% tổng P

hữu cơ trong đất, phần lớn các inositol photphat trong đất là sản phẩm của hoạt động vi sinh

vật và sự phân hủy của tàn dư thực vật.

Inositol photphat dễ dàng kết hợp với các protein để hình thành nên nhiều phức

axit nucleic hiện diện trong tất cả tế bào sinh vật và được giải phóng trong quá trình phân

giải tàn dư thực vật do hoạt động của vi sinh vật và được giải phóng trong quá trình phân

giải tàn dư thực vật do hoạt động của vi sinh vật đất hai dạng axit nucleic là axit

19

deoxyribonucleic và axit ribonucleic được giải phóng vào trong đất với hàm lượng lớn hơn

rất nhiều so với insitol photphat, vào trong đất các axit này bị phân giải rất nhanh so với

inositol photphat vì vậy axit nucleic chỉ hiện diện với một lượng nhỏ so với lân tổng số

trong đất, khoảng 2,5 % hay ít hơn.

Photpholipit không tan trong nước nhưng được vi sinh vật sử dụng và tổng hợp dễ dàng.

Một số photpholipit phổ biến có nguồn gốc từ glyxerol. Tốc độ giải phóng photpholipit từ

nguồn hữu cơ trong đất khá nhanh. Vì vậy, hàm lượng photpholipit trong đất thường thấp,

khoảng 5% hay thấp hơn so với lân tổng số trong đất.

3.4.2. Sự tuần hoàn của lân hữu cơ trong đất

- Thông thường sự khoáng hóa và cố định lân cũng tương tự như sự khoáng hóa và cố

định sinh học đạm. Cả hai tiến trình này xảy ra đồng thời trong đất và có thể trình bày như

á

ó

sau:

2-)

-, HPO4

𝑛𝑔 ℎ

Sự cố định sinh 𝑆ự 𝑘ℎ𝑜 học định

Lân hữu cơ lân vô cơ (H2PO4 𝑎

�⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯�

Nguồn nguyên liệu lân hữu cơ ban đầu trong đất là các tàn dư thực vật và động vật, các

tàn dư này được phân giải bởi các vi sinh vật để hình thành nên các hợp chất hữu cơ khác và

giải phóng lân vô cơ. Một số lân hữu cơ bền vững với sự phân giải vi sinh vật và phần lớn

các dạng này là humic axit. Inositol photphat, axit nucleic và photpholipit cũng có thể được

O

O

khoáng hóa trong đất bởi các phản ứng với xúc tác của enzim photphat.

O

O

R – O - P– O + H2O  H – O – P – O + ROH

Enzim photphat đóng vai trò chủ yếu trong quá trình khoáng hóa lân hữu cơ trong đất.

Với sự hiện diện của các vi sinh vật rất khác nhau trong đất, thông qua sự hoạt động của

photphatase tất cả lân hữu cơ có nguồn gốc thực vật có thể được khoáng hóa. Hoạt độ của

photphatase trong đất có liên quan đến các thực vật bậc thấp và các enzim tự do hữu hiệu.

Hoạt độ của enzim photphatase trong đất tăng khi hàm lượng chất C trong đất tăng, nhưng

hoạt độ của photphatase trong đất cũng bị ảnh hưởng bởi pH, nhiệt độ và các yếu tố khác.

Sự khoáng hóa lân hữu cơ trong đất có thể được xác định bằng cách đo sự thay đổi của lân

hữu cơ trong đất trong thời gian cây trồng sinh trưởng.

Một bằng chứng khác cho thấy có quá trình khoáng hóa lân hữu cơ đó là hàm lượng lân

hữu cơ giảm dần theo quá trình canh tác liên tục. Khi đất nguyên thủy được khai phá để

20

canh tác, hàm lượng chất hữu cơ sẽ giảm dần theo thời gian. Do chất hữu cơ giảm nên ban

đầu có sự tăng lân vô cơ, nhưng sau đó hàm lượng lân vô cơ cũng giảm dần. Trong cả vùng

ôn đới, sự giảm lân hữu cơ theo quá trình canh tác có thể thấp hơn sự giảm C hữu cơ và đạm

hữu cơ, do đó cơ chế làm mất lân tác động yếu hơn các cơ chế làm mất đạm và carbon.

Ngược lại trong vùng nhiệt đới, sự mất lân, đạm, carbon có thể là như nhau.

3.5. MỐI LIÊN QUAN CỦA LÂN VỚI THÀNH PHẦN CƠ GIỚI ĐẤT [3]

Phần lớn các hợp chất phản ứng với lân nằm trong các thành phần mịn hơn của đất. Sự

cố định lân ở đất sét thường lớn hơn ở những đất có thành phần cơ giới thô hơn. Do vậy, tỷ

lệ sét càng cao thì khả năng cung cấp lân cho cây càng giảm. Có thể đánh giá khả năng cung

cấp lân cho cây của đất dựa vào các yếu tố: pH, thành phần cơ giới và tỷ lệ mùn trong đất.

3.6. VẤN ĐỀ HẤP THỤ VÀ GIỮ CHẶT LÂN CỦA ĐẤT [1] 3.6.1. Khả năng hấp thụ lân của đất

- Keo đất có tính chất lưỡng tính nên đất hấp thụ được cả hai dạng ion đó là cation và

anion.

- Quá trình hấp phụ anion phụ thuộc vào các yếu tố sau:

3- < OH-

+ Tính chất của anion: khả năng tham gia vào quá trình hấp phụ của các loại anion rất

2- < PO4

- < SO4

khác nhau, và có thể diễn tả theo mức độ từ thấp lên cao như sau: Cl- = NO3

+ Thành phần keo: keo đất càng chứa nhiều bazơit (setkioxit sắt nhôm) thì khả năng hấp

thụ anion càng cao.

+ Sự thay đổi phản ứng của môi trường làm thay đổi điện thế hạt keo: phản ứng càng

kiềm thì làm tăng điện thế âm, phản ứng càng chua làm tăng điện thế dương. Do đó đất chua

có khả năng hấp thụ anion mạnh hơn đất kiềm.

- Tuy nhiên, vấn đề hấp thụ anion của đất được nghiên cứu chủ yếu đối với lân vì sức hấp

phụ lân của đất khá cao, đồng thời lân cũng là một trong những yếu tố dinh dưỡng quan

trọng bậc nhất của cây.

- Qua thí nghiệm Axkinazi DL (1949) thấy rằng: ở các loại đất của Liên Xô, khả năng

21

hấp phụ lân cũng khá và lớn nhất là ở đất đỏ, và được thể hiện trong bảng:

Bảng 3.5. Khả năng hấp phụ lân của đất của Liên Xô cũ

Lượng P2O5 tìm thấy trong dung dịch đất rút nước Lượng P2O5 bón cho (mg/100g đất) đất (mg/100g đất) Đất đen Đất potzon Đất đỏ

20 1,1 2,6 Vết

100 12,9 12,2 0,27

250 21,3 19,4 1,41

- Những nghiên cứu về khả năng hấp phụ lân cũng được thực hiện trong điều kiện cụ thể

của Việt Nam đối với các loại đất khác nhau theo phương pháp Axikinazi (dùng dung dịch

lân chứa 546mg P2O5/100g đất) và cho kết quả như sau:

Bảng 3.6. Khả năng hấp phụ lân của các loại đất khác nhau ở Việt Nam theo

phương pháp Axikinazi

Lượng P2O5 STT Loại đất pHKCl bị hấp phụ (đlg/100g đất)

Đất đỏ bazan Phủ Quỳ 4,3 17,6 1

Đất đỏ đá vôi Đồng Giao 4,5 15,5 2

Đất đá vôi nông trường Sơn Hà 4,1 10,5 3

Đất đỏ trên diệp thạch Phú Hộ 4,3 12,0 4

Đất Macgalit hòn Én 6,1 10,5 5

Đất feralit mùn trên núi (Tam Đảo) 4,3 13,8 6

Đất phù sa mới được bồi hàng năm 7 7,3 4,8 (Phúc Xá)

Đất phù sa cổ trên đồi (Vĩnh Phúc) 4,2 1,9 8

Đất phù sa mới không được bồi 9 7,5 3,7 hàng năm (Gia Lâm)

10 Đất phù sa cổ bạc màu ở ruộng lúa 4,5 0,7 (Vĩnh Phúc)

- Qua đó ta thấy được đất địa thành có khả năng hấp phụ lân mạnh hơn đất thủy thành rất

22

nhiều, và trong các đất thủy thành thì đất phù sa cổ ở ruộng lúa bạc màu Vĩnh Phúc có khả

năng hấp phụ lân thấp nhất. Những nghiên cứu dùng đồng vị phóng xạ P32 cũng cho kết quả

tương tự phương pháp Axikinazi.

- Cơ chế hấp phụ lân trong đất rất phức tạp, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề

này nhưng đến nay vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng và thống nhất. Dưới đây là một số ý

kiến cơ bản nhất.

- Trong đất lân ít có mặt ở thể ion hóa trị 3 vì chỉ ở pH ≥10 trong dung dịch mới có ion

này đáng kể.

- Về sự tồn tại và biến đổi của các ion photphat, người ta nhận thấy chúng phụ thuộc rõ

rệt vào phản ứng của môi trường. Căn cứ vào khả năng phân ly của axit photphoric, một axit

yếu, nên sự phân ly của nó phụ thuộc vào phản ứng của môi trường. Chỉ trong môi trường

2- và H2PO4

kiềm, H3PO4 mới phân ly hoàn toàn, còn trong môi trường trung tính và chua nhẹ thì những -. Theo tài liệu của Axikinza (1949) hàm lượng % ion được phân ly ở thể HPO4

các loại ion nói trên trong nước phụ thuộc vào pH như sau:

Bảng 3.7. Hàm lượng % các loại ion trong nước phụ thuộc vào pH

-

pH Loại anion 6 7 8 9 10 5

98,09 83,68 33,9 4,88 0,51 0,05

H2PO4 2- 1,91 66,1 66,1 95,12 99,45 99,59

HPO4 3- - - - 0,04 0,36 - PO4

3- không có ý nghĩa đối với việc dinh dưỡng - Như vậy, trong thực tế sản xuất, ion PO4

của cây trồng bởi vì nó chỉ có mặt một cách đáng kể trong môi trường có phản ứng mà cây

không thể sống được (pH ≥ 10).

- Trong vấn đề hấp phụ lân thì phản ứng hóa học đóng vai trò chủ yếu. Trong đất thường

có một số lượng lớn cation hóa trị 2 và 3 có khả năng hình thành những hợp chất không tan

hoặc ít tan đối với lân, do đó đã hạn chế sự di chuyển của ion này.

- Ví dụ: đối với đất có phản ứng gần như trung tính, khi ta bón supe lân vào thì canxi của

đất sẽ kết tủa lân theo phương trình:

Ca(H2PO4)2 + Ca(HCO3)2 → 2CaHPO4 + 2H2CO3

Ca(H2PO4)2 + 2Ca(HCO3)2 → Ca3(PO4)2 + 4H2CO3

- Cũng chính ở đất này nhưng nếu đất không có CaCO3 thì lân vẫn bị kết tủa do phản ứng

23

trao đổi với cation canxi trong tầng khuếch tán của keo đất:

[KĐ]Ca2+ + Ca(H2PO4)2 → [KĐ]2H+ + 2CaHPO4

- Đối với đất có phản ứng chua thì sắt, nhôm, mangan trở thành di động và tác động lên

photphat hòa tan theo những phản ứng:

+

2

2Ca + 2H

Al2(SO4)3 + 2Na2PO4 → 2AlPO4 + 3Na2SO4

[KĐ]2Al3+ + 2 Ca(H2PO4)2 → [KĐ] + 2AlPO4

- Như vậy, nếu trong quá trình trao đổi, ở keo đất có chứa nhiều nhôm thì toàn bộ canxi

và lân sẽ bị hấp phụ hết và không có trong dung dịch đất.

- Sự kết tủa lân bằng sắt, nhôm và canxi không phải là hiện tượng duy nhất vì ngay cả khi

ion canxi trao đổi bị thay thế hoàn toàn bằng natri mà lân vẫn bị hấp phụ. Rất nhiều công

trình nghiên cứu đã chứng minh trong quá trình hấp phụ lý hóa còn có sự tham gia của các

hydroxit kết tinh và các khoáng sét.

- Các nghiên cứu cho thấy ion photphat có thể trao đổi với ion ở tầng bùn và bản thân có

thể được thay thế bằng những ion hoạt tính như axetat, tactrat, silicat, OH-… Ngoài ra,

những phần tử muối photphat còn có thể được hấp phụ không trao đổi.

- Các loại axit bùn trong đất có tính chất axidoit, không tham gia hấp phụ lân. Do đó, các

khoáng sét bị bọc bởi một màn axit mùn thì khả năng hấp phụ nhôm và các loại axit mùn,

dấu điện tích dương của các loại keo đó bị axit mùn trung hòa, cho nên khả năng hấp phụ

nhôm cũng bị hạ thấp.

- Khả năng hấp phụ lân của keo đất phụ thuộc rất nhiều pH của môi trường, pH trong

dung dịch đất càng nhỏ (càng chua) thì lân bị hấp phụ càng lớn (do có nhiều sắt, nhôm di

động).

- Nói tóm lại trong hầu hết các loại đất đều xảy ra hiện tượng hấp phụ lý hóa lân, nhất là ở

đất chua giàu sắt nhôm và sắt nhôm ở thể vi định hình, đồng thời nghèo chất hữu cơ. Trái

lại, đất trung tính chứa ít setkioxit sắt nhôm trong keo và tỷ lệ mùn thấp thì hấp phụ lân ít

hơn nhiều.

3.6.2. Vấn đề giữ chặt lân của đất

- Keo đất có khả năng hấp phụ và giữ chặt các ion photphat, nhưng vẫn có một phần ion

photphat có thể trao đổi với ion khác, đó là hiện tượng hấp phụ trao đổi, nhờ hiện tượng này

mà đất có thêm lân dễ tiêu cung cấp cho cây trồng.

- Đối với những ion photphat này không phải đã hoàn toàn mất đi đối với cây trồng, mà

chỉ là những ion khó huy động đối với những trường hợp bình thường. Qua nhiều thí

24

nghiệm phân tích về khả năng hấp phụ và giữ chặt lân của đất, một số tác giả đã đi đến kết

luận: khả năng hấp phụ và giữ chặt lân của đất càng cao thì lượng lân bị đất giữ chặt càng

lớn.

- Khả năng hấp phụ lân của đất Việt Nam nói chung cao hơn gấp 10 lần so với những

chân đất giữ chặt lân nhiều nhất ở Châu Âu. Hay nói khác đi, lượng lân trong dung dịch đất

mà cây có thể hút được của đất Việt Nam là tương đối thấp so với các nước Châu Âu (chính

vì vậy mà vấn đề bón lân cho đất của đất Việt Nam là vấn đề hết sức quan trọng mà chúng

ta cần quan tâm).

- Những loại đất có khả năng hấp phụ lân cao hơn hết là đất đỏ bazan, đất đá vôi và sau

đó là đất lateritic nhiều mùn trên núi, đất macgalit… nói chung là đất địa thành. Ngược lại,

đất thủy thành có khả năng hấp phụ lân thấp, nhất là đất canh tác càng lâu năm thì khả năng

ấy lại càng kém.

- Các kết quả phân tích cũng cho thấy những chân đất có tỷ lệ lân cao thì lại thường có

mức độ lân dễ tiêu kém, khả năng hấp phụ và giữ chặt lân cao. Do đó nhu cầu về phân lân

25

dễ tiêu lớn.

Chương 4. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH LÂN TRONG ĐẤT

4.1. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH LÂN TỒNG SỐ TRONG ĐẤT 4.1.1. Phương pháp hidrazinsunphat [8]

* Nguyên tắc

- Dưới tác dụng của hỗn hợp H2SO4 và HClO4 đậm đặc và nhiệt độ, các dạng lân trong

đất được hòa tan trong dung dịch.

- Sau đó cho ion photphat tác dụng với muối amonimolipdat và khử bằng dung dịch

hidrazinsunphat, ta thu được một hợp chất màu xanh đen (xanh molipden) tương đối ổn định

(từ 8 – 12h).

2- + 3NH4

+ + 21H+→ (NH4)H4P(Mo2O7)6 + 10H2O

H3PO4 + 12MoO4

(NH4)H4P(Mo2O7)6 có tính oxi hóa, nó oxi hóa hidrazinsunphat tạo thành xanh molipden

có màu đặc trưng (xanh), cường độ màu phụ thuộc vào hàm lượng lân có trong dung dịch.

- Đem so màu với dung dịch tiêu chuẩn hay so màu trên máy so màu quang điện ta xác

định được hàm lượng lân trong đất. - Cần lưu ý là dung dịch được công phá rồi thường vẫn chứa sắt ở dạng Fe3+ làm cản trở

sự hiện màu xanh của photphomolipdat. Do đó trước khi lên màu lân, phải dùng Na2SO3 để khử Fe3+ đi. Nếu không có Na2SO3 có thể dùng NaHSO3 hoặc điều chế Na2SO3 từ axit

sunfurơ. 4.1.2. Phương pháp axit ascorbic [7]

4.1.2.1. Nguyên tắc

- Mẫu thử được phá bằng hỗn hợp axit sunfuric và axit pecloric. Trong môi trường axit,

photpho sẽ phản ứng với amonimolipdat với sự có mặt của kali antimonyl tartrat làm xúc

tác để hình thành phức dị đa photphomolipdat có màu vàng:

3- + 12MoO4

2- + 27 H+ → H3[P(Mo12O40)] + 12 H2O

PO4

- Phức này bị khử bởi axit ascorbic tạo thành một hợp chất màu xanh:

H3[P(Mo12O40)] + ne + nH+ → H3PMo12O40Hn

- Đo mật độ quang tại bước sóng 880nm, dựa vào phương trình đường chuẩn xác định

hàm lượng P có trong mẫu.

4.1.2.2. Giới hạn phát hiện

- Nồng độ tối thiểu có thể phát hiện được: 0,04mg P2O5/l.

- Khoảng giới hạn xác định P2O5 (mg/l) với chiều dày cuvet (l= 1cm) là: 0,04 – 1,8.

26

* Tính kết quả thí nghiệm

dc

dc

- Hàm lượng P tổng trong mẫu được tính theo công thức:

6

4

C x V x f x 100 dm m x 10

C x V x f dm m x 10

V V 1

= với f = P(%) =

Trong đó: - Cdc: hàm lượng P tính từ đường chuẩn (mg/l).

- Vdm: thể tích bình định mức (ml).

- V: thể tích dung dịch chiết (100ml).

- V1: thể tích dung dịch lấy so màu (ml).

- m: khối lượng mẫu cân (g).

- f: hệ số pha loãng. - 106: chuyển đổi từ (g → mg), (ml → l).

* Đánh giá kết quả theo tiêu chuẩn chung [3]

Bảng 4.1. Chỉ tiêu đánh giá lân tổng số trong đất

Hàm lượng P tổng số (%) Mức độ

Rất nghèo lân ≤0,01

Nghèo lân 0,01-0,05

Trung bình 0,05 – 0,10

Giàu lân 0,10 – 0,20

Rất giàu ≥ 0,20

4.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LÂN DỄ TIÊU TRONG ĐẤT 4.2.1. Phương pháp Kiêcxanôp [8]

* Nguyên tắc

- Dùng dung dịch axit HCl 0,2N để hòa tan lân trong đất ra dưới dạng axit H3PO4, rồi tiến hành cho tác dụng với amonimolipdat có chất khử là Sn2+, sau đó định lượng hàm lượng

lân dễ tiêu bằng cách so màu với thang chuẩn.

* Tính kết quả thí nghiệm

- Dung dịch đất có màu ứng với ống chuẩn nào mà ta lấy kết quả theo ống đó.

Bảng 4.2. Chỉ tiêu đánh giá lân dễ tiêu trong đất theo Kiêcxanôp

Đánh giá đất Hàm lượng P2O5 trong 100g đất

< 3 mg Nghèo lân

27

3 – 8 mg Trung bình

8 – 15 mg Khá giàu lân

> 15 mg Giàu lân

4.2.2. Phương pháp Oniani [8]

* Nguyên tắc

- Dùng dung dịch H2SO4 0,1N hòa tan lân dễ tiêu dưới dạng H3PO4, sau đó cho tác dụng với dung dịch amonimolipdat có chất khử Sn2+.

- So màu với thang chuẩn tìm kết quả.

* Kết quả thí nghiệm

Dung dịch đất có màu ứng với ống chuẩn nào mà ta lấy kết quả theo ống đó.

Bảng 4.3. Chỉ tiêu đánh giá lân dễ tiêu của đất theo Oniani

Đánh giá đất Hàm lượng P2O5 trong 100g đất

Đất rất nghèo lân < 5 mg P2O5

Đất nghèo lân 5 – 10 mg P2O5

Đất có lân trung bình 10 – 15 mg P2O5

Đất giàu lân > 15 mg P2O5

4.2.3. Phương pháp axit ascorbic [7]

* Nguyên tắc

- Dùng dung dịch axit HCl 0,2N để hòa tan lân trong đất ra dưới dạng axit H3PO4. Trong

môi trường axit, photpho sẽ phản ứng với amoni molipdat với sự có mặt của kali antimonyl

tartrat làm xúc tác để hình thành phức dị đa photphomolipdat có màu vàng:

3- + 12MoO4

2- + 27 H+ → H3[P(Mo12O40)] + 12 H2O

PO4

- Phức này bị khử bởi axit ascorbic tạo thành một hợp chất màu xanh H3[P(Mo12O40)] + ne + nH+ → H3PMo12O40Hn

- Đo mật độ quang tại bước sóng 880nm, dựa vào phương trình đường chuẩn xác định

hàm lượng P2O5 rồi suy ra hàm lượng lân dễ tiêu có trong mẫu.

* Tính kết quả thí nghiệm

- Hàm lượng P2O5 trong mẫu được tính theo công thức:

C x V x V x 100 2 m x V 1

P2O5 (mg/100g đất) =

28

Trong đó:

- C: hàm lượng P2O5 tính từ đường chuẩn (mg/l).

- V1: thể tích dung dịch lấy so màu (5ml).

- V2: thể tích định mức (50 ml).

- m: khối lượng mẫu cân (g).

29

- V: thể tích dung dịch chiết (25 ml).

PHẦN 2: THỰC NGHIỆM

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NÔNG TRƯỜNG PHẠM VĂN CỘI – CỦ CHI

1.1. TỔNG QUAN VỀ NÔNG TRƯỜNG [8] 1.1.1. Lịch sử hình thành nông trường Pham Văn Cội

Hình 1.1. Nông trường Phạm Văn Cội

30

Hình 1.2. Văn phòng nông trường Phạm Văn Cội

Nông trường Phạm Văn Cội đóng tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi cách Thành

Phố Hồ Chí Minh 30 km tính theo đường chim bay về phía Đông Nam. Hướng Đông giáp

sông Sài Gòn, hướng Tây và Bắc giáp xã Nhuận Đức. Hướng Nam giáp xã Phú Hòa Đông.

Đất của nông trường thuộc loại đất xám bạc màu trên phù xa cổ. Lượng mưa trung bình hằng năm là 1950 mm. Nhiệt độ bình quân là 290C. Tổng diện tích quản lý của nông

trường là 1765,94 ha.

Đây là vùng đất trước kia bị tàn phá ác liệt (vùng đất trắng). Vùng đất bị bom B52 rải

xuống rất nhiều, có hàng ngàn hố bom có hố sau đến 5 m. Vì vậy, sau chiến tranh, người ta

phải thành lập đội tháo gỡ bom đạn còn sót lại. Và đến sau 1975, bà con nông dân ở khắp

các quận bắt đầu đến lập nghiệp.

Năm 1977, nông trường Phạm Văn Cội được thành lập theo quy định số 113/QĐUB

ngày 10/03/1977 của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh. Khi mới thành lập, nông

trường thuộc Sở Nông Nghiệp. Đến năm 1999, nông trường trực thuộc Tổng Công Ty Nông

Nghiệp Sài Gòn. Năm 1924, thực hiện theo chủ trương đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp

nông nghiệp, nông trường sáp nhập vào công ty Bò Sữa Thành Phố Hồ Chí Minh thành tổng

công ty Nông Nghiệp Sài Gòn.

Khi mới thành lập, phương hướng, nhiệm vụ ban đầu của công ty là trồng cây làm

thức ăn cho gia súc (bắp, đậu, mì mè…), cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi heo.

Phương hướng này nhằm giải quyết vấn đề về lương thực. Người dân trồng cây mang tính

tự phát vì họ chưa biết vùng đất này thích hợp với loại cây gì.

Năm 1982, nông trường chuyển sang trồng mía đường diện tích mía đạt 600 – 700 ha.

Cây mía có thời gian sinh trưởng và phát triển tốt đã tạo được công ăn việc làm cho nhiều

người dân. Sản lượng cây mía cung cấp cho nhà máy đường Bình Dương.

Trong quá trình xây dựng và phát triển, nông trường đã từng bước chuyển đổi cây trồng,

lựa chọn loại cây có hiệu quả cao. Đến năm 1985, xen lẫn với trồng mía, nông trường đã

trồng thêm cao su và từ đó cây cao su trở thành cây chủ lực của nông trường. Cây cao su

trồng theo hai kiểu: 3x6 và 6x6.

Lực lượng lao động của nông trường: Công nhân viên chức lao động thường xuyên:

700, trong đó: Hợp đồng dài hạn: 501 người, lao động thời vụ: 109 người.

Nông trường đang từng bước có sự chuyển đổi phù hợp để có hiệu quả kinh tế cao. Dự

án sắp tới của nông trường: nâng cao chất lượng cao su để đạt tiêu chuẩn và xây dựng khu

31

công nghiệp cao.

1.1.2. Đặc điểm của những mẫu đất trồng cao su

Trên bề mặt đất có lá cao su che phủ, muốn đào đất phải gạt hết lá cao su ra. Đất có

nhiều rễ cây cao su, tầng nhỏ hơn 20 cm đất tương đối mềm, dễ đào. Nếu đào sâu hơn, đất

rất cứng.

Mẫu đất phân tích được lấy đại diện ở giữa 2 hàng cây cao su cách nhau khoảng 3m

của mỗi lô. Lấy đất trong lúc cao su được nghỉ ngơi, không bị thu hoạch hay bón phân. Vì

vậy, lượng chất dinh dưỡng phân tích được phản ánh đúng tình trạng của đất.

Các lô đất cao su tương đối giống nhau chỉ khác nhau ở chỗ cao su trên đất này được

trồng lâu năm hay mới trồng mà ảnh hưởng tới tính chất của đất.

Lược đồ vùng khảo sát và vị trí lấy mẫu

32

LƯỢC ĐỒ VỊ TRÍ LẤY MẪU ĐẤT NGHIÊN CỨU

85

86

86

86

86

86

10.9

86

85

86

85

12.70

85

85

36.8

86

86

12.18 85

19.08

12.90

35.09

85

29.87

34.05

93

10.86 94

88

10.4

25.43

87

36.06

38.6

87

26.29

10.47

85

94

18.8

24.71

22.05

29.82

87

85

22.3

87

96

21.4

20.02

87

85

85

17.83

88

87

94

18.8

21.57

21.05

87

87 10.40

88

22.94

96

22.3

88

27.76

12

21.35

88

88

27.30 13.45

85

.19.2

88

85

17.45

22.35 12.76

28.4

7.

2/95

97

1/9

97

85

31.00

13.40

19.81

30.95

30.25 1A.9

30.48

97

94

18.11

2A.9 19.81

94

97

06

97

95

NNCN

94 87

21.10

XDC

95 20.92

Ghi chú: x :Diện tích y :Nông tường cao su Công ty Lô lấy mẫu

33

Hình 1.3. Lược đồ vị trí lấy mẫu ở nông trường Phạm Văn Cội

Chương 2. LẤY MẪU, XỬ LÝ MẪU

Lấy mẫu và chuẩn bị mẫu là khâu cơ bản quyết đinh cho sự đúng đắn của kết quả phân

tích. Những yêu cầu cơ bản của công việc lấy mẫu và chuẩn bị mẫu là:

- Mẫu phải đại diện được cho đối tượng cần nghiên cứu.

- Mẫu phải được xử lý tốt, nghiền nhỏ, đồng nhất, xử lý và bảo quản để mẫu giữ nguyên

được tính chất.

- Các mẫu đất được lấy một đợt gồm 12 mẫu.

2.1. CÁCH LẤY MẪU

Tùy theo mục đích nghiên cứu và khảo sát để lựa chọn các phương pháp lấy mẫu khác

nhau.

- Mẫu cá biệt được lấy tại một vị trí xác định, ví dụ mẫu theo dõi động thái lấy ở tầng

phẫu diện… Những mẫu này là mẫu độc nhất ban đầu đồng thời là mẫu chung được xử lý

để phân tích.

- Mẫu hỗn hợp là mẫu được hỗn hợp từ nhiều mẫu riêng biệt ban đầu thành mẫu chung

đại diện cho một phạm vi đất được khảo sát.

- Tùy theo hình dáng và địa hình mảnh đất cần lấy ít nhất 5 điểm phân bố đều trên toàn

diện tích theo quy tắc lấy đường chéo, đường vuông góc, đường dích dắc (hình 1). Cần

tránh lấy mẫu ở các vị trí đặc thù như nơi đổ phân, vôi hay những vị trí gần bờ và các vị trí

quá trũng hay quá cao.

- Các mẫu ban đầu được gom thành một mẫu gộp chung có khối lượng ít nhất 2 kg.

- Từ mẫu gộp chung, chọn thành mẫu hỗn hợp trung bình bằng cách băm nhỏ đất trộn đều

và loại bỏ bớt mẫu theo quy tắc đường chéo góc. Mẫu hỗn hợp trung bình có khối lượng

khoảng 1 kg.

- Những mẫu xác định dung trọng, tỷ trọng và độ xốp được lấy nguyên trạng thái bằng

ống đóng và các công cụ riêng.

Các mẫu đất được cho vào túi vải hoặc nhựa ghi ký hiệu mẫu và có phiếu mẫu ghi ký

hiệu mẫu, độ sâu, địa điểm, ngày và người lấy mẫu...

-, Fe +3 , Fe +2 … cần phân

4 , NO3

- Những mẫu phân tích các chỉ tiêu dễ biến đổi như NH +

tích mẫu đất tươi, phải có cách bảo quản mẫu riêng (hạn chế tiếp xúc không khí, túi kín phải

được loại trừ không khí, bảo quản lạnh...) và nhanh chóng phân tích ngay.

34

- Những mẫu phân tích chỉ tiêu thông thường đều được xác định bằng đất khô.

2.2. XỬ LÝ MẪU 2.2.1. Hong đất khô

Đất nhập vào phòng phân tích phải được hong khô ngay. Chuyển toàn bộ mẫu đất vào

khay nhựa sạch, để khô trong không khí nơi thoáng, sạch, không có các khí như H2S, NH 3 ,

HCl… không phơi trực tiếp ngoài nắng, tốt nhất là phơi trong phòng sáng có lắp máy hút

ẩm hoặc thông gió.

Những cục đất to được đập nhỏ hoặc cắt thành lát mỏng, nhặt sạch các rễ, các lá lớn…

rồi rải đều, mỏng ra khay.

Đất được hong khô trong không khí gọi là đất khô không khí.

2.2.2. Mẫu trung bình thí nghiệm

Trường hợp mẫu quá lớn, cần lấy một mẫu trung bình thí nghiệm khối lượng nhỏ hơn.

Trộn đều toàn bộ mẫu đã hong khô không khí, đập nhỏ và rải đều thành lớp mỏng hình

vuông trên một tờ giấy rộng. Vạch theo hai đường chéo hình vuông chia thành 4 hình tam

giác bằng nhau (hình 2). Lấy đất ở 2 tam giác đối đỉnh và vứt bỏ phần đất ở 2 tam giác kia.

Trộn đều phần đất lấy được và tiếp tục rải đều thành một hình vuông, vạch theo đường chéo

hình vuông và lấy đát ở 2 tam giác đối đỉnh, vứt bỏ phần đất ở 2 tam giác kia, tiếp tục như

vậy cho đên khi khối lượng đất lấy được bằng khối lượng cần thiết theo dự định (tối thiểu

phải là 250 g). Khối lượng của mẫu được cân bằng cân kỹ thuật có sai số không quá 1 g.

Hình 2.1. Sơ đồ lấy mẫu riêng biệt và hỗn hợp

Nghiền đất •

Đất khô không khí sau khi nhặt kỹ sỏi, đá, kết von và xác hữu cơ được đem nghiền trong

cối sứ bằng chày sứ bọc cao su hoặc máy nghiền chuyên dụng. Cần thiết phải nghiền cho

đến khi tất cả đất lọt qua rây, sỏi sạn còn lại trên rây và sỏi sạn nhặt ra trước phải được cân

khối lượng trên cân kỹ thuật cà tính phần trăm so với tổng khối lượng mẫu đất để tính toán

35

hàm lượng các nguyên tố xác định

2.3. BẢO QUẢN MẪU

Đất sau khi được trộn đều và đựng trong các hộp nhựa túi ni lông có nhãn và phiếu ghi

rõ: ký hiệu ngoài đồng, ký hiệu trong phòng, nơi lấy mẫu, độ sâu lấy mẫu, loại đất và các

yêu cầu phân tích. Mẫu được để trên giá trong phòng để mẫu. Phòng để mẫu phải thoáng,

sạch, khô ráo không có các loại khí như NH3, H2S, HCl…, tốt nhất bảo quản trong các

phòng lạnh. Mẫu đất còn ẩm và đặc biệt trong điều kiện không khí nóng ẩm, tốc độ biến đổi

tương đối nhanh. Do đó cần chú ý bảo quản trong điều kiện thoáng, mát. Cần phân tích mẫu

ngay sau khi lấy mẫu, mẫu để lâu sẽ gây sự sai khác.

2.4. SƠ LƯỢC CÁC MẪU ĐẤT

Hình 2.2. Mẫu 1

Đặc điểm: lô 1:95, diện tích 20,92 hecta, không cỏ, có ít lớp lá ở phía trên, lấy đất giữa

mương.

Hình 2.3. Mẫu 2

36

Đặc điểm: lô 2:95, diện tích: 21,1 hecta, đất cứng, không cỏ, có một ít lớp lá ở phía trên,

nhiều rễ, lấy giữa mương.

Hình 2.4. Mẫu 3

Đặc điểm: lô trồng mới 2009, đất nhiều cỏ, lấy sát gốc cây, cách chừng 80 cm, vị trí cao.

Hình 2.5. Mẫu 4

Đặc điểm: lô trồng mới 2009, đất cứng, lấy giữa mương cách gốc 3m, nhiều cỏ, vị trí

37

thấp.

Hình 2.6. Mẫu 5

Đặc điểm: lô trồng 2009, đất nhiều cỏ, cách gốc 80 cm, đất cứng.

Hình 2.7. Mẫu 6

Đặc điểm: lô năm 2009, lấy cách gốc 80 cm, nhiều cỏ, không xịt thuốc, chỉ cày, đất

38

cứng.

Hình 2.8. Mẫu 7

Đặc điểm: cây trồng năm 1994, lấy giữa luống, nhiều rễ, đất cứng, có một ít lớp lá.

Hình 2.9. Mẫu 8

Đặc điểm: giáp với mẫu 7, cây trồng năm 2007, lô 2: 10,02 hecta, có 1 ít cỏ, 1 ít lá, lấy

39

giữa luống.

Hình 2.10. Mẫu 9

Đặc điểm: diện tích 11,94 hecta, trồng năm 2007, sắp khai thác 09/2012, nhiều lá, không

cỏ, lấy giữa luống, đất cứng.

Hình 2.11. Mẫu 10

Đặc điểm: diện tích 2,19 hecta, cây trồng 2007, sắp khai thác 09/2012, giữa luống, nhiều

40

lá, đất cứng.

Hình 2.12. Mẫu 11

Đặc điểm: cây trồng năm 1995, diện tích 19,81 hecta, ít cỏ, ít lá, lấy giữa luống, đất

mềm, trũng.

Hình 1.13. Mẫu 12

Đặc điểm: cây trồng năm 1997, diện tích 18,11 hecta, ít lá, nhiều cỏ, lấy giữa luống, đất

41

mềm, hơi trũng.

Chương 3. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ

Có rất nhiều phương pháp xác định hàm lượng lân dễ tiêu cũng như hàm lượng lân tổng

số, trong đó em chọn phương pháp axit ascorbic vì phương pháp này tiết kiệm thời gian, dễ

làm, không đòi hỏi cơ sở vật chất hiện đại và có độ chính xác cao.

3.1. DỤNG CỤ - HÓA CHẤT 3.1.1. Dụng cụ

- Cân phân tích Fartorius.

- Máy đo quang HACH 2400

- Bếp phá mẫu kendan.

- Bình định mức 50ml, 100ml, 500ml, 1000ml.

- Giấy lọc.

- Pipet có chia vạch.

3.1.2. Hóa chất

- H2SO4 đặc (d=1,84).

- HClO4 70%.

- Dung dịch H2SO4 2,5M: pha loãng 70ml H2SO4 đặc thành 500ml bằng nước cất.

- NaOH 2M: hòa tan 80g NaOH lên thành 1 lít bằng nước cất.

- Chỉ thị phenolphtalein 0,1% trong cồn: cân 0,1g phenolphtalein hòa tan vào 60ml etanol

rồi thêm nước cất cho đến 100ml.

- Dung dịch kali antimonyl tartrat: hòa tan 1,3715g K(SbO)C4H4O6.1/2H2O và pha loãng

thành 500ml bằng nước cất. Chứa dung dịch trong chai thủy tinh.

- Dung dịch amoni molipdat: cân 20g amomi molipdat rồi hòa tan trong 500ml nước cất.

Chứa dung dịch trong chai thủy tinh.

- Axit ascorbic 0,1M: hòa tan 1,76g axit ascorbic (C6H8O6) trong 100ml nước cất. Bảo

quản trong tủ lạnh sử dụng trong tuần.

- Hỗn hợp thuốc thử:

+ 100ml dung dịch H2SO4 5N.

+ 10ml dung dịch kali antimonyl tartrat.

+ 30ml dung dịch amoni molipdat.

+ 60ml dung dịch axit ascorbic.

Nếu chuẩn bị đúng dung dịch hỗn hợp thuốc thử có màu vàng nhạt. Khi hỗn hợp có màu

42

vàng đậm hoặc màu xanh thì hủy và pha lại dung dịch mới.

- Dung dịch tiêu chuẩn lân dễ tiêu: Cân chính xác 0,1917g muối KH2PO4 hòa tan trong

nước cất và định mức lên 1000ml. Lấy 10ml dung dịch này pha loãng thành 100ml. Như

vậy, 1ml dung dịch này chứa 0,01mg P2O5.

- Dung dịch tiêu chuẩn lân tổng số: Cân chính xác 0,2195g muối KH2PO4 hòa tan trong

nước cất và định mức lên 500ml. Lấy 10ml dung dịch này pha loãng thành 100ml. Như vậy,

1ml dung dịch này chứa 0,01mg P.

- Cân 5g đất cho vào bình tam giác, sau đó cho vào 50ml dung dịch H2SO4 0,1N. Lọc lấy

dung dịch. Hút 1 ml thêm vào NH2.HCl 10%, đệm axetat, 1,1 phenaltrolin. Pha loãng thành

25ml.

3.2. KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN TỐI ƯU 3.2.1. Khảo sát sự lên màu của phức theo thời gian đun

- Hút 5ml dung dịch tiêu chuẩn 10 mg/l cho vào bình định mức 50ml, cho thêm 4ml dung

dịch thuốc thử, lắc đều. Sau đó thêm nước cất định mức đến vạch, đun sôi lần lượt 5 phút,

10 phút, 15 phút, 20 phút, 25 phút, 30 phút. Rót dung dịch vào cuvet sau mỗi thời gian và

đặt vào máy đo quang HACH 2400 đo tại bước sóng cực đại 880nm. Sau thời gian đun 10

phút thì ta thu được mật độ quang cực đại và ổn định.

3.2.2. Các yếu tố cản trở khi xác định photpho dễ tiêu - Hàm lượng ion Fe3+ trong dung dịch phân tích vượt quá 1,8mg trong 50 ml dung dịch so màu sẽ cản trở sự tạo thành “màu xanh molypden”. Trong trường hợp đó phải khử Fe3+ bằng

phương pháp khử thông thường như dùng axit ascorbic hay natri bisunfit. - Nồng độ H+ ảnh hưởng đến mức độ tạo màu (pH thích hợp khoảng 4). Do đó cần tuân

thủ nghiêm ngặt các quy định về nồng độ, lượng sử dụng các dung dịch axit.

3.3. XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LÂN DỄ TIÊU [9] 3.3.1. Xây dựng đường chuẩn mẫu 4,6,9

Lấy 5 bình định mức có dung tích 50ml lần lượt cho vào đó số ml dung dịch tiêu chuẩn

theo bảng:

Bảng 3.1. Số ml dung dịch tiêu chuẩn cho vào 5 bình định mức

Số ml dung dịch tiêu Số ml hỗn hợp Nồng độ lân C mg STT chuẩn 10mg/l thuốc thử P2O5/l

2 4 0,4 TC1

43

3 4 0,6 TC2

4 4 0,8 TC3

5 4 1,0 TC4

6 4 1,2 TC5

Ở các bình định mức trên pha loãng bằng nước cất đến vạch. Đun sôi 10 phút, để nguội

rồi đem so màu tại bước sóng 880nm trên máy đo quang HACH 2400.

Hình 3.1. Dãy mẫu đựng đường chuẩn

Kết quả

Từ mật độ quang đo được và nồng độ P2O5 có sẵn ứng với mỗi bình tiêu chuẩn, ta

dựng đồ thị lân tiêu chuẩn. Số đo mật độ quang nằm ở trục tung, nồng độ P2O5 nằm ở trục

hoành của đồ thị:

A

y = 0.3085x + 0.0258

0.5

R² = 0.9988

0.4

0.3

0.2

0.1

0

0.2

0.4

0.6

0.8

1

1.2

1.4

0

Hình 3.2. Đồ thị lân tiêu chuẩn xác định lân dễ tiêu của mẫu 4,6,9

3.3.2. Xây dựng đường chuẩn mẫu còn lại

Lấy 7 bình định mức có dung tích 50ml lần lượt cho vào đó số ml dung dịch tiêu

chuẩn theo bảng:

44

Bảng 3.2. Số ml dung dịch tiêu chuẩn cho vào 5 bình định mức

Số ml dung dịch Số ml hỗn hợp Nồng độ lân C STT tiêu chuẩn 10mg/l thuốc thử mg P2O5/l

8 4 1,6 TC1

9 4 1,8 TC2

10 4 2,0 TC3

11 4 2,2 TC4

12 4 2,4 TC5

13 4 2,6 TC6

14 4 2,8 TC7

15 4 3,0 TC8

Ở các bình định mức trên pha loãng bằng nước cất đến vạch. Đun sôi 10 phút, để nguội

rồi đem so màu tại bước sóng 880nm trên máy đo quang HACH 2400.

Kết quả:

Từ mật độ quang đo được và nồng độ P2O5 có sẵn ứng với mỗi bình tiêu chuẩn, ta

dựng đồ thị lân tiêu chuẩn. Số đo mật độ quang nằm ở trục tung, nồng độ P2O5 nằm ở trục

hoành của đồ thị:

A

1

0.9

y = 0.3078x + 0.0102 R² = 0.9974

0.8

0.7

0.6

0.5

0.4

0.3

0.2

0.1

0

0

0.5

1

1.5

2

2.5

3

3.5

Hình 3.3. Đồ thị lân tiêu chuẩn xác định lân dễ tiêu của mẫu còn lại

3.3.3. Nguyên tắc

- Dùng dung dịch axit HCl 0,2N để hòa tan lân trong đất ra dưới dạng H3PO4 rồi tiến

hành cho tác dụng với amonimolipdat và axit ascorbic làm chất khử. Sau đó xác định hàm

lượng lân dễ tiêu.

45

3.3.4. Tiến hành phân tích

- Cân 5g đất khô trong không khí cho vào bình tam giác 100ml, cho vào đó 25ml dung

dịch axit HCl 0,2N, lắc đều 1 phút để yên 15 phút, lọc bằng giấy lọc.

- Cho 5ml mẫu vào bình định mức 50ml, sau đó thêm 4ml dung dịch thuốc thử, định mức

bằng nước cất đến 50ml. Trộn đều hỗn hợp đun sôi 10 phút để màu được lên hoàn toàn, để

nguội rồi đem đo trên máy tại bước sóng 880nm.

3.3.5. Kết quả

- Dựa vào mật độ quang của các dung dịch mẫu đất và phương trình đường chuẩn hấp thu

lân, ta tính ra nồng độ P2O5 trong các dung dịch đã lên màu của các mẫu đất. Từ đó ta tính

được:

+ Số mg P2O5 trong 100g đất khô tương đối

+ Số mg P2O5 trong 100g đất khô tuyệt đối

+ Khoảng bất ổn của kết quả phân tích mẫu thực tế (công thức tính xem phụ lục).

Bảng 3.3: Số mg P2O5/100g đất khô tuyệt đối của các mẫu 4,6,9

Kí hiệu Nồng độ lân C mg Số mg P2O5 /100 g Số mg P2O5 /100 g

dung dịch đất khô tương đối đất khô tuyệt đối P2O5/l

4 0,516 ± 0,035 2,58 ± 0,18 2,61 ± 0,18

6 1,307 ± 0,044 6,63 ± 0,22

9 1,044 ± 0,033 6,54 ± 0,22 5,22 ± 0,16 5,35 ± 0,16

Bảng 3.4. Đánh giá lân dễ tiêu trong các mẫu đất theo Kiêcxanop

Kí hiệu dung dịch Tên mẫu đất Số mg P2O5/100g đất Đánh giá đất

1 4 2,61 ± 0,18 Nghèo lân

2 6 6,63 ± 0,22 Trung bình

3 9 5,35 ± 0,16 Trung bình

Bảng 3.5: Số mg P2O5/100g đất khô tuyệt đối của các mẫu còn lại

Kí hiệu dung dịch Nồng độ lân C Số mg P2O5 /100 g Số mg P2O5 /100 g

đất khô tương đối đất khô tuyệt đối mg P2O5/l

1 2,813 ± 0,046 14,07 ± 0,23

2 2,670 ± 0,043 13,35 ± 0,22

46

3 1,721 ± 0,048 14,53 ± 0,24 13,68 ± 0,23 8,68 ± 0,24 8,61 ± 0,24

5 1,673 ± 0,049 8,37 ± 0,25

Bảng 7 2,634 ± 0,042 13,17 ± 0,21

3.6. 8 2,280 ± 0,040 11,40 ± 0,20

Đánh 10 9,36 ± 0,22

giá lân 11

dễ tiêu 12 8,48 ± 0,25 14,29 ± 0,23 11,56 ± 0,20 9,48 ± 0,22 10,55 ± 0,21 14,51 ± 0,24 1,871 ± 0,044 2,088 ± 0,041 2,875 ± 0,047 10,44 ± 0,21 14,38 ± 0,24

trong

các mẫu đất theo Kiêcxanop

Kí hiệu dung dịch Tên mẫu đất Đánh giá đất Số mg P2O5/100g

đất

1 1 Khá giàu lân

2 2 Khá giàu lân

3 14,53 ± 0,24 13,68 ± 0,23 8,68 ± 0,24 3 Khá giàu lân

4 5 Khá giàu lân

5 7 Khá giàu lân

6 8 Khá giàu lân

7 10 Khá giàu lân

8 11 Khá giàu lân

9 8,48 ± 0,25 14,29 ± 0,23 11,56 ± 0,20 9,48 ± 0,22 10,55 ± 0,21 14,51 ± 0,24 12 Khá giàu lân

Nhận xét

• Hàm lượng lân dễ tiêu trong đất ở nông trường Phạm Văn Cội – Củ Chi từ nghèo đến

khá giàu lân.

• Trong đó có 3 mẫu hàm lượng nghèo và trung bình là mẫu 4,6 và 9. Cây hấp thụ lân

ít. Các mẫu còn lại đều khá giàu lân.

3.4. XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LÂN TỔNG SỐ [10] 3.4.1. Xây dựng đường chuẩn

Lấy 5 bình định mức có dung tích 50ml lần lượt cho vào đó số ml dung dịch tiêu chuẩn

theo bảng:

47

Bảng 3.7. Số ml dung dịch tiêu chuẩn cho vào 5 bình định mức

STT Số ml dung dịch Số ml hỗn hợp Nồng độ lân C mg

tiêu chuẩn 10mg/l thuốc thử P/l

TC1 1 4 0,2

TC2 2 4 0,4

TC3 4 4 0,8

TC4 6 4 1,2

TC5 8 4 1,6

Ở các bình định mức trên pha loãng bằng nước cất đến vạch. Đun sôi 10 phút, để nguội

rồi đem so màu tại bước sóng 880nm trên máy đo quang HACH 2400 .

Kết quả

Từ mật độ quang đo được và nồng độ P2O5 có sẵn ứng với mỗi bình tiêu chuẩn, ta dựng

đồ thị lân tiêu chuẩn. Số đo mật độ quang nằm ở trục tung, nồng độ P nằm ở trục hoành của

1.2

1

y = 0.5612x + 0.0774 R² = 0.9983

0.8

0.6

0.4

0.2

0

0.5

1

1.5

2

0

đồ thị.

Hình 3.4. Đồ thị lân tiêu chuẩn xác định lân tổng số

3.4.2. Nguyên tắc

- Sử dụng axit sunfuric và axit pecloric để phá mẫu và hòa tan các hợp chất photpho trong

đất. Sử dụng dung dịch amoni molipdat với chất khử là axit ascorbic tác dụng với lân tạo

thành một hợp chất màu xanh photpho molipdat, cường độ màu xanh phụ thuộc vào hàm

lượng lân có trong dung dịch. Đo mật độ quang tại bước sóng 880nm, dựa vào phương trình

48

đường chuẩn xác định hàm lượng P có trong mẫu.

3.4.3. Yếu tố cản trở

Trường hợp mẫu đất chứa hàm lượng sắt di động cao có thể gây ảnh hưởng đến kết quả xác

định photpho tổng số. Để khắc phục ảnh hưởng của sắt, nên dùng natri thiosunfat để khử

sắt, sau đó điều chỉnh môi trường dung dịch về khoảng pH 4,8 (dùng giấy công gô đỏ làm

chỉ thị), trước khi tiến hành tạo màu.

3.4.4.1. Công phá mẫu

- Cân 1g đất khô trong không khí đã được rây nhỏ, cho vào bình Kenđan phá mẫu dung

tích 100ml, thêm vào đó 10ml H2SO4 đặc, để yên 15 phút cho mẫu thấm hóa chất.

- Đun khoảng 15-20 phút (đun nhẹ, không sôi) thấy xuất hiện khói trắng (SO2), nhấc ra

khỏi bếp để hơi nguội rồi nhỏ vào đó 2-3 giọt HClO4 70% (chú ý thực hiện trong tủ hút).

Đun tiếp dung dịch cho đến khi đất chuyển màu trắng hoàn toàn.

- Thời gian đun đến đất trắng khá lâu (khoảng 10 giờ).

- Khi đất trắng thì ngừng đun, nhấc bình xuống. Để nguội, pha loãng, rồi dùng nước cất

chuyển toàn bộ dung dịch và cặn công phá đất vào bình định mức có dung tích 100ml, thêm

nước cất đến vạch 100ml, lắc trộn đều, để lắng hoặc lọc.

3.4.4.2. Lên màu lân để so màu

- Hút 5ml mẫu vào bình định mức 50ml cho thêm 2-3 giọt phenolphtalein điều chỉnh pH

bằng cách dùng NaOH 2N cho vào bình định mức, hỗn hợp có màu hồng nhạt. Tiếp tục cho

H2SO4 0,1N vào chuẩn cho dung dịch mất màu hồng nhạt.

- Thêm 4ml dung dịch thuốc thử, định mức bằng nước cất đến 50ml. Trộn đều hỗn hợp đun

sôi 10 phút để màu được lên hoàn toàn. Sau đó để nguội rồi đem đi đo mật độ quang ở bước

sóng 880 nm.

3.4.5. Kết quả

- Dựa vào mật độ quang của các dung dịch mẫu đất và phương trình đường chuẩn hấp thụ

lân, ta tính ra % P trong đất khô tương đối rồi quy về đất khô tuyệt đối:

OHK

2

%P trong đất khô tuyệt đối = x % P trong đất khô tương đối

49

- Dựa vào kết quả thu được ta tính kết quả bất ổn của kết quả phân tích mẫu thực tế.

Bảng 3.8. % P trong đất khô tuyệt đối của các mẫu đất

Kí hiệu Nồng độ lân % P trong đất

% P trong đất

dung dịch C mg khô tương đối khô tuyệt đối

𝑲𝑯𝟐𝑶 1,0328 0,1051 ± 0,0048 1 1,051 ± 0,048 0,1085 ± 0,0050

0,0660 ± 0,0055 1,0247 2 0,660 ± 0,055 0,0676 ± 0,0056

0,0373 ± 0,0072 1,0078 3 0,373 ± 0,072 0,0376 ± 0,0073

0,0259 ± 0,0079 1,0113 4 0,259 ± 0,079 0,0262 ± 0,0080

1,0129 5 0,0454 ± 0,0068 0,0460 ± 0,0069 0,454 ± 0,068

0,0354 ± 0,0073 1,0142 6 0,354 ± 0.073 0,0359 ± 0,0074

0,1022 ± 0,0048 1,0849 7 1,022 ± 0,048 0,1108 ± 0,0052

0,0789 ± 0,0053 1,0138 8 0,789 ± 0,053 0,0799 ± 0,0054

0,1236 ± 0,0049 1,0256 9 1,236 ± 0,049 0,1268 ± 0,0050

0,0919 ± 0,0049 1,0123 10 0,919 ± 0,049 0,0930 ± 0,0050

0,1002 ± 0,0048 1,0103 11 1,002 ± 0,048 0,1012 ± 0,0048

0,0992 ± 0,0048 1,0088 12 0,992 ± 0,048 0,1001 ± 0,0048

Bảng 3.9. Đánh giá lân tổng số trong các mẫu đất

Kí hiệu dung dịch % P trong đất khô tuyệt đối Đánh giá đất

Giàu lân 1 0,1085 ± 0,0050

Trung bình 2 0,0676 ± 0,0056

Nghèo lân 3 0,0376 ± 0,0073

Nghèo lân 4 0,0262 ± 0,0080

Nghèo lân 5 0,0460 ± 0,0069

Nghèo lân 6 0,0359 ± 0,0074

Giàu lân 7 0,1108 ± 0,0052

Trung bình 8 0,0799 ± 0,0054

Giàu lân 9 0,1268 ± 0,0050

Trung bình 10 0,0930 ± 0,0050

Giàu lân 11 0,1012 ± 0,0048

Giàu lân 12 0,1001 ± 0,0048

50

Nhận xét

 Hàm lượng lân tổng số trong đất ở nông trường Phạm Văn Cội – Củ Chi từ nghèo đến

giàu lân. Qua kết quả thực nghiệm cho thấy có 4 mẫu nghèo lân là 4 mẫu trồng mới năm

2009.

Bảng 3.10. Kết quả đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu và lân tổng số

Tên mẫu đất Lân tổng số Lân dễ tiêu

1 Giàu lân Khá giàu lân

2 Trung bình Khá giàu lân

3 Nghèo lân Khá giàu lân

4 Nghèo lân Nghèo lân

5 Nghèo lân Khá giàu lân

6 Nghèo lân Trung bình

7 Giàu lân Khá giàu lân

8 Trung bình Khá giàu lân

9 Giàu lân Trung bình

10 Trung bình Khá giàu lân

11 Giàu lân Khá giàu lân

51

12 Giàu lân Khá giàu lân

KẾT LUẬN CHUNG

Sau khi khảo sát hàm lượng lân trong đất ở nông trường Phạm Văn Cội – Củ Chi em

thấy đất ở nông trường có những đặc điểm sau:

+ Có 3/12 mẫu là nghèo và trung bình, các mẫu còn lại khá giàu lân. Như vậy đất ở

nông trường có lượng lân dễ tiêu khá lớn. Hàm lượng lân dễ tiêu trong đất của nông trường

Phạm Văn Cội từ năm 2009 đến 2013 có phần giảm. Năm 2013 lân dễ tiêu từ 2,61 mg

P2O5/100g đất đến 14,53 mgP2O5/100g đất thấp hơn so với năm 2009 (cụ thể năm 2009

biến động từ 3,9143 mgP2O5/100g đất đến 36,7296 mgP2O5/100g đất)

+ Theo kết quả thực nghiệm thì hàm lượng lân tổng số trong đất ở nông trường Phạm

Văn Cội từ nghèo đến giàu lân. Sự chênh lệch giữa các mẫu khá lớn. Có 4/10 mẫu nghèo lân

- 4 mẫu trồng mới từ năm 2009 và các mẫu còn lại thì trung bình đến giàu lân. Hàm lượng

lân tổng số ở các mẫu trồng mới thấp hơn so với mẫu cây cao su lâu năm. Trong đó, mẫu 7

là mẫu có hàm lượng chất dinh dưỡng, độ phì nhiêu trong đất cao. Ngược lại, mẫu 4 - mẫu

trồng mới 2009 là mẫu đặc biệt nghèo chất dinh dưỡng cả về đạm, lân và kali.

Nhìn chung lân dễ tiêu ở nông trường Phạm Văn Cội – Củ Chi không phụ thuộc nhiều

vào lân tổng số. Không phải mẫu nào hàm lượng lân dễ tiêu cao thì hàm lượng lân tổng số

cũng cao và ngược lại. Lượng lân dễ tiêu cao, cho thấy nông trường đã áp dụng các biện

pháp cải tạo nhằm nâng cao lân dễ tiêu trong đất, do đó năng suất cây trồng được nâng cao.

Đề xuất:

Cần bón thêm phân lân đối với những mẫu nghèo lân (đặc biệt là mẫu 4) để tăng hàm

lượng lân trong đất. Đồng thời có những biện pháp cải tạo đất thích hợp để giúp cây trồng

52

phát triển tốt hơn, nâng cao năng suất sản phẩm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Văn Căn (chủ biên), Đỗ Ánh, Võ Minh Kha, Hà Huy Khê, Hoàng Đăng Ký, Phạm

Đình Quắc (1978), Giáo trình nông hóa, NXBKT– Hà Nội.

[2] Lê Trọng Hiếu (2011), Bài giảng độ phì nhiêu và phân bón, Trường Đại Học Nông Lâm

Tp. HCM.

[3] Lê Viết Phùng, Hà Ngọc Tiến (1987), Hóa kỹ thuật đại cương, tập 2 – Hóa nông học,

NXb Giáo Dục.

[4] Trần Đức Viên, Phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc

tế, Đại học nông nghiệp Hà Nội.

[5] Viện thổ nhưỡng nông hóa, Sổ tay phân tích đất, nước, phân bón, cây trồng, NXB Nông

Nghiệp,1996.

[6]. Đỗ Xuân Hưng (2006), Luận văn “ Khảo sát một số chỉ tiêu về lân trong đất ở nông

trường Phạm Văn Cội bằng phương pháp trắc quang” (khóa luận tốt nghiệp, khoa Hóa,

trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh).

[7] Võ Thị Trà My (2012), Luận văn “ Khảo sát hàm lượng lân trong đất ở nông trường cao

su Nhà Nai – Bình Dương”

[8] Phạm Thị Bích Thuận (2009), Luận văn “ Khảo sát một số chỉ tiêu về lân trong đất ở

nông trường Phạm Văn Cội bằng phương pháp trắc quang” (khóa luận tốt nghiệp, khoa

Hóa, trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh).

[9] TCVN 5256 :2009 Chất lượng đất – Phương pháp xác định hàm lượng photpho dễ tiêu.

[10] TCVN 8940 : 2011 Chất lượng đất – Xác định photpho tổng số - Phương pháp so màu.

[11] Bức tranh toàn cảnh về cao su tự nhiên

[12] Giới thiệu chung về các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành đất

huong-den-quan-trinh-hinh-thanh.html>

[13] Những ứng dụng thú vị từ cây, hạt cao su

d%E1%BB%A5ng-th%C3%BA-v%E1%BB%8B-t%E1%BB%AB-c%C3%A2y,-

53

h%E1%BA%A1t-cao-su.html>

[14] Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam

[15] Thông tin thị trường cao su

2011/>

Phụ lục 1.

Bảng hệ số khô kiệt của các mẫu đất

Tên mẫu đất Hệ số khô kiệt

1 1,0328

2 1,0247

3 1,0078

4 1,0113

5 1,0129

6 1,0142

7 1,0849

8 1,0138

9 1,0256

10 1,0123

11 1,0103

12 1,0088

Số liệu do bạn Phạm Thị Xuân Hằng khóa 2009-2013 cung cấp

Phụ lục 2.

Thành phần cơ giới đất

Mẫu đất Cát Sét Bụi Loại đất

1 64,00% 28,34% 7,66% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

2 55,00% 29,47% 15,53% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

3 70,00% 28,34% 1,66% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

4 66,00% 27,17% 6,83% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

5 62,00% 34,00% 4,00% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

54

6 55,00% 38,95% 6,05% Đất sét pha cát

7 26,00% 32,19% 41,81% Đất thịt nhẹ pha sét

8 63,00% 28,27% 8,37% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

9 59,5% 35,83% 4,67% Đất sét pha cát

10 67,00% 27,89% 5,11% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

11 59,50% 31,74% 8,76% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

12 68,50% 28,13% 3,37% Đất thịt nhẹ pha sét và cát

Số liệu do bạn Phạm Thị Xuân Hằng khóa 2009-2013 cung cấp

Phụ lục 3. Kết quả khảo sát hàm lượng của ion Fe3+

Mật độ quang của mẫu không Fe3+: 0,278

Mật độ quang Nồng độ Nồng độ Mẫu

mg/25ml đất mg/l Lần 1 Lần 2 Trung bình

0,277 1 0,276 0,278 1,324 0,033

0,217 2 0,215 0,218 1,036 0,026

0,153 3 0,151 0,154 0,730 0,018

0,166 4 0,165 0,167 0,792 0,020

0,176 5 0,176 0,175 0,840 0,021

0,213 6 0,214 0,212 1,017 0,025

0,129 7 0,128 0,129 0,615 0,015

0,182 8 0,183 0,181 0,869 0,022

0,131 9 0,131 0,131 0,624 0,016

0,132 10 0,132 0,132 0,629 0,016

0,274 11 0,273 0,274 1,310 0,033

0,229 12 0,227 0,230 1,094 0,048

Phụ lục 4

Mật độ quang của các dung dịch tiêu chuẩn xác định lân dễ tiêu (mẫu 4,6,9)

STT Số ml dung dịch Số ml hỗn Nồng độ lân Mật độ

tiêu chuẩn 10mg/l hợp thuốc quang C mg P2O5/l

thử

55

TC1 2 0,4 0,146 4

0,212 0,6 4 TC2 3

0,276 0,8 4 TC3 4

0,337 1,0 4 TC4 5

0,392 1,2 4 TC5 6

Phụ lục 5

Mật độ quang của các dung dịch tiêu chuẩn xác định lân dễ tiêu các mẫu còn lại

STT Số ml dung dịch Số ml hỗn hợp Nồng độ lân C Mật độ

tiêu chuẩn 10mg/l thuốc thử quang mg P2O5/l

0,502 1,6 4 8 TC1

0,556 1,8 4 9 TC2

0,621 2,0 4 10 TC3

0,698 2,2 4 11 TC4

0,758 2,4 4 12 TC5

0,814 2,6 4 13 TC6

0,873 2,8 4 14 TC7

0,923 3,0 4 15 TC8

Phụ lục 6

Mật độ quang của dung dịch tiêu chuẩn - xác định lân tổng số

STT Số ml dung dịch Số ml hỗn hợp Nồng độ lân C Mật độ

tiêu chuẩn 10mg/l thuốc thử quang mg P2O5/l

4 0,2 0,186 1 TC1

4 0,4 0,336 2 TC2

4 0,8 0,655 4 TC3

4 1,2 0,987 6 TC4

4 1,6 1,265 8 TC5

Phụ Lục 7

Mật độ quang của các mẫu trong đất – xác định lân dễ tiêu

Mật độ quang

STT

Lần 1 0,877 Lần 2 0,875 Lần 3 0,876 Trung bình 0,876 1

56

0,832 0,830 0,834 0,832 2

0,542 0,541 0,538 0,540 3

0,185 0,185 0,185 0,185 4

0,527 0,524 0,524 0,525 5

0,427 0,430 0,431 0,429 6

0,821 0,822 0,820 0,821 7

0,710 0,712 0,714 0,712 8

0,348 0,348 0,348 0,348 9

0,590 0,584 0,584 0,586 10

0,650 0,651 0,657 0,653 11

0,897 0,894 0,894 0,895 12

Phụ Lục 8

Mật độ quang của các mẫu trong đất – xác định lân tổng số

Mật độ quang

Lần 3 0,668 Trung bình 0,667 Lần 1 0,667 Lần 2 0,667 STT 1

0,488 0,486 0,489 0,488 2

0,287 0,287 0,287 0,287 3

0,223 0,224 0,223 0,223 4

0,331 0,331 0,333 0,332 5

0,276 0,276 0,276 0,276 6

0,650 0,649 0,653 0,651 7

0,519 0,520 0,520 0,520 8

0,771 0,771 0,772 0,771 9

0,593 0,593 0,594 0,593 10

0,640 0,640 0,640 0,640 11

0,633 0,634 0,635 0,634 12

Phụ lục 9

Tính toán các thông số thống kê

1. Phương trình hồi quy tuyến tính: y = a + bx

Với x, y là nồng độ và mật độ quang của các dung dịch chuẩn

57

 Tính các hệ số hồi quy

2

xy

=

a

2

y 2 x

∑ x N

N

=

b

xy 2

y 2

x

∑ ∑ ∑ − x ∑ ∑ − ( ) x ∑ ∑ ∑ − ∑ − N x ( )

x ∑

y

=

r

2

2

x

y

)( yx ) (

N: số điểm trên đường chuẩn

]

 Hệ số tương quan [ ( ∑ x [ ( ∑ x

] ) ) − y )*xu (

)*xU (

2. Tính khoảng bất ổn và biểu diễn kết quả và

2

y

a

xy

= ∑

s

2 residue

Y ,

∑ ∑ − by − 2 N  Phương sai của a

2

x

=

s

s

x

2 a

2 residue

,

Y

2

2

N

∑ − x

x

)

( ∑

∑  Phương sai của b

=

s

s

x

2 b

2 residue

, Y

2

2

x

N

x

)

N ( ∑−

 Phương sai dư

s

,

Y

s

residue

, =

X

residue b

 Độ lệch chuẩn dư theo X

 Tính khoảng bất ổn của kết quả phân tích mẫu thực tế dựa vào phương trình hồi

2

*

*

+

xu

s

residue

X

,

quy

(

)

2

1 1 + mN

x

{ 2 Nb

m: số lần đo lặp lại.

( yN ∑

) y ) ( ∑ 2 x

  } 

   

*

=

t

= N

2−

;

( xU

)

( xu

)*

,95,0

f

fresidue

residue

*x là nồng độ của mẫu.

58

Biểu diễn kết quả: Với