
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 1 - 2020
57
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LÊ HỒNG PHONG NĂM 2018
Phạm Minh Khuê1, Vũ Hải Vinh1,2
TÓM TẮT15
Giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) là công tác
quan trọng, đặc biệt với lứa tuổi vị thành niên. Một
nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành nhằm mô
tả thực trạng kiến thức, thái độ về SKSS của 350 học
sinh Trường phổ thông trung học Lê Hồng Phong, Hải
Phòng năm 2018. Hầu hết (89,2%) hiểu đúng về tình
dục an toàn, đa số (60,3%) hiểu đúng về bệnh lây
truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD). Có 87,7% biết
tên ít nhất 1 BLTQĐTD, 90,0% biết ít nhất 1 biện
pháp phòng tránh BLTQĐTD. Hầu hết (99,4%) biết
tên ít nhất 1 biện pháp tránh thai nhưng chỉ có 41,7%
biết cách sử dụng ít nhất 1 biện pháp tránh thai. Đa
số hiểu sai (27,7%) hoặc không biết (46,9%) về thời
điểm có thể có thai theo chu kỳ kinh nguyệt. Tỷ lệ học
sinh cho rằng nạo phá thai có thể gây vô sinh là
70,3%, sảy thai/đẻ non 35,7%, dính khoang tử cung
29,7% và ung thư 15,4%. Điểm kiến thức trung bình
là 6,97/10 điểm, 48,6% có kiến thức đạt ≥ 7/10 điểm.
88,6% cho rằng con gái nên giữ gìn trinh tiết cho đến
khi kết hôn, 86,9% cho rằng QHTD ở tuổi học trò có
thể ảnh hưởng đến học tập, 92,9% học sinh cho rằng
QHTD không an toàn rất dễ mắc các BLTQĐTD,
91,4% học sinh cho rằng phá thai ảnh hưởng đến sức
khỏe thể chất và tinh thần. Vẫn còn 65,1% cho rằng
nên tránh xa những người mắc BLTQĐTD, 22,9% cho
rằng BLTQĐTD là bệnh thông thường, dễ chữa trị.,
45,1% cho rằng phá thai là rất dễ thực hiện, 36,3%
cho rằng phá thai là việc bình thường nếu có thai
ngoài ý muốn. Điểm thái độ trung bình của các học
sinh là 7,46/10 điểm, 55,7% có thái độ đạt ≥ 7/10
điểm. Trong thời gian tới, cần xây dựng chiến lược
giáo dục phù hợp nhằm nâng cao kiến thức, từ đó cải
thiện thái độ của học sinh về SKSS.
Từ khóa:
sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn, bệnh
lây truyền qua đường tình dục, học sinh, Hải Phòng.
SUMMARY
SITUATIONS OF KNOWLEDGE, ATTITUDES
ON REPRODUCTIVE HEALTH IN STUDENTS
OF LE HONG PHONG HIGH SCHOOL IN 2018
Reproductive health education is important,
especially for adolescents. A descriptive cross-sectional
study was performed to describe the situation of
knowledge and attitudes about reproductive health in
350 students of Le Hong Phong high school, Hai
Phong in 2018. Most of them (89.2%) understood
1Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Minh Khuê
Email: pmkhue@hpmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 10.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 8.4.2020
Ngày duyệt bài: 13.4.2020
correctly about safe sex, majority (60.3%) understood
correctly about sexually transmitted diseases (STIs).
87.7% knew at least one STD, 90.0% knew at least
one method to prevent STIs. Most (99.4%) knew at
least one contraceptive but only 41.7% knew how to
use at least one contraceptive. Most students
misunderstood (27.7%) or did not know (46.9%)
about the time that poeple could get pregnant
according to the menstrual cycle. The rate of students
thinking that abortion could cause infertility was
70.3%, miscarriage/premature birth 35.7%, uterine
cavity 29.7% and cancer 15.4%. The average
knowledge score was 6.97/10, 48.6% had ≥ 7/10
points. 88.6% supposed that girls should preserve
chastity until getting married, 86.9% supposed that
having sex at school age could affect learning, 92.9%
supposed that unsafe sex could be very susceptible to
STIs, 91.4% supposed that abortion could affect their
physical and mental health. There were 65.1%
students keeping away from people having STIs,
22.9% thinking that STIs are common and easy-to-
treat, 45.1% thinking that abortion is very easy to
perform, 36.3% thinking that abortion is normal if
there was an unwanted pregnancy. The average
attitude score was 7.46/10, 55.7% had ≥ 7/10 points.
In the future, it is necessary to develop an appropriate
education strategy to increase knowledge, thereby
improve students' attitudes about reproductive health.
Key words:
reproductive health, safe sex, STI,
student, Hai Phong.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe sinh sản (SKSS) là nền tảng cho sức
khỏe tổng thể và hạnh phúc của cá nhân, cặp vợ
chồng và gia đình, cho sự phát triển kinh tế, xã
hội của cộng đồng và quốc gia. Giáo dục SKSS là
hết sức cần thiết, đặc biệt với lứa tuổi vị thành
niên bởi đây là giai đoạn chuyển giao từ thời thơ
ấu sang tuổi trưởng thành, với nhiều thay đổi về
thể chất, tâm lý và xã hội [1]. Tuy nhiên, kiến
thức của lứa tuổi vị thành niên về SKSS nói
chung và quan hệ tình dục (QHTD) nói riêng còn
nhiều hạn chế. Vì vậy, trong thời gian gần đây,
tình trạng QHTD trước hôn nhân, mắc bệnh lây
truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD), nạo phá
thai ở tuổi vị thành viên có xu hướng tăng lên ở
mức báo động tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các
nước đang phát triển [1,2].
Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh chung của
các quốc gia khác trên thế giới. Cùng với sự phát
triển của kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là sự
giao lưu với các nền văn hóa phương Tây, tình
trạng QHTD trước hôn nhân, nạo phá thai cũng

vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
58
dần có xu hướng tăng lên ở lứa tuổi vị thành
niên [3]. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng kết
quả thu được trong việc giáo dục SKSS, đặc biệt
là với lứa tuổi học đường, còn nhiều hạn chế
[3,4]. Lứa tuổi học sinh phổ thông trung học là
giai đoạn phát triển thể chất, hoàn thiện tính
cách và nhân cách nên dễ chịu ảnh hưởng bởi
bạn bè, môi trường xung quanh, đồng thời dễ
gặp phải các vấn đề liên quan đến QHTD [4].
Trước tình hình đó, việc tìm hiểu thực trạng, từ
đó xây dựng kế hoạch cải thiện kiến thức, thái
độ của học sinh phổ thông trung học về SKSS và
tình dục an toàn (TDAT) là điều hết sức cần
thiết. Đó là lý do vì sao chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả thực trạng
kiến thức, thái độ về SKSS của học sinh Trường
phổ thông trung học Lê Hồng Phong, Hải Phòng
năm 2018.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
1.1. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh Trường phổ thông trung học Lê
Hồng Phong, Hải Phòng.
*Tiêu chuẩn lựa chọn:
các học sinh đồng ý
tham gia nghiên cứu.
*Tiêu chuẩn loại trừ:
các học sinh không có
mặt tại thời điểm tiến hành nghiên cứu hoặc từ
chối tham gia nghiên cứu.
1.2. Địa điểm nghiên cứu: Trường phổ
thông trung học Lê Hồng Phong, Hải Phòng.
1.3. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01
đến tháng 10/2018.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
2.2. Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ
mẫu ước lượng tỷ lệ quần thể
n = .
Trong đó,
n là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết; Z =
1,96 (hệ số tin cậy 95% với α = 0,05); p = 0,44
(ước tính tỷ lệ học sinh có kiến thức, thái độ đúng
về SKSS theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Vân
Anh năm 2011) [5]; ∆ = 0,05 (sai số cho phép).
Thay vào công thức, ta có n = 193. Chọn hệ
số thiết kế là k = 1,5 và dự đoán tỷ lệ từ chối
tham gia nghiên cứu là 10%, ta có cỡ mẫu tối
thiểu cần thiết là 319 học sinh.
2.3. Phương pháp chọn mẫu:
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm.
- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra 3/8 lớp khối
10, 3/8 lớp khối 11, 3/9 lớp khối 12, trung bình
một lớp có khoảng 40-45 học sinh.
- Lập danh sách toàn bộ các lớp được chọn,
lập danh sách học sinh trong từng lớp. Số học
sinh được chọn tham gia nghiên cứu là tổng số
học sinh thực tế của tất cả các lớp được chọn.
- Phát phiếu phỏng vấn theo từng lớp cho
đến khi hết số lớp được chọn.
2.4. Công cụ và phương pháp thu thập
số liệu
*Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu thu thập số
liệu dấu tên được xây dựng dựa trên các nghiên
cứu trước đó, có tham khảo ý kiến của các
chuyên gia trong lĩnh vực, được Hội đồng duyệt
đề cương Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
thông qua và được tiến hành điều tra thử để rút
kinh nghiệm trước khi điều tra chính thức. Mỗi
câu trả lời đúng được tính 01 điểm. Đối tượng
được đánh giá là có kiến thức hoặc thái độ đạt
nếu có ≥ 7/10 điểm.
*Phương pháp thu thập số liệu:
Học sinh
được thông báo trước để tham gia điều tra.
Trước khi phát phiếu thu thập số liệu, điều tra
viên giới thiệu với học sinh về mục đích, nội
dung nghiên cứu, giải thích một số thuật ngữ
chuyên ngành sử dụng trong nghiên cứu. Sau
khi phát phiếu, học sinh tiến hành điền các
thông tin vào phiếu dưới sự hướng dẫn, giám sát
của điều tra viên. Phiếu điều tra sau khi điền
được học sinh bỏ vào hòm phiếu đặt ở lối ra vào
của lớp học để đảm bảo thông tin hoàn toàn
được giữ bí mật.
2.5. Xử lý và phân tích số liệu. Số liệu
được thu thập dưới dạng dấu tên, kiểm tra kỹ
trước khi tiến hành nhập liệu bằng phần mềm
Epidata 3.1. (Epidata Association, Đan Mạch) và
xử lý bằng phần mềm Stata 14.0 (StataCorp LLC,
Hoa Kỳ).
3. Đạo đức nghiên cứu. Nghiên cứu mô tả,
không tiến hành can thiệp trên đối tượng nghiên
cứu. Đề cương nghiên cứu được Hội đồng đạo
đức Trường Đại học Y Dược Hải Phòng thông
qua và Ban Giám hiệu Trường phổ thông trung
học Lê Hồng Phong cho phép tiến hành. Học
sinh được giải thích rõ về mục đích, nội dung
nghiên cứu, được đặt câu hỏi và nhận được câu
trả lời thỏa đáng về nghiên cứu, có thời gian suy
nghĩ và hoàn toàn tự nguyện trong việc đồng ý
hay từ chối tham gia nghiên cứu. Số liệu được
thu thập dưới dạng dấu tên, đảm bảo bí mật và
chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Kiến thức của học sinh về những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 1 - 2020
59
Bảng 1. Kiến thức về những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của học sinh
Trường phổ thông trung học Lê Hồng Phong, Hải Phòng năm 2018.
Nội dung kiến thức
Số lượng
Tỷ lệ %
Tình dục an toàn
(TDAT)
Chưa nghe về TDAT
32
9,1
Hiểu đúng về TDAT
312
89,2
Hiểu sai về TDAT
6
1,7
Bệnh lây truyền qua
đường tình dục
(BLTQĐTD)
Chưa nghe về BLTQĐTD
62
17,7
Hiểu đúng về BLTQĐTD
211
60,3
Hiểu sai về BLTQĐTD
77
22,0
Biết tên ít nhất 1 BLTQĐTD
307
87,7
Biết ít nhất 1 cách phòng tránh BLTQĐTD
315
90,0
BLTQĐTD mà học sinh
biết
Lậu
245
70,0
Viêm niệu đạo/cổ tử cung do Chlamydia
118
33,7
Trùng roi
17
4,9
Viêm lộ tuyến
29
8,3
Bệnh nấm Cadida
49
14,0
Giang mai
305
87,1
Lao
5
1,4
Hạ cam
11
3,1
Sởi
5
1,4
Mụn/mụn rộp (Herrpes)
43
12,3
Viêm gan B
45
12,9
HIV/AIDS
333
95,1
Cách phòng tránh
BLTQĐTD mà học sinh
biết
Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
299
85,4
Tránh quan hệ tình dục
112
32,0
Uống thuốc tránh thai
74
21,1
Biết tên ít nhất một biện pháp tránh thai
348
99,4
Biện pháp tránh thai
mà học sinh biết tên
Đặt vòng tránh thai
301
86,0
Thuốc viên tránh thai
326
93,1
Bao cao su
341
97,4
Thuốc tiêm tránh thai
189
54,0
Viên tránh thai khẩn cấp
253
72,3
Đình sản/triệt sản nữ/ thắt ống dẫn trứng
235
67,1
Đình sản/triệt sản nam/thắt ống dẫn tinh
231
66,0
Xuất tinh ngoài âm đạo
197
56,3
Tính vòng kinh
193
55,1
Thuốc diệt tinh trùng
160
45,7
Biết cách sử dụng ít nhất một biện pháp tránh thai
146
41,7
Biện pháp tránh thai
mà học sinh biết cách
sử dụng
Đặt vòng tránh thai
7
2,0
Thuốc viên tránh thai
45
12,9
Bao cao su
58
16,6
Thuốc tiêm tránh thai
17
4,9
Viên tránh thai khẩn cấp
32
9,1
Đình sản/triệt sản nữ/ thắt ống dẫn trứng
7
2,0
Đình sản/triệt sản nam/thắt ống dẫn tinh
9
2,6
Xuất tinh ngoài âm đạo
32
9,1
Tính vòng kinh
31
8,9
Thuốc diệt tinh trùng
13
3,7
Biết về thời điểm có
thể có thai theo chu
kỳ kinh nguyệt
Không biết
164
46,9
Đúng
89
25,4
Sai
97
27,7
Biết hậu quả của nạo
phá thai
Vô sinh
246
70,3
Sảy thai/đẻ non
125
35,7
Dính khoang tử cung
104
29,7

vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
60
Ung thư
54
15,4
Tỷ lệ học sinh có kiến thức đạt ≥ 7/10
170
48,6
Điểm trung bình kiến thức của học sinh
6,97
Tổng
350
100
Trong thời gian nghiên cứu, có 350 học sinh
đủ tiêu chuẩn, đồng ý tham gia, được thu nhận
vào nghiên cứu. Đa số (89,2%) học sinh hiểu
đúng về TDAT, vẫn còn 9,1% chưa bao giờ nghe
nói về TDAT. Về BLTQĐTD, 60,3% học sinh hiểu
đúng về BLTQĐTD, 22,0% hiểu sai và 17,7%
chưa bao giờ nghe nói về BLTQĐTD. Mặc dù vậy,
có 87,7% học sinh biết tên ít nhất 1 BLTQĐTD
và 90,0% biết ít nhất 1 biện pháp phòng tránh
BLTQĐTD. Các BLTQĐTD biết đến nhiều nhất là
HIV/AIDS (95,1%), giang mai (87,1%), lậu
(70,0%); ít nhất là lao (1,4%), sởi (1,4%), hạ
cam (3,1%) và trùng roi (4,9%). Đa số (85,4%)
biết sử dụng bao cao su có thể phòng tránh
BLTQĐTD, 32,0% cho rằng cần tránh quan hệ
tình dục, đặc biệt vẫn còn 21,1% cho rằng uống
thuốc tránh thai có thể phòng tránh BLTQĐTD.
Về biện pháp tránh thai, hầu hết (99,4%) học
sinh biết tên ít nhất 1 biện pháp tránh thai. Các
biện pháp tránh thai biết đến nhiều nhất là bao
cao su (97,4%), thuốc viên tránh thai (93,1%)
và đặt vòng tránh thai (86,0%); ít nhất là thuốc
diệt tinh trùng (45,7%), thuốc tiêm tránh thai
(54,0%), tính vòng kinh (55,1%) và xuất tinh
ngoài âm đạo (56,3%). Tuy nhiên, chỉ có 146
(41,7%) học sinh biết cách sử dụng ít nhất 1 biện
pháp tránh thai, trong đó có nhiều biện pháp
tránh thai mà tỷ lệ biết cách sử dụng rất thấp (<
5%) như đặt vòng tránh thai (2,0%), đình
sản/triệt sản nữ, thắt ống dẫn trứng (2,0%), đình
sản/triệt sản nam, thắt ống dẫn tinh (2,6%),
thuốc diệt tinh trùng (3,7%) và thuốc tiêm tránh
thai (4,9%). Tỷ lệ học sinh hiểu biết đúng về thời
điểm có thể có thai theo chu kỳ kinh nguyệt thấp
(25,4%), đa số (74,6%) hiểu biết sai (27,7%)
hoặc không biết (46,9%). Về hậu quả của nạo
phá thai, 70,3% cho rằng có thể gây vô sinh,
35,7% cho rằng có thể gây sảy thai/đẻ non,
29,7% cho rằng có thể gây dính khoang tử cung
và 15,4% cho rằng có thể gây ung thư. Đánh giá
chung kiến thức về các vấn đề liên quan đến
SKSS cho thấy điểm kiến thức trung bình của các
học sinh là 6,97/10 điểm. Tỷ lệ học sinh có kiến
thức đạt ≥ 7/10 điểm là 48,6%.
2. Thái độ của học sinh về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản
Bảng 2. Thái độ về những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của học sinh Trường
phổ thông trung học Lê Hồng Phong, Hải Phòng năm 2018.
Thái độ
Số lượng
Tỷ lệ %
Về quan hệ
tình dục
(QHTD) trước
hôn nhân
Con gái nên giữ gìn trinh tiết cho đến khi kết hôn
310
88,6
Có thể QHTD ở tuổi học trò nếu cả hai cùng đồng ý
126
36,0
QHTD là cách chứng tỏ tình yêu
111
31,7
QHTD ở tuổi học trò có thể ảnh hưởng đến học tập
304
86,9
Về bệnh lây
truyền qua
đường tình dục
(BLTQĐTD)
BLTQĐTD là bệnh thông thường, dễ chữa trị
80
22,9
QHTD không an toàn rất dễ mắc các BLTQĐTD
325
92,9
Nên tránh xa những người mắc BLTQĐTD
228
65,1
Không QHTD ở tuổi học trò là cách tốt nhất phòng tránh
các BLTQĐTD
158
45,1
Về có thai và
nạo phá thai ở
tuổi học trò
Phá thai rất dễ thực hiện
158
45,1
Phá thai là việc bình thường nếu có thai ngoài ý muốn
127
36,3
Phá thai ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần
320
91,4
Rất xấu hổ với bạn bè nếu có thai và phá thai
283
80,9
Tỷ lệ học sinh có thái độ đạt ≥ 7/10
195
55,7
Điểm trung bình thái độ của học sinh
7,46
Kết quả khảo sát về thái độ về QHTD trước
hôn nhân cho thấy 88,6% học sinh cho rằng con
gái nên giữ gìn trinh tiết cho đến khi kết hôn,
86,9% cho rằng QHTD ở tuổi học trò có thể ảnh
hưởng đến học tập, các quan điểm có thể QHTD
ở tuổi học trò nếu cả hai cùng đồng ý hoặc
QHTD là cách chứng tỏ tình yêu lần lượt chiếm
36,0% và 31,7%. Về BLTQĐTD, 92,9% học sinh
cho rằng QHTD không an toàn rất dễ mắc các
BLTQĐTD, 65,1% cho rằng nên tránh xa những
người mắc BLTQĐTD, 45,1% cho rằng không
QHTD ở tuổi học trò là cách tốt nhất phòng
tránh các BLTQĐTD, chỉ có 22,9% cho rằng
BLTQĐTD là bệnh thông thường, dễ chữa trị. Về
việc có thai và nạo phá thai ở tuổi học trò,
91,4% học sinh cho rằng phá thai ảnh hưởng

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 1 - 2020
61
đến sức khỏe thể chất và tinh thần, 80,8% rất
xấu hổ với bạn bè nếu có thai và phá thai, vẫn
còn 45,1% cho rằng phá thai là rất dễ thực hiện,
36,3% cho rằng phá thai là việc bình thường nếu
có thai ngoài ý muốn.
Đánh giá chung thái độ về các vấn đề liên
quan đến SKSS cho thấy điểm thái độ trung bình
của các học sinh là 7,46/10 điểm. Tỷ lệ học sinh
có thái độ đạt ≥ 7/10 điểm là 55,7%.
IV. BÀN LUẬN
SKSS là một vấn đề ngày càng được quan tâm,
đặc biệt trong thời điểm bùng nổ thông tin như
hiện nay [1]. Xây dựng phương pháp giáo dục
SKSS phù hợp, đặc biệt với lứa tuổi vị thành niên,
thay đổi quan niệm “vẽ đường cho hươu chạy”
nhưng vẫn phù hợp với thuần phong mỹ tục là
công tác cần thiết nhưng cũng đầy khó khăn,
thách thức [4,6]. Để làm được việc đó, đầu tiên
cần tiến hành tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái
độ của người dân, đặc biệt là lứa tuổi vị thành
niên về các vấn đề liên quan để xây dựng chiến
lược can thiệp phù hợp. Nghiên cứu của chúng tôi
lần đầu tiên mô tả về thực trạng này trên đối
tượng là học sinh một trường phổ thông trung
học trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Trong thời gian nghiên cứu, có 350 học sinh
đủ tiêu chuẩn, được thu nhận vào nghiên cứu.
Việc đánh giá kiến thức về các vấn đề liên quan
đến SKSS được tiến hành thông qua 04 khía
cạnh: TDAT, BLTQĐTD, biện pháp tránh thai và
các vấn đề liên quan đến có thai và nạo phá
thai. Đa số học sinh hiểu đúng về TDAT (89,2%)
và BLTQĐTD (60,3%). Tỷ lệ học sinh biết ít nhất
1 BLTQĐTD và/hoặc 1 biện pháp phòng tránh
BLTQĐTD khá cao, chiếm lần lượt 87,7% và
90,0%. Đây là thành quả đáng khích lệ đã đạt
được trong thời gian qua nhờ công tác truyền
thông, thông tin, nâng cao hiểu biết của người
dân nói chung và của học sinh nói riêng [6]. Tuy
nhiên, các kiến thức này mới chỉ tập trung vào
một số BLTQĐTD được nhắc đến thường xuyên
như HIV/AIDS, giang mai, lậu. Còn có nhiều
BLTQĐTD thường gặp mà học sinh chưa hề biết
đến hoặc tỷ lệ biết rất thấp, đạt < 5% như lao,
sởi, hạ cam, trùng roi… Về cách phòng tránh các
BLTQĐTD, vẫn còn 21,1% học sinh cho rằng
uống thuốc tránh thai có thể phòng tránh
BLTQĐTD. Mặc dù hầu hết (99,4%) biết tên ít
nhất một biện pháp tránh thai, có sự cải thiện
đáng kể so với các nghiên cứu trước đó [3,5,7],
tỷ lệ học sinh biết cách sử dụng ít nhất một biện
pháp tránh thai còn thấp, chỉ chiếm 41,7%. Có
những biện pháp tránh thai mà tỷ lệ biết cách sử
dụng rất thấp (chiếm < 5%) như đặt vòng tránh
thai; đình sản/triệt sản nữ, thắt ống dẫn trứng;
đình sản/triệt sản nam, thắt ống dẫn tinh; thuốc
diệt tinh trùng; thuốc tiêm tránh thai... Có tới
74,6% học sinh không biết hoặc biết sai về thời
điểm có thể có thai theo chu kỳ kinh nguyệt. Tỷ
lệ học sinh hiểu biết đúng về các hậu quả của
nạo phá thai cũng còn khá thấp, 29,7% không
biết nạo phá thai có thể gây vô sinh, 64,3%
không biết có thể gây sảy thai, đẻ non, 70,3%
không biết có thể gây dính khoang tử cung,
84,6% không biết có thể gây ung thư. Đánh giá
chung kiến thức về các vấn đề liên quan đến
SKSS của học sinh cũng còn hạn chế, điểm kiến
thức trung bình là 6,97/10 điểm, chỉ có 48,6%
có kiến thức đạt ≥ 7/10 điểm. Đây là các lỗ hổng
về kiến thức của học sinh, những mặt còn thiếu
sót trong giáo dục SKSS mà ngành Giáo dục nói
riêng và các ban, ngành, đoàn thể liên quan nói
chung khi xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS cần
tập trung củng cố, trang bị kiến thức một cách
toàn diện hơn cho các em học sinh trong thời
gian tới.
Đánh giá thái độ của học sinh về các vấn đề
liên quan đến SKSS trên 03 khía cạnh QHTD
trước hôn nhân, BLTQĐTD, việc có thai và nạo
phá thai ở tuổi học trò cho thấy đa số học sinh
vẫn giữ gìn thái độ truyền thống và đúng mực
như giữ gìn trinh tiết cho đến khi kết hôn
(88,6%), QHTD ở tuổi học trò có thể ảnh hưởng
đến học tập (86,9%), QHTD không an toàn rất
dễ mắc các BLTQĐTD (92,9%), phá thai ảnh
hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần
(91,4%). Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ lớn học
sinh có thái độ chưa thực sự đúng mực như cho
rằng QHTD là cách chứng tỏ tình yêu (31,7%),
BLTQĐTD là bệnh thông thường, dễ chữa trị
(22,9%)… Kết quả này cũng tương tự như các
khảo sát SAVY-2 [3] hay nghiên cứu của Đỗ Thị
Vân Anh [5]. Đặc biệt, có tới 65,1% học sinh cho
rằng nên tránh xa những người mắc BLTQĐTD,
45,1% cho rằng phá thai rất dễ thực hiện,
36,3% cho rằng phá thai là việc bình thường nếu
có thai ngoài ý muốn. Đây là vấn đề đáng báo
động về thái độ với các vấn đề liên quan đến
SKSS của lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt là tuổi
học trò. Kết quả này một lần nữa phản ánh việc
các em học sinh chưa được trang bị kiến thức
một cách đầy đủ, từ đó dẫn đến việc có thái độ
chưa đúng mực về các vấn đề liên quan đến
SKSS và TDAT. Đánh giá chung thái độ về các
vấn đề liên quan đến SKSS cho thấy mặc dù tỷ lệ
học sinh có thái độ đạt ≥ 7/10 điểm cũng như
điểm trung bình về thái độ khá cao, lần lượt là
55,7% và 7,46 điểm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều
khía cạnh về thái độ của học sinh còn nhiều

