Từ kỹ thuật in mộc bản cổ truyền đến
nghệ thuật “Thủ ấn họa”
Nghề in khắc gỗ ở nước ta đã có từ triều Lý.m 1190, thiền sư Tôn Tín Học có
nghề gia truyền chuyên khắc ván kinh. Đời nhà Trn (1298 1332) có sư Pháp Loa
in kinh Địa Tạng. Cuối đời nhà Trn (1396), Hồ Quý Ly in tiền giấy “Thông bảo hội
sao” có vẽ tứ linh, sóng nước, chứng tỏ nghệ thuật in khc rất cao. Đến triều Lê Sơ
(1443 – 1459) có tiến sĩ Lương Nhữ Học đi sứ Trung Quốc học nghề in khắc, ...
Ngh
ề in khắc gỗ ở nước ta đã có từ triều Lý. Năm 1190, thiền sư Tôn Tín Học có nghề
gia truyền chuyên khắc ván kinh.
Đời nhà Trần (1298 1332) có sư Pháp Loa in kinh Địa Tạng. Cuối đời nhà Tr
ần (1396),
Hồ Quý Ly in tiền giấy “Thông bảo hội sao” có vẽ tứ linh, sóng nước, chứng tỏ nghệ
thuật in khắc rất cao.
Đến triều Lê Sơ (1443 – 1459) có tiến sĩ Lương Nhữ Học đi sứ Trung Quốc học nghề in
khắc, khi về ông truyền lại cho dân hai làng Hồng Lục và Liễu Chàng tỉnh Hải Dương.
Năm 1598, t
ìm thấy các ván in kinh ở Hội An.
Tranh Đông Hồ, xuất phát từ thợ khắc in bùa chú, vàng mã và sau in khắc tranh dân gian
Làng Đông Hồ nằm giáp khu vực chùa Bút Tháp.
Tranh Hàng Trống, đáp ứng cho thị dân được làm trong khu vực phố Hàng Trống, Hàng
Quạt, Hàng Hòm (Hà Nội).
Tranh dân gian làng Sình huyện Phú Vang, ở ven bờ Nam, hạ lưu sông Hương thuộc tỉnh
Thừa Thiên – Huế. Đó là loại tranh thờ, cúng lễ…
So với tranh dân gian miền Bắc, tranh làng Sình có nét giống tranh thờ Hàng Trống và
khác hẳn tranh Đông Hồ thường in từ đầu đến cuối, cả nét lẫn màu đều in bằng bản khắc
gỗ, tạo cho tờ tranh có vẻ đẹp chân chất, chắc nịch và có chiều sâu của màu “thuốc cái”.
Như v
ậy có 3 loại in khắc gỗ ở Việt Nam là:
+ In bằng nhiều bản màu (tranh Đông Hồ).
+ In một bản nét, còn tô màu bằng tay (tranh Hàng Trống).
+ In đen trắng hoàn toàn (sách kinh).
Đến năm 1925, trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời, ngành hội họa ngoài các
môn lụa, sơn dầu, sơn mài, còn có khắc gỗ. Các họa sinh tùy thích chuyên ngành nào
thể theo đuổi môn mình chọn để thi cuối khóa.
Hai bức tranh khắc gỗ: “Tiếng đàn đêm trăng” và “Tiếng sáo chiều” của Nguyễn Văn
Thịnh (Del) đã chiếm giải khôi nguyên kthi tốt nghiệp trường Cao đ
ẳng Mỹ thuật Đông
Dương.
Sau đó nhóm Tinh Hoa” gồm họa sĩ Mạnh Quỳnh, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Gia Trí,
Lưu Văn Sìn, Nguyễn Văn Quế, Nguyễn Văn Tỵ vẫn theo đuổi công việc minh họa cho
sách báo bằng tranh khắc.
Đến năm 1942, nhân ngày sinh thứ 100 của thi hào Nguyễn Du, các họa sĩ trên cùng họa
sĩ Lê Văn Đệ, Tô Ngọc Vân (Tô Tử) và các họa sĩ khác đã ra tập Văn họa kỷ niệm
Nguy
ễn Du với 11 bản khắc gỗ minh họa truyện Kiều trên giấy dó.
Sau này các họa sĩ U Văn An, Phạm Văn Đôn và Tú Duyên vẫn tiếp tục thnghiệm các
sáng tác ấn mộc bản.
Giữa năm 1953, ấn mộc bản cổ truyền có một bước thay đổi được gọi là “thủ ấn họa” tr
ên
lụa mà ni sáng tạo không ai khác, đó là họa sĩ Tú Duyên.
Họa sĩ Tú Duyên nguyên là giảng viên trường Mỹ thuật Gia Định, nay đã 90 tuổi và vẫn
tiếp tục sáng tác.
Trước khi được đi tu nghiệp tại Nhật Bản, tôi có đến nhà họa Duyên nhờ hư
ớng dẫn
và triển khai kỹ thuật “thủ ấn họa” trên lụa độc đáo này để giao lưu cùng các đ
ở Hiệp hội Ấn họa Nhật Bản và Viện Mỹ thuật Tokyo vào niên khóa 1973 – 1974 và đã
được tán thưởng vô cùng.
Không có máy quay phim, nhưng tôi c
ũng cố gắng chụp bằng phim “slide” từng động tác
các công đoạn thực hiện từ A đến Z thật vất vả, nhưng vất vả nhất là họa sĩ Tú Duyên.