BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
----------***----------
LUẬN ÁN TIẾN SĨ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
CỦA VIỆT NAM
Ngành: Kinh doanh và quản lý
NGUYỄN THỊ THU TRANG HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
----------***----------
LUẬN ÁN TIẾN SĨ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
CỦA VIỆT NAM
Ngành: Kinh doanh và quản lý Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 62.34.01.02
NGUYỄN THỊ THU TRANG Người hướng dẫn khoa học
PGS,TS Bùi Ngọc Sơn PGS,TS Lê Thị Thu Thủy
HÀ NỘI – 2016
i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................ v
DANH MỤC BẢNG – BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ ............................................. vi
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................... viii
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO
TRONG DOANH NGHIỆP ......................................................................... 20
1.1 Khái quát chung về lãnh đạo trong doanh nghiệp ............................... 20
1.1.1 Khái niệm lãnh đạo ....................................................................... 20
1.1.2 Khái niệm lãnh đạo trong doanh nghiệp ..................................... 21
1.1.3 Khái niệm và vai trò nhà lãnh đạo doanh nghiệp ....................... 22
1.1.4 Lãnh đạo và quản lý ..................................................................... 28
1.2 Khái quát chung về kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp ................ 30
1.2.1 Khái niệm kỹ năng lãnh đạo ......................................................... 30
1.2.2 Phân loại kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp ........................ 31
1.3 Khái quát chung về phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp ...... 37
1.3.1 Khái niệm phát triển kỹ năng lãnh đạo ....................................... 37
1.3.2 Các kỹ năng lãnh đạo cần phát triển trong doanh nghiệp ......... 37
1.3.3 Các phương pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp
................................................................................................................. 53
1.4 Các yếu tố tác động tới phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp. 55
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 ................................................................................ 57
ii
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VIỆT NAM
......................................................................................................................... 58
2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam ........ 59
2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh ................................ 59
2.1.2 Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ............. 59
2.1.3 Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh .......................... 60
2.2 Phân tích các nội dung phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ..................................................... 62
2.2.1 Thực trạng nhận thức tầm quan trọng việc phát triển kỹ năng lãnh
đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ............ 62
2.2.2 Thực trạng tần suất sử dụng các kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ............................................... 68
2.2.3 Đánh giá thực trạng các kỹ năng lãnh đạo cần phát triển trong
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ............................. 73
2.2.4 Đánh giá các phương pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ................................... 80
2.3 Phân tích các yếu tố tác động tới phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam .......................................... 85
2.4 Phân tích hoạt động phát triển kỹ năng lãnh đạo của một số doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam tiêu biểu ............................................. 98
2.4.1 Công ty cổ phần FPT .................................................................... 99
2.4.2 Công ty cổ phần cafe Trung Nguyên ......................................... 101
2.4.3 Công ty cổ phần Kinh Đô ........................................................... 102
iii
2.5 Đánh giá chung tình hình phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ................................................... 103
2.5.1 Một số thành tựu đã đạt được trong việc phát triển kỹ năng lãnh
đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam .......... 103
2.5.2 Một số hạn chế trong việc phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ................................. 105
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển kỹ năng
lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam . 106
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 .............................................................................. 107
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO
TRONG CÁC DOANH NHGIỆP NGOÀI QUỐC DOANH CỦA VIỆT
NAM ............................................................................................................. 109
3.1 Định hướng phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh Việt Nam giai đoạn 2015-2020 .............................................. 109
3.2 Các giải pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh Việt Nam ....................................................................... 110
3.2.1 Nhận thức rõ năng lực lãnh đạo của bản thân và xây dựng, thực
hiện kế hoạch phát triển cá nhân một cách kiên định. ...................... 111
3.2.2 Rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả và lựa chọn thứ tự ưu
tiên ......................................................................................................... 113
3.2.3 Tích cực xây dựng và phát triển mối quan hệ ........................... 116
3.2.4 Hoàn thiện nhóm kỹ năng gây ảnh hưởng ................................ 120
3.2.5 Chú trọng phát triển kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi
............................................................................................................... 122
3.2.6 Tích cực trao quyền và phát triển người khác thành lãnh đạo 123
3.2.7 Đa dạng hóa các hình thức phát triển kỹ năng lãnh đạo ......... 125
iv
3.3 Một số kiến nghị .................................................................................... 128
3.3.1 Đối với Chính phủ Việt Nam ...................................................... 129
3.3.2 Đối với các Hiệp hội doanh nghiệp ............................................ 131
3.3.3 Đối với các trường đại học, cao đẳng ........................................ 133
3.3.4 Đối với các cơ sở đào tạo các chương trình phát triển kỹ năng lãnh
đạo cho doanh nghiệp .......................................................................... 133
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 ................................................................................ 135
KẾT LUẬN .................................................................................................. 136
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ ................................. 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 139
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chief Executive Officer CEO
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh DNNQD
Exploratory Factor Analysis EFA
Kaiser – Meyer-Olkin KMO
Motivation – Opportunity – Ability MOA
Statistical Product and Service Solutions SPSS
Trách nhiệm hữu hạn TNHH
Thành phố Hồ Chí Minh TP HCM
vi
DANH MỤC BẢNG – BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ
Danh mục Bảng
Bảng 1 Tổng hợp thông tin khảo sát nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài quốc
doanh của Việt Nam ........................................................................................ 13
Bảng 2 Tổng hợp thông tin khảo sát doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt
Nam ................................................................................................................. 13
Bảng 1.1: So sánh lãnh đạo và quản lý ........................................................... 29
Bảng 1.2 So sánh ảnh hưởng của nhà quản lý và nhà lãnh đạo ...................... 44
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động SXKD phân loại theo loại
hình doanh nghiệp ........................................................................................... 62
Bảng 2.4 Điểm bình quân đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển 3 nhóm
kỹ năng lãnh đạo ............................................................................................. 65
Bảng 2.5 Điểm bình quân tần suất sử dụng 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo ........... 70
Bảng 2.6 Điểm bình quân đánh giá 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo ....................... 75
Bảng 2.7 Kết quả định lượng mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và các yếu tố
ảnh hưởng ........................................................................................................ 90
Danh mục Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Nhận thức tầm quan trọng của việc phát triển các kỹ năng ....... 63
Biểu đồ 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển các kỹ năng nền tảng
......................................................................................................................... 66
Biểu đồ 2.3: Đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển các kỹ năng ảnh
hưởng ............................................................................................................... 67
Biểu đồ 2.4: Đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển .............................. 68
các kỹ năng định hướng lãnh đạo .................................................................... 68
vii
Biểu đồ 2.6: Đánh giá tần suất sử dụng các kỹ năng nền tảng ....................... 71
Biểu đồ 2.7: Đánh giá tần suất sử dụng các kỹ năng ảnh hưởng .................... 71
Biểu đồ 2.8: Đánh giá tần suất sử dụng các kỹ năng định hướng lãnh đạo .... 72
Biểu đồ 2.9: Thực trạng kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh của Việt Nam ........................................................................................ 73
Biểu đồ 2.10: Đánh giá thực trạng nhóm kỹ năng nền tảng của nhà lãnh đạo các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam .............................................. 75
Biểu đồ 2.11 : Đánh giá thực trạng nhóm kỹ năng ảnh hưởng của nhà lãnh đạo
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ........................................ 77
Biểu đồ 2.12: Đánh giá thực trạng nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo của nhà
lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam ......................... 79
Biểu đồ 2.13 Đánh giá tính hiệu quả của các loại hình đào tạo ...................... 81
Biểu đồ 2.14 Đánh giá tính hiệu quả của các phương pháp đào tạo ............... 83
Biểu đồ 3.1: Đánh giá hiệu quả hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng lãnh đạo
của các Hiệp hội, CLB .................................................................................. 132
Danh mục Hình vẽ
Hình 1.1 Mô hình kỹ năng lãnh đạo của Katz ................................................ 32
Hình 1.2 Mô hình kỹ năng lãnh đạo của Mumford và đồng nghiệp ............... 34
Hình 1.3 Mô hình phát triển kỹ năng lãnh đạo của Warren Blank ................. 36
Hình 1.4 Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động tới phát triển kỹ năng lãnh
đạo doanh nghiệp............................................................................................58
viii
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan rằng:
- Nội dung của bản luận án này chưa từng được nộp cho bất kỳ một chương
trình cấp bằng tiến sỹ nào cũng như cho bất kỳ một chương trình cấp bằng nào
khác.
- Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận án này hoàn toàn trung thực, chính
xác và có căn cứ.
- Bản luận án này là nỗ lực của cá nhân tôi, các kết quả phân tích, kết luận trong
luận án (ngoài các phần được trích dẫn) là kết quả làm việc của riêng cá nhân
tôi.
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thu Trang
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI được xem là thế kỷ của sự phát triển toàn diện về các ngành
khoa học và đặc biệt là khoa học quản lý và lãnh đạo. Lãnh đạo nói chung và
kỹ năng lãnh đạo nói riêng từ lâu đã trở thành những đề tài nóng hổi, thu hút sự
quan tâm không chỉ của các học giả, các nhà nghiên cứu, mà còn thu hút được
sự quan tâm của nhà lãnh đạo các doanh nghiệp. Ngay từ những nghiên cứu
của Argyris (1995), Mahoney và các cộng sự (1960) là những học thuyết đầu
tiên có tính khoa học về hoạt động lãnh đạo trong doanh nghiệp cho đến những
học thuyết lãnh đạo của các học giả đương đại như Drucker, Blanchards, Kotler
hay Goleman…đều chỉ ra rằng hoạt động lãnh đạo có ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động hay sự thành bại của các tổ chức, doanh nghiệp. Những nghiên cứu
ban đầu về hoạt động lãnh đạo đã chứng minh hoạt động lãnh đạo lệ thuộc vào
đặc điểm, tính cách của người lãnh đạo (Argyris, 1955, Mahoney và các cộng
sự, 1960). Hay nói cách khác, hoạt động lãnh đạo trong doanh nghiệp được
hiểu là sự tác động ảnh hưởng của người lãnh đạo tới nhân viên để người cấp
dưới thực hiện những yêu cầu đặt ra, thì hoạt động lãnh đạo như thế nào, cách
thức tác động như thế nào là do tính cách, đặc điểm của người lãnh đạo. Tương
tự, theo học giả Bennis (1998), lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng mang tính
xã hội nhằm tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới trong việc thực thi
mục tiêu, sứ mệnh. Chính vì vậy, có thể nói rằng các tổ chức, doanh nghiệp sẽ
không thể thành công nếu không có nhà lãnh đạo thực thụ. Để tạo ra một đội
ngũ lãnh đạo mạnh trong doanh nghiệp, việc chú trọng phát triển các kỹ năng
lãnh đạo là việc làm tất yếu và hướng tới phát triển bền vững. Phát triển kỹ
năng lãnh đạo là nhiệm vụ quan trọng trong doanh nghiệp nhưng phát triển kỹ
năng gì, phát triển thông qua phương pháp nào, phát triển cho đối tượng lãnh
2
đạo nào trong doanh nghiệp thực sự vẫn chưa có nhiều những nghiên cứu lý
luận và thực tiễn về nội dung này.
Trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế xã hội của Việt
Nam, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh (private sector) đóng vai trò
quan trọng vì đây là khu vực chiếm số lượng lớn và năng động, tận dụng được
những nguồn lực trong nước. Có thể nói, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc
doanh luôn được coi là bộ phận quyết định đến năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, khu vực ngoài quốc doanh đang
bộc lộ những hạn chế, trong đó có năng lực lãnh đạo doanh nghiệp. Trong
những năm đầu đổi mới, việc quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có
thể dựa trên năng lực kỹ thuật của nhà lãnh đạo thì hiện nay, để hội nhập thành
công đòi hỏi các lãnh đạo doanh nghiệp phải có năng lực và kỹ năng lãnh đạo
ngày càng tốt. Khi nước ta càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh dài hạn, hướng tới khai thác lợi
thế cốt lõi của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh dài hạn này phụ thuộc vào
kỹ năng lãnh đạo, đặc biệt là tầm nhìn của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Và
việc nghiên cứu về phát triển kỹ năng lãnh đạo tại các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh của Việt Nam là vô cùng cần thiết bởi:
Thứ nhất, luận án chỉ nghiên cứu tới khối doanh nghiệp này vì trong bối
cảnh khủng hoảng, trong thời kỳ hội nhập sâu rộng, bản lĩnh doanh nhân cũng
như chất lượng lãnh đạo doanh nghiệp trong đối tượng này được bộc lộ rõ nhất.
Còn đối với doanh nghiệp nhà nước, đôi khi quá trình ra quyết định của họ bị
chi phối bởi nhiều yếu tố. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, vai
trò của người lãnh đạo doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ
hết. Bởi vậy, không ngừng phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh là một đòi hỏi cần thiết, một tất yếu khách quan đối với các
nhà lãnh đạo doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói
riêng.
3
Thứ hai, phát triển kỹ năng lãnh đạo trong bối cảnh hiện nay sẽ càng phải
được coi trọng bởi doanh nghiệp chỉ có được đội ngũ nhân sự chất lượng khi
lãnh đạo doanh nghiệp chú trọng kỹ năng lãnh đạo. Và kỹ năng lãnh đạo ở đây
không đơn giản chỉ là được cấp dưới quý mến mà là việc thực hiện đồng bộ các
nhóm kỹ năng cần thiết, từ nhóm kỹ năng nền tảng đến ảnh hưởng và định
hướng lãnh đạo trong doanh nghiệp.
Thứ ba, người lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò then chốt trong việc xây
dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp. Vì vậy, việc chú trọng phát triển các
kỹ năng lãnh đạo của mình sẽ giúp các nhà lãnh đạo tạo dựng nền tảng, hình
thành và nuôi dưỡng một môi trường văn hóa mạnh.
Thứ tư, với những quy định mới của Luật doanh nghiệp năm 2015, sự
xuất hiện của rất rất nhiều các doanh nghiệp có quy mô khác nhau trên mọi lĩnh
vực của nền kinh tế tham gia vào thị trường làm cho số lượng đối thủ cạnh tranh
ngày càng tăng lên. Bên cạnh sự gia tăng về mặt số lượng, còn có cả sự tăng
lên về mặt chất lượng của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, càng ngày họ càng
nhận thức được sự cần thiết phải nâng cao kiến thức nói chung, hoàn thiện kỹ
năng lãnh đạo nói riêng. Vì vậy, bất cứ một nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài
quốc doanh Việt Nam nào cũng phải không ngừng tự trau dồi và phát triển kỹ
năng lãnh đạo của chính mình để có thể chèo lái con thuyền doanh nghiệp và
đảm bảo cho sự phát triển bền vững trên thị trường. Trong thời kỳ hội nhập
này, sự tụt hậu về kiến thức là rào cản lớn cho bất kỳ cá nhân nào, đặc biệt là
những nhà lãnh đạo. E ngại đổi mới sẽ khiến họ trở nên bảo thủ, dẫn đến phản
ứng gay gắt khi nhận sự phản biện từ những luồng tư tưởng mới và tiến bộ hơn.
Để cạnh tranh được với đối thủ, phát triển kỹ năng là hướng đi an toàn và vững
chắc nhất đối với các nhà lãnh đạo. Kinh nghiệm đi cùng kiến thức mới, kỹ
năng mới được bổ sung sẽ là chìa khóa giúp các nhà lãnh đạo thực hiện tốt chức
năng của mình.
Bởi vậy phát triển kỹ năng lãnh đạo cho lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Chính vì lẽ đó, tiến hành đi
4
sâu nghiên cứu kỹ năng lãnh đạo nhằm làm sáng tỏ bản chất của kỹ năng lãnh
đạo cũng như tìm tòi cách thức để phát triển kỹ năng lãnh đạo là một việc làm
cấp thiết. Đó là lý do để nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Phát triển kỹ năng
lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam” làm chủ
đề nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Lãnh đạo và phát triển kỹ năng lãnh đạo là một chủ đề khá quen thuộc
đối với các học giả ở các nước phát triển. Đã có nhiều ấn phẩm, nhiều công
trình, đề tài đi sâu vào nghiên cứu các nội dung cụ thể của lãnh đạo, kỹ năng
lãnh đạo và phát triển kỹ năng lãnh đạo.
Trước tiên là những nghiên cứu khám phá về yếu tố lãnh đạo trong doanh
nghiệp. Một trong những nghiên cứu đầu tiên về lãnh đạo tập trung vào việc
xác định các đặc điểm tính cách mà các nhà lãnh đạo đặc trưng thành công là
của Argyris (1995);Mahoney và cộng sự (1960). Lý thuyết đặc điểm cho rằng
các nhà lãnh đạo thành công là “thiên bẩm” và rằng họ có những phẩm chất
bẩm sinh hình thành nên những phong cách khác biệt mà có thể phân biệt chúng
với các nhà lãnh đạo không thành công (Stodgill,1948). Tuy nhiên, khó khăn
trong việc phân loại và xác thực những đặc điểm này dẫn đến sự chỉ trích rộng
rãi của phương pháp đặc điểm, báo hiệu sự xuất hiện của phương pháp tiếp cận
“phong cách” và “hành vi” để lãnh đạo (Stodgill, 1948). Các nghiên cứu ban
đầu tập trung vào việc xác định “một nhà lãnh đạo tốt nhất”. Những nghiên cứu
tiếp theo của Gary Yukl (2006) trong cuốn “Leadership In Organizations”,
Prentice Hall và Afsaneh Nahavandi (2007), “The Art & Science Of
Leadership”, Prentice Hall đều đề cập đến những nội dung cơ bản của khoa học
lãnh đạo. Ở đó, các nội dung cụ thể như bản chất của lãnh đạo, các học thuyết
về lãnh đạo, các tố chất cần có của một nhà lãnh đạo, phong cách lãnh đạo, lãnh
đạo hiệu quả, lãnh đạo trong môi trường đa văn hóa đều được trình bày cụ thể
5
và sâu sắc. Với Mark Anderson (2010) - Hiệu trưởng trường Đại học Chiến
lược & Phát triển Kinh doanh Quốc tế Pearson, ông đã đưa ra 10 thách thức lớn
nhất mà các nhà lãnh đạo phải đối mặt hàng ngày và cho thấy làm thế nào để
tối đa hóa hiệu quả công việc của các nhà lãnh đạo và doanh nghiệp của họ
trong mỗi thách thức này trong nghiên cứu của mình mang tên “The Leadership
Book”. Mỗi chương trong cuốn sách luôn đưa ra chính xác những gì vấn đề,
thách thức doanh nghiệp phải đối mặt, một bản tóm tắt các biện pháp lãnh đạo
hiệu quả, công cụ cần thiết để giải quyết. Bên cạnh đó, một học giả của Nhật
Bản là Noriyuki Sasaki (2010) với nghiên cứu “Introduce to Manager” đã tổng
hợp các vấn đề mà một nhân viên muốn trở thành nhà quản lý phải trang bị cho
mình như các kiến thức cơ bản, vai trò, kỹ năng cũng như chuẩn bị về mặt tinh
thần. Cuốn sách này có thể sử dụng cho một người vừa trở thành nhà quản lý
mới có nhân viên dưới quyền, cũng như có thể dùng cho các nhà quản lý cấp
trung giàu kinh nghiệm như một cơ hội tốt để nhìn lại cách quản lý của mình.
Đối với những nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo đã có nhiều học giả đưa
ra các mô hình với các phương thức tiếp cận khác nhau. Theo Katz (1955) thì
một nhà lãnh đạo giỏi cần có ba kỹ năng cơ bản: kỹ năng kỹ thuật (technical
skill), kỹ năng nhân sự (human skill) và kỹ năng tư duy tổng thể (conceptual
skill). Hay Benjamin Bloom (1956) được coi là người đưa ra những phát triển
bước đầu về mô hình ASK, ở đây kỹ năng lãnh đạo là một phần cần phát triển
trong nhóm năng lực chính của nhà lãnh đạo bên cạnh yếu tố thái độ và kiến
thức. Đến thế kỷ 20, Mumford và đồng nghiệp đưa ra một mô hình dựa trên các
kỹ năng cần có của một nhà lãnh đạo như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng
tư duy tích cực, kỹ năng tạo động lực....ngoài ra mô hình còn đưa yếu tố ảnh
hưởng tới các kỹ năng này là kinh nghiệm nghề nghiệp và các ảnh hưởng của
môi trường. Một nghiên cứu khác rất chi tiết về kỹ năng lãnh đạo đó là nghiên
cứu của Warren Blank (2007), ông đã đưa ra 108 kỹ năng của một nhà lãnh
đạo. Những kỹ năng này được chia thành ba nhóm kỹ năng, từ những kỹ năng
cơ sở như nhận thức về bản thân đến những kỹ năng định hướng như khả năng
6
thiết lập đường lối hành động và phát triển người khác thành lãnh đạo, hay
nhóm kỹ năng thu hút sự ủng hộ tự nguyện.
Một số nghiên cứu khác làm rõ mức độ ảnh hưởng của kỹ năng lãnh đạo, phong
cách lãnh đạo tới phát triển văn hóa doanh nghiệp (xem Bycio và cộng sự, 1995;
Howell and Avolio, 1993) và mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và kết quả hoạt
động (xem Deal and Kennedy, 1982; Denison, 1990; Ouchi, 1982; Pascale and
Athos, 1981; Peters and Waterman, 1982; Kotter and Heskett, 1992). Đồng
thời, họ xem xét nhiều khía cạnh của văn hóa tổ chức ảnh hưởng trở lại vai trò
của các nhà lãnh đạo trong việc “tạo lập” và “duy trì” các kiểu khác biệt của
văn hóa (Schein, 1992; Siehl, 1985). Tương tự, nhiều tài liệu nghiên cứu về
lãnh đạo và phong cách lãnh đạo cho thấy rằng khả năng hiểu và làm việc trong
một nền tảng văn hóa nhất định là một điều kiện tiên quyết để lãnh đạo hiệu
quả (Hennessey, 1998). Nghiên cứu của Tiến sỹ Emmanuel Ogbonna, trường
Kinh doanh Cardiff, Đại học Wales, Collum Drivet và Tiến sỹ Lloyd Harris C.,
trường Kinh tế Cardiff (2000) về mối liên quan giữa Kỹ năng lãnh đạo với Hiệu
quả công việc cũng là một trong những công trình nghiên cứu công phu cung
cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng và có ý nghĩa, khẳng định mối quan
hệ hữu cơ giữa các phong cách lãnh đạo, các loại hình văn hóa và hiệu suất,
thông qua việc nghiên cứu thực nghiệm ở các tổ chức, doanh nghiệp trong nước
Anh. Kết quả của nghiên cứu cho thấy phong cách lãnh đạo tác động trực tiếp
đến văn hóa tổ chức nhưng không ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả công việc,
nhưng những đặc điểm văn hóa cạnh tranh và sáng tạo lại liên quan trực tiếp
tới hiệu quả.
Nghiên cứu về phát triển kỹ năng lãnh đạo có John C. Maxwell, là một
chuyên gia quốc tế về lãnh đạo, một nhà hùng biện, và là tác giả của hơn 40
đầu sách nổi tiếng. Trong cuốn “ Phát triển kỹ năng lãnh đạo” (Developing the
Leader Within You) của mình, John đưa ra quan điểm “chìa khoá để thành công
đó là khả năng lãnh đạo người khác đi tới thành công”, trong đó giới thiệu 5
cấp độ lãnh đạo bao gồm:
7
Chức vị (Mọi người đi theo bạn vì họ buộc phải theo)
Sự chấp thuận (Mọi người theo bạn vì họ muốn vậy)
Định hướng kết quả (Mọi người theo bạn vì những gì bạn đã làm cho tổ chức)
Phát triển con người (Mọi người đi theo bạn vì những gì bạn làm cho họ)
Cá nhân (Mọi người đi theo bạn vì bạn là ai và bạn đại diện cho điều gì)
Nếu nhà lãnh đạo phát triển thành công ở mỗi cấp độ trên với mọi người
thì họ sẽ chấp nhận và thậm chí mong muốn người lãnh đạo tiếp tục tạo ra
những thay đổi cần thiết. Để từ đó nhà lãnh đạo có thể thay đổi vị trí của mình
trong con mắt mọi người. Với ông, thành tố quan trọng nhất trong kỹ năng lãnh
đạo là tính nhất quán, sự sát hạch khắt khe với nhà lãnh đạo là tạo ra sự thay
đổi tích cực; con đường hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo nhanh nhất là giải quyết
vấn đề.
Tiếp nối các nghiên cứu trên, Warren Bennis là bậc thầy về đề tài “lãnh đạo
trong kinh doanh” đã cho ra đời nhiều đầu sách kinh điển. Cuốn “On Becoming
a Leader” của ông được đánh giá cao trong việc phát triển bản thân trở thành
một nhà lãnh đạo giỏi. Bennis hướng dẫn người đọc cách thức bồi dưỡng tố
chất lãnh đạo bên trong mình để giải bài toán hóc búa mang tên “sự khan hiếm
các nhà lãnh đạo hiệu quả” và qua đó, xóa bỏ “căn bệnh xã hội” xuất phát từ
lối tư duy thiển cận và thiếu khả năng tự nhận thức bản thân.
Nói tóm lại, nội dung của những nghiên cứu này đề cập chủ yếu tới những
vấn đề cơ bản của lãnh đạo và nêu bật được các kỹ năng cần thiết của một người
lãnh đạo trong doanh nghiệp qua các cách tiếp cận khác nhau còn về việc phát
triển những kỹ năng đó như thế nào chưa được đề cập sâu và có hệ thống.
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nếu như ở nước ngoài, các nghiên cứu về lãnh đạo, kỹ năng lãnh đạo vô
cùng đa dạng với các cách tiếp cận khác nhau thì ở Việt Nam hiện có không
nhiều nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo và đặc biệt là phát triển kỹ năng lãnh đạo
trong doanh nghiệp mà thường nghiên cứu về năng lực lãnh đạo nhiều hơn. Tác
8
giả đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài của luận án
như sau:
Nghiên cứu, đánh giá về đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp có các luận án
tiến sỹ như Trần Văn Đẩu (2010), với đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ Giám đốc doanh nhiệp nhà nước-khảo sát nghiên cứu ở tỉnh Nam
Định” chủ yếu nghiên cứu vai trò người giám đốc trong phạm vi khối doanh
nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam Định, chưa đề cập đến kỹ năng của đội
ngũ lãnh đạo, hay việc phát triển các kỹ năng thiết yếu lãnh đạo một doanh
nghiệp nhà nước. Hay công trình nghiên cứu “Đánh giá năng lực giám đốc điều
hành qua mô hình ASK”, chuyên san Kinh tế, kinh doanh-tạp chí Khoa học Đại
học quốc gia Hà Nội của Lê Quân (4/2011), đã ứng dụng mô hình năng lực
ASK để đánh giá năng lực quản lý điều hành chung của đội ngũ giám đốc điều
hành, nhưng vẫn không đi sâu vào kỹ năng lãnh đạo. Công trình đã đưa ra kết
luận nhất định về thực trạng năng lực giám đốc điều hành Việt Nam.
Nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo là một phần cấu thành năng lực lãnh
đạo (thái độ, kiến thức và kỹ năng) là đề tài được tìm hiểu khá nhiều tại Việt
Nam. Chọn đối tượng nghiên cứu là các CEO của Việt Nam có một số nghiên
cứu như đề tài cấp Bộ của Trần Thị Vân Hoa (2011), ”Nâng cao năng lực lãnh
đạo của các giám đốc điều hành doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế”, đã có đóng góp trong việc nhận diện khung năng lực,
xác định khoảng cách ”có” và ”cần” về năng lực lãnh đạo của CEO Việt Nam.
Dựa trên cơ sở lý thuyết của mô hình ASK, đề tài đã phác thảo những tố chất,
kiến thức và kỹ năng lãnh đạo cần có của CEO Việt Nam. Ở đây tác giả đã lựa
chọn các tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo bao hàm cả kiến thức, kỹ năng và
tố chất lãnh đạo tuy nhiên các kỹ năng lãnh đạo trong nghiên cứu có đôi chỗ
không tách bạch được với kỹ năng quản trị. Luận án tiến sỹ của Trần Thị
Phương Hiền (2014) cũng đi sâu nghiên cứu nội dung này và đã có được những
điểm mới trong nghiên cứu “Năng lực lãnh đạo của đội ngũ CEO Việt Nam
(Khảo sát nghiên cứu ở Hà Nội)”. Về mặt học thuật, lý luận: thông qua phân
9
tích so sánh các quan điểm về “năng lực”, luận án đã luận giải sự khác biệt giữa
các thuật ngữ “năng lực” được sử dụng trên thế giới. Luận án cũng đã tổng hợp
các quan điểm phân biệt quản trị và lãnh đạo, đúc kết vai trò của năng lực lãnh
đạo đối với cương vị quản trị, điều hành nhằm giúp các nhà quản trị điều hành
Việt Nam tránh nhầm lẫn và đánh đồng hoạt động quản trị và lãnh đạo là một
để có thể lãnh đạo doanh nghiệp hiệu quả hơn. Luận án đã kết hợp các lý thuyết
về mô hình năng lực cá nhân, năng lực lãnh đạo, các lý thuyết về lãnh đạo để
xây dựng và kiểm định mô hình phân tích ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành
năng lực lãnh đạo của CEO tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Về thực
tiễn: kết quả nghiên cứu cho thấy các tố chất và hành động lãnh đạo của đội
ngũ CEO Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu và mong đợi của thuộc cấp. Tuy vậy,
kết quả cũng cho thấy “các bên” đều có “tiếng nói chung” khi đánh giá tầm
quan trọng của tố chất lãnh đạo và hành động lãnh đạo tới năng lực lãnh đạo
của đội ngũ CEO Việt Nam.
Chủ thể nghiên cứu là năng lực lãnh đạo trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ có
luận án Tiến sỹ kinh tế của Đặng Ngọc Sự (2012), với đề tài “Năng lực lãnh
đạo – nghiên cứu tình huống của lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt
Nam”, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương: luận án tập trung vào
phân tích năng lực lãnh đạo của lãnh đạo các DN vừa và nhỏ tại Việt Nam trên
cơ sở hệ thống hóa các quan điểm, bản chất của năng lực lãnh đạo. Luận án làm
rõ mối quan hệ thực tại giữa năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Làm rõ mối quan hệ nội tại giữa các bộ phận cấu
thành của năng lực lãnh đạo. Tác giả luận án đã rất công phu điều tra khảo sát,
phỏng vấn thu thập thông tin và đã chạy mô hình SPSS để có được những kết
quả mang độ tin cậy cao về mối việc đánh giá năng lực lãnh đạo. Trên cơ sở
đó, luận án đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, phát triển năng lực
lãnh đạo của các lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam thông qua
việc sử dụng mô hình GAP và DECIDE. Luận án tiến sỹ của Mai Tiến Dũng
(2013) về “ Năng lực lãnh đạo của cán bộ khu vực công – nghiên cứu trường
10
hợp tỉnh Hà Nam” cho thấy tác giả đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận liên
quan đến phát triển lãnh đạo khu vực công và xây dựng khung năng lực lãnh
đạo khu vực công. Đặc biệt, tác giả đã xây dựng được 3 khung năng lực cho 3
vị trí: lãnh đạo cấp Sở, lãnh đạo cấp Huyện và lãnh đạo cấp Phòng tại tỉnh Hà
Nam. Khung năng lực được xây dựng trên cơ sở tổng hợp kết quả điều tra bằng
bảng hỏi, kết hợp với kết quả tổng hợp từ các cuộc phỏng vấn sâu để đảm bảo
tính tin cậy từ các thông tin thu thập được. Những khung năng lực được xây
dựng trong luận án nghiên cứu này sẽ được tác giả sử dụng để đưa vào phiếu
điều tra đánh giá thực trạng năng lực của cán bộ lãnh đạo cấp Sở, cấp Huyện
và lãnh đạo cấp Phòng tại tỉnh Hà Nam, từ đó xác định được khoảng cách
(GAP) giữa năng lực kỳ vọng và nă ng lực thực tế, làm cơ sở cho việc đề xuất
các giải pháp nâng cao năng lực cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh Hà Nam.
Không chỉ nghiên cứu về lãnh đạo, năng lực lãnh đạo mà còn có những
nghiên cứu tìm tòi về mối quan hệ giữa lãnh đạo với các yếu tố khác trong
doanh nghiệp. Tiêu biểu có luận án tiến sỹ của Ao Thu Hoài (2012) phân tích
“Mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và hành vi nhân viên: kiểm chứng tại
các doanh nghiệp bưu chính Việt Nam”. Luận án tập trung vào việc nghiên cứu
các học thuyết về lãnh đạo và phong cách lãnh đạo nhằm thích hợp với môi
trường doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, nghiên cứu lý thuyết về hành vi nhân
viên trong tổ chức. Trên cơ sở đó, luận án đã nghiên cứu mối quan hệ giữa
phong cách lãnh đạo với hành vi của nhân viên trong doanh nghiệp. Khám phá
những tác động, ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực từ phong cách lãnh đạo tới
hành vi của nhân viên. Đặc biệt luận án kiểm định mối quan hệ và tác động từ
phong cách lãnh đạo tới hành vi của nhân viên trong các doanh nghiệp Bưu
chính Việt Nam thông qua bảng khảo sát, điều tra, phỏng vấn. Sau khi kiểm
định và cho ra kết quả, căn cứ vào những kết quả đó luận án đã phân tích, đánh
giá và đề xuất phong cách lãnh đạo phù hợp với các doanh nghiệp bưu chính
Việt Nam.
11
Một nghiên cứu khác khá gần gũi với đề tài của luận án này đó là báo
cáo của Phùng Xuân Nhạ và cộng sự, (2012) về “Kết quả khảo sát lãnh đạo
doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam”, đã đưa ra bức tranh tổng quát về
năng lực điều hành doanh nghiệp của các lãnh đạo doanh nghiệp ngoài quốc
doanh Việt Nam có những ưu điểm nhất định như sự quyết đoán, lạc quan về
tương lai, có khả năng tạo dựng quan hệ… song bên cạnh đó còn nhiều “lỗ
hổng” như kỹ năng quản trị con người yếu, kỹ năng dự báo kém…Tuy nhiên,
kết quả của báo cáo còn chung chung, dàn trải và cũng cho thấy việc phát triển
các kỹ năng lãnh đạo của các nhà lãnh đạo chưa được nghiên cứu sâu.
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, qua các công trình nghiên
cứu kể trên phần lớn nghiên cứu về năng lực lãnh đạo, phong cách lãnh
đạo…chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về lý thuyết và thực tiễn việc
phát triển kỹ năng lãnh đạo, có thể thấy đề tài luận án “Phát triển kỹ năng lãnh
đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam” không trùng với
bất kỳ đề tài nào đã được công bố.
Khoảng trống cần nghiên cứu mà luận án hướng tới đó chính là đi tìm
hiểu những kỹ năng lãnh đạo nào cần phát triển trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh của Việt Nam, những phương pháp nào để hoàn thiện, và những
yếu tố nào ảnh hưởng tới việc phát triển những kỹ năng này cho các nhà lãnh
đạo doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp khái quát hóa
vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp
phân tích, tổng hợp (phân tích mô tả - Descriptive Analysis) để rút ra các kết
luận có tính định tính, đối chiếu – so sánh, diễn giải – quy nạp, khảo sát thực
tế, phương pháp định lượng..v..v Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng phương
pháp nghiên cứu tình huống phát triển kỹ năng lãnh đạo của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh Việt Nam thành công.
12
Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng chủ yếu ở chương 1, 2
và chương 3 với mục đích làm rõ các vấn đề liên quan tới cơ sở khoa học về
phát triển kỹ năng lãnh đạo và đề xuất giải pháp một cách đồng bộ và khả thi.
Phương pháp đối chiếu – so sánh và khảo sát thực tế chủ yếu được sử
dụng ở chương 2 nhằm làm rõ các vấn đề về thực trạng và đưa ra nhận xét một
cách cụ thể đối với việc phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh của Việt Nam là tiền đề để đưa ra các giải pháp ở chương 3
của luận án.
Phương pháp nghiên cứu tình huống và phỏng vấn được sử dụng để phân
tích một số doanh nghiệp đã thực hiện tốt công tác phát triển kỹ năng lãnh đạo.
Phương pháp điều tra xã hội học và định lượng được sử dụng ở chương
2 của luận án, các thông tin về mẫu khảo sát được diễn giải cụ thể như sau:
a) Cỡ mẫu điều tra
Theo công thức tính về cỡ mẫu và sai số cho phép tại bảng PL2.10 Phụ
lục số 10, tác giả chấp nhận mức sai số ±5%, chính vì vậy, tác giả dự kiến kết
quả phiếu thu về từ hoạt động điều tra là trên 384 cá thể mẫu. Bên cạnh đó, do
điều kiện về kinh phí và thời gian thực hiện luận án nên tác giả lựa chọn địa
bàn để tiến hành khảo sát là tại 2 thành phố lớn (Hà Nội, TP HCM) và được
tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 2-6/2015.
Trong quá trình phát phiếu điều tra, tác giả đã thu được kết quả phản hồi
của 392 nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam.
b) Đối tượng lấy mẫu khảo sát
Việc khảo sát được tiến hành với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cấp cao
và cấp trung - những người có chức vị, giữ vai trò chủ chốt trong công ty, có
khả năng đưa ra các quyết định có ảnh hưởng lớn đến công ty hay đó là những
nhà lãnh đạo cấp cao và cấp trung. Những người này có cấp dưới, có nhân viên
dưới quyền, họ thường xuyên phải đối mặt, tiếp xúc và dẫn dắt những người
cấp dưới này, nghĩa là hàng ngày họ đang làm công việc của một nhà lãnh đạo.
13
Tóm tắt thông tin về đối tượng khảo sát:
- Tổng hợp thông tin nhà lãnh đạo
Bảng 1 Tổng hợp thông tin khảo sát nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài
quốc doanh của Việt Nam
Giới tính
Nam 62,3%
Nữ 37,7%
Chức danh nhà lãnh đạo
Chủ tịch HĐQT 26,2%
Tổng GĐ, GĐ công ty 32,7%
Phó TGĐ, GĐ chi nhánh 23,4%
Khác 17,7%
Số năm kinh nghiệm của nhà lãnh đạo
Dưới 3 năm 14,1%
Từ 3-5 năm 30,8%
Từ 6-10 năm 30,5%
Trên 10 năm 24,6%
Trình độ học vấn cao nhất của nhà lãnh đạo
Trung cấp, cao đẳng 7%
Đại học 70,6%
Sau đại học 22,4%
(Nguồn: Tổng hợp từ khảo sát – Phụ lục 02, 2015)
- Tổng hợp thông tin về doanh nghiệp khảo sát
Bảng 2 Tổng hợp thông tin khảo sát doanh nghiệp ngoài quốc doanh của
Việt Nam
Cơ cấu loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên 28,8%
Công ty TNHH 1 thành viên 18,3%
Công ty cổ phần 46,3%
14
Công ty hợp danh và DNTN 6,6%
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp
37,5% Cung ứng dịch vụ
16,2% Sản xuất
37,5% Thương mại
21,3% Khác
Quy mô nhân sự của doanh nghiệp
30,7% Dưới 50 người
48,5% 51 – 100 người
15,3% 101 - 500
5,5% 501 - 1000
Quy mô doanh thu của doanh nghiệp trong 3 năm qua
33,7% Dưới 10 tỷ
43,9% 10 – 100 tỷ
17,8% 100- 500 tỷ
4,6% 500 – 1000 tỷ
(Nguồn: Tổng hợp từ khảo sát – Phụ lục 02, 2015)
c) Ưu điểm và nhược điểm của mẫu điều tra
- Về ưu điểm:
Quy mô mẫu điều tra thu về lớn hơn mức mẫu cần thiết theo lý thuyết
yêu cầu: chỉ cần tổng số phiếu là 384 trong khi thu về được 392 phiếu.
Kết quả các phiếu trả lời có tính tin cậy cao do sử dụng phương pháp lấy
mẫu là phát và thu trực tiếp từ những nhà lãnh đạo trực tiếp của doanh nghiệp,
trong đó có nhiều phiếu có dấu đỏ xác nhận từ các doanh nghiệp.
15
Mức độ thông tin trong phiếu khảo sát được trả lời một cách đầy đủ, điều
này phản ánh mức độ quan tâm và thái độ hợp tác của đối tượng được khảo sát.
Phạm vi điều tra tại 2 thành phố lớn, nơi có quy mô và tốc độ phát triển
kinh tế cao, số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lớn nên việc lựa chọn
địa bàn khảo sát này là hoàn toàn phù hợp.
- Nhược điểm của mẫu điều tra: nếu quy mô mẫu lớn hơn nữa thì mức độ sai
số sẽ nhỏ hơn và độ chính xác sẽ cao hơn.
d) Giải thích về câu hỏi điều tra
Tác giả sử dụng các loại câu hỏi quen thuộc trong quá trình điều tra, các
câu hỏi chủ yếu ở dạng lựa chọn, đánh giá theo thang đo có sẵn (từ 1 đến 5
điểm) và lựa chọn thứ tự ưu tiên.
e) Giải thích về độ tin cậy của mẫu điều tra
Về mặt thông tin của các đối tượng điều tra đảm bảo được tính chính xác
cao. Tất cả các phiếu điều tra đều đầy đủ thông tin về người điền phiếu, thông
tin về doanh nghiệp và các thông tin trả lời câu hỏi khảo sát và nhiều phiếu
được xác nhận bằng dấu đỏ.
Về độ tin cậy của mẫu điều tra: để đo tin cậy của mẫu điều tra, tác giả sử
dụng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm mục đích kiểm chứng độ đồng nhất giữa
những đối tượng đo và những lần đo khác nhau. Việc sử dụng hệ số Cronbach’s
Alpha nhằm mục đích đo độ tin cậy của các câu hỏi định lượng với các mẫu
điều tra đối với nhà lãnh đạo doanh nghiệp.
Với phần điều tra đánh giá kỹ năng lãnh đạo và phân tích các yếu tố ảnh hưởng,
kết quả của hệ số Cronbach’s Alpha cho 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo và nhóm kỹ
năng tổng hợp là:
- Nhóm kỹ năng nền tảng: 0,840
- Nhóm kỹ năng ảnh hưởng: 0,796
- Nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo: 0,799
- Nhóm kỹ năng tổng hợp: 0,916
16
Kết quả của hệ số Cronbach’s Alpha với câu hỏi định lượng trên cho thấy
độ tin cậy của kết quả điều tra là rất cao, lớn hơn mức chấp nhận thông thường
là 0,7. Điều này thể hiện các kết quả thu được từ phiếu điều tra là đáng tin cậy
và có ý nghĩa thống kê.
f) Giải thích về phương pháp định lượng
Trong quá trình sử dụng phương pháp điều tra xã hội học đối với vấn đề
về phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam, tác giả quan tâm tới mối quan hệ giữa các nhóm kỹ năng lãnh đạo cần
phát triển và các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển những nhóm kỹ năng này
như Động lực phát triển (M) – Cơ hội phát triển (O)- Khă năng phát triển (A).
Việc tìm ra câu trả lời này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà lãnh đạo trong
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong việc hoàn thiện và phát triển các kỹ
năng lãnh đạo của mình.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài trong giai đoạn phát triển của Việt
Nam hiện nay, cùng với việc xem xét tổng quan những nghiên cứu khoa học về
phát triển kỹ năng lãnh đạo của các học giả, các nhà nghiên cứu trên thế giới
và Việt Nam, tác giả xác định mục đích nghiên cứu của luận án là Làm rõ khung
cơ sở lý luận, đề xuất các giải pháp phát triển các kỹ năng lãnh đạo trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực trạng
và khảo sát, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kỹ năng lãnh đạo.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận các vấn đề về lãnh đạo, kỹ năng
lãnh đạo và phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp.
17
Thứ hai, luận án đưa ra khái niệm, vai trò và những điểm đặc trưng của
doanh nghiệp ngoài quốc doanh so với các loại hình doanh nghiệp khác. Trên
cơ sở đó, tìm ra các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp và mức độ
ảnh hưởng của các yếu tố đến việc phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam. Trên cơ sở các dữ liệu sơ cấp thu được
từ việc điều tra khảo sát về phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh Việt Nam cùng với các dữ liệu thứ cấp ở trong và ngoài nước
có liên quan, luận án sẽ làm rõ thực trạng việc phát triển các nhóm kỹ năng lãnh
đạo của các nhà lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.
Thứ ba, trên cơ sở phân tích, đánh giá các ưu điểm và hạn chế trong việc
phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt
Nam hiện nay cũng như xu hướng phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh
nghiệp, luận án đưa ra một số giải pháp và kiến nghị cho việc phát triển các
nhóm kỹ năng lãnh đạo cho các nhà lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh của Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là việc phát triển kỹ năng lãnh
đạo của các nhà lãnh đạo cấp cao và cấp trung trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh của Việt Nam. (Tác giả lựa chọn đối tượng khảo sát này bởi đây là
cấp lãnh đạo có nhiều điều kiện và cơ hội để thực hành, để phát triển các kỹ
năng lãnh đạo của mình, đặc biệt là các kỹ năng thuộc nhóm định hướng lãnh
đạo).
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào việc
phân tích vấn đề về cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp phát triển kỹ năng
lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam.
18
- Về mặt không gian: Ngoài việc nghiên cứu vấn đề về phát triển kỹ năng
lãnh đạo trong các DNNQD tại Việt Nam (chủ yếu ở 2 thành phố lớn là Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh), luận án nghiên cứu những thành công trong việc
phát triển kỹ năng lãnh đạo của một số doanh nghiệp tiêu biểu và đề xuất giải
pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các DNNQD của Việt Nam.
- Về thời gian: Khi đánh giá thực trạng phát triển kỹ năng lãnh đạo trong
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Việt Nam, luận án thực hiện điều tra,
khảo sát, phỏng vấn các doanh nhân trong khoảng thời gian từ tháng 2/2015
đến tháng 6/2015.
6. Những đóng góp mới của luận án
Về mặt khoa học
- Luận án đã tổng kết một cách có hệ thống các học thuyết về “lãnh đạo”,
“kỹ năng lãnh đạo” và “phát triển kỹ năng lãnh đạo” của các học giả qua các
giai đoạn khác nhau.
- Luận án đã đưa ra được các phương pháp phát triển các nhóm kỹ năng
lãnh đạo cơ bản cần phát triển trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phù
hợp với mục tiêu nghiên cứu và có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kỹ
năng lãnh đạo tại Việt Nam.
- Luận án đưa ra được những điểm mạnh và điểm còn hạn chế cũng như
nguyên nhân của các hạn chế trong công tác lãnh đạo và phát triển kỹ năng lãnh
đạo. Ngoài ra, tiến hành tổng hợp và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc
phát triển các kỹ năng lãnh đạo của người lãnh đạo trong doanh nghiệp.
- Luận án đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể để nhà lãnh đạo phát triển
được các kỹ năng lãnh đạo của mình.
Về mặt thực tiễn
- Nghiên cứu đã khám phá ảnh hưởng có ý nghĩa của các yếu tố như động
lực, cơ hội và khả năng phát triển tới các nhóm kỹ năng lãnh đạo trong doanh
19
nghiệp ngoài quốc doanh: có tác động hay không, tác động với mức độ là bao
nhiêu, ảnh hưởng nhiều hay ít tới các nhóm kỹ năng lãnh đạo này.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 3 chương
sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh của Việt Nam.
20
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về lãnh đạo trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm lãnh đạo
Lãnh đạo là một chủ đề đã xuất hiện từ lâu và được rất nhiều người quan
tâm. Lịch sử đã minh chứng mức độ và phạm vi ảnh hưởng của lãnh đạo trong
nhiều lĩnh vực như tôn giáo, chính trị hay quân sự. Mặc dù thuật ngữ lãnh đạo
đã được sử dụng từ rất lâu nhưng khái niệm hay bản chất của lãnh đạo thì mãi
đến thế kỷ XX mới được các nhà học thuật luận bàn.
“Lãnh đạo là dạng đặc biệt của quan hệ quyền lực được đặc trưng bởi
nhận thức của các thành viên trong nhóm rằng: một thành viên khác của nhóm
có quyền lực đòi hỏi những dạng hành vi đối với các thành viên khác trong hoạt
động của họ như là một thành viên trong nhóm” (Janda, 1960)
“Lãnh đạo là sự ảnh hưởng (tác động) mang tính tương tác, được thực
hiện trong một tình huống, được chỉ đạo thông qua quá trình thông tin đạt tới
những mục tiêu cụ thể” (Tannenbaum, Wecher & Masarik, 1961)
“Lãnh đạo là sự tương tác giữa những con người, trong đó có một người
trình bày những thông tin để người khác trở nên bị thuyết phục với những kết
cục của anh ta…và những kết cục này sẽ được hoàn thiện khi đối tượng cư xử
theo những điều được được đề nghị hoặc được đòi hỏi” (Jacobs, 1970)
“Lãnh đạo là sự khởi xướng và duy trì cấu trúc trong sự mong đợi và sự
tương tác” (Katz & Kahn, 1978)
“Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ
chức để đạt tới mục tiêu” (Rauch & Behling, 1984)
21
“Lãnh đạo là việc định ra chủ trương, đường lối, mục đích, tính chất,
nguyên tắc hoạt động của một hệ thống trong các điều kiện môi trường nhất
định”.
Tất cả những định nghĩa trên đều không hoàn toàn sai, mỗi định nghĩa
được nghiên cứu trong các tình huống khác nhau, mỗi tình huống cho ta một
cách nhìn khác về cùng một vấn đề. Ví dụ khi nghiên cứu lãnh đạo theo hướng
tiếp cận của tâm lý học thì người ta xem xét nó trên góc độ của một hành vi tổ
chức, hoặc xem xét theo hướng nó là một chức năng của hoạt động quản trị. Về
cơ bản, các định nghĩa này đều xoay quanh vấn đề lãnh đạo nhưng được xem
xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Để có cái nhìn chính xác nhất ta cần xem xét
nó dưới nhiều hướng.
Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm, sách
báo khi đề cập đến lãnh đạo hầu hết đều thống nhất rằng: “ Lãnh đạo là gây
ảnh hưởng” (John C. Maxwell, 1993), “Lãnh đạo là khả năng gây ảnh hưởng
lên những người khác” hay “Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng đến một
nhóm người hướng đến mục tiêu đề ra” (Stephan P.Robins, 1998)
Với định nghĩa này, ta có thể thấy lãnh đạo được nhìn trực tiếp dưới góc
độ của tâm lý nhưng nó bộc lộ rõ bản chất của lãnh đạo. Lãnh đạo là hành động
thu phục nhân tâm, là làm thế nào để những người xung quanh mình đi theo
mình, làm theo mình một cách tự nguyện, cùng lý tưởng mục tiêu với mình.
Nếu nhìn lãnh đạo theo nghĩa thu phục người khác ta sẽ tìm ra những nguyên
tắc, những chỉ dẫn làm thế nào để lãnh đạo người khác. Từ định nghĩa này cũng
chỉ ra rằng cái quan trọng nhất trong lãnh đạo đó là ‘con người”, là nguồn lực
không thể thiếu. Không ai có thể lãnh đạo được nếu như người đó chỉ có một
mình.
1.1.2 Khái niệm lãnh đạo trong doanh nghiệp
Lãnh đạo trong doanh nghiệp là lãnh đạo gắn với doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh mà mục đích chủ yếu là lợi nhuận. Lãnh đạo trong doanh nghiệp là
làm thế nào để những người trong doanh nghiệp đi theo mình, đặt ra mục tiêu,
22
định hướng hoạt động và hướng mọi người cùng đạt tới mục tiêu đó. Nhà lãnh
đạo sử dụng các nguồn lực đầu vào như: tiền vốn, nguyên liệu, thông tin, nhân
lực… để đạt được mục tiêu. Người lãnh đạo trong doanh nghiệp là người gắn
liền với chức vị, quyền lực do đó nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhất định là một
người có quyền, họ có thể được bổ nhiệm (ví dụ như trưởng phòng) hoặc là
những người có quyền hạn thực sự (chủ doanh nghiệp).
Người ta còn dùng thuật ngữ “điều hành” để chỉ hoạt động hoặc chức
năng lãnh đạo trong doanh nghiệp. Theo đó ta có thể hiểu một cách khái quát:
“Điều hành trong quản trị kinh doanh là quá trình khởi động và duy trì
sự họat động của doanh nghiệp theo kế hoạch đề ra bằng cách tác động lên động
cơ và hành vi của con người trong doanh nghiệp và phối hợp hoạt động của họ
sao cho họ cố gắng một cách tự giác để hoàn thành nhiệm vụ của mình và đạt
được mục tiêu chung của doanh nghiệp” (Nguyễn Thị Liên Diệp, 2005)
Lãnh đạo thực hiện các chỉ dẫn, ra lệnh động viên và thúc đẩy cá nhân
và nhóm để họ phối hợp đạt được mục tiêu chung mà doanh nghiệp đề ra.
Lãnh đạo liên quan đến các phạm trù như: cư xử, quyền lực ảnh hưởng
đến người khác, tương tác giữa các cá nhân với cá nhân, cá nhân với
nhóm….Khi nghiên cứu về lãnh đạo, người ta có thể tiếp cận theo các hướng
như tập trung vào đặc điểm của nhà lãnh đạo, lý thuyết hành vi, lãnh đạo tình
huống, lãnh đạo nhóm, ủy quyền.
1.1.3 Khái niệm và vai trò nhà lãnh đạo doanh nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Dù nhìn nhận theo cách nào, thì một nhà lãnh đạo phải đảm bảo được 3
yếu tố: khả năng tạo tầm nhìn, khả năng truyền cảm hứng và khả năng gây ảnh
hưởng. Hiểu một cách đơn giản, nhà lãnh đạo là người có khả năng tạo ra tầm
nhìn cho một tổ chức hay một nhóm và biết sử dụng quyền lực của mình để gây
ảnh hưởng cho những người đi theo thực hiện tầm nhìn đó. Tùy theo từng khía
23
cạnh nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có các định nghĩa khác nhau về nhà
lãnh đạo.
Theo Maxwell (1993) thì định nghĩa nhà lãnh đạo là người có khả năng
gây ảnh hưởng.
Theo Stogdill (1974), nhà lãnh đạo phải luôn được định nghĩa cùng với
sự ràng buộc của tính cách, cách ứng xử, ảnh hưởng đối với người khác, các
chuỗi hoạt động tương tác, quan hệ, vị trí quản lý, và nhìn nhận của người khác
về tính hợp pháp của quyền lực và sự tạo dựng ảnh hưởng.
House (2004) định nghĩa rằng nhà lãnh đạo là cá nhân có khả năng gây
ảnh hưởng, kích thích và khuyến khích người khác đóng góp vào các hoạt động
có hiệu quả và thành công của tổ chức họ trực thuộc.
Trong doanh nghiệp, nhà lãnh đạo được xác định từ vị trí, nhiệm vụ và
hoạt động của họ đối với doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo có thể xuất hiện ở mọi
cấp trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, như lãnh đạo toàn bộ doanh nghiệp
có tổng giám đốc, giám đốc, lãnh đạo phòng có trưởng phòng, lãnh đạo nhóm
làm việc có trưởng nhóm...Càng ở vị trí cao, nhà lãnh đạo càng có quyền lực
chức vị và trách nhiệm công việc càng lớn.
Nhà lãnh đạo thường là người có vị trí dẫn đầu tại cấp độ lãnh đạo mà họ
đảm nhiệm trong doanh nghiệp. Lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp là tổng
giám đốc hoặc giám đốc. Họ là người đại diện cho doanh nghiệp trước pháp lý,
trước lợi ích chung của doanh nghiệp và kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp
đạt được. Họ duy trì và phát triển doanh nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh
tranh, ảnh hưởng đến tính hiệu quả của tài chính, cách phát sinh tiền lời cho
đơn vị, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động, sự hài lòng của nhân viên và
khách hàng…
Khi lãnh đạo một doanh nghiệp cụ thể, nhà lãnh đạo doanh nghiệp
thường thực hiện những hoạt động sau:
24
- Xác định tầm nhìn rõ ràng, chính xác cho doanh nghiệp và lịch trình
để đạt được mục tiêu đó.
- Huy động và thúc đẩy cấp dưới thực hiện mục tiêu. Nhà lãnh đạo tập
trung vào yếu tố con người. Họ kêu gọi, lôi kéo những người dưới quyền đi
theo mình, hướng tới thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp.
- Liên kết giữa các bộ phận trong doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp
với hệ thống bên ngoài.
- Thực hiện công việc của một nhà quản lý cấp cao: Xây dựng, thực thi
chiến lược, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, lực của công ty, kiểm tra, đánh
giá mức độ thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.3.2 Vai trò nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Vào cuối những năm 1960, Henry Mintzgerg đã tiến hành nghiên cứu
hoạt động của các ngành quản trị cấp cao. Đến thời điểm đó, nhận thức thông
thường trong lý luận và thực tiễn quản trị xem các nhà lãnh đạo là những người
suy nghĩ một cách kỹ lưỡng, xử lý thông tin một cách cẩn thận, có hệ thống
trước khi ra quyết định. Những điều ông phát hiện đã thách thức các nhận thức
thông thường này. Mintzgerg phát hiện rằng các nhà lãnh đạo thực hiện rất
nhiều những hoạt động mà các hoạt động này là khác nhau, không theo một
hình mẫu có sẵn và có thời gian thực hiện ngắn. Không có đủ thời gian để suy
nghĩ một cách kỹ lưỡng, công việc của người lãnh đạo luôn bị ngắt vụn ra do
nhiều nguyên nhân khác nhau.
Mintzgerg (1973) kết luận là các nhà lãnh đạo thực hiện mười vai trò
khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Mười vai trò này có thể nhóm
lại thành ba nhóm: (1) Các vai trò tương tác (đại diện, lãnh đạo, liên lạc); (2)
Các vai trò thông tin (giám sát, phổ biến và phát ngôn); (3) Các vai trò quyết
định (khởi xướng, giải quyết xung đột, phân bổ nguồn lực và thương thuyết).
a) Các vai trò tương tác
25
Vai trò người đại diện
Người lãnh đạo là người đứng đầu tổ chức, có nghĩa vụ phải thực hiện
một số nhiệm vụ mang tính biểu tượng, mang tính xã hội hay pháp lý. Những
nhiệm vụ này bao gồm việc ký các giấy tờ (hóa đơn, hợp đồng…), chủ trì, điều
khiển những cuộc họp hoặc các nghi lễ, tham gia các hoạt động có tính nghi lễ,
đón tiếp khách tham quan hoặc quan hệ với các tổ chức. Các nhà lãnh đạo phải
tham dự tất cả các họat động trên mặc dù chúng có thể không có liên quan tới
công việc lãnh đạo và các nhiệm vụ chủ yếu của người lãnh đạo.
Vai trò lãnh đạo
Các nhà lãnh đạo có nghĩa vụ làm cho họat động của đợn vị mình hội
nhập và hoạt động ăn khớp với hoạt động của tổ chức để đạt được những mục
tiêu chung. Như vậy, họ phải đưa ra các chỉ dẫn cho những người dưới quyền,
động viên những người dưới quyền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để
những người dưới quyền thực hiện tốt công việc của họ. Hàng loạt các họat
động thể hiện vai trò lãnh đạo như tuyển lựa nhân viên, huấn luyện, chỉ đạo,
chúc mừng, khen ngợi, phê bình, thăng tiến và thải hồi nhân viên… Vai trò lãnh
đạo bao trùm toàn bộ các họat động quản trị song ở những hoạt động khác nhau
thì mục đích của các hoạt động có thể khác nhau.
Vai trò liên lạc
Vai trò liên lạc bao gồm các hoạt động trong việc thiết lập và duy trì
những quan hệ với môi trường bên ngoài, và bên trong của tổ chức để có được
các thông tin cần thiết. Phát triển các liên hệ và quan hệ là một trong những
nghĩa vụ quan trọng của người lãnh đạo trong việc gắn tổ chức với môi trường
của nó. Đối với các nhà quản trị cấp trung và cấp thấp, những quan hệ theo
chiều ngang là rất quan trọng. Các họat động thể hiện vai trò liên lạc có thể là
sự chú ý tới các sự kiện xã hội, tham gia các hội đồng, các ủy ban, cá câu lạc
bộ, các hiệp hội ngành nghề, gửi điện hoặc thư chúc mừng, đề nghị các nhà
26
quản trị của các bộ phận khác cung cấp những thông tin hoặc những hỗ trợ cần
thiết.
b) Các vai trò thông tin
Vai trò giám sát
Tất cả các nhà lãnh đạo đều theo đuổi liên tục việc thu thập các thông tin
từ rất nhiều nguồn khác nhau như đọc báo cáo, tham dự các cuộc họp, thực hiện
các cuộc thăm viếng. Các thông tin thu thập được phân tích, xử lý để xác định
các cơ hội hoặc những vấn đề cần giải quyết hoặc để có một sự hiểu biết đầy
đủ về đặc tính của môi trường trong đó tổ chức đang họat động.
Vai trò cung cấp thông tin
Các nhà quản trị có khả năng tiếp cận được những nguồn thông tin khác
nhau mà những người dưới quyền không có được. Một số các thông tin này có
thể được cung cấp cho những người dưới quyền để họ có thể thực hiện nghĩa
vụ của họ. Các thông tin khi được chuyển cho những người dưới quyền có thể
giữ nguyên (không hề bị thay đổi, điều chỉnh) song cũng có thể là những thông
tin đã được xử lý bởi người lãnh đạo.
Vai trò phát ngôn
Các nhà lãnh đạo có nghĩa vụ trình bày những thông tin với những nhân
vật có liên quan bên ngoài tổ chức. Khi trình bày các thông tin, các nhà lãnh
đạo hành động như những người tạo ra sự ủng hộ của các nhân vật có liên quan
đối với tổ chức của mình. Để làm được điều đó, các nhà quản trị cần phải có
một sự hiểu biết về môi trường bên trong cũng như bên ngoài của tổ chức.
c) Các vai trò quyết định
Vai trò người khởi xướng
Người lãnh đạo của một tổ chức hoạt động như một người khởi xướng
và thiết kế các hoạt động của tổ chức để khai thác những cơ hội, hoàn thiện và
27
phát triển tổ chức hiện hữu. Những sự thay đổi có kế hoạch được thực hiện dưới
dạng các dự án hoàn thiện như phát triển sản phẩm mới, mua sắm những máy
móc thiết bị mới, hoặc thay đổi cơ cấu tổ chức…Một số dự án có thể được
người lãnh đạo trực tiếp chỉ huy và giám sát, một số khác có thể được ủy quyền
cho cấp dưới.
Vai trò giữ trật tự
Trong vai trò giữ trật tự, các nhà lãnh đạo giải quyết với những khủng
hoảng đột biến, những tình huống bất ngờ. Những khủng hoảng của tổ chức có
thể được gây ra từ những sự việc không dự đoán được trước như xung đột giữa
những người dưới quyền, sự đột ngột ra đi của những nhân vật chủ chốt, hỏa
hoạn, đình công…Thông thường các nhà lãnh đạo cho vai trò này là một ưu
tiên cao hơn so với tất cả các vai trò khác.
Vai trò phân bổ nguồn lực
Các nhà lãnh đạo sử dụng quyền hạn của họ trong việc phân bổ các nguồn
lực như tài chính, nhân lực, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, các phương tiện
và dịch vụ…Việc phân bổ nguồn lực được thực hiện trong các quyết định của
người lãnh đạo về những điều phải làm, trong việc phân quyền cho những người
lãnh đạo cấp dưới, trong việc lập ngân sách hoặc trong việc lên kế hoạch công
tác của người lãnh đạo. Bằng việc giữ lại quyền phân bổ nguồn lực, các nhà
lãnh đạo duy trì quyền kiểm soát đối với việc hình thành chiến lược và hành
động để hợp tác các họat động của các bộ phận và cá nhân khác nhau trong việc
đạt tới các mục tiêu chiến lược.
Vai trò thương thảo
Các nhà lãnh đạo luôn phải thể hiện vai trò người thương thuyết, họ có
thể tham gia quá trình đàm phán như những người phát ngôn của tổ chức, người
đại diện của tổ chức để đảm bảo độ tin cậy của các cuộc đàm phán. Trong quá
trình đàm phán, họat động của các nhà lãnh đạo có thể là người phân bổ nguồn
28
lực, người phát ngôn, người đại diện và nhà thương thuyết. Trong họat động
hàng ngày, các nhà lãnh đạo phải tham gia rất nhiều cuộc thương thuyết khác
nhau như hợp đồng với những khách hàng chủ yếu, các nhà cung cấp, các công
ty tư vấn, thuê mướn các chuyên gia hoặc nhà quản trị cao cấp…Ở cấp cao, vai
trò thương thảo được thực hiện mang tính chính thức nhiều hơn, trong khi đó ở
cấp trung và cấp thấp vai trò thương thảo thường thực hiện một cách phi chính
thức giữa các bộ phận và cá nhân khác nhau trong tổ chức.
1.1.4 Lãnh đạo và quản lý
Lãnh đạo và quản lý là hai khái niệm có từ rất lâu, từ khi con người tập
hợp thành các tổ chức để hoàn thành mục tiêu chung. Nhiều người trong chúng
ta đã quá quen thuộc với từ này, quen thuộc đến nỗi người ta ngỡ rằng mình
hiểu rất rõ chúng. Cựu bộ trưởng Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Hoa Kỳ, W.
Gardner đã chỉ ra 5 đặc trưng cơ bản của “những nhà quản lý có khuynh hướng
lãnh đạo để phân biệt với những nhà lãnh đạo đơn thuần”. Đó là:
a. Những nhà quản lý có khuynh hướng lãnh đạo thường có tầm nhìn dài
hạn, vượt xa các vấn đề diễn ra hàng ngày và các bản báo cáo quý.
b. Niềm đam mê của những nhà quản lý có khuynh hướng lãnh đạo đối
với công ty, họ không dừng lại ở các vấn đề họ quản lý. Họ muốn biết tất cả
các phòng ban có ảnh hưởng khác nhau thế nào, ảnh hưởng của họ thường vượt
ra ngoại lĩnh vực họ phụ trách.
c. Những nhà quản lý có khuynh hướng lãnh đạo đặc biệt coi trọng tầm
nhìn, các giá trị và động cơ thúc đẩy.
d. Những nhà quản lý có khuynh hướng lãnh đạo có những kỹ năng chính
trị có thể đối phó với những yêu cẩu trái ngược của nhiều bộ phận cử tri.
e. Những nhà quản lý có khuynh hướng lãnh đạo không bằng lòng với
hiện tại. (Đinh Việt Hòa, Nguyễn Thị Kim Oanh, 2008)
29
Peter Ferdinand Drucker (1090-2005) - nhấn mạnh rằng ở vị trí đứng đầu
luôn có hai khái niệm: Lãnh đạo và quản lý, nhà quản lý có thể đóng vai trò nhà
lãnh đạo nhưng nhà lãnh đạo thì không phải lúc nào cũng là nhà quản lý. Quản
lý là quá trình đảm bảo cho chương trình và mục tiêu hành động của tổ chức
được thực hiện. Khác với quản lý, lãnh đạo xây dựng tầm nhìn và tạo động lực
cho mọi người. Trong doanh nghiệp cũng vậy, luôn có giám đốc, trưởng phòng,
đốc công… nhưng không phải lúc nào họ cũng lãnh đạo, đôi khi người lãnh
đạo thực sự, người truyền cảm hứng làm việc, xác định chính xác vấn đề cần
giải quyết và bám sát từng thành viên, hỗ trợ từng người cho đến kết quả cuối
cùng lại là một thành viên khác trong công ty, trong nhóm.
Dường như chúng ta chưa bao giờ nghe đến khái niệm “nhà quản lý thế
giới” nhưng chắc chắn đã nghe đến khái niệm “nhà lãnh đạo thế giới”, thậm chí
được nhắc đến khá nhiều, bao gồm nhà lãnh đạo giáo dục, nhà lãnh đạo chính
trị, nhà lãnh đạo công đoàn, nhà lãnh đạo doanh nghiệp….Tất cả họ đều là
những nhà lãnh đạo không phải là nhà quản lý. Có một ví dụ vui về lãnh đạo
và quản lý, đó là: bạn có thể dẫn con ngựa tới vũng nước nhưng bạn không thể
bắt nó uống nước. Nếu muốn quản lý ai đó, trước hết phải biết chế ngự chính
mình, khi đó bạn sẽ chuyển từ nhà quản lý sang vai trò lãnh đạo.
Dưới đây là bảng tóm tắt một số đặc trưng giữa lãnh đạo và quản lý:
Bảng 1.1: So sánh lãnh đạo và quản lý
Lãnh đạo Thay đổi Lãnh đạo con gnười Người đi theo Tầm nhìn Định hướng Uy tín cá nhân Trái tim Đam mê Quản lý Ổn định Quản lý công việc Cấp dưới/nhân viên Mục tiêu Lên kế hoạch cụ thể Quyền lực chuẩn tắc Trí óc Điều khiển Tiêu chí Bản chất Tập trung Có Tìm kiếm Mức độ cụ thể Quyền lực Tác động đến Năng lượng
30
Chủ động đi trước Bị động, phòng vệ
“Bán” ý tưởng Mức độ năng động Thuyết phục
“Bảo” người khác làm theo
Tiền-Công việc
Chuyển đổi tâm lý con người Áp đặt tâm lý con người Niềm hăng say làm việc Chấp nhận – Tìm kiếm rủi ro Tối thiểu hóa rủi ro Phá bỏ nguyên tắc Sử dụng xung đột Đường mới Lập ra nguyên tắc Tránh xung đột Đường đã có Phong cách Trao đổi Rủi ro Nguyên tắc Xung đột Định hướng
(Nguồn: Zaleznik, A. (1977), Managers and leaders: Are
they different?, Harvard Business Review, 55(5), 67-80)
1.2 Khái quát chung về kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm kỹ năng lãnh đạo
Để thực hiện được chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo cần có sự hiểu
biết và sử dụng có hiệu quả các kỹ năng lãnh đạo của mình. Để hiểu được kỹ
năng lãnh đạo, trước tiên ta phải tìm hiểu khái niệm kỹ năng.
“Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong
một lĩnh vực nào đó vào thực tế”
“Kỹ năng lãnh đạo chính là năng lực vận dụng có hiệu quả các tri thức
về phương thức điều khiển con người trong quá trình vận hành hệ thống để thực
hiện mục đích và mục tiêu đề ra”. (John C. Maxwell, 1993)
Nhìn vào khái niệm trên ta có thể thấy điểm nhấn trong vai trò của người
lãnh đạo đó là phương thức làm việc với con người, như vậy thì những kỹ năng
của nhà lãnh đạo cũng nhằm xoay quanh vấn đề con người, làm cách nào để có
những người theo mình, làm việc cho mình một cách tình nguyện, làm thế nào
để khuyến khích, động viên mọi người làm việc…Có những quan niệm cho
rằng cứ làm chuyên viên giỏi hay nhà quản lý bộ phận giỏi là có thể trở thành
giám đốc hay nhà lãnh đạo giỏi. Trên thực tế có rất nhiều ví dụ về sự thất bại
của những người này trong vai trò nhà lãnh đạo. Những thành công trước đây,
31
trình độ chuyên môn cao hay năng lực quản lý bộ phận giỏi chưa đủ để đảm
bảo thành công trên cương vị một nhà lãnh đạo. Những kỹ năng, kiến thức,
trình độ chuyên môn về ngành nghề kinh doanh mà người lãnh đạo đang điều
hành là một yêu cầu không thể thiếu đối với một người lãnh đạo, vì một người
không thể lãnh đạo được tổ chức của mình nếu như họ không có kiến thức
chuyên môn về ngành đó, nhưng những kỹ năng đó là chưa đủ. Để là một nhà
lãnh đạo thành công, người đó còn cần nhiều kỹ năng khác.
1.2.2 Phân loại kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp
Có nhiều cách tiếp cận về kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp, tác giả
đưa ra 3 nghiên cứu về các kỹ năng lãnh đạo cần thiết trong doanh nghiệp, các
mô hình này phân chia kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp theo các phương
thức tiếp cận theo phẩm chất người lãnh đạo, theo phương thức suy nghĩ và
hành động, theo phương thức phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp.
1.2.2.1 Tiếp cận theo phẩm chất người lãnh đạo - Mô hình kỹ năng lãnh đạo
của Katz (1955)
Người đặt nền móng cho hướng nghiên cứu này là Robert Katz với bài
báo “Kỹ năng của một nhà lãnh đạo giỏi” đăng trên tạp chí Harvard Business
Review vào năm 1955. Phương pháp nghiên cứu của Katz chuyển hướng nhìn
nhận nhà lãnh đạo dưới góc độ là một người bình thường đã qua rèn luyện,
điều này đã vượt qua giới hạn lúc bấy giờ là chỉ nhận định một nhà lãnh đạo
giỏi thông qua các đặc điểm tính cách bẩm sinh. Dựa vào các mảng nghiên cứu
về lãnh đạo và những gì quan sát được từ các nhà lãnh đạo tại doanh nghiệp,
Katz (1955) đưa ra nhận định rằng một nhà lãnh đạo giỏi cần phụ thuộc vào ba
kỹ năng cơ bản: kỹ năng kỹ thuật (technical skill), kỹ năng nhân sự (human
skill) và kỹ năng tư duy tổng thể (conceptual skill). Katz lập luận rằng những
kỹ năng này khác biệt so với các đặc điểm hay phẩm chất của nhà lãnh đạo. Kỹ
năng ở đây ám chỉ những gì nhà lãnh đạo có thể làm được và học được trong
khi đặc điểm nhà lãnh đạo giúp chúng ta biết được họ thực sự là ai (những phẩm
32
chất bên trong con người của họ). Katz cũng chỉ ra rằng tầm quan trọng tương
đối của ba loại kỹ năng này cũng khác nhau tuỳ theo các cấp quản trị trong một
tổ chức (Katz, 1955).
Kỹ năng Mô tả
Kỹ thuật (technical skills) Nhân sự (human skills) Tư duy tổng thể (conceptual skills)
Kiến thức và sự ứng dụng thuần thục các kiến thức vào công việc cụ thể. Hiểu biết về con người và khả năng làm việc hiệu quả với người khác Khả năng làm việc với các ý tưởng và khái niệm thường mang tính trừu tượng. Hình 1.1 Mô hình kỹ năng lãnh đạo của Katz
(Nguồn: R.L.Katz, 1955 ,“Skills of an Effective Administrator”,
Harvard Business review)
Kỹ năng kỹ thuật (technical skills) là những kỹ năng cần thiết để thực
hiện một công việc chuyên môn cụ thể, nói cách khác là trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của nhà lãnh đạo. Kỹ năng kỹ thuật bao hàm sự hiểu biết và sự thành
thạo về một loại hình hoạt động đặc biệt, nhất là loại hình hoạt động có liên
quan đến các phương pháp, các chu trình, các thủ tục hay các kỹ thuật. Nhà
lãnh đạo có được những chuyên môn đó qua đào tạo thông qua trường lớp hay
qua bồi dưỡng ở đơn vị. Đây là kỹ năng rất cần cho người lãnh đạo cấp cơ sở
hơn là cho cấp quản trị viên cấp trung hoặc cao cấp.
Kỹ năng nhân sự (human skills): Là những kiến thức liên quan đến khả
năng cùng làm việc, động viên và điều khiển nhân sự. Kỹ năng nhân sự là tài
năng đặc biệt của nhà quản trị trong việc quan hệ với những người khác nhằm
tạo sự thuận lợi và thúc đẩy sự hoàn thành công việc chung. Một vài kỹ năng
nhân sự cần thiết cho bất cứ quản trị viên nào là biết cách thông đạt hữu hiệu,
có thái độ quan tâm tích cực đến người khác, xây dựng không khí hợp tác trong
lao động, biết cách tác động và hướng dẫn nhân sự trong tổ chức để hoàn thành
các công việc. Kỹ năng nhân sự đối với mọi cấp quản trị viên đều cần thiết như
nhau trong bất kỳ tổ chức nào, dù là phạm vi kinh doanh hoặc phi kinh doanh.
33
Kỹ năng nhận thức hay tư duy tổng thể (conceptual skills): Là cái khó
hình thành và khó thực hiện nhất, nhưng nó lại có vai trò đặc biệt quan trọng,
nhất là đối với các nhà lãnh đạo cao cấp. Họ cần có tư duy chiến lược tốt để đề
ra đúng đường lối chính sách đối phó có hiệu quả với những bất trắc, đe dọa,
kìm hãm sự phát triển đối với tổ chức. Nhà lãnh đạo cần phải có phương pháp
tổng hợp tư duy hệ thống, biết phân tích mối liên hệ giữa các bộ phận, các vấn
đề … Biết cách làm giảm những sự phức tạp rắc rối xuống một mức độ có thể
chấp nhận được trong một tổ chức.
Các nhà lãnh đạo cần có 3 kỹ năng trên nhưng tầm quan trọng của chúng
tùy thuộc vào các cấp lãnh đạo khác nhau trong tổ chức, ở những cấp lãnh đạo
càng cao thì càng cần nhiều những kỹ năng về tư duy. Ngược lại ở những cấp
lãnh đạo càng thấp, thì càng cần nhiều kỹ năng về chuyên môn kỹ thuật. Kỹ
năng về nhân sự thì ở đâu, ở cấp nào cũng cần và cũng đều là quan trọng. Mặc
dù vậy, trên thực tế thường đòi hỏi cụ thể về mức độ kỹ năng nhân sự có thể có
sự khác nhau tùy theo loại cấp độ lãnh đạo, nhưng xét theo quan điểm của nhiều
nhà kinh tế thì nó lại đóng vai trò quan trọng nhất, góp phần làm cho các nhà
quản trị thực hiện thành công các loại kỹ năng khác của mình và góp phần vào
việc đạt được thành công về mục tiêu chung của cả tổ chức.
Thật vậy, khi những quyết định trong kinh doanh ngày càng có tính qui
tắc hơn và nhạy bén với chính trị hơn, khi các tổ chức phi lợi nhuận ngày càng
quan tâm tới hiệu quả hơn thì công việc lãnh đạo ngày càng được chuyên môn
hoá hơn. Tuy nhiên, nội dung chuyên môn hoá không có nghĩa là những công
việc lãnh đạo hoàn toàn có thể thay thế cho nhau. Càng lên cấp cao thì nội dung
chuyên môn hoá càng có tính phổ cập vì càng ở cấp cao thì các nhà lãnh đạo
phải làm những công việc mang tính đặc trưng hơn của lãnh đạo và càng ít tham
gia vào các vấn đề chuyên môn kỹ thuật hàng ngày và ngược lại.
Khả năng lãnh đạo càng lấn dần kiến thức chuyên môn ở người lãnh đạo
khi tiến lên những cấp bậc cao trong tổ chức. Vì thế, những nhà lãnh đạo ở cấp
cao dễ dàng thuyên chuyển qua các tổ chức khác nhau, vì công việc lãnh đạo
34
của họ giống nhau mặc dù mục tiêu của các tổ chức mà họ hoạt động hoàn toàn
khác nhau. Trái lại, những nhà lãnh đạo cấp thấp thì gắn liền với những chuyên
môn nghiệp vụ của mình vì thế khả năng thuyên chuyển thấp hơn. Do vậy lãnh
đạo là chuyên môn hoá nhưng chỉ có các cấp lãnh đạo nhất định thì tính phổ
cập mới thể hiện rõ.
1.2.2.2 Tiếp cận theo phương thức suy nghĩ - Mô hình của Mumford và đồng
nghiệp (2000)
Trong công trình nghiên cứu “Kỹ năng lãnh đạo trong một thế giới thay
đổi: Giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp”, Mumford, Zaccaro và Harding,
(2000) đã xây dựng “Mô hình kỹ năng lãnh đạo” nhằm xác định mối quan hệ
giữa kiến thức và kỹ năng lãnh đạo và hiệu quả của nhà lãnh đạo.
Mô hình “các kỹ năng lãnh đạo cơ bản” mà Mumford phát triển gồm năm
cấu phần khác nhau: thuộc tính cá nhân, năng lực, kết quả lãnh đạo, kinh
nghiệm nghề nghiệp, và sự tác động của môi trường. Một phần của mô hình
được minh họa gồm 3 thành phần như hình sau đây. Phần này của mô hình là
thiết yếu để hiểu được tổng thể mô hình các kỹ năng cơ bản của vai trò lãnh
đạo.
Hình 1.2 Mô hình kỹ năng lãnh đạo của Mumford và đồng nghiệp
(Nguồn: The
Influence of Leader Charateristics on Leader Performance,“ Leadership Skills for a Changing World: Solving complex Social problems”, M.D.Munford, S.J.Zaccaro, F.D.Harding, T.O.Jacobs, và E.A.Fleishman, Leadership quarterly, 11(1), 23, 2000)
35
Kỹ năng giải quyết vấn đề: đề cập đến khả năng sáng tạo của nhà lãnh
đạo để giải quyết các vấn đề mới và bất thường, chưa được xác định của tổ chức
Kỹ năng thấu cảm xã hội: đề cập đến năng lực nhận thức về con người
và hệ thống xã hội, cho phép nhà lãnh đạo làm việc với những người khác để
giải quyết vấn đề và hỗ trợ thực thi những thay đổi trong tổ chức. Bao gồm:
khả năng thấu hiểu người khác, nhận thức xã hội, khả năng ứng xử linh hoạt và
hiệu quả xã hội
Kiến thức: hiểu biết về sản phẩm, công việc, con người, tổ chức và tất cả
những cách thức khác nhau để gắn kết các yếu tố lẫn nhau, đề cập đến sự tích
lũy thông tin và cấu trúc tư duy để tổ chức các thông tin
Kỹ năng tư duy thông thường: là sự thông minh của một người, thường
tăng lên và mở rộng qua tuổi trưởng thành sớm và giảm đi theo độ tuổi. Bao
gồm: cách xử lý nhận thức, xử lý thông tin, kỹ năng lập luận tổng hợp, khả
năng sáng tạo và tư duy khác nhau, khả năng ghi nhớ. Phụ thuộc vào bản năng
sinh học và không phụ thuộc và kinh nghiệm
Kỹ năng nhận thức tích lũy: là năng lực trí tuệ có được qua việc học tập
hoặc được đúc kết qua thời gian, bao gồm việc có thể hiểu được các thông tin
phức tạp, học hỏi các kỹ năng và thông tin mới, khả năng giao tiếp với người
khác.
Động lực thúc đẩy: nhà lãnh đạo sẵn sàng và tích cực giải quyết các vấn
đề phức tạp của tổ chức, mong muốn một địa vị có ảnh hưởng đối với người
khác, cam kết với các lợi ích xã hội mà tổ chức đó tạo ra.
Hiệu quả lãnh đạo (Leadership outcomes): giải quyết vấn đề hiệu quả
được xác định bởi sự sáng tạo và chất lượng của việc thể hiện giải pháp cho các
tình huống; tạo ra các giải pháp có tính logic, hiệu quả và duy nhất và vượt qua
cả các thông tin được cung cấp
Hiệu quả công việc: cho biết người lãnh đạo thực hiện tốt công việc của
họ như thế nào; mức độ nhà lãnh đạo hoàn thành những nhiệm vụ mà họ được
giao phó
36
1.2.2.3 Tiếp cận theo phương thức phát triển kỹ năng - Mô hình của Warren
Blank (2007)
Mô hình của Warren Blank tiếp cận theo phương thức phát triển kỹ năng
lãnh đạo. Ông đưa ra 108 kỹ năng cần phát triển của nhà lãnh đạo, Các kỹ năng
này được nhóm thành các nhóm kỹ năng cơ bản sau:
- Nhóm kỹ năng nền tảng
- Nhóm kỹ năng gây ảnh hưởng
- Nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
Có thể nói mô hình nghiên cứu kỹ năng lãnh đạo của Warren Blank đã đề
cập đầy đủ hơn các khía cạnh lãnh đạo trong doanh nghiệp. Mô hình này ngày
càng được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên thế
giới.
Kỹ năng nền tảng
Hình 1.3 Mô hình phát triển kỹ năng lãnh đạo của Warren Blank (Nguồn: Warren Blank, 2007)
37
1.3 Khái quát chung về phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm phát triển kỹ năng lãnh đạo
Để hướng tới xu hướng phát triển bền vững của doanh nghiệp thì việc tạo
ra một đội ngũ lãnh đạo mạnh trong doanh nghiệp là vô cùng cần thiết. Chính
vì vậy, bản thân mỗi nhà lãnh đạo cần chú trọng phát triển các kỹ năng lãnh
đạo của mình để giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra.
Để hiểu về phát triển kỹ năng lãnh đạo trước hết cần xem xét khái niệm “phát
triển” là gì. Theo triết học duy vật biện chứng thì “phát triển là một phạm trù
chỉ khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện hơn”.(Đoàn Quang Thọ, 2010)
Luận án cũng đã xem xét khái niệm về kỹ năng lãnh đạo, vậy theo tác giả
phát triển kỹ năng lãnh đạo ở đây được hiểu là việc hoàn thiện các kỹ năng lãnh
đạo của nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp, nâng cao năng lực vận dụng có hiệu
quả các tri thức về phương thức điều khiển con người trong quá trình vận hành
hệ thống để thực hiện mục đích và mục tiêu đề ra.
1.3.2 Các kỹ năng lãnh đạo cần phát triển trong doanh nghiệp
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích và đưa ra giải pháp để phát
triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp, vì vậy các kỹ năng được đề cập ở
đây sẽ được phân chia theo phương thức phát triển kỹ năng lãnh đạo theo mô
hình của Warren Blank, tức là phát triển kỹ năng lãnh đạo sẽ bao gồm việc phát
triển các nhóm kỹ năng cơ bản sau:
- Nhóm kỹ năng nền tảng
- Nhóm kỹ năng ảnh hưởng
- Nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
1.3.2.1 Phát triển nhóm kỹ năng nền tảng
Các kỹ năng nền tảng là điều kiện tiên quyết đầu tiên đối với tất cả các
kỹ năng khác. Sự thành công đến từ những yếu tố đầu tiên, một người lãnh đạo
38
nếu không thành thạo các kỹ năng nền tảng sẽ không thể tạo được chỗ đứng
vững chắc giúp cho người đó tạo nên những ảnh hưởng lớn hơn, lãnh đạo hiệu
quả hơn và đạt được những thành công lớn hơn trong vai trò của mình. Phát
triển nhóm kỹ năng nền tảng hay cơ sở bao gồm việc phát triển một số kỹ năng
chính sau:
- Kỹ năng lãnh đạo bản thân
- Kỹ năng xây dựng chiến lược
- Kỹ năng xác lập kỳ vọng và mục tiêu
- Kỹ năng quản lý thời gian
- Am hiểu chuyên môn nghiệp vụ.
- Kỹ năng ra quyết định
a) Kỹ năng lãnh đạo bản thân
Kỹ năng lãnh đạo bản thân hay còn có thể hiểu nôm na chính là năng lực
đánh giá chính bản thân mình, nhận thức về chính bản thân mình, hiểu rõ chính
bản thân mình, hiểu rõ những gì mình đang làm với thời gian, sự quan tâm và
hành động của mình. Đây là một kỹ năng tinh tế của nhà lãnh đạo, sự tự nhận
thức, lãnh đạo chính bản thân mình là một yếu tố nền tảng đối với sự phát triển
kỹ năng lãnh đạo, nó quyết định phần lớn thành công của nhà lãnh đạo. Hay
nói cách khác, bản thân người lãnh đạo phải biết được điểm mạnh cũng như
điểm yếu của chính bản thân mình, họ hiểu được động cơ làm việc của mình,
xác định đúng đắn điều gì đáng được quan tâm, được ưu tiên xử lý, họ biết khi
nào và tại sao nên hành động. Bản thân họ phải tự biết hướng để phát triển bản
thân mình trước khi muốn phát triển người khác.
Tự nhận thức, tự lãnh đạo chính bản thân mình là một yếu tố mang tính
chủ quan trong con người của nhà lãnh đạo bởi vì chỉ có chính bản thân người
đó mới tiếp cận được những gì bên trong con người mình. Một nhà lãnh đạo
thành công thì đều phải biết xem xét đánh giá chính bản thân mình, từ đó họ
xác định được hướng phát triển của bản thân, hướng tăng cường mở mang kiến
39
thức, đồng thời tự kiểm soát bản thân và tạo ra ảnh hưởng đến người khác. Thực
tế cho thấy, người ta sẽ không thể đi theo một nhà lãnh đạo mà ngay chính bản
thân mình cũng không thể kiểm soát được thì sao có thể dẫn dắt mọi người vượt
qua những khó khăn trong hoạt động.
Nhà lãnh đạo là người đưa ra định hướng cho tổ chức, những định hướng
đưa ra lại phụ thuộc rất nhiều vào những điểm tham chiếu bên trong chính con
người đó – những giả định, những giá trị và niềm tin của họ. Nhà lãnh đạo có
thể dẫn người của mình của mình đi đúng hướng hoặc lạc lối, có thể khuyến
khích được mọi người làm việc nhưng cũng có thể cản trở sự phát triển của họ
mà nguyên nhân chính là từ quan điểm nhận thức trong chính con người nhà
lãnh đạo.
Kỹ năng nhận thức bản thân giúp cho nhà lãnh đạo có khả năng đối phó
hiệu quả trước những áp lực và căng thẳng trong quá trình lãnh đạo. Thực tế
cho thấy một nhà lãnh đạo luôn giữ được điềm tĩnh trong các tình huống căng
thẳng, khi phải đối mặt với khủng hoảng sẽ lôi kéo được sự ủng hộ của người
khác.
Thành thạo với kỹ năng lãnh đạo chính bản thân mình sẽ giúp cho người
lãnh đạo hiểu được những ý định bên trong, suy tính trước công việc và sắp xếp
theo thứ tự ưu tiên thông qua rèn luyện kỹ năng với nguyên tắc ưu tiên.
Việc tiếp thu và sử dụng thành thạo kỹ năng này sẽ giúp nhà lãnh đạo:
- Ứng phó với tình trạng căng thẳng và sử dụng thời gian hiệu quả thông
qua kỹ năng quản lý thời gian.
- Thành công ngay trong áp lực và coi thất bại là động lực tăng trưởng.
- Cân bằng cuộc sống cá nhân và công việc.
- Liên tục học hỏi để cải thiện năng lực lãnh đạo.
- Sử dụng cả năng lực lý trí lẫn năng lực trực giác.
- Mở rộng tầm nhìn trong vai trò người lãnh đạo.
b) Kỹ năng xác lập kỳ vọng và mục tiêu
40
Thực tế cho thấy mọi người thường sẵn sàng phục tùng hơn khi cấp trên
đặt ra những mục tiêu rõ ràng và tích cực. Người ta cũng tuân thủ mệnh lệnh
hơn nếu nhà lãnh đạo hiểu và đáp ứng được những kỳ vọng của họ. Mục tiêu,
kỳ vọng của doanh nghiệp phải hướng tới mục tiêu và kỳ vọng của nhân viên
trong doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp đáp ứng được kỳ vọng của cá nhân về
doanh nghiệp đó là cơ sở để giữ chân nhân viên và lòng trung thành của họ.
Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần phải thiết lập được những kỳ vọng, mục tiêu
chung, truyền bá những mục tiêu này đến những nhân viên trong công ty để tất
cả mọi người cùng đi theo và hướng tới. Đó chính là công việc của nhà lãnh
đạo.
Nhà lãnh đạo rèn luyện kỹ năng xác lập kỳ vọng và mục tiêu một cách
thành thạo sẽ giúp cho họ:
- Tìm ra kỳ vọng của các cá nhân khác trong nhóm, tổ chức và của doanh
nghiệp mình.
- Giải thích cho người khác thấy được những mục đích và kỳ vọng của
mình.
- Đưa ra những vấn đề chung được cả hai bên chấp nhận
- Vạch rõ những kỳ vọng và mục tiêu của tổ chức
- Vượt qua những kỳ vọng mang tính hạn chế
- Đặt ra những kỳ vọng mang tính tích cực.
c) Am hiểu về chuyên môn, nghiệp vụ
Bên cạnh năng lực đánh giá chính bản thân mình, nhà lãnh đạo cần có
những hiểu biết sâu rộng về nghiệp vụ chuyên môn, nghiệp vụ của hệ thống,
các hiểu biết này mang tính kỹ thuật. Rõ ràng, một người không hiểu biết gì về
cơ khí máy móc thì không thể làm giám đốc nhà máy ô tô và điều hành doanh
nghiệp hiệu quả. Họ phải hiểu biết sâu sắc về nghiệp vụ chuyên môn của doanh
nghiệp để đưa ra được các quyết định chiến lược phù hợp.
41
Trình độ chuyên môn, năng lực chuyên môn thực thụ có một vai trò hết
sức to lớn không chỉ trong công việc mà còn trong lãnh đạo. Tuy nhiên, để có
được một trình độ chuyên môn thực thụ là điều hoàn toàn không dễ dàng. Năng
lực chuyên môn thực thụ được tích luỹ và củng cố trong một quá trình hết sức
lâu dài và bền bỉ. Thật vậy, đối với nhiều lĩnh vực, để có được kiến thức thực
thụ, các chuyên gia không chỉ tích luỹ mà còn phải cập nhật kiến thức thường
xuyên thông qua chuyên san, tạp chí, hoặc tham gia các hội thảo. Chính nhờ có
kiến thức uyên thâm, kinh nghiệm đầy mình, tố chất vượt trội mà các nhà lãnh
đạo mới có thể giải quyết các vấn đề một cách thấu đáo, đưa ra được các quyết
định phù hợp, đưa ra được các lời khuyên, khuyến nghị mang đầy tính thuyết
phục, từ đó đưa con thuyền của tổ chức đi tới bến vinh quang.
d) Tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược
Tư duy chiến lược là điều vô cùng quan trọng đối với người lãnh đạo, nó
thể hiện được tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo và của cả công ty. Tư duy chiến
lược chính là nghệ thuật vượt qua đối thủ, đề ra được những chiến lược cụ thể
để cạnh tranh. Nếu chiến lược đúng đắn sẽ giúp cho công ty có những bước
phát triển tốt, ngược lại nhà lãnh đạo sẽ đẩy công ty rơi vào khó khăn.
Xây dựng chiến lược là một quá trình giúp cho tầm nhìn tổ chức trở nên
thực tế hơn bằng việc phát triển các kỹ năng trong cách làm việc nhóm, giải
quyết vấn đề và suy nghĩ có phê phán. Nó cũng là một công cụ giúp nhà lãnh
đạo doanh nghiệp đương đầu với thay đổi và tạo ra sự chuyển tiếp, mường
tượng các khả năng và cơ hội có thể.
Khi phát triển một tầm nhìn chiến lược rõ ràng cho tổ chức, có 5 tiêu
chuẩn mà nhà lãnh đạo nên tập trung vào để có được kết quả tốt nhất. Không
chỉ thế, những tiêu chuẩn này còn giúp nhà lãnh đạo thiết lập và phát triển
những bước cần thiết để làm cho tầm nhìn tổ chức trở thành thực tế.
5 điều kiện nhà lãnh đạo cần lưu ý trong tư duy chiến lược:
42
+ Tổ chức: nhà lãnh đạo đặt ra các cấu hỏi liên quan tới cấu trúc tổ chức
và việc đánh giá, phân bổ các nguồn lực cần thiết để hoạt động.
+ Sự quan sát: nhận thức về những điều có thể động viên mọi người, cách
giải quyết các vấn đề hiệu quả hơn và cách phân biệt các thay đổi.
+ Quan điểm: Trong suy nghĩ chiến lược, có 4 quan điểm cần lưu ý khi
xây dựng chiến lược doanh nghiệp là: Quan điểm về môi trường, thị trường, dự
án và đánh giá.
+ Sức mạnh định hướng: Sức mạnh định hướng có thể bao gồm các sáng
kiến cá nhân và tổ chức, sự tăng cường và gắn kết, các nhân tố chất lượng như
tầm nhìn, giá trị, mục tiêu xác định, các nhân tố sản phẩm như nhiệm vụ hoặc
chức năng, các nhân tố định lượng như kết quả hoặc kinh nghiệm và các nhân
tố khác như sự cam kết, hành động kiên quyết, hiệu quả, sản lượng và giá trị.
+ Vị thế cạnh tranh: Sau khi xét đến 4 điều kiện của quy trình tư duy
chiến lược trên, nhà lãnh đạo xác định vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trường thông qua các điểm mạnh cốt lõi của doanh nghiệp, yếu tố cơ hội,
thách thức từ môi trường bên ngoài.
e) Kỹ năng quản lý thời gian
Quản lý thời gian là một kỹ năng vô cùng thiết yếu để nhà lãnh đạo hướng
tới những thành công mới. Cách quản lý thời gian hiệu quả thường được nhìn
nhận từ hai khía cạnh: nhà lãnh đạo và nhân viên. Tại sao nhà lãnh đạo doanh
nghiệp luôn cảm thấy thiếu thời gian và quá tải về công việc? Thường thì mức
độ quá tải công việc của người lãnh đạo phụ thuộc vào quá trình hình thành,
quy mô doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, tâm lý chung của các
nhà lãnh đạo là luôn không hết việc. Vậy để quản lý tốt thời gian nhà lãnh đạo
cần:
+Xác định mục tiêu: Xác định mục tiêu là cách quản lý thời gian khoa
học nhất. Và điều quyết định hiệu quả quản lý thời gian của người lãnh đạo
chính là hiệu quả làm việc của đội ngũ nhân viên. Ở khía cạnh nhân viên, để
43
thời gian làm việc đạt hiệu quả cao nhất, nhà lãnh đạo cần hướng dẫn nhân viên
của mình xây dựng một mục tiêu Smart, biết lồng ghép mục tiêu cá nhân với
mục tiêu của doanh nghiệp, tạo động lực làm việc cho nhân viên để họ sử dụng
tối đa thời gian làm việc để đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp.
+Liệt kê ra danh sách những công việc cần phải làm trong ngày, trong
tuần và trong tháng.
+Sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên
+Tổng kết lại công việc: trước khi kết thúc một ngày làm việc, nhà lãnh
đạo cần tổng kết lại công việc vào cuối ngày để xem đã làm được những gì và
chưa làm được gì, mất bao nhiêu thời gian cho những công việc đó và có thật
sự hiệu quả hay không.
+Tập trung: đây là cách rất tốt để không lãng phí thời gian.
+Sắp xếp nơi làm việc khoa học: giúp nhà lãnh đạo không mất thời gian
tìm kiếm những hồ sơ, tài liệu cần thiết khi cần.
f) Kỹ năng ra quyết định
Kỹ năng ra quyết định là kỹ năng vô cùng quan trọng của nhà lãnh đạo,
kỹ năng này được thực hiện thường xuyên, liên tục, chú trọng tới mọi hoạt động
trong doanh nghiệp. Các quyết định của nhà lãnh đạo thường liên quan đến các
chức năng chính sau:
- Hoạch định: xác định mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, doanh nghiệp nên
theo chiến lược nào để đạt được mục tiêu.
- Tổ chức: quyết định liên quan tới việc nên chọn cấu trúc tổ chức nào, tập trung
thẩm quyền đến mức nào, ai làm việc gì, ai báo cáo cho ai
- Thực hiện: nhà lãnh đạo nên theo kiểu lãnh đạo nào? Và làm thế nào để động
viên nhân viên có hiệu quả
- Kiểm tra: cần kiểm tra ở những khâu nào, khi nào, bằng cách nào, ai chịu
trách nhiệm kiểm tra.
44
Quá trình ra quyết định của nhà lãnh đạo thường được thực hiện qua các
bước như sau:
Bước 1:Xác định rõ vấn đề cần giải quyết
Bước 2: Liệt kê tất cả các phương án có thể có
Bước 3: Nhận định các tình huống
Bước 4: Ước lượng tất cả các chi phí và lợi ích cho mỗi phương án
Bước 5: Lựa chọn 1 giải pháp (mô hình) để tìm lời giải tối ưu
Bước 6: Áp dụng mô hình để tìm lời giải và dựa vào đó để ra quyết định
1.3.2.2 Phát triển nhóm kỹ năng gây ảnh hưởng
“Lãnh đạo là gây ảnh hưởng”. Một định nghĩa hết sức đơn giản nhưng
chứa đựng trong đó bản chất về chức năng lãnh đạo. Nhìn vào định nghĩa này
ta có thể hình dung ra được kỹ năng đặc biệt quan trọng mà nhà lãnh đạo cần
phải có, đó là kỹ năng “gây ảnh hưởng”. Đây là nhóm kỹ năng gắn liền với tính
chất công việc của nhà lãnh đạo. Gây ảnh hưởng để người khác đi theo mình,
tin tưởng ở mình, ủng hộ mình và làm việc cho mình một cách tự nguyện.
Bảng 1.2 So sánh ảnh hưởng của nhà quản lý và nhà lãnh đạo
Nhà quản lý Nhà lãnh đạo
Ảnh hưởng xuất phát từ thẩm quyền Ảnh hưởng xuất phát từ quan hê qua
chính thức lại giữa nhà lãnh đạo và người ủng hộ
Ảnh hưởng được hình thành và dựa Ảnh hưởng dựa vào mối quan hệ gắn
vào hệ thống cấp bậc trong doanh bó, tin tưởng và uy tín đã xác lập.
nghiệp
Ảnh hưởng dựa trên quyền lực của vị Ảnh hưởng dựa trên quyền lực của
trí này (cấp trên) đối với vị trí khác người này đối với người khác
(cấp dưới)
45
Ảnh hưởng xuất phát từ quyền ra Ảnh hưởng xuất phát từ cam kết,
lệnh, đòi hỏi, yêu cầu và bắt buộc mong muốn và khả năng khuyến
phải tuân thủ khích, cộng tác với người ủng hộ
Ảnh hưởng xuất phát từ quyền kiểm Ảnh hưởng vượt qua giới hạn của
soát và có bao hàm yếu tố bắt buộc quyền kiểm soát và xuất phát từ mức
độ của mối quan hệ tương tác.
(Nguồn: Warren Blank, 2007)
Các nhà lãnh đạo thường dựa vào ảnh hưởng hai chiều. Trong đó, họ sẵn
sàng lắng nghe, hiểu và đáp ứng những người ủng hộ. Ảnh hưởng của nhà lãnh
đạo đòi hỏi sự trao đổi qua lại tích cực, nhà lãnh đạo có thể đáp ứng người ủng
hộ ở cáp độ của họ và đưa họ đi theo định hướng của mình.
Để làm được điều này, nhà lãnh đạo cần phát triển các kỹ năng cụ thể
sau:
a) Kỹ năng xây dựng cơ sở để đạt được cam kết của mọi người
Đây là kỹ năng đầu tiên trong nhóm kỹ năng gây ảnh hưởng, nó làm nền
tảng, là bước đầu để nhà lãnh đạo có thể áp dụng các phương pháp rèn luyện
các kỹ năng tiếp theo. Khả năng lôi kéo những người sẵn sàng đi theo mình phụ
thuộc rất nhiều vào cơ sở mà nhà lãnh đạo xây dựng được. Nhà lãnh đạo xây
dựng cơ sở cam kết bằng những việc làm thường ngày của mình. Những người
cấp dưới thường quan sát mô hình nhà lãnh đạo và sử dụng nó để xác định mức
độ cam kết ủng hộ nhà lãnh đạo.
b) Kỹ năng gây ảnh hưởng để đạt được sự ủng hộ tự nguyện
Sau khi xác lập được một nền tảng cho sự cam kết ủng hộ của những
người khác, nhà lãnh đạo cần tiến thêm một bước đó là làm sao để những người
đó có thể làm việc cho mình một cách tự nguyện. Chỉ có sự ủng hộ một cách
tự nguyện mới đảm bảo sự cam kết sâu sắc, bền vững hơn.
46
Kỹ năng này được áp dụng trong những trường hợp nhà lãnh đạo muốn
có được sự ủng hộ cho một phương án kinh doanh mới, một đề xuất mới hay
những cải tổ trong tổ chức cũng như trong doanh nghiệp…
Trước một phương án mới mà nhà lãnh đạo cần có được sự ủng hộ của
mọi người thì phải đưa ra được một phương án hành động cụ thể và thuyết phục
mọi người ủng hộ rằng đường lối của mình có giá trị, đúng đắn, phải đảm bảo
rằng những người ủng hộ mình hiểu rõ đường lối lãnh đạo của mình. Muốn
vậy, nhà lãnh đạo cần phải tác động đến mọi người bằng cách truyền đạt hiệu
quả các thông điệp của mình. Như vậy, có thể thấy kỹ năng này gắn chặt với
kỹ năng giao tiếp thuyết trình và kỹ năng đàm phán.
Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa con người và con người trong cuộc sống để
trao đổi tín hiệu và thông tin.
Đàm phán trong lãnh đạo là hoạt động giao tiếp đặc biệt giữa người lãnh
đạo với đối tác đàm phán nhằm đạt tới một thỏa thuận mong muốn về một vấn
đề nào đó.
Nắm bắt được những kỹ năng này sẽ giúp người lãnh đạo: thuyết phục
được đường lối của mình có giá trị, trình bày nội dung thông điệp của mình một
cách thuyết phục, nâng cao những nỗ lực gây ảnh hưởng đến người khác khi
họ không phục tùng.
Nội dung hành động trong phần kỹ năng này là:
- Trình bày, thuyết trình và truyền đạt ý kiến, quan điểm, phương
án….của mình một cách hiệu quả.
- Cho mọi người thấy được lợi ích họ nhận được
- Xây dựng và duy trì thông điệp
- Sử dụng từ ngữ chính xác
- Sử dụng số liệu thống kê
- Truyền đạt niềm tin, sức thuyết phục và lòng nhiệt tình
47
- Đối mặt và vững vàng với những sự phản kháng hoặc không ủng hộ.
- Thuyết phục những người không ủng hộ mình để đạt được sự ủng hộ
c) Kỹ năng xây dựng môi trường mang tính khích lệ
Các yếu tố như đường lối, mục tiêu văn hóa và vị trí của tổ chức thường
tác động đến động cơ thúc đẩy nhân viên. Chất lượng truyền đạt thông tin ra
quyết định, phản hồi và mức độ xung đột tác động đến sự ủng hộ tình nguyện
của mọi người với nhà lãnh đạo. Các nhà quản lý có thể dùng thẩm quyền của
mình để triển khai sáng kiến mới và cấp dưới phải tuân thủ những gì mà cấp
trên yêu cầu. Nhưng nhà lãnh đạo không làm được như vậy mà họ phải thu
phục sự tình nguyện ủng hộ chứ không phải bắt buộc cấp dưới phục tùng mệnh
lệnh. Một doanh nghiệp mà ở đó mọi nhân viên làm việc một cách hào hứng,
hăng say, có trách nhiệm đòi hỏi người lãnh đạo phải tạo ra sự khích lệ để họ
cảm thấy làm việc không phải là bị ép buộc mà làm một việc tự nguyện, một
nhu cầu làm việc.
d) Kỹ năng xây dựng mối quan hệ
Theo Maxwell (1993), việc phát triển một nhà lãnh đạo có 5 cấp độ, trong
đó cấp độ hai của nhà lãnh đạo là: Sự chấp thuận. Tức là người lãnh đạo tìm
kiếm được thành công thông qua việc mở rộng mối quan hệ. Mối quan hệ ở đây
là chỉ mối quan hệ gần gũi gắn bó với người khác. Khi mối quan hệ đang ở mức
gắn bó cao, nhà lãnh đạo sẽ có điều kiện để hiểu người khác đồng thời là cơ hội
để nhà lãnh đạo thể hiện mình, tìm kiếm sự ngưỡng mộ với những phẩm chất
mà người khác không có nhưng lại nhìn thấy ở nhà lãnh đạo. Xây dựng mối
quan hệ tốt đẹp, gắn bó với những người xung quanh là yếu tố căn bản để nhà
lãnh đạo có thể lôi kéo người khác đi theo mình.
Xây dựng mối quan hệ hay kỹ năng giao tiếp luôn là yếu tố rất quan trọng
đối với nhà lãnh đạo. Ngày nay tầm quan trọng của kỹ năng này càng trở nên
đặc biệt. Hiểu người khác, thể hiện phong cách xử sự tốt và luôn tỏ ra dễ chịu
chính là những kỹ thuật hay những kỹ năng quan hệ. Kỹ năng xây dựng và phát
48
triển mối quan hệ với đồng nghiệp luôn là một kỹ năng thiên về tình cảm, khi
nhà lãnh đạo xây dựng được mối quan hệ thì mọi người sẽ cảm thấy anh ta
đứng về phía họ, ủng hộ họ. Xây dựng mối quan hệ chính là quá trình giúp gắn
kết những người ủng hộ với nhà lãnh đạo.
1.3.2.3 Phát triển nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
Các nhà lãnh đạo thường phải đưa ra những định hướng để vượt qua bất
ổn, khắc phục khó khăn, phải phát huy vai trò lãnh đạo khi mọi người không
biết phải làm gì. Người ta sẽ không cần đến vai trò người lãnh đạo khi họ tự
nhận ra trở ngại và biết cách khắc phục. Nhà lãnh đạo sẽ nổi lên khi những khó
khăn đột ngột xuất hiện và khi mọi người không thể giải quyết được nó. Người
ta cũng không cần đến một nhà lãnh đạo nếu họ tự nhìn ra được các cơ hội và
có khả năng tận dụng các cơ hội đó. Khi đó, nhà lãnh đạo sẽ là người đứng lên
đón nhận cơ hội mà người khác bỏ lỡ hoặc không biết cách khai thác cơ hội đó.
Những trở ngại và cơ hội luôn có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, dù “kế hoạch
hành động” có tốt tới đâu, “chương trình quản lý “ có tỷ mỷ đến mức nào. Chính
vì vậy, doanh nghiệp cũng như các tổ chức khác đều cần có sự định hướng của
nhà lãnh đạo để vượt qua khó khăn và tận dụng được những cơ hội tốt.
Các kỹ năng cần phát triển cho nhà lãnh đạo trong nhóm kỹ năng định
hướng là:
a) Kỹ năng lập sơ đồ phạm vi hoạt động và xác định sự cần thiết của định
hướng lãnh đạo
Thông qua kỹ năng lập sơ đồ phạm vi hoạt động, nhà lãnh đạo sẽ xác
định được những bất ổn vẫn len lỏi vào hoạt động thường ngày của doanh
nghiệp. Theo sơ đồ lãnh đạo, nhà lãnh đạo sẽ biết được mình đang ở đâu và đi
đến đâu. Nhà lãnh đạo xác định sự cần thiết của những định hướng lãnh đạo
bằng cách liên tục thu thập thông tin đầu vào. Họ thường xuyên đặt ra những
câu hỏi về những ý tưởng, suy nghĩ và các giả định mà người khác xem như
một ý tưởng không hề phủ nhận.
49
Kỹ năng lập sơ đồ cũng giống như người trinh sát vẽ bản đồ để xác định
nơi cần đến. Người lãnh đạo giỏi cần xem xét kỹ lưỡng môi trường kinh doanh
để có cái nhìn ban đầu về những trở ngại tiềm ẩn và những cơ hội chưa ai nhận
ra. Từ những quan sát và nghiên cứu đó nhà lãnh đạo sẽ tìm cách làm cho mọi
chuyện trở nên tốt hơn.
Kỹ năng lập sơ đồ không phải là lối tiếp cận theo kiểu tự thỏa mãn với
những gì mình có, có nghĩa là người lãnh đạo biết những gì đang và sẽ xảy ra
vì thế sẽ không bận tâm, chú ý hoặc lắng nghe người khác nói.
Việc lập sơ đồ có thể áp dụng cho các nhà lãnh đạo trong mọi tình huống.
Hãy xem cách một vị tướng trong quân đội leo lên đỉnh núi để xác định cách
tấn công tốt nhất. Hay một nhà quản lý đi khắp nhà máy để xem xét mọi việc
diễn ra như thế nào. Thực tế cạnh tranh trong bối cảnh ngày nay, việc lập sơ đồ
phạm vi hoạt động càng trở nên cần thiết và giúp cho nhà lãnh đạo nhận ra các
xu hướng, hiểu được ảnh hưởng của sự thay đổi. James P.Kelly, Tổng giám đốc
tập đoàn UPS ( United Parcel Service) là tấm gương điển hình cho việc lập sơ
đồ này. Trong những năm giữa thập kỷ 90, ông đã nhận ra khả năng sử dụng
Internet như một kênh bán hàng. Ông đã cải tổ mạng lưới phân phối của UPS
để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hang trên mạng. Thời điểm năm 2000,
UPS đã thực hiện 55% tổng số các giao dịch mua hang qua mạng so với 32%
của US Postal Service và 10% của FedEx.
Thành thạo những kỹ năng trong việc lập hồ sơ và định hướng lãnh đạo
sẽ giúp cho nhà lãnh đạo:
- Phát hiện những khó khăn và cơ hội cần đưa ra định hướng lãnh đạo.
- Mở rộng kiến thức bản thân để đảm bảo hiểu rõ những mối lo ngại và
khó khăn.
- Nhận thức được các xu hướng và những thay đổi trong dài hạn cũng
như ngắn hạn, trên phạm vi hẹp và cả bức tranh tổng thể.
- Tìm hiểu tận gốc rễ những vấn đề cốt lõi và xác định khả năng xử lý.
50
- Tăng cường sự nhạy bén trong kinh doanh và hiểu các tình huống nhanh
hơn.
b) Xác lập đường lối lãnh đạo
Sau khi nhà lãnh đạo lập ra cho mình sơ đồ phạm vi lãnh đạo, xác định
rõ tầm quan trọng của định hướng lãnh đạo, nhà lãnh đạo sẽ đưa ra đường lối
lãnh đạo để vượt qua những bất ổn cũng như để đón nhận những cơ hội mà họ
phát hiện ra trong quá trình nghiên cứu lập sơ đồ. Đường lối lãnh đạo chỉ ra các
bước đi cần thiết để vượt qua trở ngại cũng như khai thác cơ hội mà người khác
không thể hoặc không muốn đi.
Những nội dung, kỹ năng cần làm trong việc xác lập đường lối lãnh đạo
là:
- Tạo ra trạng thái cân bằng mới và táo bạo trong việc thực hiện những
chính sách mới.
- Tạo ra tầm nhìn, sứ mệnh và các giá trị
- Phát triển, thực hiện các chương trình đã đặt ra
- Xác định rõ những hành động để đạt được kết quả
- Tập trung vào khách hàng
- Lập kế hoạch ứng phó với những thay đổi.
c) Phát triển người khác thành lãnh đạo
Một thực tế hiển nhiên là một mình nhà lãnh đạo sẽ không thể thực hiện
được việc lãnh đạo. Nhà lãnh đạo và những người ủng hộ tạo nên một lực lượng
lãnh đạo. Phát triển con người là đỉnh cao nhất của lãnh đạo. Những người lãnh
đạo không chỉ xuất hiện trong cấp cao nhất của tổ chức mà để đảm bảo thành
công thì người lãnh đạo phải xuất hiện ở mọi cấp trong tổ chức. Không môt ai
có khả năng chỉ đạo mọi hành động trên bước đường đi tới thành công ngay ở
cả các công ty nhỏ. Nhà lãnh đạo xuất sắc phải nhân bản chính mình. Nhà lãnh
đạo giỏi phải biết nắm vai trò chủ chốt, năng lực của họ ảnh hưởng đến hiệu
51
quả lãnh đạo chung đồng thời cũng phải tạo điều kiện để những người khác
phát triển khả năng lãnh đạo của mình.
Những nội dung mà nhà lãnh đạo cần quan tâm để phát triển đội ngũ
nhân sự đặc biệt là là phát triển đội ngũ lãnh đạo dưới mình.
- Trao quyền.
- Thu hút những người giỏi, những người có khả năng phát triển
- Nỗ lực hết sức để đào tạo ra những người giỏi
- Đào tạo và phát triển
- Liên tục đánh giá
Nắm vững những khả năng phát triển con người nhà lãnh đạo sẽ đạt được:
- Thu hút được người có tiềm năng để phát triển họ thanh lãnh đạo
- Nâng cao kỹ năng lãnh đạo của người khác thông qua những biện pháp
chính thức và không chính thức.
- Cải thiện mọi khía cạnh trong năng lực lãnh đạo của người khác.
- Thể chế hóa việc phát triển lãnh đạo trong doanh nghiệp.
d) Kỹ năng quản lý sự thay đổi
Thay đổi là một yếu tố quan trọng liên quan đến sự thành công của hoạt
động lãnh đạo doanh nghiệp. Nếu không thích ứng với sự thay đổi, doanh
nghiệp khó có thể giữ được vị thế cạnh tranh của mình. Vì vậy nhà lãnh đạo
cần hiểu được bản chất, nguyên nhân, các hình thức của sự thay đổi và các bước
quản lý thay đổi.
Bản chất của sự thay đổi trong doanh nghiệp: sự thay đổi trong doanh
nghiệp ở đây được hiểu là tất cả mọi quá trình cải tổ một cách chủ động nhằm
mục đích tạo sức cạnh tranh lớn hơn cho doanh nghiệp, từ việc áp dụng công
nghệ mới, những bước dịch chuyển có tính chất chiến lược, tổ chức lại dây
chuyền sản xuất, liên kết hoặc hợp nhất với doanh nghiệp khác, tái cơ cấu các
bộ phận kinh doanh, đến nỗ lực tối ưu hóa phong cách văn hóa tập đoàn…
52
Nguyên nhân của sự thay đổi: dẫn đến sự thay đổi trong doanh nghiệp có
rất nhiều nguyên nhân từ phía xã hội, do tác động của kinh tế và công nghệ.
Các nhà lãnh đạo cần xem xét nhìn nhận các nguyên nhân này để có cái nhìn
khách quan về sự thay đổi. Các nguyên nhân xã hội như những xu hướng chung
trong xã hội không những ảnh hưởng đến con người mà còn ảnh hưởng đến
hoạt động của các công ty. Nó gây ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ và các loại
hình kinh tế khác. Các nguyên nhân kinh tế như xu hướng thay đổi kinh tế khá
chậm nhưng có một sức mạnh khó lay chuyển được. tuy nhiên trong xu hướng
tương đối ổn định đó, thị trường và dòng tiền có thể biến động mạnh, hình thức
cạnh tranh có thể thay đổi nhiều, công nghệ và phát minh có thể vượt qua những
gì hiện có. Điều này buộc các công ty phải điều chỉnh theo những thay đổi bất
ngờ ở mọi cấp. Các nguyên nhân về công nghệ như cách mạng công nghệ thông
tin (IT) với tốc độ ngày càng gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ đến phương pháp
quản lý, sản xuất, dịch vụ, mua bán.
Sự thay đổi trong doanh nghiệp thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng:
thay đổi trong cơ cấu, cắt giảm chi phí, thay đổi quy trình và thay đổi văn hóa.
Cắt giảm chi phí bao gồm các chương trình chủ yếu tập trung vào việc cắt giảm
những hoạt động không cần thiết hoặc thực hiện những phương pháp thu hẹp
tối đa chi phí hoạt động. Thay đổi quy trình bao gồm các chương trình tập trung
vào việc thay đổi cách thức hiệu quả công việc. ví dụ xây dựng lại quy trình
phê duyệt các khoản vay, cách tiếp cận xử lý yêu cầu bảo hành từ khách hàng,
hoặc thậm chí cách đưa ra quyết định. Thay đổi quy trình thường nhằm thúc
đẩy công việc thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, đáng tin cậy hơn và ít tốn
kém hơn. Thay đổi văn hóa bao gồm các chương trình tập trung vào khía cạnh
con người như cách tiếp cận thông thường của công ty trong kinh doanh hoặc
mối quan hệ giữa cấp quản lý và nhân viên. Việc thay đổi từ quản lý theo kiểu
mệnh lệnh và điều khiển sang cách thức quản lý mang tính tham gia đóng góp
là một ví dụ về thay đổi môi trường văn hóa, là nỗ lực tái định hướng từ một
53
công ty chỉ tập trung nội bộ và mang tâm lý “sản phẩm là trung tâm phát triển”
sang định hướng lấy khách hàng làm mục tiêu trung tâm.
1.3.3 Các phương pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp
1.3.3.1 Phát triển kỹ năng lãnh đạo thông qua đào tạo
Một phương pháp phổ biến và hiệu quả cao giúp nhà lãnh đạo doanh
nghiệp có thể hoàn thiện, phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình đó là thông qua
đào tạo. Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp
vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định và
nâng cao trình độ, kỹ năng trong công việc hiện tại.
Trước hết nhà lãnh đạo xác định nhu cầu được đào tạo của mình: xác định
khi nào cần phải được đào tạo, cần phát triển những kĩ năng nào để giúp cho
hoạt động lãnh đạo được hiệu quả hơn.
Thứ hai, nhà lãnh đạo xác định mục tiêu đào tạo: xác định kết quả cần đạt
được của chương trình đào tạo, bao gồm: những kĩ năng cụ thể cần được đào
tạo và trình độ kĩ năng có được sau khi đào tạo, thời gian đi đào tạo phù hợp
với đặc thù công việc lãnh đạo doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà lãnh đạo có thể lựa chọn các loại hình đào tạo sau:
- Các chương trình đào tạo Thạc Sỹ, Tiến sỹ quản trị kinh doanh và
tương đương có cấp bằng (thạc sỹ, tiến sỹ quản lý, kinh tế…)
- Kèm cặp tại chỗ bởi người lãnh đạo trực tiếp có kinh nghiệm
(coaching)
- Đào tạo lớp học: Đây là mô hình đào tạo đang được áp dụng phổ
biến và quen thuộc với các doanh nghiệp. Để nâng cao khả năng làm việc cũng
như phát triển các kỹ năng lãnh đạo, doanh nghiệp có thể tiến hành đào tạo
thông qua đào tạo nội bộ hoặc cử đi học bên ngoài.
Nhà lãnh đạo sẽ tham gia học các khóa Phát triển kỹ năng lãnh đạo do
công ty tự tổ chức hoặc tham gia các chương trình đào tạo bên ngoài (chương
trình do các trường đại học chuyên ngành quản lý hoặc các công ty đào tạo
54
danh tiếng). Thời gian mỗi khóa đào tạo này có thể ngắn hạn (5 – 10 ngày) hoặc
trung hạn (3-6 tháng). Ưu điểm của mô hình đào tạo lớp học là tính tương tác
giữa học viên và giảng viên cao. Những kiến thức đưa ra dựa trên kinh nghiệm
thực tế của giảng viên nên học viên dễ dàng tiếp thu và vận dụng. Đồng thời
đây cũng là phương pháp quen thuộc với cách học truyền thống của người học
nên dễ dàng được học viên đón nhận. Nhược điểm của hình thức đào tạo này
chính là yếu tố thời gian và chi phí tổ chức và để tiến hành một khóa đào tạo
như vậy doanh nghiệp phải xem xét yếu tố thời gian sao cho không ảnh hưởng
đến hoạt động chung của tổ chức.
- Đào tạo trực tuyến hay còn gọi là E-Learning: Mô hình đào tạo này
còn tương đối mới mẻ với nhiều doanh nghiệp và thực sự phát triển tại Việt
Nam trong vòng vài năm nay. Chỉ cần một máy tính kết nối Internet, một tài
khoản truy cập của nhà cung cấp khóa học, học viên có thể làm chủ quá trình
học tập của mình. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, E-Learning là hình
thức học tập hiệu quả nhất của thời đại CNTT. Với E-Learning học viên có thể
tiết kiệm 50 – 70% chi phí đào tạo (IOMA), giảm 40 – 60% thời gian học
(Brandon Hall), tăng hiệu quả làm việc lên 25% so với các hình thức đào tạo
khác (JD Fletcher – Multimedia Review). Qua hình thức đào tạo trực tuyến,
nhà lãnh đạo có thể điều khiển quá trình học tập của mình mọi lúc, mọi nơi với
những khóa học được thiết kế bởi các nhà cung cấp nội dung đào tạo hàng đầu
thế giới. Tuy nhiên, đào tạo trực tuyến không thể thay thế được hoàn toàn hình
thức đào tạo lớp học. Nhược điểm của mô hình đào tạo này là tính tương tác
yếu. Các khóa học được thiết kế với những tình huống cố định nên gây khó
khăn cho nhà lãnh đạo trong quá trình ứng dụng. Đây là phương pháp yêu cầu
sự chủ động cao trong học tập của học viên nên khi áp dụng vào các doanh
nghiệp Việt Nam cần có những hoạt động PR nội bộ rầm rộ.
- Mô hình hóa hành vi (trò chơi kinh doanh): nội dung được thiết kế
sẵn để mô hình hóa các hành vi hợp lý trong các tình huống đặc biệt, tạo ra tình
huống giống như thật để nhà lãnh dạo nhập vai thực hành hành vi hợp lý nhất
55
cho tình huống đó. Phương pháp này giúp cho nhà lãnh đạo học tập cách ra
quyết định nhanh chóng trong công việc hàng ngày.
1.3.3.2 Phát triển kỹ năng lãnh đạo thông qua tự học và rèn luyện
Tự học là một trong những phương pháp tốt để phát triển kỹ năng. Nếu
học là quá trình tìm hiểu, thu nhận kiến thức và hình thành kỹ năng của bản
thân thì tự học là sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và
hình thành kỹ năng cho mình. Quá trình tự học cũng có phạm vi khá rộng: khi
nghe giảng, đọc sách hay làm bài tập, cần tích cực suy nghĩ, ghi chép, sáng tạo
nhằm rút ra những điều cần thiết, hữu ích cho bản thân. Tự học cũng có nhiều
hình thức: có khi là tự mày mò tìm hiểu hoặc có sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy
cô giáo …Dù ở hình thức nào thì sự chủ động tiếp nhận tri thức của người học
vẫn là quan trọng nhất. Phải tự học mới thấy hết những ý nghĩa lớn lao của công
việc này. Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách
hữu ích hơn trong cuộc sống. Không những thế tự học còn giúp con người trở
nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác. Từ đó
biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân. Và
việc tự học là một công việc gian khổ, đòi hỏi lòng quyết tâm và sự kiên trì.
Nhà lãnh đạo có thể thông qua việc tự nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên
ngành, tự học thông qua các tình huống có sẵn…để phát triển các kỹ năng lãnh
đạo của mình. Bên cạnh việc tích cực tự học, tự nghiên cứu thì nhà lãnh đạo
cũng cần duy trì thói quen sử dụng các kỹ năng hàng ngày để hoàn thiện và
phát triển các kỹ năng lãnh đạo. Ví dụ như kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng
giao tiếp, thuyết trình…
1.4 Các yếu tố tác động tới phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp
Có nhiều yếu tố tác động tới việc phát triển kỹ năng lãnh đạo trong
doanh nghiệp. Dựa theo các cách tiếp cận khác nhau có thể phân chia thành các
nhóm yếu tố ảnh hưởng khác nhau. Phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh
nghiệp có thể chịu ảnh hưởng từ nhóm các yếu tố từ môi trường bên ngoài
56
doanh nghiệp (gồm các yếu tố như xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và
khu vực), bên trong doanh nghiệp hay nhóm các yếu tố có tính chất bẩm sinh
mang tính tự nhiên của người lãnh đạo và nhóm các yếu tố thuộc về nhận thức
của nhà lãnh đạo các nhân tố về kiến thức, sự hiểu biết về tri thức, năng lực và
kỹ năng.
Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận án, nghiên cứu tác động
của các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp,
tác giả đã lựa chọn khung lý thuyết MOA ( M: Motivation – Động lực; O:
Opportunity – Cơ hội; A: Ability – Khả năng) của MacInnis J.D và cộng sự
(1991). Đây là khung lý thuyết trong Marketing xã hội, đã được ứng dụng phổ
biến trong các lĩnh vực khác nhau nhằm giải thích hành vi của cá nhân và tổ
chức.
*Động lực (M): Động lực được coi là nhân tố tiền đề của hành vi. Động lực
liên quan tới năng lượng, định hướng, quyết tâm, hay nói chung là những gì sẽ
thúc đẩy và ý định (Reeve, 2009). Theo cách định nghĩa về động lực của
MacInnis và cộng sự (1991), động lực trong trường hợp này là “mong muốn
phát triển các kỹ năng lãnh đạo”.
Các yếu tố tạo ra động lực phát triển các kỹ năng của nhà lãnh đạo bao gồm
- Việc nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ năng đó (khi nhà lãnh đạo
nhận thấy những kỹ năng lãnh đạo nào là quan trọng với bản thân mình thì họ
sẽ có những ham muốn, quyết tâm cố gắng hoàn thiện kỹ năng đó hơn so với
các kỹ năng khác không)
- Chức vụ của nhà lãnh đạo (một nhà lãnh đạo cấp cao có xu hướng phát triển
các kỹ năng lãnh đạo của mình để tạo uy tín, nâng cao hình ảnh, mức độ ảnh
hưởng đối với cấp dưới, mở rộng mối quan hệ với bên ngoài)
*Cơ hội (O): Cá nhân nhà lãnh đạo có động lực phát triển nhưng chưa chắc đã
thực hiện hành vi nếu không có hoặc có ít cơ hội để thực hiện. Cơ hội phát triển
các kỹ năng lãnh đạo ở đây có thể bao gồm các yếu tố như:
57
- Qui mô doanh nghiệp: số lượng nhân viên hay số lượng các đơn vị kinh doanh
chiến lược trong doanh nghiệp nhiều hay ít sẽ đòi hỏi ở nhà lãnh đạo doanh
nghiệp các kỹ năng khác nhau.
- Tần suất sử dụng các nhóm kỹ năng lãnh đạo
* Khả năng (A): Để có thể phát triển các kỹ năng lãnh đạo, mỗi cá nhân nhà
lãnh đạo còn cần có khả năng phát triển. Khả năng trong trường hợp này có thể
bao gồm các yếu tố như:
- Học vấn của nhà lãnh đạo
- Kinh nghiệm quản lý của nhà lãnh đạo
- Phương pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo
Như vậy, để phân tích các yếu tố tác động tới việc phát triển các kỹ năng
lãnh đạo trong doanh nghiệp, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
M
Động lực phát triển: - Nhận thức về tầm quan trọng của các kỹ năng - Chức vụ
Phát triển các nhóm kỹ năng lãnh đạo:
O
Cơ hội phát triển: - Quy mô DN - Tần suất sử dụng
- Nền tảng - Ảnh hưởng - Định hướng
Khả năng phát triển: - Học vấn - Kinh nghiệm - Phương pháp (đào
A
tạo, tự học)
Hình 1.4 Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động tới phát triển kỹ năng
lãnh đạo doanh nghiệp
(Nguồn: MacInnis J.D và cộng sự (1991))
58
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Tóm lại, chương 1 đã trình bày những vấn đề cơ bản, cốt lõi về bản chất
của lãnh đạo, kỹ năng lãnh đạo….Chương 1 cũng đã đi sâu luận giải việc phát
triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp là phát triển các nhóm kỹ năng cụ
thể của người lãnh đạo như: (1) nhóm kỹ năng nền tảng (2) nhóm kỹ năng ảnh
hưởng (3) nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo. Ngoài ra, các phương pháp để
phát triển kỹ năng lãnh đạo cũng được đề cập ở chương này.
Việc nghiên cứu các yếu tố tác động tới phát triển kỹ năng lãnh đạo là vô
cùng cần thiết, có các yếu tố như động lực phát triển các kỹ năng, cơ hội cho
nhà lãnh đạo phát triển và khả năng phát triển…là cơ sở để chương 2 của luận
án đưa ra các phân tích thực trạng.
59
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH CỦA VIỆT NAM
2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Để hiểu khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh trước hết ta tìm hiểu
khái niệm doanh nghiệp. Theo Luật doanh nghiệp năm 2015: “Doanh nghiệp
là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh”.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay doanh nghiệp dân doanh là thuật
ngữ dùng để chỉ các loại hình doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân là người
Việt Nam hoặc các tổ chức, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam góp
vốn thành lập.
2.1.2 Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
- Thành viên của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các tổ chức, cá
nhân có quốc tịch Việt Nam hoặc là tổ chức, cá nhân – người nước ngoài nhưng
phải thường trú tại Việt Nam.
- Khi thành lập doanh nghiệp, các sáng lập viên được quyền tự quyết
định lựa chọn loại hình doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh
doanh theo quy định của pháp luật.
- Vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoàn toàn do các tổ chức hoặc
cá nhân đóng góp, không có sự tham gia góp vốn của Nhà nước hoặc của nhà
đầu tư nước ngoài.
- Phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có phạm vi và quy mô
hoạt động nhỏ hẹp hơn so với các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
60
2.1.3 Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
2.1.3.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên:
Tại điều 47 Luật doanh nghiệp năm 2015 quy định công ty TNHH 2 thành
viên trở lên là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, gồm không quá 50 thành
viên tham gia góp vốn.
Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân
Thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy
định của pháp luật.
2.1.3.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, do một tổ chức hoặc một cá nhân
làm chủ sở hữu.
Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các rủi ro của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp
Về cơ bản, khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có
nhiều điểm giống với khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành
viên trở lên. Sự khác biệt quan trọng nhất giữa hai loại công ty này đó là số
thành viên trong công ty.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát
hành cổ phiếu.
2.1.3.3 Công ty cổ phần:
Ở Việt Nam, công ty cổ phần được chính thức thừa nhận từ năm 1990
khi Nhà nước ban hành Luật Công ty. Từ đó đến nay, các quy định về loại hình
công ty này cũng đã được hoàn thiện dần qua các lần sửa đổi, bổ sung các đạo
luật liên quan.
Theo Luật Doanh nghiệp 2015, công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân, trong đó:
61
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông
Cổ đông có thể coi là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là
3 và không hạn chế số lượng tối đa.
Cổ đông có cổ phiếu phổ thông được quyền tự do chuyển nhượng cổ
phần của mình cho người khác và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh
nghiệp;
Công ty cổ phần được phát hành chứng khoán ra công chúng theo
quy định của pháp luật hiện hành.
2.1.3.4 Công ty hợp danh:
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng
nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh);
ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Công ty hợp danh không được phép phát hành bất kỳ loại chứng
khoán nào.
2.1.3.5 Doanh nghiệp tư nhân:
Luật doanh nghiệp 2005 quy định doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp
do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán
nào.
Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
62
Tóm lại, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp
không thuộc sở hữu của Nhà nước, trừ khối hợp tác; toàn bộ vốn, tài sản, lợi
nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ doanh nghiệp
hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản
xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận
sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các
quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh
nghiệp cả nước (96,4%), trong đó loại hình công ty TNHH cũng chiếm số lượng
lớn hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động SXKD phân loại theo
loại hình doanh nghiệp
Chia ra
Doanh nghiệp ngoài nhà nước Tổng số doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước
Toàn quốc (tổng số) 3199 359794 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 10220
Trung ương Địa phương Doanh nghiệp tư nhân Công ty hợp danh Công ty TNHH Công ty cổ phần DN 100% vốn nước ngoài DN liên doanh với nước ngoài 373213 1790 1409 49203 502 230640 79449 8632 1588
(Nguồn: Niên giám Thống kê, 2014)
2.2 Phân tích các nội dung phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
2.2.1 Thực trạng nhận thức tầm quan trọng việc phát triển kỹ năng lãnh đạo
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
63
2.2.1.1 Đánh giá chung
Biểu đồ sau đây trình bày kết quả tổng hợp thực trạng nhận thức của các
nhà lãnh đạo về tầm quan trọng việc phát triển các kỹ năng lãnh đạo trên thang
điểm 5 (1 -không quan trọng, 2 -ít quan trọng, 3 -bình thường, 4 -quan trọng,
5 -rất quan trọng).
Biểu đồ 2.1: Nhận thức tầm quan trọng của việc phát triển các
4.54
4.6
4.51 4.49
4.41
4.35
4.31
4.4
4.27 4.2 4.19
4.2
4.07 4.05 4.01 4.01 4
3.87
4
3.8
3.6
3.4
kỹ năng lãnh đạo
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Nhìn chung, các nhà lãnh đạo đều đánh giá cao tầm quan trọng của việc
phát triển tất cả các kỹ năng lãnh đạo được nêu ra trong phiếu khảo sát, không
có ý kiến nào đánh giá các kỹ năng này là không cần phát triển đối với doanh
nghiệp. Mức điểm đánh giá nằm trong khoảng 3 đến 5 điểm (ứng với bình
thường đến rất quan trọng) là chủ yếu.
Theo các nhà lãnh đạo tư duy chiến lược và kỹ năng xây dựng chiến lược
được đánh giá là kỹ năng quan trọng nhất (4,54 điểm) cần phát triển, bởi đây là
yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp có thể tạo dựng khả năng cạnh tranh và
phát triển bền vững. Chiến lược là yếu tố thiết yếu trong doanh nghiệp, chiến
64
lược quyết định mô hình và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Vậy để có thể
nhận thức đúng về chiến lược, nhà lãnh đạo cần có tư duy chiến lược và kỹ
năng xây dựng chiến lược thấu đáo và sáng suốt.
Cũng được đánh giá cao về tầm quan trọng phát triển giống như kỹ năng
tư duy và xây dựng chiến lược trong doanh nghiệp là kỹ năng quản lý thời gian
có số điểm đánh giá trung bình là 4,51 điểm (gần mức rất quan trọng trong
thang đo). Các nhà lãnh đạo cho rằng khi có tư duy chiến lược tốt, xây dựng
chiến lược phù hợp nhưng nếu quản lý thời gian không tốt, việc triển khai thực
hiện các chiến lược này vẫn hoàn toàn có thể gặp phải các khó khăn, trở ngại.
Ở vị trí thứ ba cần phát triển là kỹ năng đàm phán, giải quyết xung đột
(4,49 điểm). Để tìm kiếm các phương án và vị thế đàm phán trong kinh doanh
nhằm hướng đến các kết quả có thể được các bên liên quan chấp nhận hoặc biết
hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp với đối tác, với khách hàng, với nhà cung cấp
là kỹ năng cũng vô cùng quan trọng.
Hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, kỹ năng lãnh đạo bản
thân, kỹ năng ra quyết định là 3 kỹ năng có điểm đánh giá gần nhau,(tương ứng
4,41; 4,35; 4,31) mức độ đánh giá quan trọng tương đương nhau. Phần lớn các
nhà lãnh đạo cho rằng việc am hiểu mọi hoạt động trong doanh nghiệp, việc
rèn luyện kỹ năng lãnh đạo bản thân quyết định rất nhiều đến sự thành công
của một nhà lãnh đạo. Một nhà lãnh đạo không hiểu được chính bản thân mình,
không quản lý tốt thời gian, không có tư duy chiến lược, không xác định được
mình đang ở đâu thì không thể lãnh đạo ai, không thể bố trí công việc cho ai,
không thể tìm ra được điểm mấu chốt để giải quyết công việc và không có được
lòng tin của những người xung quanh. Khi không có được lòng tin và sự ngưỡng
mộ thì không thể có được sự ủng hộ và gắn bó lâu dài của những người chịu sự
lãnh đạo.
Kỹ năng có số điểm trung bình đánh giá thấp nhất về tầm quan trọng cần
phát triển là kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi. Với mức điểm 3,87 các
65
nhà lãnh đạo cho rằng kỹ năng này không quan trọng, họ vẫn có thể thích ứng
được với môi trường khi họ thực hiện tốt các kỹ năng khác, ví dụ như tư duy
chiến lược, lãnh đạo bản thân…
2.2.1.2 Đánh giá theo từng nhóm kỹ năng
Phần trên tác giả đánh giá chung về tầm quan trọng của việc phát triển
các kỹ năng lãnh đạo, phần này sẽ đi sâu vào phân tích theo nhóm kỹ năng,
trước hết cần so sánh mức độ quan trọng cần phát triển của 3 nhóm theo điểm
bình quân đánh giá.
Bảng 2.4 Điểm bình quân đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển 3
nhóm kỹ năng lãnh đạo
Điểm bình quân đánh giá tầm quan Nhóm kỹ năng trọng
Nền tảng 4,39
Ảnh hưởng 4,18
Định hướng lãnh đạo 3,99
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Kết quả khảo sát cho thấy các nhà lãnh đạo hiện nay đánh giá cao nhất
việc phát triển nhóm kỹ năng nền tảng, tiếp theo là nhóm kỹ năng ảnh hưởng.
Mặc dù có số điểm bình quân thấp nhất trong 3 nhóm kỹ năng nhưng cũng có
thể coi như nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo cũng quan trọng (mức điểm
3,99 rất rất gần với mức điểm quan trọng)
a) Nhóm kỹ năng nền tảng
Trong nhóm kỹ năng nền tảng, tất cả các kỹ năng đều được đánh giá quan
trọng, và cũng tương tự như phần đánh giá chung ở trên tác giả đã phân tích thì
kỹ năng tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược (4,54 điểm), kỹ năng quản
lý thời gian (4,51) vẫn là những kỹ năng quan trọng nhất cần phát triển. Tiếp
theo là hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của công ty (4,49). Việc hiểu rõ về lĩnh
66
vực hoạt động của doanh nghiệp như là một yếu tố không thể thiếu nếu muốn
làm một nhà lãnh đạo thành công. Không có kỹ năng nghiệp vụ, người lãnh đạo
không thể thấu hiểu những vấn đề về công việc mà nhân viên của mình gặp
phải để khắc phục hoặc tìm ra phương án phản ứng tối ưu trong những tình
huống nhạy cảm, không thể xác định được sứ mệnh, chiến lược và những định
hướng dài hạn của doanh nghiệp.
Biểu đồ 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển các kỹ năng
A2.Tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược
4.54
A4. Kỹ năng quản lý thời gian
4.51
A1. Hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của DN
4.41
A3. Kỹ năng lãnh đạo bản thân
4.35
A6. Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
4.31
A5. Kỹ năng lập kế hoạch kinh doanh
4.27
nền tảng
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Kỹ năng có số điểm bình quân thấp nhất trong nhóm này là kỹ năng lập
kế hoạch kinh doanh (4,27).
b) Nhóm kỹ năng ảnh hưởng
Trong nhóm kỹ năng ảnh hưởng, kỹ năng được đánh giá cao nhất cần phát
triển là kỹ năng đàm phán, giải quyết xung đột. 55% số nhà lãnh đạo tham gia
khảo sát cho rằng kỹ năng này RẤT quan trọng (xem phụ lục 03). Trong kinh
doanh đàm phán có vai trò cực kỳ quan trọng đối với thành công của nhà lãnh
67
đạo. Đàm phán không khéo, doanh nghiệp có thể mát đi khách hàng, mất đi đối
tác kinh doanh. Chính bởi tầm quan trọng của nó mà nhà lãnh đạo cần phải phát
triển kỹ năng này, không thể không để ý đến việc làm thế nào để đàm phán
thành công và ngày nay đàm phán đã trở thành 1 nghệ thuật của nhà lãnh
đạo trong giải quyết xung đột.
Hai kỹ năng tiếp theo được đánh giá cùng quan trọng như nhau là kỹ năng
xây dựng mối quan hệ và kỹ năng giao tiếp, thuyết trình (ứng với 4,2 và 4,19
điểm). Kỹ năng có số điểm trung bình thấp nhất trong nhóm và ứng với mức
thang đo quan trọng (4 điểm) là kỹ năng tạo ảnh hưởng.
Biểu đồ 2.3: Đánh giá tầm quan trọng của việc
Kỹ năng đàm phán, giải quyết xung đột
4.49
Xây dựng & phát triển mối quan hệ
4.2
Kỹ năng giao tíếp và thuyết trình
4.19
Xây dựng môi trường có tính khích lệ
4.05
Tạo ảnh hưởng
4
phát triển các kỹ năng ảnh hưởng
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Một loại tài sản giá trị mà mọi tổ chức đều sở hữu chính là nhân
c) Nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
viên của mình. Nhà lãnh đạo cần đánh giá và phát triển năng lực của mỗi nhân
viên của họ trong công việc và trong tổ chức. Việc đánh giá nhân viên giúp xác
định sự phù hợp của mỗi nhân viên đối với những công việc riêng biệt trong
68
doanh nghiệp. Việc này còn giúp nhà lãnh đạo xác định chính xác sự chênh
lệch trong hiệu quả công việc của những nhân viên khác nhau và cho phép đưa
ra những chiến lược phát triển cho mỗi cấp độ của tổ chức. Nhận thức được
điều đó, qua khảo sát cho thấy các nhà lãnh đạo đánh giá kỹ năng phát triển
nhân viên là quan trọng nhất trong nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo cần phát
triển.
Biểu đồ 2.4: Đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển
Phát triển nhân viên
4.07
Định hướng kết quả
4.01
Trao quyền cho cấp dưới
4.01
Thích ứng và quản lý thay đổi
3.87
các kỹ năng định hướng lãnh đạo
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Tiếp theo là 2 kỹ năng định hướng kết quả và trao quyền cho nhân viên
có số điểm bằng nhau (4,01). Sắp xếp thứ tự ưu tiên cần phát triển ít nhất trong
nhóm là kỹ năng quản lý sự thay đổi (3,87 điểm).
2.2.2 Thực trạng tần suất sử dụng các kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
2.2.2.1 Đánh giá chung
Việc phát triển các kỹ năng lãnh đạo còn được đánh giá ở góc độ tần
suất sử dụng trong hoạt động lãnh đạo của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài
quốc doanh. Việc rèn luyện thường xuyên các kỹ năng sẽ giúp nhà lãnh đạo tự
69
hoàn thiện các kỹ năng của mình, thông qua khảo sát tác giả sẽ tổng hợp trong
biểu đồ sau:
Biểu đồ trình bày kết quả tổng hợp thực trạng tần suất sử dụng các kỹ
năng lãnh đạo của các nhà lãnh đạo của trên thang điểm 5 (1 -không bao giờ
sử dụng, 2 -ít khi sử dụng, 3 –thỉnh thoảng, 4 –thường xuyên sử dụng, 5 – rất
thường xuyên).
Khác với đánh giá về tầm quan trọng, ở đây kỹ năng quản lý thời gian
(4,3 điểm) và kỹ năng giao tiếp, thuyết trình (4,23 điểm) được đưa lên hàng
đầu về tần suất sử dụng của nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong khi tư duy chiến
lược và xây dựng chiến lược (3,82) xuống vị trí thứ 12.
4.3 4.23 4.15 3.99 3.92 3.77 3.76 3.76 3.73 3.65 3.59 3.58 3.54 3.53 3.36
4.5 4 3.5 3 2.5 2 1.5 1 0.5 0
Biểu đồ 2.5: Tần suất sử dụng các kỹ năng lãnh đạo cần phát triển
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Điều đó có thể dễ hiểu bởi kỹ năng quản lý thời gian là kỹ năng mà bất
kỳ ai cũng đều thực hiện hàng ngày, việc kiểm soát thời gian tốt giúp nhà lãnh
đạo thực hiện tốt mục tiêu của mình. Cũng như vậy kỹ năng giao tiếp, thuyết
trình được nhà lãnh đạo sử dụng thường xuyên, liên tục trong công việc lãnh
đạo hàng ngày. Có thể nói kỹ năng giao tiếp chính là cầu nối để thành công,
giao tiếp tốt sẽ mở ra cơ hội với nhiều mối quan hệ tốt đẹp hơn, và trong kinh
70
doanh kỹ năng giao tiếp, thuyết trình càng khẳng định vai trò quan trọng. Lý
do tư duy chiến lược và kỹ năng xây dựng chiến lược không được sử dụng
thường xuyên là vì bản chất của chiến lược là dài hạn, việc thực hiện chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trong khoảng thời gian dài.
Nhóm kỹ năng ở cuối bảng đánh giá về tần suất sử dụng là kỹ năng tạo
ảnh hưởng (3,54 điểm), kỹ năng xây dựng môi trường có tính khích lệ (3,53
điểm) và kỹ năng thích ứng với sự thay đổi (3,87).
2.2.2.2 Đánh giá theo từng nhóm kỹ năng
Trước hết, chúng ta cũng so sánh tần suất sử dụng của 3 nhóm kỹ năng
theo điểm bình quân theo thang điểm 5 như sau:
Bảng 2.5 Điểm bình quân tần suất sử dụng 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo
Nhóm kỹ năng Điểm bình quân tần suất sử dụng
Nền tảng 3,91
Ảnh hưởng 3,79
Định hướng lãnh đạo 3,59
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Trong 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo, nhóm kỹ năng nền tảng được các nhà
lãnh đạo sử dụng thường xuyên nhất. Thực tế đúng như vậy, việc am hiểu về
lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, việc ra quyết định hay quản lý thời gian
phù hợp là các kỹ năng cơ bản nhất nhà lãnh đạo thực hiện hàng ngày và nhóm
kỹ năng này cũng là nhóm kỹ năng được đánh giá quan trọng nhất, vì vậy tần
suất sử dụng cũng cao nhất. Tiếp theo là đến nhóm kỹ năng ảnh hưởng với số
điểm bình quân là 3,79. Cách biệt không nhiều là nhóm kỹ năng định hướng
với 3,59 điểm.
a) Nhóm kỹ năng nền tảng
Dẫn đầu về tần suất được các nhà lãnh đạo sử dụng thường xuyên trong
nhóm kỹ năng nền tảng vẫn là kỹ năng quản lý thời gian. Tiếp theo là việc hiểu
71
biết về lĩnh vực hoạt động và kỹ năng ra quyết định với số điểm tương ứng là
4,15 và 3,99. Kỹ năng có tần suất sử dụng thấp nhất là kỹ năng tư duy và xây
dựng chiến lược (đạt 3,58 điểm), lý do tại sao tác giả đã giải thích ở phần phân
tích chung đề mục 2.2.3.1
Kỹ năng quản lý thời gian
4.3
Hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của DN
4.15
Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
3.99
Kỹ năng lãnh đạo bản thân
3.76
Kỹ năng lập kế hoạch kinh doanh
3.73
Tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược
3.58
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
4.5
5
Biểu đồ 2.6: Đánh giá tần suất sử dụng các kỹ năng nền tảng
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
b) Nhóm kỹ năng ảnh hưởng
Thống kê cho thấy có 85,1% (xem phụ lục 04) nhà lãnh đạo thường
xuyên và RẤT thường xuyên sử dụng kỹ năng giao tiếp, thuyết trình – kỹ năng
có số điểm bình quân cao nhất trong nhóm kỹ năng ảnh hưởng. Hai kỹ năng có
mức điểm gần mức “thường xuyên sử dụng” là kỹ năng đàm phán, giải quyết
xung đột (3,92 điểm) và kỹ năng xây dựng, phát triển mối quan hệ (3,77 điểm).
Hai kỹ năng tạo ảnh hưởng và xây dựng môi trường có tính khích lệ có
mức điểm tương đương nhau là 3,54 và 3,53. Điều này cho thấy các nhà lãnh
đạo trong các DNNQD có quan tâm, có sử dụng các kỹ năng này nhưng ở mức
độ chưa thường xuyên.
72
Kỹ năng giao tíếp và thuyết trình
4.23
Kỹ năng đàm phán, giải quyết xung đột
3.92
Xây dựng & phát triển mối quan hệ
3.77
Tạo ảnh hưởng
3.54
Xây dựng môi trường có tính khích lệ
3.53
3
3.2
3.4
3.6
3.8
4
4.2
4.4
Biểu đồ 2.7: Đánh giá tần suất sử dụng các kỹ năng ảnh hưởng
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
c) Nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
Trao quyền cho cấp dưới
3.76
Định hướng kết quả
3.65
Phát triển nhân viên
3.59
Thích ứng và quản lý thay đổi
3.36
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
Biểu đồ 2.8: Đánh giá tần suất sử dụng các kỹ năng định hướng lãnh đạo
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Theo phần đánh giá so sánh giữa 3 nhóm kỹ năng ở trên, tần suất các nhà
lãnh đạo thực hiện các kỹ năng định hướng lãnh đạo là ít nhất. Thật vậy, cả 4
kỹ năng trong nhóm kỹ năng này đều có số điểm bình quân <4, nghĩa là chưa
ở mức độ thường xuyên sử dụng. Kỹ năng trao quyền cho cấp dưới được sử
73
dụng nhiều nhất, đạt 3,76 điểm, tiếp đến là kỹ năng định hướng kết quả còn kỹ
năng có số điểm thấp nhất là kỹ năng quản lý sự thay đổi (3,36 điểm).
2.2.3 Đánh giá thực trạng các kỹ năng lãnh đạo cần phát triển trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
2.2.3.1 Đánh giá chung
Tổng hợp khảo sát các nhà lãnh đạo tự đánh giá, cho điểm các kỹ năng
lãnh đạo của mình theo thang điểm 5 (1-rất kém, 2-kém, 3-chấp nhận được, 4-
tốt, 5-rất tốt), nhìn chung tất cả các kỹ năng được đánh giá đều ở mức độ chấp
nhận được (<4 điểm). Kết quả cho thấy chỉ có duy nhất một kỹ năng mà tất cả
các nhà lãnh đạo đều đánh giá tốt là kỹ năng hiểu biết về lĩnh vực hoạt động,
kinh doanh, đây cũng là kỹ năng có số điểm trung bình cao nhất (4,04 điểm).
Các nhà lãnh đạo đều nắm vững kiến thức chuyên môn, nắm bắt nhanh nhạy
các yếu tố của lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề hoạt động hiện tại.
Theo phụ lục số 05 ta thấy trong tổng số 392 nhà lãnh đạo tham gia khảo
sát có 5 nhà lãnh đạo không trả lời câu hỏi này. Bỏ qua số mẫu cá thể là 5,
chúng ta thấy có tới 81,4% nhà lãnh đạo có sự am hiểu về lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp ở mức TỐT và RẤT TỐT.
Tần suất sử dụng thường xuyên kỹ năng giao tiếp, thuyết trình cũng giúp
cho kỹ năng này của các nhà lãnh đạo gần ở mức độ tốt. Tiếp đến là kỹ năng ra
quyết định và giải quyết vấn đề (3,81 điểm).
Kỹ năng các nhà lãnh đạo cho rằng mình còn chưa làm tốt là tư duy chiến
lược và xây dựng chiến lược (3,49), các nguyên nhân mà các nhà lãnh đạo đưa
ra để giải thích cho năng lực thấp và mức độ quan tâm đến tư duy chiến lược,
lập chiến lược và kế hoạch kinh doanh thường là đặc điểm của môi trường kinh
doanh thay đổi nhanh, không theo quy luật và khó dự báo trong những năm vừa
qua làm cho họ khó làm chiến lược nên dẫn đến mức độ quan tâm đến chiến
lược là không nhiều.
74
Biểu đồ 2.9: Thực trạng kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài
4.04
4.1
4
3.86
3.9
3.81
3.77
3.74
3.8
3.7
3.7
3.59 3.61 3.62 3.63
3.54 3.56 3.56
3.6
3.49
3.44
3.5
3.4
3.3
3.2
3.1
quốc doanh của Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Mặt khác, cải thiện năng lực tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược
cũng như xây dựng kế hoạch kinh doanh hay ra quyết định và giải quyết vấn đề
là vấn đề phức tạp trong khi ở Việt Nam thiếu trầm trọng các chương trình đào
tạo và chuyên gia đào tạo về chiến lược, kế hoạch kinh doanh hay ra quyết định
mang tính ứng dụng.
2.2.3.2 Đánh giá theo từng nhóm kỹ năng
Với việc được nhận thức tầm quan trọng cần phát triển cũng như tần suất
được sử dụng lớn nhất, khảo sát cho thấy thực trạng chất lượng nhóm kỹ năng
nền tảng của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài quốc doanh tốt hơn so với
75
hai nhóm kỹ năng còn lại. Nhóm kỹ năng định hướng ở mức chấp nhận được
(đạt 3,55 điểm).
Bảng 2.6 Điểm bình quân đánh giá 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo
Điểm bình quân đánh giá thực Nhóm kỹ năng trạng các nhóm kỹ năng
Nền tảng 3,74
Ảnh hưởng 3,67
Định hướng lãnh đạo 3,55
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Luận án đi sâu phân tích thực trạng cụ thể từng kỹ năng trong từng nhóm
thông qua các biểu đồ như sau:
a) Nhóm kỹ năng nền tảng
Biểu đồ 2.10: Đánh giá thực trạng nhóm kỹ năng nền tảng của nhà lãnh
A1. Hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp 4.04
3.81
A6. Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
A2.Tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược
3.49
4.2 4 3.8 3.6 3.4 3.2
3.63
3.74
A5. Kỹ năng lập kế hoạch kinh doanh
A3. Kỹ năng lãnh đạo bản thân
3.7
A4. Kỹ năng quản lý thời gian
đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Đây là nhóm kỹ năng được đánh giá cao nhất trong 3 nhóm, có thể thấy
các nhà lãnh đạo đã thực hiện tốt hơn các kỹ năng cơ bản. Đạt mức độ đánh giá
tốt là kỹ năng am hiểu lĩnh vực hoạt động. Việc hiểu biết về lĩnh vực hoạt động
76
kinh doanh của mình là điều kiện tiên quyết của một nhà lãnh đạo, khi hiểu về
doanh nghiệp thì nhà lãnh đạo mới có thể đưa ra các quyết định phù hợp với
bối cảnh doanh nghiệp. Tiếp theo là kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
(3,81 điểm), các nhà lãnh đạo đã luôn chủ động đưa ra các quyết định nhạy bén,
kịp thời xử lý các tình huống xảy ra trong doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các nhà lãnh đạo cũng đã làm khá tốt kỹ năng lãnh đạo bản
thân (3,74 điểm), xác định được các điểm mạnh, điểm yếu và có ý thức học hỏi
liên tục. Chỉ có 6,9% nhà lãnh đạo đánh giá mình còn rất kém (0,3%) và kém
(6,6%) kỹ năng này.
Có một thực tế cho thấy, những doanh nhân thành đạt là những người
biết quản lý tốt thời gian, theo khảo sát cho thấy đây lại là kỹ năng ở mức chấp
nhận được (3,7%). Phần lớn các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam chưa biết
phân bổ hợp lý thời gian xử lý các công việc liên quan đến lãnh đạo, dành rất
ít thời gian của mình cho gia đình, họ không có thời gian chăm sóc, vui chơi
cùng con cái. Trong khi đó, ngoài công việc tại cơ quan, họ dùng thời gian để
giao tế xây dựng mối quan hệ với các đối tác khác. Kinh nghiệm ở nước ngoài
cho thấy, những người thành công trên bất kỳ lĩnh vực nào, trong đó có kinh
doanh, là người biết phân bổ thời gian một cách hết sức hợp lý. Sự phân bổ quỹ
thời gian không cân đối gây ra những ảnh hưởng xấu đến cả công việc lẫn gia
đình. Nhà lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam phần lớn
chưa có lịch làm việc khoa học giống như các đồng nghiệp của họ ở nước ngoài.
Lịch làm việc của các cấp lãnh đạo chưa phản ánh chương trình ưu tiên và trọng
điểm của công ty, chưa dành nhiều thời gian trong năm để tham dự các buổi
hội thảo trong nước và quốc tế, hoặc hợp tác với các ban ngành, chuyên gia tư
vấn để thảo luận các vấn đề mang tính chất chiến lược. Chương trình làm việc
của họ hầu như mang tính bị động nhằm giải quyết các công việc hàng ngày.
Nhiều người còn quản lý doanh nghiệp theo kiểu “ôm đồm và bao biện”, lúc
nào họ cũng “đầu tắt mặt tối”.
b) Nhóm kỹ năng ảnh hưởng
77
Biểu đồ 2.11 : Đánh giá thực trạng nhóm kỹ năng ảnh hưởng của nhà
B1.Tạo ảnh hưởng
3.56
3.77
B5. Xây dựng & phát triển mối quan hệ
B2.Kỹ năng giao tíếp 3.86 và thuyết trình
3.9 3.8 3.7 3.6 3.5 3.4 3.3
3.54
3.62
B4. Xây dựng môi trường có tính khích lệ
B3.Kỹ năng đàm phán, giải quyết xung đột
lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Trong nhóm kỹ năng gây ảnh hưởng, các nhà lãnh đạo tự đánh giá mạnh
nhất về kỹ năng giao tiếp-thuyết trình (3,86 điểm), một phần do kỹ năng này có
tần suất sử dụng cao nhất như trong phân tích ở phần trên. Kỹ năng là quá trình
nhận thức và tự rèn luyện, vì vậy việc thực hành thường xuyên cũng giúp các
nhà lãnh đạo hoàn thiện và nâng cao kỹ năng của mình.
Xếp thứ hai trong nhóm này là kỹ năng xây dựng và phát triển mối quan
hệ. Dường như các nhà lãnh đạo vẫn chú trọng đến các kỹ năng để phát triển
và duy trì các mối quan hệ bên ngoài nhiều hơn là việc tập trung vào phát triển
năng lực của nhân viên, tạo động lực làm việc hiệu quả hơn và có thể thích ứng
tốt hơn với sự thay đổi trong tương lai. Kỹ năng xây dựng và phát triển mối
quan hệ đạt 3,77 điểm trong khi kỹ năng phát triển nhân viên là 3,56 điểm.
Tiếp đến là kỹ năng đàm phán, giải quyết xung đột và tạo ảnh hưởng.
Theo các nhà lãnh đạo, phần còn yếu của họ là khi đàm phán trong kinh doanh
quốc tế, đặc biệt việc giải quyết khi có các xung đột giữa các bên. Rào cản về
ngôn ngữ, yếu tố văn hóa xã hội dẫn đến việc khó hài hòa mục đích của các
bên. Kỹ năng tạo ảnh hưởng trong doanh nghiệp cũng chỉ đạt mức trung bình.
78
Kỹ năng được đánh giá kém nhất trong nhóm kỹ năng ảnh hưởng là việc
xây dựng môi trường mang tính khích lệ. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt
Nam đã nhận ra tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường mang tính khích
lệ và động viên nhân viên của mình làm việc hiệu quả hơn. Song, từ nhận thức
đến việc thực hiện thường xuyên hay không còn là cả một quá trình. Hầu hết
chế độ đãi ngộ cho nhân viên của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là các
yếu tố vật chất, còn các yếu tố khác như về tinh thần, nhu cầu được thể hiện
chính mình.. thì chưa được coi trọng. Khi được hỏi thì có đến 70% số người trả
lời rằng họ có lắng nghe nhân viên của mình để tìm hiểu nhu cầu và vướng mắc
của nhân viên, 15% trả lời rằng mình không có đủ thời gian để lắng nghe nhân
viên, 15% còn lại hầu như không thực hiện công việc này hoặc giao phó cho
người khác nhưng cũng không hề có sự điều chỉnh để đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của nhân viên.
c) Nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
Hầu hết các nhà lãnh đạo đều đánh giá đây là nhóm kỹ năng khó thực
hiện nhất. Việc rèn luyện, phát triển những kỹ năng này cũng đòi hỏi ở nhà lãnh
đạo nhiều sức lực và thời gian hơn cả.
Việc trao quyền cho nhân viên được đánh giá là thực hiện tốt nhất (3,61
điểm) trong nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo nhưng cũng chỉ ở mức trung
bình. Một nguyên nhân dẫn đến kỹ năng quản lý thời gian của các nhà lãnh đạo
doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn chưa tốt chính là do kỹ năng ủy quyền,
trao quyền cho cấp dưới còn hạn chế. Mặc dù phần lớn đã có xu hướng giao
quyền cho cấp dưới nhưng lối tư duy quản lý mang tính chất bao biện và ôm
đồm vẫn còn tồn tại.
Kỹ năng hướng tới việc tập trung và nỗ lực đạt được các mục tiêu của
doanh nghiệp đứng ở vị trí thứ 2 đạt 3,59 điểm là kỹ năng định hướng kết quả.
79
Biểu đồ 2.12: Đánh giá thực trạng nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
C1. Trao quyền cho cấp dưới 3.61
3.65
3.6
3.55
3.5
3.45
3.4
3.44
3.35
3.59
C4. Thích ứng và quản lý thay đổi
C2. Định hướng kết quả
3.56
C3. Phát triển nhân viên
của nhà lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Kỹ năng phát triển nhân viên thành lãnh đạo được đánh giá là cần thiết
và quan trọng nhưng thực trạng mức độ của kỹ năng này hiện nay là 3,56 điểm.
Thành thục kỹ năng này là một thành công lớn mà rất ít công ty đã thực hiện
thành công. Có thể kể tên một số doanh nghiệp đã thành công trong việc phát
triển các cá nhân thành lãnh đạo như P&G, General Electric, Teva … Việc phát
triển các cá nhân thành lãnh đạo đòi hỏi những đầu tư lớn từ phía doanh nghiệp
và phải có một tầm nhìn chiến lược để có thể duy trì đội ngũ lãnh đạo của mình.
Trong cuộc khảo sát các doanh nghiệp thông qua bảng hỏi và phỏng vấn của
tác giả thì 100% các nhà lãnh đạo trả lời rằng luôn cố gắng thu hút những người
có tài cho các vị trí quan trọng trong doanh nghiệp, nhưng chỉ có 65% là có các
chương trình đào tạo hoặc hỗ trợ cho các người này phát triển. Thực tế này
cũng thể hiện một phần nào tình trạng “chảy máu” chất xám vào các công ty
nước ngoài khi các công ty trong nước không thu hút được người giỏi.
Một kỹ năng tương đối quan trọng đối với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
ngoài quốc doanh tại Việt Nam là việc thích ứng và quản lý sự thay đổi. Năng
80
lực thích ứng và quản lý thay đổi của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong khảo
sát này được đánh giá ở mức thấp nhất (3,44 điểm) so với 3 kỹ năng còn lại.
Với kết quả này, có thể dự đoán khả năng điều chỉnh phương pháp cách thức
làm việc hoặc tổ chức một cách hiệu quả và vượt qua các cản trở để thành công
trong điều kiện mới như chiến lược, hệ thống quản lý, văn hóa doanh nghiệp
mới của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có nhiều hạn chế. Điều này sẽ có ảnh
hưởng tiêu cực đến khả năng tạo ra những thay đổi hoặc đổi mới một cách hiệu
quả tại các doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn khó khăn. Thật vậy, theo
đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năng lực đổi mới của các doanh nghiệp
Việt Nam chỉ đạt mức điểm 3,4 và đứng thứ 86/148 (WEF, 2013). Nguyên nhân
dễ nhận thấy nhất có lẽ xuất phát từ nhận thức của các nhà lãnh đạo đối với tầm
quan trọng của việc phát triển năng lực thích ứng và quản lý thay đổi.
2.2.4 Đánh giá các loại hình và phương pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
2.2.4.1 Đánh giá hiệu quả các loại hình phát triển kỹ năng lãnh đạo
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy để phát triển kỹ năng lãnh đạo của
mình, nhà lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tham gia rất nhiều
loại hình đào tạo như: học các chương trình đào tạo Tiến sỹ, Thạc sỹ Quản trị
kinh doanh và tương đương, học các chương trình đào tạo cử nhân và quản lý
có cấp bằng, học các chương trình đào tạo ngắn hạn, trung hạn của các trường
và công ty đào tạo có cấp bằng, học các khóa học trực tuyến và tự học…
Kết quả đánh giá hiệu quả các phương pháp đào tạo của các nhà lãnh
đạo doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam được thể hiện qua biểu đồ sau:
Tự học là phương pháp được nhiều nhà lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh trả lời khảo sát nhiều nhất. Với phương pháp này, 52,2% nhà lãnh
đạo đánh giá Tốt việc tự học, tự nghiên cứu thông qua tạp chí, giáo trình, báo
chí, sách chuyên khảo…), 17,8% cho rằng phương pháp này Rất Tốt để phát
triển kỹ năng lãnh đạo, và có 27% đánh giá ở mức Chấp nhận được.
81
6.6%
8.0%
13.6%
15.0%
15.1%
17.8%
17.5%
32.9%
32.1%
36.1%
41.7%
42.1%
37.4%
52.2%
43.8%
52.7%
42.0%
32.1%
38.6%
35.9%
27.0%
15.2%
7.9%
6.2%
7.7%
5.7%
4.1%
2.2%
Học trực tuyến
Cử nhân về quản lý
Ngắn hạn (5- 10 ngày)
Tự học, tự nghiên cứu
Thạc sỹ Quản trị kinh doanh và tương đương
Trung hạn nâng cao năng lực quản lý/lãnh đạo
Ngắn hạn nâng cao năng lực quản lý do công ty tự tổ chức
Kém
Rất kém
Chấp nhận được
Tốt
Rất tốt
Biểu đồ 2.13 Đánh giá tính hiệu quả của các loại hình đào tạo
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Ngoài ra, hơn 50% nhà lãnh đạo đánh giá việc học các chương trình cử
nhân quản lý có cấp bằng đem lại hiệu quả chấp nhận được. Chỉ có 6,6% nhà
lãnh đạo đánh giá cao hiệu quả của phương pháp đào tạo này để phát triển kỹ
năng lãnh đạo.
Cũng được đánh giá hiệu quả cao để phát triển kỹ năng lãnh đạo trong
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là việc các nhà lãnh đạo theo học các
chương trình đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ Quản trị kinh doanh và tương đương có
cấp bằng. 42,1% nhà lãnh đạo đã tham gia học các chương trình đào tạo Thạc
sỹ, Tiến sỹ đánh giá Tốt hiệu quả của chương trình này. Tỷ trọng nhà lãnh đạo
đánh giá chấp nhận được là 32,1%. Có thể thấy khi theo học những chương
trình đào tạo Thạc Sỹ (trong nước và quốc tế), các nhà lãnh đạo có cơ hội được
học chuyên sâu các kiến thức về lãnh đạo, kỹ năng thực hành, quản trị chuyên
82
nghiệp và hiệu quả, được phổ biến và thực hành các kỹ năng lãnh đạo với các
chuyên gia cao cấp với các phương pháp học mới nên hiệu quả cũng cao hơn.
Loại hình đào tạo tiếp theo cũng khá phổ biến, được các nhà lãnh đạo áp
dụng nhiều là việc tham gia học các chương trình đào tạo trung hạn (3-6 tháng)
và ngắn hạn (5-10 ngày) để phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình tại các trường
đại học, các công ty đào tạo chuyên nghiệp. Những khóa học trung hạn và ngắn
hạn này thường đem lại hiệu quả cao cho nhà lãnh đạo, qua khảo sát cho thấy
gần 50% nhà lãnh đạo đánh giá Rất tốt và Tốt chương trình đào tạo trung hạn
và 56,8% cho chương trình đào tạo ngắn hạn. Số người đánh giá kém hiệu quả
hai loại hình đào tạo này rất ít, dường như không đáng kể (6%-7%).
Bên cạnh việc tham gia theo học các chương trình đào tạo bên ngoài,
nhà lãnh đạo còn có thể tham gia học các chương trình ngắn hạn do công ty tự
tổ chức dựa theo mục tiêu và nhu cầu đào tạo được thiết kế riêng. Đối với những
khóa học này, hiệu quả đem lại cũng rất cao đối với nhà lãnh đạo. 17,5% nhà
lãnh đạo đánh giá Rất tốt, 37,4% nhà lãnh đạo đánh giá Tốt và 38,6% đánh giá
mức Chấp nhận được.
Một loại hình đào tạo mới phổ biến hiện nay là các khóa học trực tuyến
(online), chưa đến 1/3 số nhà lãnh đạo tham gia khảo sát đã từng tham gia
những khóa đào tạo phát triển kỹ năng online và 32,1% trong số đó thấy rằng
hiệu quả đem lại là Tốt, 43,8% đánh giá ở mức Chấp nhận được, 17/112 người
thấy hiệu quả là Kém, họ không cải thiện được về kỹ năng lãnh đạo của mình.
2.2.4.2 Đánh giá hiệu quả các phương pháp đào tạo
Mỗi loại hình đào tạo lại có những phương pháp đào tạo khác nhau, biểu
đồ sau đây thể hiện đánh giá của các nhà lãnh đạo về hiệu quả của các phương
pháp họ đã từng được áp dụng:
83
52.6%
48.6%
46.6%
44.6%
43.1%
43.0%
38.9%
37.3%
30.7%
30.6%
30.2%
28.0%
23.1%
22.6%
19.0%
18.5%
13.2%
7.3%
4.9%
4.4%
3.7%
2.9%
2.5%
1.1%
0.8%
0.7%
0.5%
0.4%
0.3%
0.0%
Hội thảo
Kèm cặp tại chỗ Trò chơi kinh
Nghe thuyết trình
Tình huống thực tế
Học theo nhóm và thực hành
doanh
Kém
Rất kém
Chấp nhận được
Tốt
Rất tốt
Biểu đồ 2.14 Đánh giá tính hiệu quả của các phương pháp đào tạo
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát, 2015)
Phương pháp hiệu quả nhất trong đào tạo và phát triển kỹ năng được
các nhà lãnh đạo đánh giá cao nhất là phương pháp giảng dạy thông qua tình
huống (case-study teaching). Có tới 71,7% nhà lãnh đạo cho rằng phương
pháp này đem lại hiệu quả tốt và rất tốt cho họ, giúp họ làm quen với việc tiếp
cận thực tiễn, phát triển khả năng tư duy độc lập và nhận thức bậc cao, rèn
luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. Chỉ có 0,4% nhà lãnh đạo thấy rằng họ chưa
thu lại được nhiều kết quả từ phương pháp đào tạo này.
Một phương pháp đào tạo cũng được nhiều nhà lãnh đạo đã từng trải
nghiệm đó là Coaching - Kèm cặp tại chỗ của người có kinh nghiệm. Có tới
65,7% nhà lãnh đạo cho rằng họ đã thu lại được hiệu quả Tốt và Rất tốt từ
phương pháp này. Bởi phương pháp Coaching này nhắm vào việc đáp ứng nhu
cầu cá nhân nhà lãnh đạo, do vậy có thể nói rằng nó cho kết quả ngay lập tức,
hỗ trợ bất kỳ sự thay đổi lớn nào trong tổ chức. Bên cạnh đó, cung cấp cho
nhà lãnh đạo cơ hội để xem xét, nhìn nhận lại hiệu suất hiện tại của họ và xác
định phương hướng cần phát triển.
84
Cũng được đánh giá cao như phương pháp Coaching là phương pháp
học theo nhóm, cùng thực hành và giải quyết các vấn đề. Trong số những nhà
lãnh đạo trả lời khảo sát, có 30,2% nhà lãnh đạo đánh giá hiệu quả của phương
pháp này ở mức Chấp nhận được và có 65,1% ở mức Tốt và Rất tốt. Phương
pháp đào tạo này giúp các nhà lãnh đạo cùng nhau chia sẻ những kỹ năng, kiến
thức và hành vi vào những vấn đề cần giải quyết.
Tham gia các hội thảo (seminar) có sự dẫn dắt của chuyên gia cũng là
một phương pháp được nhiều nhà lãnh đạo áp dụng, 2/3 số người khảo sát đã
từng áp dụng phương pháp này và có 57,8% nhà lãnh đạo đánh giá hiệu quả
ở mức tốt và rất tốt.
Phương pháp được nhà lãnh đạo từng trải nghiệm ít nhất là tham gia vào
các trò chơi kinh doanh, mô hình kinh doanh. Có 43% nhà lãnh đạo đánh giá
hiệu quả phương pháp này ở mức độ chấp nhận được, hơn 50% đánh giá cao
hiệu quả khi họ được tham gia trực tiếp, được rèn luyện trực tiếp các kỹ năng
lãnh đạo của mình trong các trò chơi kinh doanh mô phỏng thực tế.
Cuối cùng, một phương pháp đào tạo truyền thống, phổ biến nhất mà các
nhà lãnh đạo áp dụng đó là nghe thuyết trình. Khi tham gia các chương trình
học nâng cao, các khóa học phát triển kỹ năng lãnh đạo, các buổi hội thảo nhà
lãnh đạo sẽ được nghe các chuyên gia truyền tải những kiến thức về kỹ năng
lãnh đạo. Khi đánh giá về hiệu quả của phương pháp đào tạo này, phần lớn
các nhà lãnh đạo cho rằng việc nghe các giảng viên, các chuyên gia giảng dạy
giúp họ lĩnh hội được nhanh các kiến thức mới, hơn 46% nhà lãnh đạo đánh
giá hiệu quả ở mức Tốt và Rất tốt từ phương pháp này. Bởi phương pháp
Coaching này nhắm vào việc đáp ứng nhu cầu cá nhân nhà lãnh đạo, do vậy
có thể nói rằng nó cho kết quả ngay lập tức, hỗ trợ bất kỳ sự thay đổi lớn nào
trong tổ chức. Bên cạnh đó, cung cấp cho nhà lãnh đạo cơ hội để xem xét, nhìn
nhận lại hiệu suất hiện tại của họ và xác định phương hướng cần phát triển.
Cũng được đánh giá cao như phương pháp Coaching là phương pháp
học theo nhóm, cùng thực hành và giải quyết các vấn đề. Trong số những nhà
85
lãnh đạo trả lời khảo sát, có 30,2% nhà lãnh đạo đánh giá hiệu quả của phương
pháp này ở mức Chấp nhận được và có 65,1% ở mức Tốt và Rất tốt. Phương
pháp đào tạo này giúp các nhà lãnh đạo cùng nhau chia sẻ những kỹ năng, kiến
thức và hành vi vào những vấn đề cần giải quyết.
Tham gia các hội thảo (seminar) có sự dẫn dắt của chuyên gia cũng là
một phương pháp được nhiều nhà lãnh đạo áp dụng, 2/3 số người khảo sát đã
từng áp dụng phương pháp này và có 57,8% nhà lãnh đạo đánh giá hiệu quả
ở mức tốt và rất tốt.
Phương pháp được nhà lãnh đạo từng trải nghiệm ít nhất là tham gia vào
các trò chơi kinh doanh, mô hình kinh doanh. Có 43% nhà lãnh đạo đánh giá
hiệu quả phương pháp này ở mức độ chấp nhận được, hơn 50% đánh giá cao
hiệu quả khi họ được tham gia trực tiếp, được rèn luyện trực tiếp các kỹ năng
lãnh đạo của mình trong các trò chơi kinh doanh mô phỏng thực tế.
Cuối cùng, một phương pháp đào tạo truyền thống, phổ biến nhất mà các
nhà lãnh đạo áp dụng đó là nghe thuyết trình. Khi tham gia các chương trình
học nâng cao, các khóa học phát triển kỹ năng lãnh đạo, các buổi hội thảo nhà
lãnh đạo sẽ được nghe các chuyên gia truyền tải những kiến thức về kỹ năng
lãnh đạo. Khi đánh giá về hiệu quả của phương pháp đào tạo này, phần lớn các
nhà lãnh đạo cho rằng việc nghe các giảng viên, các chuyên gia giảng dạy giúp
họ lĩnh hội được nhanh các kiến thức mới, hơn 46% nhà lãnh đạo đánh giá hiệu
quả ở mức Tốt và Rất tốt.
2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
Để xem xét mối tương quan giữa 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo cần phát
triển, nhóm kỹ năng tổng thể và các yếu tố ảnh hưởng, tác giả đã sử dụng
phương pháp phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis) và hàm
tuyến tính phổ biến làm mô hình giả định ban đầu để xem xét mối quan hệ giữa
các biến phụ thuộc (Y) với biến độc lập (X) thể hiện ở công thức dưới đây:
86
Y = α + β1M + β2O+ β3A
- Y là: Y sẽ nhận giá trị 1 là “nền tảng”, giá trị 2 là “ảnh hưởng”, giá trị 3 là
“định hướng”, giá trị 4 là “lãnh đạo”.
Bằng phương pháp phân tích nhân tố, tác giả tạo một biến phụ thuộc là
biến “nền tảng”, biến này bao gồm các kỹ năng hiểu biết về lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp, tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược, kỹ năng lãnh đạo
bản thân, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng lập kế hoạch kinh doanh, kỹ năng
ra quyết định và giải quyết vấn đề.
Hệ số tải nhân tố hay trọng số nhân tố (Factor loading) là chỉ tiêu để đảm
bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA và điều kiện để phân tích nhân tố khám
phá là phải thỏa mãn yêu cầu: Factor loading > 0.5 được xem là có ý nghĩa
thực tiễn. Ở đây kết quả cho thấy 6 kỹ năng trong biến “nền tảng” này đều >0.5
nên đều có ý nghĩa thực tiễn phân tích.
Factor loadings (pattern matrix) and unique variances
Variable Factor1 0.5355 QA1 0.7131 QA2 0.7331 QA3 0.6538 QA4 0.7463 QA5 0.6729 QA6
Ngoài ra cần xem xét hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) - là chỉ số được
dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn có ý nghĩa
phân tích nhân tố là thích hợp khi 0.5 ≤ KMO ≤ 1.
Ở đây, KMO của biến “nền tảng” là 0,849 nên hoàn toàn có ý nghĩa.
Tương tự có một biến phụ thuộc “ ảnh hưởng” bao gồm các kỹ năng tạo
ảnh hưởng, kỹ năng giao tiếp và thuyết trình, kỹ năng đàm phán, giải quyết
xung đột, kỹ năng xây dựng môi trường có tính khích lệ, kỹ năng xây dựng và
phát triển mối quan hệ.
87
Ta cũng thấy trọng số nhân tố (Factor loading) và hệ số KMO của biến này có
ý nghĩa thực tiễn và đảm bảo yêu cầu như sau:
Factor loadings (pattern matrix) and unique variances
Variable Factor1 0.6606 QB1 0.5816 QB2 0.6990 0.7337 0.6732
QB3 QB4 QB5 Kaiser-Meyer-Olkin measure of sampling adequacy
0.8096
Biến phụ thuộc thứ ba là biến “ định hướng” bao gồm các kỹ năng như
trao quyền cho cấp duới, kỹ năng định hướng kết quả, kỹ năng phát triển nhân
viên, kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi.
Factor loadings (pattern matrix) and unique variances
Variable Factor1 0.6468 QC1 0.6607 QC2 0.7481 QC3 QC4 0.6846 Kaiser-Meyer-Olkin measure of sampling adequacy
0.7909
Ngoài ra để phân tích chung về kỹ năng lãnh đạo, tác giả tạo một biến phụ
thuộc “lãnh đạo” bao gồm 15 kỹ năng thuộc 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo cần phát
triển để phân tích một cách hệ thống và đánh giá chung sự tác động của các yếu
tố ảnh hưởng.
Kết quả trọng số nhân tố (Factor loading) và hệ số KMO của biến này như sau:
Factor loadings (pattern matrix) and unique variances
Variable Factor1 0.5378 QA1 0.6744 QA2 0.6775 QA3
88
0.5908 0.7256 0.6917 0.6539 0.5533 0.6747 0.7302 0.6876 0.6001 0.6885 0.6785 0.6942
QA4 QA5 QA6 QB1 QB2 QB3 QB4 QB5 QC1 QC2 QC3 QC4 Kaiser-Meyer-Olkin measure of sampling adequacy
0.9363
- α là: hằng số
- β là: hệ số góc của Y
- M là biến động lực phát triển
Biến này bao gồm 2 nhân tố là nhận thức tầm quan trọng việc phát triển
các kỹ năng lãnh đạo và chức vụ của nhà lãnh đạo. Khi nhà lãnh đạo nhận thức
được tầm quan trọng của 1 kỹ năng thì liệu có phát triển tốt kỹ năng đó hơn các
kỹ năng khác hay không. Và liệu 1 nhà lãnh đạo ở vị trí Chủ tịch hay CEO sẽ
lãnh đạo doanh nghiệp tốt hơn 1 người có chức danh là Phó TGĐ hoặc GĐ chi
nhánh hay không. Vị trí, chức vụ của nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhiều tới kỹ
năng của họ không ?
- O là biến cơ hội phát triển
Biến này bao gồm 2 nhân tố là quy mô doanh nghiệp, loại hình doanh
nghiệp (giả thuyết đặt ra là khi lãnh đạo 1 doanh nghiệp quy mô lớn hay lãnh
đạo 1 công ty TNHH thì các kỹ năng lãnh đạo sẽ phát triển hơn so với lãnh đạo
1 doanh nghiệp quy mô nhỏ hay 1 công ty cổ phần hay không) và tần suất sử
dụng (nhà lãnh đạo có tần suất sử dụng kỹ năng nào cao thì sẽ phát triển các
kỹ năng đó tốt hơn)
- A là biến khả năng phát triển
89
Biến này bao gồm 3 nhân tố trình độ học vấn của nhà lãnh đạo (nhà
lãnh đạo có học vấn càng cao thì việc phát triển các kỹ năng cũng dễ dàng
hơn ?), nhân tố kinh nghiệm (kỹ năng lãnh đạo của những nhà lãnh đạo có
kinh nghiệm lâu năm trên thương trường sẽ tốt hơn so với những nhà lãnh đạo
mới ?) và phương pháp phát triển (khi nhà lãnh đạo tham gia các khóa đào
tạo hay tự học thì có hoàn thiện các nhóm kỹ năng lãnh đạo hơn không)
Dựa vào các dữ liệu khảo sát thu thập được, bằng phương pháp phân tích
nhân tố và xử lý dữ liệu SPSS và STATA luận án đưa ra được bảng xác định
mối quan hệ giữa các yếu tố khảo sát và các biến kỹ năng lãnh đạo như sau:
- Vì yếu tố chức vụ và kinh nghiệm của nhà lãnh đạo có sự ảnh hưởng lẫn nhau
(đã kiểm nghiệm), tác giả không để 2 yếu tố này trong cùng một phương trình
của mô hình nghiên cứu nên trong bảng này ở mỗi nhóm kỹ năng tác giả sẽ chia
làm 2 trường hợp: cột 1,3,5,7 là kết quả khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng loại
trừ biến kinh nghiệm, cột 2,4,6,8 là kết quả khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng
loại trừ biến chức vụ.
- Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu (OLS).
- Sai số chuẩn ở trong ngoặc.
- Ước lượng đã được điều chỉnh phương sai sai số thay đổi.
- Mức ý nghĩa: *p<0,10, ** p<0,05, ***p<0,01.
- Ta có kết quả định lượng mối quan hệ giữa các biến như sau:
Kết quả định lượng mối quan hệ giữa các nhóm kỹ năng lãnh đạo và các
yếu tố ảnh hưởng dựa trên số liệu thu thập được ở 392 phiếu cho thấy: hầu hết
các giả thuyết về động lực, cơ hội và khả năng phát triển đều cho thấy tác động
tích cực và có ý nghĩa thống kê, chỉ có rất ít biến ảnh hưởng không có ý nghĩa.
90
Bảng 2.7 Kết quả định lượng mối quan hệ giữa kỹ năng lãnh đạo và
(1) nenTan g 0.032*
(2) nenTan g 0.034*
(3) anhHuo ng 0.036*
(4) anhHuo ng 0.039*
(5) dinhHuo ng 0.043**
(6) dinhHuo ng 0.046**
(7) lanhDa o 0.047**
(8) lanhDa o 0.051**
(0.020)
(0.021)
(0.020)
(0.020)
(0.021)
(0.021)
(0.021)
(0.020)
-0.018 (0.053)
-0.010 (0.054)
Soluong Khoahoc nenTangTQT nenTangTanSuat 0.568**
0.561***
(0.056)
* (0.057)
0.026 (0.059)
0.012 (0.060) 0.449***
0.442***
(0.061)
(0.063)
0.063 (0.063)
0.063 (0.063)
0.428***
0.435***
(0.066)
(0.065)
-0.036 (0.055) 0.614***
anhHuongTQT anhHuongTanSu at dinhHuongTQT dinhHuongTanS uat lanhDaoTQT lanhDaoTanSuat
(0.060)
-0.045 (0.057) 0.622** * (0.062) -0.142
-0.114
-0.194
-0.138
-0.239
-0.230
-0.248
-0.243
(0.193)
(0.196)
(0.191)
(0.185)
(0.202)
-0.244*
(0.203) -0.364*
-0.409**
-0.500***
-0.530***
(0.207) -0.360*
(0.197) -0.404**
Dưới 20 lao động 20 - 50
(0.195)
(0.199)
(0.190)
(0.187)
(0.203)
(0.199)
- 0.217* (0.201)
-0.121 (0.204)
-0.317 (0.210)
-0.318 (0.201)
-0.360* (0.197)
-0.264 (0.214)
-0.197 (0.210)
-0.086 (0.211)
0.066 (0.207)
-0.297 (0.212)
-0.297 (0.199)
-0.349* (0.197)
-0.226 (0.214)
(0.206) -0.141 (0.218) -0.063 (0.218)
-0.140 (0.213)
0.137 (0.213)
0.066*
0.051
0.128
0.188**
(0.091)
(0.086)
(0.092)
51 - 100 101 - 500 Trên 500 (nhóm tham chiếu) Chủ tịch, Tổng GĐ
(0.090)
các yếu tố ảnh hưởng
0.071
0.031 (0.089)
0.065 (0.085)
(0.087) 0.033
0.051 (0.090) 0.056 (0.099)
0.027 (0.086) -0.050 (0.098)
0.034 (0.092) -0.034 (0.100)
-0.098 (0.099)
(0.094)
-0.026 (0.094)
0.055 (0.092) 0.012 (0.101)
0.046 (0.088) -0.089 (0.100)
-0.047 (0.123)
-0.199* (0.105)
0.005 (0.111)
0.191** (0.096)
-0.201 (0.127) -0.079 (0.106) 0.035 (0.110) 0.203** (0.096)
Nữ Cty Cổ phần Cung ứng dịch vụ (nhóm tham chiếu) Sản xuất Thương mại Khác Hanoi KN dưới 5 năm
-0.131 (0.129) -0.064 (0.110) -0.005 (0.114) 0.148 (0.098)
-0.083 (0.129) 0.012 (0.111) -0.113 (0.117) 0.219** (0.102)
-0.140 (0.127) -0.009 (0.109) -0.095 (0.114) 0.262*** (0.100) -0.308***
-0.108 (0.123) -0.221** (0.103) 0.008 (0.108) 0.219** (0.095) -0.264***
-0.116 (0.131) -0.086 (0.113) -0.038 (0.116) 0.132 (0.104)
- 0.420*** (0.087) 0.184 (0.237) 340 0.391
0.047 (0.239) 337 0.281
(0.089) 0.274 (0.242) 337 0.306
0.073 (0.227) 344 0.327
(0.085) 0.276 (0.230) 344 0.346
-0.082 (0.244) 324 0.424
-0.191 (0.128) -0.109 (0.109) -0.009 (0.112) 0.187* (0.101) - 0.412*** (0.089) 0.242 (0.243) 324 0.458
-0.177 (0.239) 340 0.356
_cons N R2 Standard errors in parentheses * p < 0.10, ** p < 0.05, *** p < 0.01
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
nenTang nenTang anhHuong anhHuong dinhHuong dinhHuong 0.267*** (0.094)
0.277*** (0.091)
0.261*** (0.090)
0.246*** (0.091)
0.096* (0.095)
0.112* (0.097)
(7) lanhDao 0.263*** (0.097)
(8) lanhDao 0.244** (0.095)
ths
(1) nenTang
(2) nenTang
(3) anhHuong
0.002
0.005*
0.141*
(4) anhHuon g 0.149*
(5) dinhHuon g 0.030*
(6) dinhHuon g 0.024*
(7) lanhDa o 0.088*
(8) lanhDa o 0.094*
(0.091)
(0.087)
(0.093)
(0.091)
(0.089)
(0.087)
(0.094)
(0.091)
Trung/ Ngan Han
(1)
(3)
(2)
(4)
(5)
(6)
0.208*
nenTang nenTang anhHuong anhHuong dinhHuong dinhHuong 0.210*
(7) lanhDao 0.070*
0.291**
0.279*
0.318
0.214
(8) lanhDao 0.088*
(0.087)
(0.083)
(0.085)
(0.089)
(0.085)
(0.088)
(0.090)
(0.087)
TuHoc/ Online Chú ý: Phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu (OLS); Sai số chuẩn ở trong ngoặc; ước lượng đã điều chỉnh phương sai sai số thay đổi; * p < 0.10, ** p < 0.05, *** p < 0.01
91
92
*Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc động lực phát triển (M)
a) Nhận thức tầm quan trọng phát triển kỹ năng của nhà lãnh đạo
Kết quả cho thấy biến “nhận thức tầm quan trọng” là biến không có ý
nghĩa (mức ý nghĩa p ở đây không thuộc khoảng 10%, 5% hay 1%), nên chưa
thể kết luận được về mức độ ảnh hưởng tới các kỹ năng lãnh đạo của biến này.
Thật vậy, trên thực tế có những kỹ năng lãnh đạo được nhà lãnh đạo nhận thức
là quan trọng đối với họ nhưng thực trạng lại kém hơn so với các kỹ năng khác.
Theo khảo sát của tác giả trên 392 nhà lãnh đạo, phần lớn các nhà lãnh đạo đều
cho rằng kỹ năng tư duy và xây dựng chiến lược là vô cùng quan trọng nhưng
đánh giá về thực trạng thì kỹ năng này lại ở mức điểm thấp nhất, nhà lãnh đạo
có động lực chú trọng phát triển kỹ năng này nhưng không có nghĩa là đó sẽ là
kỹ năng tốt nhất của nhà lãnh đạo.
b) Yếu tố chức vụ của nhà lãnh đạo
Yếu tố “chức vụ” cũng có tác động tới phát triển kỹ năng lãnh đạo tuy
nhiên mức độ tác động nhiều nhất là tới nhóm kỹ năng nền tảng, tiếp theo là
nhóm kỹ năng ảnh hưởng còn nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo thì chưa có
đủ cơ sở để kết luận mức độ tác động.
Theo kết quả bảng 2.7, cột 1 ta thấy khi nhà lãnh đạo ở vị trí Chủ tịch,
Tổng GD, GĐ công ty sẽ có kỹ năng nền tảng tốt hơn 0,188 điểm; kỹ năng ảnh
hưởng cũng phải tốt hơn (0,066 điểm) so với nhà lãnh đạo có chức danh Phó
TGĐ, GĐ chi nhánh hay ở các vị trí khác. Thật vậy, nhà lãnh đạo ở cấp càng
cao thì càng đòi hỏi phải có những kỹ năng nền tảng tốt hơn, phải có các kỹ
năng gây ảnh hưởng tới nhân viên hiệu quả, tư duy định hướng chiến lược phù
hợp, kỹ năng giao tiếp, thuyết trình tốt...Đối với nhóm kỹ năng định hướng lãnh
đạo thì kết quả định lượng cho thấy biến này không có ý nghĩa, chưa đủ căn cứ
để kết luận về mức độ ảnh hưởng.
*Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc cơ hội phát triển (O)
93
a) Yếu tố quy mô nhân sự
Nhìn chung, yếu tố quy mô nhân sự đều có tác động tới cả các kỹ năng
lãnh đạo của nhà lãnh đạo và sự ảnh hưởng của biến này lớn nhất khi so kỹ
năng lãnh đạo những nhà lãnh đạo 1 doanh nghiệp quy mô từ 20-50 nhân viên
với trên 500 nhân viên, đặc biệt là nhóm kỹ năng ảnh hưởng và định hướng
lãnh đạo, còn với các DN qui mô từ 100 nhân viên trở lên thì hầu như không
có sự tác động của yếu tố này.
Theo bảng 2.7, khi điều hành một doanh nghiệp có quy mô lớn hơn 500
người thì kỹ năng nền tảng, kỹ năng ảnh hưởng và kỹ năng định hướng lãnh
đạo của nhà lãnh đạo cũng tốt hơn 0,217 điểm, 0,364 điểm, 0,500 điểm lần
lượt so với doanh nghiệp có quy mô dưới 20 lao động. Và khi có thêm yếu tố
kinh nghiệm kết quả định lượng cho thấy mức ảnh hưởng lớn hơn, với số điểm
tương ứng là 0,244 điểm, 0,409 điểm và 0,530 điểm. So sánh với các doanh
nghiệp có qui mô từ 51-100 hay dưới 500 nhân viên thì dường như yếu tố qui
mô chỉ tác động tới nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo (tăng thêm 0,360 và
0,349 điểm theo như cột 6 của bảng)
b) Yếu tố loại hình doanh nghiệp
Biến thứ hai cũng không có ý nghĩa là biến loại hình doanh nghiệp, chưa
có đủ cơ sở để có thể kết luận một nhà lãnh đạo điều hành một công ty cổ phần
thì có các kỹ năng lãnh đạo tốt hơn khi điều hành một công ty TNHH hay doanh
nghiệp tư nhân.
c) Tần suất sử dụng các kỹ năng lãnh đạo
Có tác động lớn nhất trong các yếu tố ảnh hưởng là biến “tần suất sử
dụng”, khi nhà lãnh đạo sử dụng thường xuyên các kỹ năng sẽ giúp hoàn thiện
những kỹ năng này, đặc biệt là nhóm kỹ năng nền tảng. Yếu tố tần suất sử dụng
tác động tích cực và nhiều nhất tới kỹ năng lãnh đạo tổng thể (mức tăng như ở
cột 7 và 8 của bảng).
94
Kết quả định lượng trong bảng 2.7 cho thấy, những nhà lãnh đạo có tần
suất sử dụng các kỹ năng thường xuyên (kết hợp với yếu tố chức vụ lãnh đạo)
sẽ làm tăng 0,568 điểm kỹ năng nền tảng, 0,449 điểm kỹ năng ảnh hưởng và
0,428 điểm kỹ năng định hướng lãnh đạo. Khi thêm yếu tố kinh nghiệm lãnh
đạo thì biến tần suất sử dụng cũng có tác động tích cực tới các nhóm kỹ năng
lãnh đạo với số điểm tương tự như vậy (lần lượt là 0,561 điểm, 0,442 điểm và
0,435 điểm).
*Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc khả năng phát triển (A)
a) Yếu tố học vấn của nhà lãnh đạo
Yếu tố trình độ học vấn tác động mạnh mẽ tới thực trạng của các nhóm kỹ
năng lãnh đạo trong doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo tích lũy được nhiều kiến thức
thông qua các chương trình học cấp bằng, cụ thể ở đây là học các chương trình
sau đại học sẽ có những kỹ năng tốt hơn so với những nhà lãnh đạo tốt nghiệp
trung cấp, cao đẳng hay đại học.
Trường hợp 1:
Nhìn vào cột 1,3,5,7 của bảng 2.7 thì một nhà lãnh đạo có trình độ học
vấn sau đại học sẽ có kỹ năng nền tảng tốt hơn 0,267 điểm, kỹ năng ảnh hưởng
tốt hơn 0,112 điểm, kỹ năng định hướng lãnh đạo tốt hơn 0,277 điểm, và kỹ
năng nói chung là 0,263 điểm so với nhà lãnh đạo tốt nghiệp trung cấp, cao
đẳng hay đại học.
Trường hợp 2: khi đưa yếu tố kinh nghiệm vào phân tích thì thấy rằng theo dữ
liệu ở cột 2,4,6,8 của bảng thì một nhà lãnh đạo có trình độ học vấn sau đại học
sẽ có kỹ năng nền tảng tốt hơn 0,246 điểm, kỹ năng ảnh hưởng tốt hơn 0,096
điểm, kỹ năng định hướng lãnh đạo tốt hơn 0,261 điểm, và kỹ năng nói chung
là 0,244 điểm so với nhà lãnh đạo tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng hay đại học.
95
Như vậy một nhà lãnh đạo có trình độ học vấn sau đại học lại ở vị trí như
Tổng GĐ hoặc Chủ tịch sẽ phát triển mức độ các kỹ năng lãnh đạo cao hơn khi
nhà lãnh đạo có trình độ học vấn sau đại học và có kinh nghiệm trên 5 năm.
b) Yếu tố kinh nghiệm của nhà lãnh đạo
Nhìn chung, kỹ năng của những nhà lãnh đạo có kinh nghiệm dưới 5
năm sẽ kém hơn 0,412 điểm so với những nhà lãnh đạo có kinh nghiệm quản
lý trên 5 năm. Xét riêng các nhóm kỹ năng thì thấy rằng kỹ năng nền tảng kém
hơn 0,420 điểm, kỹ năng ảnh hưởng kém hơn 0,308 điểm, kỹ năng định hướng
lãnh đạo kém hơn 0,264 điểm. Thật vậy, trải nghiệm thực tế càng nhiều sẽ càng
giúp cho nhà lãnh đạo hoàn thiện, phát triển các kỹ năng lãnh đạo của mình.
c) Phương pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo
Nhà lãnh đạo có thể phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình thông qua đào
tạo và tự học. Trước hết, xét về tổng thể, khi nhà lãnh đạo tham gia càng nhiều
các khóa học về kỹ năng lãnh đạo sẽ càng giúp hoàn thiện các kỹ năng của
mình, đặc biệt là kỹ năng định hướng lãnh đạo (tăng 0,046 điểm).
Ở đây, trong bảng khảo sát về phương pháp phát triển tác giả có đưa ra nhiều
loại hình đào tạo, khi đưa vào mô hình định lượng tác giả sẽ dùng phương pháp
phân tích nhân tố nhóm thành 3 biến là “ths”, “trung/nganhan” và
“tuhoc/online” để xem xét mức độ ảnh hưởng. Đối với biến học các chương
trình sau đại học đã được phân tích ở phần học vấn của nhà lãnh đạo. Hai biến
còn lại có kết quả như sau:
- Tham gia các chương trình đào tạo trung hạn, ngắn hạn:
Việc tham gia các khóa học trung-ngắn hạn tác động thuận chiều tới việc
phát triển các kỹ năng lãnh đạo nhưng mức độ tác động không đáng kể. Cụ thể,
kỹ năng nền tảng của nhà lãnh đạo sẽ tốt hơn 0,005 điểm so với nhà lãnh đạo
không tham gia các khóa đào tạo trung ngắn hạn, nhóm kỹ năng ảnh hưởng
96
tăng 0,141 điểm, nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo tăng 0,030 điểm và kỹ
năng lãnh đạo nói chung tăng 0,088 điểm.
- Tự học, tự nghiên cứu, học online:
Kết quả định lượng cho thấy việc tự học, tự nghiên cứu hay thamm gia
các khóa học trực tuyến của nhà lãnh đạo chỉ tác động tích cực tới nhóm kỹ
năng định hướng và nền tảng, còn với nhóm kỹ năng ảnh hưởng thì không có ý
nghĩa. Ở đây, phương pháp phát triển kỹ năng thông qua tự học giúp nhà lãnh
đạo nâng cao kỹ năng nền tảng (0,210 điểm), kết hợp với yếu tố kinh nghiệm
thì tăng mức tương tự là 0,208 điểm. Đối với nhóm kỹ năng định hướng lãnh
đạo tăng 0,279 điểm khi có yếu tố chức vụ, tăng 0,291 điểm khi có yếu tố kinh
nghiệm của nhà lãnh đạo.
Ngoài ra tác giả còn xem xét một số yếu tố ảnh hưởng khác như:
*Yếu tố lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
Yếu tố thứ 2 cũng chưa đủ dữ liệu hoặc căn cứ để có thể kết luận mối
quan hệ với các nhóm kỹ năng lãnh đạo là yếu tố lĩnh vực hoạt động của doanh
nghiệp, ở đây chúng ta thấy lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp là cung ứng
dịch vụ hay sản xuất hay thương mại thì đều cần các nhóm kỹ năng như nhau
nhưng với mức độ ảnh hưởng tới các nhóm kỹ năng như thế nào thì trong giới
hạn bài luận án này chưa thể định lượng được.
*Yếu tố địa bàn hoạt động của doanh nghiệp
Khi lựa chọn yếu tố địa bàn để kiểm định mối quan hệ với các nhóm kỹ
năng lãnh đạo trong doanh nghiệp, tác giả đưa ra giả thuyết những nhà lãnh đạo
ở TP HCM sẽ có những kỹ năng tốt hơn so với những nhà lãnh đạo ở Hà Nội
bởi dường như môi trường kinh doanh của TPHCM sôi động hơn, nhiều cơ hội
để phát triển hơn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, kết quả
bảng 2.7 cho thấy: kỹ năng nói chung và cả 3 nhóm kỹ năng cụ thể của các nhà
lãnh đạo ở Hà Nội có phần cao hơn so với các nhà lãnh đạo ở TP HCM.
97
Yếu tố tỉnh thành, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp là Hà Nội sẽ làm
tăng 0,203 điểm kỹ năng nền tảng cho nhà lãnh đạo; 0,262 điểm kỹ năng ảnh
hưởng và 0,219 điểm kỹ năng định hướng và 0,187 điểm kỹ năng nói chung so
với nhà lãnh đạo ở TP HCM.
Bên cạnh đó, khi thêm yếu tố kinh nghiệm vào trong mô hình nghiên cứu
thì thấy yếu tố địa bàn này tác động còn mạnh mẽ hơn tới các nhóm kỹ năng
lãnh đạo khi thêm yếu tố chức vụ (thể hiện ở cột 2, cột 4, cột 6 và cột 8 của
bảng 2.7)
* Yếu tố giới tính của nhà lãnh đạo
Khi đưa ra mô hình nghiên cứu, tác giả có đặt ra giả thuyết rằng nhà lãnh
đạo là Nam thì sẽ có những kỹ năng lãnh đạo tốt hơn tuy nhiên theo kết quả
chạy dữ liệu như ở bảng 2.7, ta thấy yếu tố giới tính không có tác động tới kỹ
năng lãnh đạo của nhà lãnh đạo bởi mức ý nghĩa p ở đây không thuộc khoảng
10%, 5% hay 1%. Như vậy, chưa có đủ những căn cứ để kết luận nhà lãnh đạo
là Nam sẽ có kỹ năng lãnh đạo tốt hơn nhà lãnh đạo Nữ hoặc ngược lại.
Tóm lại, các yếu tố ảnh hưởng theo mô hình MOA đều tác động tích cực
tới kỹ năng lãnh đạo và được sắp xếp theo thứ tự mức độ tác động từ nhiều đến
ít như trong bảng sau:
Bảng 2.8 Thứ tự tác động của các yếu tố ảnh hưởng
Thứ tự
Nội dung tác động Ý nghĩa
tác động
Nhà lãnh đạo có cơ hội sử dụng, thực hành 1 Tần suất sử dụng càng nhiều thì càng giúp hoàn thiện các kỹ các kỹ năng năng lãnh đạo của mình
98
Kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động lãnh
2 Kinh nghiệm đạo doanh nghiệp sẽ giúp nhà lãnh đạo
phát triển các nhóm kỹ năng tốt hơn
Học vấn/ Tham gia Nhà lãnh đạo có trình độ học vấn cao giúp
3 các khóa học sau nâng cao các kỹ năng lãnh đạo, đặc biệt là
đại học về QTKD nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo
Qui mô doanh Lãnh đạo DN có qui mô lớn giúp nhà lãnh 4 nghiệp đạo có cơ hội phát triển kỹ năng hơn
Tự học, tự nghiên Tác động tích cực tới việc phát triển các 5 cứu, học online nhóm kỹ năng lãnh đạo
Nhà lãnh đạo ở vị trí càng cao thì sẽ càng Chức vụ nhà lãnh 6 hoàn thiện các nhóm kỹ năng nền tảng và đạo ảnh hưởng
Tham gia các khóa Có tác động thuận chiều tới phát triển kỹ
7 đào tạo trung/ngắn năng lãnh đạo của nhà lãnh đạo nhưng
hạn mức độ tác động không lớn
2.4 Phân tích hoạt động phát triển kỹ năng lãnh đạo của một số doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam tiêu biểu
Hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một
trong những yếu tố quyết định là chất lượng nguồn nhân lực lãnh đạo. Chính
chất lượng nguồn nhân lực là lợi thế so sánh hàng đầu của doanh nghiệp bởi vì
nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì và
phát triển của doanh nghiệp. Nhận thức tầm quan trọng của đội ngũ lãnh đạo
trong doanh nghiệp, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam đã có những
chính sách cụ thể cho việc phát triển, hoàn thiện các kỹ năng của nhà lãnh đạo.
Trong phạm vi luận án, qua khảo sát, nghiên cứu và phỏng vấn một số nhà lãnh
99
đạo, tác giả lựa chọn một số doanh nghiệp tiêu biểu với những nhà lãnh đạo
tiêu biểu có những thành tựu đáng kể trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ
lãnh đạo của mình với những phương thức riêng biệt đáng học hỏi như sau.
2.4.1 Công ty cổ phần FPT
FPT là một trong số các doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam (theo
báo cáo của VietNam Report 500). Sau 25 năm thành lập và phát triển, công ty
cổ phần FPT hay Tập đoàn FPT đã trở thành một công ty công nghệ thông tin
và viễn thông hàng đầu Việt Nam với doanh thu hơn 1,5 tỷ (2014). Để có được
những thành tích như vậy là nhờ có đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao,
đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo của doanh nghiệp như CTHĐ Trương Gia Bình,
Tổng giám đốc Bùi Quang Ngọc... Chính vì vậy, việc chú trọng phát triển về
kỹ năng lãnh đạo cho các cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp luôn là mục tiêu
hàng đầu của FPT. Tại Vietnam HR Awards 2014, những nỗ lực này của FPT
đã được ghi nhận tại hạng mục giải thưởng “Chính sách đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực xuất sắc”.
Khi được hỏi về hoạt động đào tạo trong doanh nghiệp, chị Phùng Thu
Trang (trưởng ban truyền thông FPT Telecom) cho biết ban lãnh đạo FPT đã
chủ trương và thiết lập riêng một bộ phận chuyên trách về đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. FPT tự thành lập các trường, học viện đào
tạo và tổ chức những chương trình huấn luyện mang phong cách riêng giúp nhà
lãnh đạo nâng cao hiệu quả công việc và phát triển kỹ năng. Năm 2014, FPT
đã đầu tư 46,7 tỷ đồng cho hoạt động đào tạo, tổ chức 1718 khóa học cho lãnh
đạo các cấp, cho nhân viên mới, cán bộ công nghệ trong công ty.
Các nội dung đào tạo của FPT hướng tới các đối tượng như:
- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo hàng
năm cho các nhà lãnh đạo hiện tại
100
- Đào tạo lực lượng lãnh đạo kế cận: ưu tiên nguồn lực để đào tạo
cán bộ nòng cốt trở thành lực lượng quản lý, lãnh đạo kế cận, phục
vụ nhu cầu phát triển dài hạn của Tập đoàn.
FPT có một số chương trình đào tạo phát triển kỹ năng lãnh đạo cho các
nhà lãnh đạo như:
- Khối giáo dục FPT (FE-FPT Education)
MiniMBA là chương trình thu gọn và chắt lọc những nội dung tinh túy
nhất của chương trình Thạc sỹ Quản trị kinh doanh của các trường hàng đầu
thế giới. Chương trình mang lại cho nhà lãnh đạo những kiến thức quản trị cốt
lõi và kỹ năng quản lý thiết yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, phát triển
quan hệ thông qua môi trường học tập, trao đổi đa chiều.
Mục tiêu của MiniMBA là đào tạo học viên trở thành nhà điều hành hiệu quả.
- Nâng cao năng lực quản lý cấp trung
Chương trình này cung cấp cho nhà lãnh đạo các bộ công cụ cần thiết trong
quản lý, đặc biệt công cụ phát triển Năng lực tư duy như: Self-SWOT, BSC,
công cụ cân nhắc thiệt hơn để ra quyết định như Plus, Minus, Interesting; Công
cụ phát triển Năng lực Quản trị như: To-do-list, Delegation Log, Pareto,
Inbox/In-tray Assessment; Grid Analysis, Steplader Technique; Công cụ nâng
cao Hiệu quả quản trị như GROW Model, 360 degree feedback…Đối tượng:
Trưởng, phó các Phòng ban, giám sát viên và những người có hoài bão trở thành
lãnh đạo chuyên nghiệp, toàn diện trong tương lai.
Bên cạnh các hoạt động đào tạo thường xuyên cho người lãnh đạo, công ty
luôn khuyến khích khả năng tự học, tự rèn luyện kỹ năng của mỗi nhà lãnh đạo
thông qua các biện pháp tuyên truyền, động viên. Tầm nhìn của lãnh đạo công
ty cũng được thể hiện trong quyết định thành lập Học viện Lãnh đạo FPT, đưa
hoạt động đào tạo cho các cấp lãnh đạo, quản lý lên mức ưu tiên cao nhất và
quan trọng nhất đối với sự phát triển của tổ chức. Chính việc này đã thúc đẩy
lộ trình đào tạo thăng tiến của gần 2.000 cán bộ quản lý FPT các cấp, đưa họ là
101
các cán bộ chủ chốt của tập đoàn, là lực lượng tinh nhuệ được đào tạo bài bản
để lãnh đạo tốt các hướng kinh doanh của FPT. Các hoạt động đào tạo ở FPT
được tuân thủ theo quy trình đào tạo chuẩn ISO9001, được kiểm soát và đánh
giá chất lượng hàng năm. Các hoạt động này cũng thường xuyên được cải tiến,
đổi mới để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của tập đoàn.
Điểm khác biệt dễ nhận thấy ở quá trình đào tạo lãnh đạo của FPT là ở
chỗ mỗi học viên vừa được đào tạo, vừa là nhân tố tham gia thúc đẩy quá trình
đào tạo, vừa là người trực tiếp đào tạo và sáng tạo trong đào tạo theo cách của
họ. Với cách thức này, việc đào tạo đội ngũ lãnh đạo tại FPT luôn được sáng
tạo, đổi mới, đa dạng mà không bị rập khuôn.
2.4.2 Công ty cổ phần cafe Trung Nguyên
Trung Nguyên là một trong những doanh nghiệp luôn quan tâm đến năng
lực sáng tạo và thúc đẩy tư duy đột phá, ý chí kiên cường cùng với khả năng
tích lũy tri thức cho nhà lãnh đạo, cho nhân viên của mình.
Công ty cổ phần cafe Trung Nguyên với người đứng đầu là nhà lãnh đạo
tài ba Đặng Lê Nguyên Vũ luôn chú trọng hoạt động đào tạo nên đã thành lập
một Trung tâm đào tạo riêng của công ty. Hàng năm, Trung tâm đào tạo này sẽ
dựa vào nhu cầu đào tạo để tổ chức các khóa học ngắn hạn, trung hạn về các
chuyên đề khác nhau về chuyên môn, kiến thức và đặc biệt là các kỹ năng lãnh
đạo cho các nhà lãnh đạo cấp cao, cấp trung của công ty.
Một điểm rất khác biệt nữa tại Trung Nguyên trong việc giúp nhân viên
phát triển tri thức bên cạnh các khóa đào tạo đó là việc mở một thư viện sách
trong công ty xuất phát từ thói quen đọc sách của chính người đứng đầu là Đặng
Lê Nguyên Vũ. Tủ sách dành cho nhân viên của Tập đoàn Trung Nguyên hiện
có 350 đầu sách quý, gồm 7 chủ đề là khát vọng, năng lực, thực thi, kết nối,
dám thất bại, tư duy và giá trị cốt lõi.
102
Trung tâm đào tạo tổ chức các hoạt động thư viện gồm: hoạt động đọc
và mượn sách, hội thảo nơi các nhà lãnh đạo sẽ làm diễn giả giới thiệu sách,
cảm nhận về sách và phương pháp đọc sách. Trong năm 2013 Trung Nguyên
đã tặng hơn 500 ngàn đầu sách Quốc gia khởi nghiệp cho các bạn thanh niên
trên cả nước. Với việc mở thư viện sách này, Trung Nguyên hi vọng sẽ kết nối
và chia sẻ nhiều hơn nữa đến mọi người niềm đam mê và thói quen đọc sách,
trau dồi thêm kiến thức, rèn luyện tư duy để phát huy được sức sáng tạo của
bản thân.
2.4.3 Công ty cổ phần Kinh Đô
Song hành với chiến lược phát triển kinh doanh, Công ty Cổ Phần Kinh
Đô đặc biệt rất chú trọng vào yếu tố con người trong chiến lược phát triển toàn
diện và bền vững của công ty.
Trong suốt gần 20 năm qua, nguồn nhân lực lãnh đạo của công ty chính
là phần quan trọng nhất của Kinh Đô, đó là sự kết hợp của những con người
khác nhau, sự đa dạng về văn hóa và sự dày dạn kinh nghiệm trong ngành. Bằng
chính chiến lược quản trị nhân sự hợp lý, chính sách đãi ngộ tốt, cạnh tranh và
hấp dẫn, Kinh Đô đã xây dựng được một đội ngũ lãnh đạo có tầm nhìn, có nhiệt
huyết, có nhiều kinh nghiệm có kiến thức về ngành hàng, đảm bảo cho chiến
lược tăng trưởng của Kinh Đô. Điều đó được thực hiện qua các mục tiêu: đáp
ứng nhu cầu nhân sự theo chiến lược phát triển của công ty trong từng thời kỳ,
khai thác tối đa nguồn lực con người để tạo ra hiệu quả công việc tối ưu cho tổ
chức, luôn chú trọng đầu tư vào đào tạo và phát triển đội ngũ lãnh đạo.
Năm 2006, ban lãnh đạo Kinh đô đã cho thành lập Trung tâm đào tạo
KTC nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của công ty. Với sứ mệnh
mang lại giá trị cho tổ chức thông qua việc nâng cao năng lực cá nhân, hình
thành văn hóa mang bản sắc Kinh Đô, Trung tâm đào tạo đã xây dựng, triển
103
khai, thực hiện các chương trình đào tạo, phát triển nguồn lực lãnh đạo, Thiết
kế các chương trình phát triển đội ngũ quản lý kế thừa,…
Kể từ buổi đầu thành lập đến nay, KTC đã thực hiện đào tạo các khóa
Kinh Đô way, mini-MBA, MTP (Management Training Program), và các
chương trình nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và các kỹ năng lãnh đạo khác
cũng như đào tạo hội nhập cho cho hơn 2000 lượt cán bộ quản lý cấp cao, sơ,
trung trong toàn hệ thống Kinh Đô. Bên cạnh đó, KTC cũng thường xuyên cập
nhật các vấn đề kinh tế thời sự thông qua các buổi hội thảo, chia sẻ. Đối với đội
ngũ công nhân viên nhà máy, KTC chú trọng đào tạo các khóa ATVSTP,
ATLĐ, ISO, 5S, các kỹ năng quản lý và thực thi công việc nhằm nâng cao nhận
thức công nhân viên về an toàn lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm, tác nghiệp
hiệu quả từ đó nâng cao hiệu quả chất lượng sản phẩm đầu ra.
2.5 Đánh giá chung tình hình phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
2.5.1 Một số thành tựu đã đạt được trong việc phát triển kỹ năng lãnh đạo
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
Qua phần phân tích ở trên, tổng kết thực trạng về lãnh đạo và phát triển
kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam hiện nay
có một số mặt đã đạt được như sau
Thứ nhất, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngày càng nhận thức được tầm
quan trọng của việc phát triển các kỹ năng lãnh đạo để hướng tới lãnh đạo hiệu
quả. Trong hoạt động lãnh đạo doanh nghiệp, tất cả các kỹ năng trong 3 nhóm
kỹ năng lãnh đạo đều được đánh giá cần phải chú ý phát triển, đặc biệt kỹ năng
tư duy chiến lược và xây dựng chiến lược là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa
với sự phát triển doanh nghiệp.
Thứ hai, trình độ học vấn của các nhà lãnh đạo DNNQD Việt Nam ngày
càng cao. Trong khuôn khổ cuộc khảo sát điều tra của tác giả, tín hiệu tốt cho
104
thấy về trình độ học vấn của đội ngũ nhà lãnh đạo các DNNQD khi 2/3 nhà
lãnh đạo đều đã tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác nhau, chiếm tỷ trọng
70,6%. Những nhà lãnh đạo đã học các chương trình sau đại học chiếm 22,4%,
chỉ có rất ít số lượng nhà lãnh đạo mới tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng (chiếm
7%). So với các một nghiên cứu của Trung tâm Hỗ trợ DNNVV tại Hà Nội
(Cục Phát triển DNNVV - Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tiến hành với sự tài trợ của
Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) điều tra khảo sát trình độ của nhà
lãnh đạo các doanh nghiệp tư nhân năm 2010 thì ở đây tỷ trọng nhà lãnh đạo
tốt nghiệp đại học và sau đại học cao hơn hẳn, chiếm tỷ trọng lớn (92,4%), số
ít còn lại tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng. Bên cạnh đó, 81,4% nhà lãnh đạo có
sự am hiểu về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp ở mức TỐT và RẤT TỐT.
Đây là một tín hiệu đáng mừng về đối ngũ doanh nhân thế hệ mới.
Thứ ba, đánh giá về các kỹ năng lãnh đạo cần phát triển thì trong các
nhóm kỹ năng lãnh đạo thì nhóm kỹ năng nền tảng được đánh giá vô cùng quan
trọng, có tần suất sử dụng cao nhất trong các nhóm. Điều này cho thấy các nhà
lãnh đạo DNNQD đã chú trọng tới việc phát triển bền vững, cần phải có những
yếu tố nền tảng vì nó là chìa khóa để các nhà lãnh đạo rèn luyện các kỹ năng
tiếp theo.
Thứ tư, tất cả các nhà lãnh đạo đều am hiểu tốt về lĩnh vực hoạt động của
doanh nghiệp mình.
Thứ năm, về phương pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo, phần lớn các nhà
lãnh đạo đã liên tục tham gia các loại hình đào tạo với các phương pháp đào
tạo đa dạng, phong phú để phát triển kỹ năng lãnh đạo của mình.
Thứ sáu, việc rèn luyện thường xuyên các kỹ năng lãnh đạo, việc tự trau
dồi hoàn thiện cũng đã được các nhà lãnh đạo chú trọng thực hiện. Kỹ năng
được thực hiện thường xuyên, liên tục nhất là kỹ năng giao tiếp thuyết trình và
kỹ năng quản lý thời gian.
105
2.5.2 Một số hạn chế trong việc phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, thực trạng kỹ năng lãnh đạo
của nhà lãnh đạo các NDNQD Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như sau:
Thứ nhất, đánh giá về các kỹ năng lãnh đạo cần phát triển thì kỹ năng
lãnh đạo của các lãnh đạo trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam tham
gia khảo sát phần lớn nằm ở mức trung bình – mức chấp nhận được. Có thể đây
chính là lý do mà chất lượng và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay chưa được cao.
Thứ hai, việc phát triển kỹ năng định hướng lãnh đạo và gây ảnh hưởng
còn khá mới mẻ với các nhà lãnh đạo trong việc rèn luyện và nhận thức. Các
nhà lãnh đạo hầu như đã tiếp xúc, làm quen hoặc thực hành những kỹ năng này
tuy nhiên chưa mang tính hệ thống hoặc nhìn nhận toàn diện các kỹ năng này.
Thứ ba, mức độ thường xuyên, tần suất sử dụng các kỹ năng còn phụ
thuộc vào đặc điểm các kỹ năng, có kỹ năng được thực hiện hàng ngày song có
những kỹ năng quan trọng nhưng các nhà lãnh đạo vẫn còn ít quan tâm.
Thứ tư, những kỹ năng có thể tích lũy và phát triển chủ yếu qua kinh
nghiệm như hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, giao tiếp và
thuyết trình, xây dựng và phát triển quan hệ kinh doanh có điểm đánh giá cao
hơn những kỹ năng đòi hỏi tư duy phức tạp và phải học bài bản hơn như tư duy
chiến lược và xây dựng chiến lược, xây dựng kế hoạch kinh doanh, phát triển
nhân viên hay quản lý thay đổi.
Thứ năm, việc xây dựng và phát triển mối quan hệ bên ngoài dường như
được chú trọng nhiều hơn việc phát triển nguồn lực trong doanh nghiệp. Lý do
là vì việc phát triển các cá nhân thành lãnh đạo đòi hỏi những đầu tư lớn từ phía
doanh nghiệp và phải có một tầm nhìn chiến lược để có thể duy trì đội ngũ lãnh
đạo của mình.
106
Thứ sáu, kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi của các nhà lãnh đạo
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt nam còn ở mức thấp, trong bối
cảnh môi trường kinh doanh ngày càng biến động phức tạp như hiện nay thì rõ
ràng đây là một điểm hạn chế lớn trong hoạt động lãnh đạo doanh nghiệp.
Từ thực trạng nêu trên, việc đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ
năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam ở chương
tiếp theo là điều vô cùng cần thiết.
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc phát triển kỹ năng lãnh
đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt Nam
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc phát triển kỹ
năng cho nhà lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, có thể
kể tới một số nguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất, nhiều nhà lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
hiện nay vẫn còn lãnh đạo theo “thói quen”, theo kinh nghiệm hoặc theo những
cách thức sẵn có của doanh nghiệp nên họ không chú trọng tới việc đánh giá,
phát triển các kỹ năng lãnh đạo, đặc biệt là những kỹ năng quan trọng trong bối
cảnh hội nhập hiện nay.
Thứ hai, các nhà lãnh đạo chưa thực sự chủ động trong việc phát triển
các kỹ năng lãnh đạo của mình. Trong một phỏng vấn chuyên sâu của tác giả
với Chủ tịch HĐQT - nhà lãnh đạo tập đoàn Hoàng Dương (thành công với
thương hiệu CANIFA), việc đưa lãnh đạo đi học thường xuyên khó hơn so với
việc cử các đối tượng này đi dạy tại các khóa đào tạo nội bộ doanh nghiệp. Một
phần do các nhà lãnh đạo khó có thể sắp xếp được thời giant ham gia trọn vẹn
các khóa đào tạo, một số nhà lãnh đạo khác vẫn còn tâm lý “ngại” phát triển.
Thứ ba, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phần lớn là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, số vốn doanh nghiệp không quá lớn để đầu tư nhiều cho hoạt động
107
đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhà lãnh đạo một cách hệ thống và chuyên
nghiệp trong doanh nghiệp mà thường giao cho bộ phận nhân sự phụ trách.
Thứ tư, những kỹ năng ảnh hưởng và kỹ năng định hướng dường như là
những kỹ năng khó, đòi hỏi sự rèn luyện, hoàn thiện ở mức cao hơn, hiệu quả
từ những kỹ năng này cũng phải được đánh giá trong dài hạn nên các nhà lãnh
đạo chưa thực sự nắm bắt được. Và môi trường kinh doanh của Việt nam còn
phụ thuộc nhiều vào các mối quan hệ dẫn đến tâm lý các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp phải chú trọng phát triển các mối quan hệ bên ngoài để thuận tiện cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Thứ năm, lối tư duy quản lý mang tính chất bao biện và ôm đồm vẫn còn
tồn tại dẫn đến việc trao quyền cho nhân viên trong doanh nghiệp chưa thực sự
phát huy hiệu quả.
Thứ sáu, công tác phát triển kỹ năng cho nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp
chưa thực sự được tiến hành bài bản, chuyên nghiệp, các hoạt động đào tạo,
phát triển kỹ năng dường như còn bộc phát, do bộ phận nhân sự thực hiện chứ
phần lớn chưa do một trung tâm đào tạo của riêng doanh nghiệp phụ trách.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 đã trình bày khái niệm, các đặc điểm cũng như tầm quan
trọng của của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam và đi sâu phân tích
thực trạng kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt
Nam. Để kiểm nghiệm và đánh giá thực trạng, phần mềm SPSS20 (Statistical
Package for the Social Sciences) và phần mềm STATA đã được sử dụng để tiến
hành xử lý và phân tích số liệu điều tra nhằm rút ra các kết luận chính xác, thực
tiễn.
108
Qua việc phân tích số liệu điều tra khảo sát, chương 2 đã nêu bật được
thực trạng việc phát triển các nhóm kỹ năng lãnh đạo, nhận thức về tầm quan
trọng và tần suất sử dụng các nhóm kỹ năng này trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh. Hơn nữa, chương 2 đặc biệt đã đi sâu phân tích mối liên hệ giữa
các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển các nhóm kỹ năng lãnh đạo. Việc đưa ra
đánh giá chung về thực trạng phát triển kỹ năng lãnh đạo sẽ là nền tảng để đưa
ra các giải pháp ở chương 3 của luận án.
109
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LÃNH ĐẠO TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH CỦA VIỆT NAM
3.1 Định hướng phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh Việt Nam giai đoạn 2015-2020
Mục tiêu tổng quát chiến lược phát triển nhân lực của Việt Nam thời kỳ
2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng
nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng
trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các
nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước
phát triển trên thế giới. Những năm qua, cùng với sự tăng trưởng và phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển lớn mạnh của
cộng đồng doanh nghiệp Việt. Trong đó nổi lên với nhiều tên tuổi lớn như FPT,
Cafe Trung Nguyên, DOJI, Techcombank, Tập đoàn Hòa phát, Vingroup...có
thể nói rằng sự phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
này có sự đóng góp rất lớn của các nhà lãnh đạo, các CEO của doanh nghiệp.
Dưới tác động của xu hướng toàn cầu hóa, việc gia nhập TPP hiện nay đặt các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam phải đối diện với những thách thức
mới như các quy tắc cạnh tranh đã thay đổi, ưu thế cạnh tranh của một doanh
nghiệp không còn phụ thuộc vào các yếu tố giá rẻ, tính chất gần gũi và sự am
hiểu nội ngành, địa phương của các doanh nghiệp trong nước mà còn bị tác
động bởi tiềm năng sản xuất tại chỗ, hiệu quả đầu tư, sử dụng và truyền bá tri
thức, khoa học công nghệ. Mỗi cá nhân nhà lãnh đạo doanh nghiệp nếu không
nhận thức được các thách thức này và không tự trau dồi, phát triển các kỹ năng
lãnh đạo thì sẽ khó có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của mình.
Phương hướng chung xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao của Việt Nam là có được đội ngũ nhân lực thể lực tốt, tầm vóc cường tráng,
phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực tư duy sáng tạo và đạo đức tốt; có
110
năng lực tự học, tự đào tạo, có bản lĩnh, tự tin, năng động, chủ động, sáng tạo;
có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và đối phó nhanh
chóng với môi trường sống và làm việc không ngừng biến đổi; thích ứng với
trình độ phát triển Việt Nam năm 2020 là nước công nghiệp theo hướng hiện
đại và hội nhập quốc tế. Cùng với phương hướng chung trên đây, xây dựng và
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta trong những năm tới cần
tập trung vào những nhóm nguồn nhân lực cốt yếu như: đội ngũ doanh nhân,
chuyên gia quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp, có bản lĩnh, thông thạo kỹ
năng quản lý, kinh doanh trong nước và quốc tế, có đầy đủ khả năng thực hiện
vai trò động lực, dẫn dắt để nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Nhận thức được những cơ hội và thách thức từ môi trường kinh doanh,
thực hiện theo đúng phương hướng phát triển nguồn nhân lực lãnh đạo chất
lượng cao của Nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có những định
hướng đúng đắn đối với hoạt động phát triển kỹ năng lãnh đạo cho khoảng thời
gian 2015-2020 như sau:
- Con đường duy nhất để nâng cao, phát triển kỹ năng lãnh đạo là nhà lãnh đạo
phải xác định luôn học hỏi mọi lúc mọi nơi những thứ cần thiết để theo kịp sự
thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh.
- Doanh nghiệp cần phải chú trọng đầu tư hoạt động đào tạo và phát triển kỹ
năng lãnh đạo cho nhà lãnh đạo.
- Tiếp tục chuẩn hóa và triển khai các chương trình nhằm nâng cao năng lực
tổng quát, bên cạnh đó xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo chuyên
sâu các kỹ năng lãnh đạo.
- Khởi phát mạnh mẽ tinh thần doanh nhân và tinh thần sáng tạo trong cộng
đồng Việt, mỗi nhà lãnh đạo doanh nghiệp là một tấm gương trong doanh
nghiệp và việc tự hoàn thiện bản thân là điều vô cùng cần thiết.
3.2 Các giải pháp phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh Việt Nam
111
3.2.1 Nhận thức rõ năng lực lãnh đạo của bản thân và xây dựng, thực hiện
kế hoạch phát triển cá nhân một cách kiên định.
Đánh giá thực trạng kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ở chương 2 cho thấy kỹ năng lãnh đạo bản thân là kỹ năng khá
quan trọng nhưng chưa thực sự tốt, luận án đề xuất giải pháp cho nhà lãnh đạo
doanh nghiệp là cần nhận thức rõ năng lực lãnh đạo của bản thân và xây dựng,
thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân một cách kiên định.
Trong quá trình rèn luyện kỹ năng này nhà lãnh đạo sẽ hiểu được rõ con
người mình, sẽ biết được điểm mạnh điểm yếu của mình để liên tục học hỏi cải
thiện năng lực lãnh đạo.
a) Trước hết nhà lãnh đạo phải hiểu rõ bản thân mình
Nhà lãnh đạo trước hết phải khám phá được bản thân mình, hiểu rõ điểm
tham chiếu bên trong con người mình. Phương hướng hành động của các nhà
lãnh đạo và các phương pháp gây ảnh hưởng thể hiện những gì bên trong con
người họ. Nhà lãnh đạo bắt đầu cuộc hành trình phát triển khả năng lãnh đạo
của mình bằng cách thừa nhận mình là ai, xác định rõ mình thuộc kiểu nhà lãnh
đạo nào và muốn trở thành nhà lãnh đạo kiểu nào. Mỗi ngày, nhà lãnh đạo nên
bỏ ra vài phút để im lặng và lắng nghe, xem xét các hành động của bản thân và
xác định rõ những động cơ định hướng cho mình.
b) Sống với niềm đam mê và định hướng niềm đam mê bằng sự chính
xác.
Các nhà lãnh đạo giỏi nhất thường sống bằng những đam mê. Đam mê
đưa họ vượt lên trên những điều tầm thường hàng ngày, đam mê thúc đẩy họ
tới vị trí cao hơn. Đam mê tạo ra cá tính mãnh liệt và hăng hái của nhà lãnh
đạo, nó tiếp thêm sức mạnh cho nhà lãnh đạo theo đuổi một mục tiêu hoặc một
dự định nào đó.
Sử dụng sự chính xác để xác định niềm đam mê. Người ta không chỉ làm
việc với chút hy vọng chung chung. Hãy suy nghĩ trên giấy rồi viết ra nững suy
nghĩ của mình để thấy chúng hiển thị ngay trước mắt. Triệt tiêu tất cả những
112
điều khái quát chung chung, chuyển những tuyên ngôn mập mờ thành các hành
động cụ thể. Sau khi xác đinh được đam mê chính xác hãy kiên trì theo đuổi
đam mê và định hướng nó thông qua những hành động cụ thể. Liệt kê tất cả
những điều mình muốn làm và trở thành để biến đam mê thành hành động và
kết quả. Xác định những yếu tố chủ chốt để thực hiện hóa đam mê.
Để sống với đam mê và định hướng đam mê đòi hỏi sự chăm chỉ trong
một thời gian dài. Vì vậy, những người làm chủ được kỹ năng này là những
người rất tài giỏi, họ đầu tư thời gian và công sức vào việc thực hiện hành động
này.
c) Tạo ra tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị
Nhà lãnh đạo phác họa tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị thành một bức tranh
rõ nét để những người khác có thể nhận ra và sử dụng nó nhằm định hướng cho
họat động của họ. Mối quan tâm về tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị tập trung ở các
cấp lãnh đạo cao nhất.
Tiêu chuẩn cho tầm nhìn:
* Xác định vị thế thị trường và vị thế cạnh tranh
* Đưa ra những mục đích truyền cảm và có giá trị chia sẻ.
* Cụ thể rõ ràng những gì sẽ khác biệt trong tương lai
* Nhận ra những năng lực cốt yếu yêu cầu đối với sự thành công
* Thiết lập định hướng và tiêu chuẩn ra quyết định
* Đưa ra cơ sở căn bản hấp dẫn cho việc thay đổi.
* Nêu bật sự thay đổi biểu trưng và hướng lãnh đạo.
Việc xác định tầm nhìn chiến lược thông qua việc phân tích SWOT của
doanh nghiệp. Có 5 lĩnh vực chính cần xem xét trong nội bộ doanh nghiệp:
* Các yếu tố vận hành
* Các yếu tố sản phẩm
* Các yếu tố khách hàng
* Các yếu tố tài chính
* Các yếu tố con người.
113
Và khi nhà lãnh đạo phân tích môi tường bên ngoài cần chú ý những yếu
tố sau:
* Những thay đổi trong ngành
* Toàn cầu hóa
* Kỳ vọng của khách hàng và các yếu tố về nhân khẩu học
* Các chính sách của Chính phủ
* Nguồn vốn con người
d) Nhạy bén trong kinh doanh
Thật khó mà xác định được sự cần thiết của lãnh đạo nếu thiếu sự nhạy
bén trong kinh doanh. Nhà lãnh đạo tài ba hiểu rõ ngành kinh doanh và thị
trường họ tham gia, hiểu rõ đối thủ cạnh tranh. Họ hiểu biết về sản phẩm, nắm
vững những hoạt động về chức năng bên trong doanh nghiệp mình, liên tục cập
nhật những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực họ tham gia.
Hãy bắt đầu bằng việc trau dồi khả năng nhạy bén trong kinh doanh. Phân
tích vị trí hiện tại của mình, sắp xếp thứ tự những khả năng nhạy bén trong kinh
doanh theo thứ tự quan trọng, đặt lĩnh vực ít thành thạo nhất lên trên cùng.
Lập chương trình tự học về kiến thức kinh doanh, dành thời gian hàng
ngày để đọc những ấn phẩm trong ngành…
Phải mất nhiều thời gian để có sự nhạy bén trong kinh doanh vì vậy hãy
kiên trì. Sự nhạy bén thực thụ đòi hỏi sự luyện tập. Về cơ bản, chúng ta phải nỗ
lực phát triển kỹ năng đó.
3.2.2 Rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả và lựa chọn thứ tự ưu tiên
Việc phân tích tầm quan trọng của các kỹ năng và đánh giá thực trạng
các kỹ năng này như nội dung mục 2.2.1 và 2.2.3 ở chương 2 là cơ sở để tác
giả đề xuất giải pháp hoàn thiện kỹ năng quản lý thời gian cho nhà lãnh đạo
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.
Thật vậy, thời gian là thứ quý nhất, thứ mà không thể lấy lại được dù trả
bất kỳ giá nào. Vì vậy không chỉ có nhà lãnh đạo mà bất kỳ ai muốn có được
114
thành công đều phải quản lý thời gian của mình sao cho nó được sử dụng hiệu
quả nhất.
Quản lý thời gian nghĩa là làm việc và tổ chức cùng với người khác. Phần
lớn thời gian nhà lãnh đạo dùng để giao tiếp, tổ chức công việc với nhân viên.
Muốn tổ chức với người khác trước hết phải biết tổ chức và quản lý quỹ thời
gian của chính mình.
Tác dụng của quản lý thời gian hiệu quả:
- Làm cho cuộc sống dễ dàng hơn
- Giảm căng thẳng
- Tăng hiệu quả
- Tăng niềm vui trong công vệc
- Tăng năng suất cá nhân và tập thể.
- Tăng “thời gian riêng tư” cho chính bản thân mình.
Nhà lãnh đạo có thể áp dụng mô hình quản lý thời gian hiệu quả như
sau:
Nhận biết
Phân tích việc cần làm
Loại bỏ những thứ ăn cắp thời gian Lập thứ tự ưu tiên
Lập kế hoạch làm việc
Tiết kiệm và sử dụng thời gian tốt nhất
115
* Nhận biết
Nhận biết đâu là điểm quan trọng nhất cho cá nhân và công việc. Giai
đoạn này giúp xác định mục tiêu. Phải coi trọng yếu tố liên quan đến cách thức
sử dụng thời gian, thói quen, tác phong giao tiếp và trách nhiệm công viếc của
mình.
Hiệu quả quản lý thời gian có được từ 2 cách: kiểm soát và tự kiểm soát
công việc. Tự kiểm soát là do hiểu biết chính mình, ưu điểm, nhược điểm, nhân
cách, cách nhìn nhận sự việc theo tổng quan hay chi tiết. Kiểm soát công việc
là hiểu rõ công việc cũng tức là tổ chức và vai trò của mình trong tổ chức ấy.
Trong bước này đòi hỏi người thực hiện phải đề ra được mục tiêu về chính bản
thân mình.
* Phân tích những việc cần làm
Để cải thiện việc sử dụng thời gian, chúng ta cần phải đào sâu chi tiết về
cách sử dụng thời gian hiệu quả trong hiện tại. Sau khi biết được mục tiêu của
mình, phải phân tích cách sử dụng thời gian sao cho có thể kiểm soát được nó
một cách tốt nhất. Cần phân tích rõ cách sử dụng khi đã biết mình phải làm gì.
* Loại bỏ những thứ làm mất thời gian không cần thiết.
Xác định những việc làm tiêu hao thời gian của nhà lãnh đạo, từ đó dần
loại trừ khỏi danh mục các công việc làm hàng ngày. Những hoạt động gây
lãng phí thời gian cho nhà lãnh đạo bao gồm hai loại chính:
- Hoạt động từ bên ngoài: nói chuyên điện thoại lê thê, dai dẳng, hội họp
thiếu tổ chức, bất hòa cá nhân và chuyện phiếm
- Hoạt động từ bên trong: Không biết nói “không”, do dự, dời lại công
việc, lỗi lầm, không lên kế hoạch, không biết giao việc.
* Lập trật tự ưu tiên
116
Đây là vấn đề quan trọng trong việc sử dụng thời gian có hiệu quả, nó
quyết định đến trên 50% khả năng thành công trong việc quản lý thời gian .
Sau khi phân tích và lập thời gian biểu cho những việc cần làm, ta cần
phải phân loại như sau:
- Kiểm soát được/chủ động
- Quan trọng
- Khẩn trương
- Giao cho người khác
Đánh giá sắp xếp được theo những tiêu chí trên sẽ giúp chúng ta phân
loại được những công việc cần làm và đạt được hiệu quả tối ưu từ những công
việc đó.
* Lập kế hoạch
Không thu xếp được thời gian thì những phân tích và phân loại ở trên
đều trở nên vô nghĩa. Cần biết mình muốn gì và thời điểm thực hiện công việc.
Nhà lãnh đạo cần lập kế hoạch thời gian có thể làm trong ngày, trong tuần,
trong tháng, trong năm.
3.2.3 Tích cực xây dựng và phát triển mối quan hệ
Trên cơ sở các phân tích về tần suất sử dụng và thực trạng nhóm kỹ năng
ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam ở
chương 2, để phát triển kỹ năng xây dựng và phát triển mối quan hệ, nhà lãnh
đạo cần chú ý tới một số nội dung sau:
a) Xây dựng một nền tảng chung
Khéo léo thiết lập một nền tảng chung là bước đầu cho việc thiết lập mối
quan hệ. Nhà lãnh đạo muốn thiết lập nền tảng chung trước hết phải nghiên cứu
các nhân tố đã từng có tác động quan trọng đối với họ. Hãy tìm hiểu những hoạt
động ưa thích của người khác. Hãy tìm hiểu những trải nghiệm trong đời có ý
nghĩa quan trọng đối với họ. Tại mỗi giai đoạn, hãy xác định những thực tế
117
được các bên chia sẻ giúp hình thành nên tính thống nhất của nền tảng chung.
Tìm ra mối liên hệ giữa thông tin cá nhân của bản thân nhà lãnh đạo và những
người khác. Đừng ngại khám phá sở thích và mối quan tâm của người khác để
tìm ra những điểm chung mà cả hai bên cùng chia sẻ.
Thực tế là có những người không thích tiết lộ chia sẻ các thông tin cá
nhân. Khi gặp phải tình huống này hãy chuyển trọng tâm sang các vấn đề
chuyên môn nghiệp vụ. Hãy tìm hiểu xem mọi người thích công việc này ở
điểm nào và liên hệ với những điều mình thích về công việc của mình. Hãy hỏi
về những mục tiêu chuyên môn của họ và liện hệ với những mục tiêu chuyên
môn của mình…
Mức độ mọi người cởi mở với mình cũng phụ thuộc vào độ cởi mở của
mình với mọi người. Mức độ cởi mở của mình sẽ ảnh hưởng tới mứccởi mở
của người đối diện. Khi chúng ta sẵn sàng chia sẻ thì mọi người cũng thường
sẵn sàng chia sẻ với mình.
Việc thiết lập nền tảng chung đòi hỏi phải có thời gian cần thiết. Hãy
định ra thời gian cần thiết đó và đừng bỏ lỡ cơ hội được hiểu người khác.
b) Đặt mình vào vị trí người khác
Những nhà lãnh đạo thành công thường đặt mình vào vị trí của người
khác để có những thấu cảm thực sự, đó là khả năng hiểu được những trải nghiệm
từ góc nhìn của người khác.
Để làm được điều đó, trước hết nhà lãnh đạo hãy truyền đạt sự thấu cảm
của mình bằng cách công nhận những quan ngại hay quan điểm của người khác.
Thứ là dành thời gian để quan sát, thâm nhập và tìm hiểu xem sống trong thế
giới của một người hác sẽ như thế nào. Nghiên cứu cách làm việc của nhóm
hay tại trụ sở của họ sẽ như thế nào…
Sự thấu cảm thực sự theo đúng nghĩa đen của nó xuất phát từ một nơi rất
chân thành. Thấu cảm giả tạo sẽ làm rạn nứt mối quan hệ. Việc đi với người
118
khác để chứng tỏ rằng “tôi là một thành viên của nhóm” sẽ không mang lại kết
quả.
c) Lắng nghe tích cực
Các nhà lãnh đạo luôn lắng nghe, lắng nghe tích cực có nghĩa là đôi tai
và nhận thức của chúng ta phải rất tập trung và sẵn sàng lắng nghe người khác
nói. Lắng nghe biểu hiện sự kính trọng, giúp chúng ta phản xạ chính xác hơn.
Những người ủng hộ luôn bị cuốn hút bởi những người lắng nghe người khác
một cách tích cực.
Trên thực tế, chúng ta chỉ nghe được khoảng 50% những gì được truyền
tải và chỉ thực sự lắng nghe khoảng 25% bức thông điệp. Ta chỉ hiểu được
khoảng 12% những gì được nói ra và chỉ tin khoảng 6% những gì người khác
nói. Quan trọng hơn cả là chúng ta chỉ nhớ được khoảng 3% những gì chúng ta
nghe được. Vì vậy, lắng nghe có hiệu quả là một kỹ năng khó.
Nhằm cải thiện chất lượng nghe, chúng ta có thể thực hiện giao tiếp bằng
mắt. Điều đó sẽ truyền tải mối quan tâm của chúng ta đến người nói một cách
chân thành. Hãy hỏi các thông tin bổ sung, điều đó cho thấy chúng ta thực sự
quan tâm và muốn biết những suy nghĩ của người ủng hộ. Hãy trình bày hay
diễn đạt lại những ý chính. Kỹ thuật này giúp ta hiểu được những ý chính và
đầy đủ những điều họ nói.
d) Phát triển khả năng lãnh đạo từ xa
Năng lực phát triển lãnh đạo từ xa chỉ việc xây dựng mối quan hệ với
những người không nằm trong môi trường ngay gần nhà lãnh đạo. Lãnh đạo từ
xa là một thách thức ngày càng tăng khi mô hình văn phòng ảo đang dần hình
thành. Tận dụng email, điện thoại và những thiết bị khác để giữ mối quan hệ.
e) Thể hiện sự chính trực
Mối quan hệ chính là sự thể hiện tình cảm gắn bó mọi người với nhau.
Với các mối quan hệ thân thuộc, mọi người nhìn thấy trong nhà lãnh đạo những
119
phẩm chất tốt đẹp mà họ muốn có. Sự chính trực thể hiện trong tính cách, đạo
đức và nguyên tắc.
Lãnh đạo là sự phát triển chứ không phải là sự khám phá. “Nhà lãnh đạo
bẩm sinh” luôn xuất hiện. Song để trở thành nhà lãnh đạo xuất sắc thì cần phải
trau dồi, phát triển những tố chất lãnh đạo. Những nhà lãnh đạo xuất sắc thường
thể hiện sự chính trực để thể hiện những chuẩn mực cao nhất về hành vi. Họ
đại diện cho những phẩm chất tốt đẹp mà người khác mong muốn có.
Khi xác lập cho mình được một khuôn khổ đạo đức, nhà lãnh đạo phải
luôn tuân thủ khuôn khổ đó. Hãy nêu rõ những quy tắc ra quyết định của mình
cho bản thân và cho người khác. Hãy xem xét lại các quy tắc đạo đức nghề
nghiệp và hành động rõ ràng để chứng minh rằng mình luôn tuân thủ những
đạo đức đó. Thiết lập cho mình một tập hợp các nguyên tắc dùng trong những
tình huống khó khăn.
f) Xây dựng lòng tin
Để tạo dựng được lòng tin, trước hết nhà lãnh đạo phải luôn giữ được sự
“nhất quán” trong hành động và lời nói của mình. Tính nhất quán sẽ tạo ra lòng
tin. Tính nhất quán cũng là thành tố quan trọng nhất trong kỹ năng lãnh đạo.
Con người ai cũng có mong muốn đầy mâu thuẫn. Tính nhất quán là yếu tố
quyết định cái nào sẽ thắng thế. Trong cuộc sống hàng ngàycó những tình
huống buộc chúng ta phải lựa chọn giữa những cái ta muốn và những cái ta nên
làm. Tính nhất quán thiết lập nên các nguyên tắc nền tảng để giải quyết những
mâu thuẫn này. Tính nhất quán đồng nhất mọi lời nói, suy nghĩ và hành động
của một con người, không bao giờ cho phép có sự mâu thuẫn.
Nhà triết học Socrates nhắc nhở chúng ta rằng: “Muốn trở thành vĩ nhân,
chìa khóa đầu tiên của chúng ta là hãy thể hiện đúng con người mình”. Nếu
những gì nói và làm giống nhau, nhà lãnh đạo sẽ thu được kết quả tương xứng.
Ví dụ như: giám đốc quy định “đi làm đúng giờ” và giám đốc luôn đi làm đúng
giờ thì các nhân viên ắt cũng đi làm đúng giờ. Nhưng nếu vị giám đốc đó lại đi
120
làm không đúng giờ thì một số nhân viên đi làm đúng giờ còn một số khác thì
không. Có đến 98% những gì chúng ta học được là từ thị giác, chỉ có 10% từ
thính giác và 1% từ các giác quan khác. Vì vậy, nếu nhân viên càng nhìn thấy
và nghe thấy lời nói của lãnh đạo nhất quán với nhau thì họ càng nhất quán và
trung thành với nhà lãnh đạo đó.
3.2.4 Hoàn thiện nhóm kỹ năng gây ảnh hưởng
Từ kết quả điều tra khảo sát, có thể kết luận rằng kỹ năng gây ảnh hưởng
và xây dựng hình ảnh của lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn
chưa tốt. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp gần như chưa định hình được khái
niệm hay bản chất việc gây ảnh hưởng và xây dựng hình ảnh cụ thể như thế
nào. Nhà lãnh đạo sẽ hoàn thiện được kỹ năng này thông qua một số giải pháp
như sau:
3.2.4.1 Xây dựng cơ sở tạo cam kết
Để xây dựng được cơ sở cam kết của những người cấp dưới, nhà lãnh
đạo cần:
- Tạo dựng uy tín cho mình. Uy tín ở đây có nghĩa là khả năng được
người khác tin cậy. Uy tín giúp tạo ra những cam kết đối với nhà lãnh đạo và
đường lối lãnh đạo của họ. Một số người có thể tạo được uy tín chỉ trong chốc
lát nhưng có người phải mất một quá trình để tạo dựng uy tín.
- Xây dựng nhóm ủng hộ nòng cốt. Nhóm này luôn luôn tin tưởng, luôn
ủng hộ người lãnh đạo. Họ có sự hòa hợp cao và có một loạt những kỳ vọng
được cả hai bên thống nhất. Họ hỗ trợ các nỗ lực của nhà lãnh đạo dựa trên
những cam kết đã xác lập. Nhóm ủng hộ nòng cốt cũng là người truyền đạt
đường hướng của lãnh đạo và có thể thúc đẩy long tin, lôi kéo người khác đi
theo nhà lãnh đạo.
- Xác lập quyền lực. Việc xác lập quyền lực của một người xuất phát từ
cách người đó hoạt động trong cơ cấu của một tổ chức. Đây không phải là việc
giành được chỗ đứng chính thức trong hệ thống cấp bậc của tổ chức. Mặc dù
121
việc đề bạt trong tổ chức mang lại quyền lực và vị trí quyền lực chính thức này
mang lại ảnh hưởng của nhà quản lý, nhưng quyền lực lãnh đạo không xuất
phát từ chức vụ chính thức được tổ chức công nhận.
- Bảo vệ nhóm
- Chia sẻ quyền lực
- Thích nghi với từng nhóm. Có thể chia các đồng minh tiềm năng thành
bốn loại ( đồng minh toàn tâm toàn ý, đồng minh nửa vời, đồng minh có điều
kiện, những kẻ a dua). Nhà lãnh đạo cần hiểu đặc điểm và thích ứng với từng
nhóm đồng minh dựa vào kỹ năng xây dựng quan hệ và phân biệt những kỳ
vọng. Cần tập trung những nỗ lực đầu tiên và lớn nhất vào những người có thể
hoàn toàn tin cậy được.
- Xây dựng khối liên minh ủng hộ mình. Hãy mở rộng cơ sở của mình để
đạt được cam kết thông qua việc hình thành các khối đồng minh. Nhà lãnh đạo
có thể nâng cao khả năng gây ảnh hưởng với những nhân vật chủ chốt. Những
nhà lãnh đạo xuất sắc nhất luôn dựa vào liên minh để mở rộng cơ sở của mình.
3.2.4.2 Gây ảnh hưởng để dành sự ủng hộ tự nguyện
Để đạt được sự ủng hộ tự nguyện của mọi người, nhà lãnh đạo cần thực
hiện các bước như sau:
Bước 1: Cho mọi người thấy lợi ích họ nhận được
Bước 2: Duy trì những thông điệp chủ chốt mà nhà lãnh đạo muốn đưa
ra để tác động đến người khác
Bước 3: Truyền đạt những định hướng, chiến lược của mình trong toàn
doanh nghiệp và thuyết phục mọi người nhìn nhận đó là đúng và đi theo. Vững
vàng trước sự phản kháng và bình tĩnh khi người khác không ủng hộ
Bước 4: Tập trung vào những người ủng hộ trước tiên.
3.2.4.3 Xây dựng môi trường mang tính khích lệ
a) Xây dựng tinh thần cốt lõi cho nhóm và tổ chức của mình
122
b) Tạo dựng môi trường văn hóa mang tính thích ứng cao
c) Lập bảng thi đua đánh giá
d) Giao trách nhiệm cho mọi người và tối đa hóa sự tham gia của mọi
người
e) Giải quyết xung đột
f) Sử dụng các biện pháp khích lệ khác
3.2.5 Chú trọng phát triển kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh biến động mạnh mẽ như hiện nay,
việc chú trọng phát triển kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi cho nhà lãnh
đạo là vô cùng cần thiết. Theo kết quả khảo sát, kỹ năng này của các nhà lãnh
đạo đang ở mức thấp. Vì vậy, cần có những biện pháp cải thiện như sau:
- Nhà lãnh đạo cần phân tích kỹ các yếu tố của tổ chức, để thấy được những
nhu cầu thực sự cần phải thay đổi và để xác định chính xác thời cơ để thay đổi.
- Để thực hiện sự thay đổi cần phải đề xuất một kế hoạch quản lý sự thay đổi
đó một cách chi tiết. Kế hoạch này phải lường trước những phản ứng có thể có
từ phía người nhận thay đổi trong doanh nghiệp để có biện pháp giải quyết.
Kế hoạch cần nêu rõ mục tiêu cụ thể cần đạt được và quá trình thay đổi
từ lúc thông báo về sự thay đổi đến thời gian dành cho các hoạt động thay đổi,
phương thức và cách thức tiến hành từng lĩnh vực thay đổi và những người chịu
trách nhiệm với từng phần việc trong quá trình thay đổi. Hơn thế nữa, bản kế
hoạch phải xác định rõ người hoạch định chiến lược thay đổi, người tổ chức và
người nhận sự thay đổi…kế hoạch đơn giản, rõ ràng và có cả trường hợp dự
phòng.
- Nhà lãnh đạo cần truyền đạt ý tưởng về sự thay đổi cho mọi người trong tổ
chức, tìm kiếm những sự tham gia của mọi người ở các bộ phận khác nhau
trong tổ chức. Việc thông báo về sự thay đổi cho tổ chức biết là rất quan trọng
vì đó là giai đoạn khó khăn nhất trong chu kỳ tâm lý tiếp nhận thông tin thay
123
đổi của con người. Do vậy các nhà lãnh đạo cần xác định rõ nên thông báo như
thế nào, bằng hình thức gì, trong hoàn cảnh như thế nào..
- Trong suốt quá trình tiến hành thay đổi, các nhà quản lý và lãnh đạo cần củng
cố và chính thức hóa sự thay đổi.
Kỹ năng thích ứng và quản lý sự thay đổi đòi hỏi các nhà lãnh đạo cũng
phải có các kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo tốt để có thể
quản lý tốt quá trình thay đổi của tổ chức.
3.2.6 Tích cực trao quyền và phát triển người khác thành lãnh đạo
Việc phát triển các đội ngũ lãnh đạo kế cận là nhiệm vụ vô cùng quan
trọng trong bất cứ một doanh nghiệp hay một tổ chức nào. Vậy căn cứ vào khảo
sát về tầm quan trọng, tần suất sử dụng cũng như thực trạng kỹ năng này hiện
nay, tác giả đưa ra một số giải pháp khắc phục sau:
a) Thu hút những người mới nổi và có triển vọng phát triển thành lãnh
đạo
Thứ nhất là tiến hành đánh giá những người trong nhóm, trong bộ phận,
trong doanh nghiệp, những người có tiềm năng trở thành lãnh đạo.
Thứ hai là tạo dựng mối quan hệ với những người này. Điều đó tạo điều
kiện cho việc lôi cuốn họ theo đường hướng phát triển của mình. Sắp xếp đánh
giá theo thang điểm cho những câu hỏi:
Ai là người thực sự mong muốn phát triển?
Ai là người tiêu biểu trong việc phát triển và cố gắng thực hiện vai trò
lãnh đạo?
Ai đã trực tiếp thể hiện nguyện vọng lãnh đạo và được nâng cao khả năng
lãnh đạo?
Hãy xác định người có điểm số cao nhất và tập trung vào họ trước, sau
đó mở rộng quá trình tìm kiếm sang các thành phần khác.
124
Khi tìm kiếm nhân tài bên ngoài tổ chức, hãy cho họ thấy trước những
thực tế về công việc, và cho họ tham gia thực tế vào công việc trong doanh
nghiệp.
Nguyên tắc quan trọng khi thu hút người là thu hút những người có tiềm
năng thay vì tập trung vào những người có kinh nghiệm. Sử dụng tiêu chuẩn
“tầm cỡ quốc tế” để hướng những người được đào tạo để họ nỗ lực hết mình.
Nếu chúng ta định hướng theo những tiêu chuẩn “trung bình” thì chúng ta sẽ
nhận được kết quả trung bình.
b) Huấn luyện và đào tạo
Việc huấn luyện chủ yếu bao gồm các hoạt động phát triển từng người
trực tiếp và thường xuyên. Bắt đầu việc huấn luyện bằng việc xác định rõ cam
kết và niềm tin của những người được huấn luyện.
Biện pháp huấn luyện thành công
* Nói cho họ biết cần phải làm gì để cải thiện hoạt động
* Chỉ dẫn cho họ cách cải thiện
* Chỉ rõ hậu quả gây ra do các hành động.
* Đưa ra bức tranh tổng thể
* Tạo dựng sự tự tịn.
Những lời khuyên cho việc đào tạo:
* Xác định nhu cầu đào tạo.
* Xem lại nội dung và phương pháp của khóa học để đảm bảo chương
trình đào tạo đáp ứng yêu cầu đề ra.
* Yêu cầu đào tạo thay đổi theo từng học viên cụ thể, theo nhu cầu của
họ và văn hóa tổ chức.
* Yêu cầu thiết lập quá trình theo dõi nội bộ để củng cố nội dung đào tạo.
* Trước khóa học, tiến hành thảo luận với những người tham gia.
* Sau khóa học, tiến hành thảo luận với những người tham gia.
125
c) Trao quyền
Một trong những yêu cầu của việc phát triển người khác thành lãnh đạo
là cuối cùng họ cũng phải được trao quyền. Việc trao quyền liên quan đến 3
yếu tố:
* Con người khi được trao quyền họ có cơ hội xác định những khó khăn
vướng mắc
* Người được trao quyền phải được tự do tìm ra giải pháp hoặc cách hành
động để xử lý khó khăn, vướng mắc.
* Người được trao quyền có thẩm quyền để thực hiện những giải pháp
hoặc đường lối hành động của họ.
3.2.7 Đa dạng hóa các hình thức phát triển kỹ năng lãnh đạo
Các nhà lãnh đạo thành công có xu hướng học tập liên tục và tự phát
triển. Thông qua việc nghiên cứu thực tế các nội dung ở mục 2.2.4, tác giả đề
xuất việc chú trọng phát triển kỹ năng lãnh đạo cá nhân ở đây có thể được thực
hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau như:
- Tham gia các khóa đào tạo dành cho các lãnh đạo doanh nghiệp một
cách hệ thống để trang bị nhận thức, kiến thức nhằm hoàn thiện về tầm nhìn
chiến lược, phát triển các kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp như năng lực
động viên, khuyến khích, năng lực phân quyền, ủy quyền, năng lực ra quyết
định, giao tiếp lãnh đạo và năng lực gây ảnh hưởng, xây dựng hình ảnh người
lãnh đạo… Các nhà lãnh đạo có thể tham gia các lớp đào tạo trong ngắn hạn
(3-6 tháng) như chương trình MiniMBA, đào tạo CEO hoặc ngoài chương trình
ngắn hạn, nhà lãnh đạo theo học chương trình thạc sỹ quản trị kinh doanh cao
cấp và được giảng dạy theo đúng phong cách MBA cũng là một lựa chọn tốt.
- Và tự bản thân mỗi nhà lãnh đạo cũng luôn trau dồi kiến thức thông
qua việc thường xuyên đọc các sách báo về hoạt động lãnh đạo trong và ngoài
nước. Chú trọng việc tự học, tự nghiên cứu, thống kê mẫu điều tra khảo sát cho
thấy 59,6% nhà lãnh đạo luôn nhận thức và duy trì phương pháp tự nghiên cứu
126
(phụ lục 8), và 52,2% số nhà lãnh đạo đó đnáh giá hiệu quả của phương pháp
này ở mức TỐT. Như vậy, các nhà lãnh đạo nên chú trọng nhiều hơn nữa tới
việc tự hoàn thiện bản thân, trau dồi các kỹ năng lãnh đạo.
- Đi tham quan, khảo sát các doanh nghiệp thành công ở Việt Nam
cũng như trên thế giới, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài bởi đa phần
các hãng lớn trên thế giới đều đi lên từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thậm chí
là siêu nhỏ. Bởi vậy, sự thành công của các doanh nghiệp này có thể là bài học
kinh nghiệm quý giá cho các doanh nghiệp Việt Nam. Thông thường, khi lựa
chọn tham quan các doanh nghiệp thành công, các lãnh đạo doanh nghiệp Việt
Nam sẽ chọn các doanh nghiệp cùng ngành, cùng mô hình, cùng cơ chế quản
lý…Tuy nhiên, xu hướng hiện nay cho thấy nhà lãnh đạo còn muốn tham quan
cả những doanh nghiệp khác ngành để có thể tìm kiếm, phát triển những ý
tưởng mới bởi trong nền kinh tế thị trường, một trong những nhân tố hàng đầu
để đảm bảo thành công cho doanh nghiệp là sự sáng tạo về ý tưởng.
- Thuê chuyên gia tư vấn hàng đầu: Theo quan điểm của nhiều nhà
lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Việt Nam thì việc thuê chuyên
gia là một việc làm lãng phí vì chi phí quá cao. Tuy nhiên, nhận thức được quan
điểm làm đúng ngay từ đầu, quan điểm lợi ích-chi phí thì các nhà lãnh đạo dần
nhận thấy việc thuê chuyên gia tư vấn là một phương án tốt và hiệu quả nhất.
Từ những chuyên gia tư vấn, các lãnh đạo doanh nghiệp có thể thu nhận được
một lượng kiến thức hay một ý tưởng giá trị trong một thời gian ngắn, trong khi
nếu để cho các doanh nghiệp tự làm thì có thể mất nhiều thời gian hơn.
- Tham gia các câu lạc bộ trao đổi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm giữa
nhà lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Mời các lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam đã thành danh về nói
chuyện chuyên đề, chia sẻ kinh nghiệm.
- Đặc biệt, đẩy mạnh việc thực hành các bài tập mô phỏng các tình
huống trong công tác lãnh đạo doanh nghiệp như động viên, khuyến khích nhân
viên, rèn luyện kỹ năng phân quyền, ủy quyền, năng lực ra quyết định…
127
Một số giải pháp khác:
* Lập kế hoạch bài bản việc tổ chức hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng lãnh
đạo cho các nhà lãnh đạo các cấp trong doanh nghiệp.
* Tăng chi phí cho các chương trình phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh
nghiệp.
* Thành lập các Trung tâm đào tạo trong doanh nghiệp.
Thống kê khảo sát (Phụ lục 06) cho thấy phần lớn các hoạt động đào tạo,
phát triển kỹ năng cho nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp thường sẽ do Phòng
nhân sự hoặc phòng tổ chức-hành chính phụ trách tổ chức hoặc do bản thân nhà
lãnh đạo tự theo học các chương trình bên ngoài. Có vô cùng ít doanh nghiệp
có riêng cho mình một Trung tâm đào tạo chuyên nghiệp.
Kinh nghiệm từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiêu biểu rất thành
công trong hoạt động đào tạo phát triển nguồn nhân lực là họ luôn có một Trung
tâm đào tạo của mình, lên kế hoạch, tổ chức triển khai các chương trình đào tạo
phù hợp với từng cấp quản lý trong doanh nghiệp.
* Xây dựng “Vườn ươm lãnh đạo” trong các doanh nghiệp
Các công ty hàng đầu thế giới nhận rằng, dù hoạt động trong lĩnh vực nào
thì công việc chính của họ vẫn phải là phát triển các nhà lãnh đạo bởi “con
người là tài sản quý giá nhất”. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng nên
học tập các doanh nghiệp nước ngoài xây dựng một “Vườn ươm lãnh đạo”
trong doanh nghiệp nhằm tạo ra một thế hệ lãnh đạo kế cận có đầy đủ kiến
thức và kỹ năng lãnh đạo.
Muốn xây dựng “vườn ươm lãnh đạo” thì trước hết doanh nghiệp cần tìm
ra những người có tố chất lãnh đạo như tầm nhìn xa, có khả năng làm việc theo
nhóm hay có trí tuệ thông minh, cảm xúc…Sau đó xây dựng một chương trình
đào tạo về chuyên môn, kiến thức và kỹ năng lãnh đạo cho họ. Tất nhiên việc
đào tạo này phải bám sát thực tế và có sự tham gia của các nhà lãnh đạo cấp
cao hiện tại trong doanh nghiệp. Một cách hiệu quả để phát triển các kỹ năng
128
lãnh đạo là giao việc cho họ và công việc sẽ tự đòi hỏi các nhà lãnh đạo những
kỹ năng riêng biệt. Công ty P&G có quan điểm giao cho các nhân viên mới làm
việc trực tiếp tại các nhóm thương hiệu. Môi trường này sẽ giúp nhân viên mới
hiểu rõ những mong đợi của khách hàng để trở thành những nhà lãnh đạo tài
năng trong tương lai của công ty.
“Vườn ươm lãnh đạo” cũng là môi trường lý tưởng để các nhà lãnh đạo
cấp cao hiện tại của công ty chia sẻ với thế hệ lãnh đạo kế cận mình những kinh
nghiệm trong quá trình thực hành các kỹ năng lãnh đạo. Điều này rất quan trọng
bởi kinh nghiệm thực tế từ những người đi trước chính là những bài học bổ ích
nhất cho các nhà lãnh đạo tương lai của công ty. Những khóa đào tạo về phát
triển kỹ năng lãnh đạo chuyên nghiệp nhất cũng chỉ cung cấp những kiến thức
chung nhất chứ không gắn với văn hóa và môi trường kinh doanh của doanh
nghiệp họ. Trong khi những chia sẻ kinh nghiệm, bài học từ các nhà lãnh đạo
cáp cao lại gắn liền với môi trường và hoàn cảnh mà họ sẽ gặp phải nên thực
sự hữu ích cho họ. Thực tế có rất nhiều công ty nổi tiếng trên thế giới thành
công với mô hình “Vườn ươm lãnh đạo” và đào tạo được nhiều thế hệ lãnh đạo
xuất chúng kế tiếp nhau. GE có lẽ là “vườn ươm” lãnh đạo khổng lồ nhất thế
giới. Tất cả mọi người đã nghĩ rằng Reg Jones (CEO từ năm 1972 đến năm
1981) là không thể thay thế nhưng sau đó là huyền thoại Jack Welch và ai cũng
nghĩ như vậy. Bay giờ Jeff Immelt cho thấy ông còn ổn định hơn thế nữa. GE
có khả năng tổ chức và vượt trên hết bất kỳ một cá nhân xuất chúng nào. Tại
Việt Nam FPT cũng đã theo đuổi mô hình này với trường đại học FPT. Một
trong những phương châm của trường là “Đại học của những kỹ năng mềm và
phát triển nhân cách”.
Tóm lại, để hướng tới phát triển bền vững, mỗi nhà lãnh đạo các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh cần nâng cao năng lực, rèn luyện các kỹ năng lãnh
đạo theo hướng vừa học vừa hành, lý thuyết gắn với thực tiễn, mục tiêu là trở
thành người lãnh đạo không những “nói hay” mà còn “làm giỏi”.
3.3 Một số kiến nghị
129
3.3.1 Đối với Chính phủ Việt Nam
*Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp
Có một thực tế là môi trường kinh doanh của nước ta đang ngày càng
khởi sắc, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài và được đánh giá cao trên
trường quốc tế. Tuy nhiên, qua nhiều cuộc điều tra đều cho thấy môi trường
kinh doanh nước ta còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi cho sự phát triển. Những
tập quán, suy nghĩ, hành động còn sót lại từ thời bao cấp như “xin – cho”, “đi
cửa sau”… vẫn còn tồn tại. Một trong những nguyên nhân cũng là do nước ta
chưa hoàn thiện được hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế. Chúng ta mới chỉ
đang trong quá trình xây dựng một hệ thống hoàn thiện vì vậy không tránh khỏi
những bước đệm.
Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh của Việt nam chưa xây dựng được
chiến lược kinh doanh phát triển và tình trạng làm ăn “chộp giật” cũng không
thể tránh khỏi. Trong môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập, các doanh
nghiệp không có nhiều thời gian cho việc nâng cao những kỹ năng lãnh đạo,
quản trị doanh nghiệp.
Hội nhập ngày càng sâu rộng đòi hỏi phải có một cơ chế, chính sách
công bằng hợp lý và hoàn thiện để đất nước ngày càng thịnh vượng. Để có được
những kết quả trên đòi hỏi sự chung tay phối hợp giữa nhà nước và doanh
nghiệp. Nhà nước không thể một mình đưa ra những chính sách mới mà không
có sự tham vấn hoặc phản hồi, điều chỉnh từ phía doanh nghiệp để hoàn chỉnh
những cơ chế chính sách đó. Ngược lại, doanh nghiệp càng không thể tự mình
lập ra những chính sách mới hoặc thay đổi khi chúng không còn phù hợp.
*Hỗ trợ thành lập thêm các hiệp hội, câu lạc bộ hiệu quả dành cho các nhà
lãnh đạo doanh nghiệp
Mô hình hiệp hội, câu lạc bộ, các forum, các chương trình dành riêng cho
một nhóm đối tượng tham gia trao đổi kinh nghiệm, tham gia sinh hoạt vừa
nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn vừa mở rộng mạng lưới các doanh nghiệp
130
đã phát huy tác dụng rất lớn. Chính vì vậy, đối với các nhà lãnh đạo cũng nên
thành lập những nhóm, những câu lạc bộ dành riêng cho mình.
Hiện tại đã có nhiều hiệp hội, câu lạc bộ dành cho các nhà lãnh đạo doanh
nghiệp hoạt động tại Việt Nam, ví dụ Hiệp hội doanh nhân Việt Nam, Hiệp hội
ngành hàng, Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hiệp hội doanh nhân nữ
Hà Nội HNEW, Câu lạc bộ Keieijuku hay câu lạc bộ Viet Nam CEO club do
báo Diễn đàn doanh nghiệp kết hợp với VCCI thành lập vào ngày 9/5/2008.
Mục đích của Viet Nam CEO club là quan tâm đến lối sống, xây dựng hình ảnh
cho các doanh nhân – thành viên câu lạc bộ- nhằm nâng cao khả năng giao tiếp,
hòa nhập với cộng đồng doanh nhân thế giới. Thông qua Viet Nam CEO club,
các thành viên có điều kiện biết thêm những kỹ năng mới cần có của nhà quản
trị, nhà lãnh đạo, cùng chia sẻ kinh nghiệm về những kỹ năng này. Ngoài ra,
hiện nay đang phát triển rất mạnh mẽ một mạng lưới các doanh nghiệp tham
gia trở thành Cộng đồng Doanh nhân BNI (Business Network International –
Tổ chức kết nối thương mại toàn cầu). Với triết lý sống “cho là nhận”, quan
điểm kinh doanh theo hướng “nuôi trồng” chứ không phải “săn bắn”, mỗi nhà
lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận được rất nhiều lợi ích trong kinh doanh cũng
như trong cuộc sống từ cộng đồng doanh nhân này.
*Đẩy mạnh tổ chức đào tạo phát triển kỹ năng lãnh đạo
Việc đào tạo các chuyên ngành quản trị kinh doanh đã được tổ chức ở
nhiều trường đại học, song việc đào tạo chỉ mang tính truyền tải lý thuyết, sinh
viên không được thực hành cũng như không có phương pháp giảng dạy trực
quan sinh động như một số trung tâm đào tạo bên ngoài công lập.
Việc đào tạo các kỹ năng lãnh đạo hiện nay đang gặp phải khó khăn. Thứ
nhất là về các cơ sở đào tạo. Tại các trường đại học, cao đẳng thì hầu như chưa
có một chuyên ngành nào độc lập về lãnh đạo và kỹ năng lãnh đạo. Các trung
tâm đào tạo hỗ trợ phát triển thì đào tạo cũng mang tính chất chung chung.
131
Tác giả có một số kiến nghị trong trường hợp này đối với các cơ quan
nhà nước là:
Cần hỗ trợ và khuyến khích việc phát triển các trung tâm đào tạo quản
lý, quản trị kinh doanh nói chung và lãnh đạo nói riêng.
Hỗ trợ, khuyến khích các trung tâm này phát triển nhưng đồng thời phải
có cơ chế chính sách quản lý, kiểm soát chất lượng đào tạo không để xảy ra
tình trạng đào tạo tràn lan, kém hiệu quả.
Hỗ trợ, khuyến khích các công trình nghiên cứu việc áp dụng khoa học
quản trị kinh doanh hiện đại vào môi trường kinh doanh của Việt Nam trong đó
có khoa học về lãnh đạo doanh nghiệp.
3.3.2 Đối với các Hiệp hội doanh nghiệp
- Nâng cao vai trò đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của các hiệp hội hiện
nay
Bên cạnh việc Nhà nước tăng cường hỗ trợ thành lập thêm các hiệp hội,
câu lạc bộ hiệu quả thì nâng cao vai trò của các hiệp hội hiện tại cũng là một
trong những điều quan trọng cần làm. Theo thống kê, cả nước hiện có khoảng
400 hiệp hội doanh nghiệp đã và đang hoạt động. Kết quả khảo sát đánh giá
thực trạng, năng lực do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
thực hiện trên 28 hiệp hội ngành hàng quốc gia và 50 hiệp hội doanh nghiệp đa
ngành cấp tỉnh vào năm 2014 cho thấy, đa phần các hiệp hội đều đã có các hoạt
động hỗ trợ doanh nghiệp nhưng nhìn chung chưa mang tính chuyên nghiệp,
thường xuyên, hiệu quả. Mối quan hệ giữa các hiệp hội và doanh nghiệp chưa
có được sự gắn kết và tương tác cần thiết.
Một số vai trò chính của mỗi hiệp hội doanh nghiệp như:
+Tập hợp, liên kết các doanh nghiệp
+Hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin và xúc tiến thương mại
+Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp
132
+ Là cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước
và các tổ chức kinh tế khác.
Có thể thấy vai trò đào tạo phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn
nhân lực lãnh đạo được các hiệp hội xác định là vai trò quan trọng giúp cho các
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động của mình tuy nhiên vai trò này còn
khá mờ nhạt trong thời gian qua của các hiệp hội hay câu lạc bộ doanh nhân.
Thật vậy, thống kê khảo sát các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ngoài quốc
doanh cho thấy, có 72,4% số nhà lãnh đạo đã hoặc đang tham gia vào một Hiệp
hội, Hội doanh nghiệp hay Câu lạc bộ doanh nhân nào đó. Và khi đánh giá về
tính hiệu quả trong việc giúp hội viên phát triển kỹ năng lãnh đạo, chỉ có 17%
các nhà lãnh đạo đánh giá Tốt và 11,4% đánh giá Rất tốt (Phụ lục 6), còn lại
đều thấy rằng họ chưa nhận được nhiều những hỗ trợ trong việc phát triển kỹ
năng lãnh đạo của mình.
Biểu đồ 3.1: Đánh giá hiệu quả hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng
lãnh đạo của các Hiệp hội, CLB
32.7%
35.0%
28.2%
30.0%
25.0%
20.0%
16.9%
15.0%
11.3%
9.8%
10.0%
5.0%
0.0%
Kém
Rất kém
Chấp nhận được
Tốt
Rất tốt
(Nguồn: Tổng hợp từ khảo sát – Phụ lục 6, 2015)
Chính vì vậy, các Hiệp hội cần hỗ trợ về tài chính cũng như những yếu
kém về cơ sở vật chất, sự thiếu chuyên nghiệp của nguồn nhân lực, năng lực
quản trị của các hiệp hội để các hiệp hội có thể có được những hoạt động thiết
thực về đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong hội.
133
- Tăng cường thực hiện các hoạt động hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các
doanh nghiệp hội viên, phát triển kỹ năng lãnh đạo cho nhà lãnh đạo các doanh
nghiệp thông qua việc phối hợp, liên kết với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp.
3.3.3 Đối với các trường đại học, cao đẳng
Trước hết, các trường đại học, cao đẳng cần nghiên cứu đưa môn học về
kỹ năng lãnh đạo vào trong các môn học thuộc ngành quản trị kinh doanh như
một môn học riêng biệt hoặc một chuyên ngành riêng.
Đổi mới các kiến thức về lãnh đạo, kỹ năng lãnh đạo và quản trị doanh
nghiệp dựa trên cơ sở tiếp thu những kiến thức thành tựu thế giới.
Đẩy mạnh việc tổ chức các khóa đào tạo trung hạn - ngắn hạn nhằm
nâng cao kỹ năng lãnh đạo cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.
Có thể thấy những mô hình đào tạo rất phổ biến ở nước ta. Loại hình này tạo
điều kiện thuận lợi về thời gian cho các lãnh đạo doanh nghiệp muốn bổ sung
kiến thức cho mình. Thường xuyên tổ chức các lớp học ngắn hạn nhằm hoàn
thiện kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp như các lớp về kỹ năng hoạch định
chiến lược, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán, giao tiếp…
Thống kê mô tả cho thấy, khi khảo sát các nhà lãnh đạo đánh giá về hiệu
quả của các loại hình đào tạo, phần lớn các nhà lãnh đạo đều đánh giá cao các
chương trình đào tạo ngắn hạn và trung hạn về kỹ năng lãnh đạo. Cụ thể, 49,7%
nhà lãnh đạo đánh giá tốt và rất tốt khi học các chương trình đào tạo trung hạn,
42% cho rằng hiệu quả từ các chương trình này ở mức độ chấp nhận được.
Ngoài ra, 56,8% nhà lãnh đạo cho rằng họ nhận thấy được hiệu quả cao từ
những chương trình đào tạo ngắn hạn và 35,9% đánh giá ở mức chấp nhận
được.
3.3.4 Đối với các cơ sở đào tạo các chương trình phát triển kỹ năng lãnh
đạo cho doanh nghiệp
* Đẩy mạnh việc thiết kế các khóa đào tạo trực tuyến
134
Trong thời đại thương mại điện tử phát triển, công nghệ thông tin bùng nổ
như hiện nay thì việc tổ chức các khóa học trực tuyến (online) là vô cùng cần
thiết. Trong số nhà lãnh đạo được khảo sát thì có 29% nhà lãnh đạo đã từng
tham gia loại hình đào tạo này (phụ lục 9), vì vậy các đơn vị đào tạo cần chú
trọng tuyên truyền quảng cáo các khóa học thông qua hệ thống thông tin chuyên
nghiệp, đẩy mạnh hiệu quả từ những khóa học này.
Tuy nhiên, chỉ có thực tiễn mới kiểm nghiệm được sự đúng đắn của lý
thuyết. Nếu như các nhà lãnh đạo không đưa nó vào áp dụng trong thực tế thì
không thể gặt hái được thành công và cũng không thể xác định được tính đúng
đắn, phù hợp của những khoa học đó hay nói cách khác, học cần đi đôi với
hành, có áp dụng có trải nghiệm các nhà lãnh đạo mới phát huy được hết năng
lục của mình.
* Đa dạng hóa các phương pháp đào tạo kỹ năng
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tổ chức các khóa đào tạo bài bản và
chuyên nghiệp với các phương pháp đào tạo truyền thống, việc đa dạng hóa các
phương pháp đào tạo là vô cùng cần thiết, đặc biệt các khóa đào tạo trung hạn
và ngắn hạn về kỹ năng lãnh đạo.
Thống kê mô tả kết quả khảo sát cho thấy, 74,6% nhà lãnh đạo khi tham
gia các khóa đào tạo về kỹ năng đều tiếp cận nội dung đào tạo thông qua phương
pháp nghe thuyết trình (phụ lục 9) và khi đánh giá về phương pháp này, gần
50% nhà lãnh đạo cho rằng hiệu quả chỉ ở mức chấp nhận được mà thôi. Các
phương pháp khác được đánh giá cao (phụ lục 9) về tính hiệu quả là:
- Học theo tình huống thực tế của các doanh nghiệp (case study) (52,6% nhà
lãnh đạo đánh giá hiệu quả tốt)
- Học theo nhóm và thực hành, giải quyết các vấn đề trên lớp (46,6% nhà lãnh
đạo đánh giá hiệu quả tốt)
- Hội thảo (seminar) có sự dẫn dắt của các chuyên gia (44,6% nhà lãnh đạo
đánh giá hiệu quả tốt)
135
Chính vì vậy khi thiết kế các chương trình đào tạo, các cơ quan nhà nước,
các trường đại học, các trung tâm đào tạo lớn cần đa dạng hóa các phương pháp,
làm thế nào để việc tiếp thu các kiến thức, việc thực hành các kỹ năng được
hiệu quả hơn nữa. Ngoài phương pháp truyền thống như thuyết trình, hội thảo
cần đẩy mạnh hơn nữa các phương pháp như kèm cặp tại chỗ của người có kinh
nghiệm (coaching) hay thực hiện các trò chơi kinh doanh (mô hình kinh doanh).
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương 3 của luận án đã đưa ra được định hướng phát triển kỹ năng
lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam trong thời gian
tới.
Căn cứ vào phần đánh giá, phân tích thực trạng phát triển kỹ năng lãnh
đạo ở chương 2, việc học hỏi thành công từ các doanh nghiệp tiêu biểu kết hợp
với xu hướng phát triển trong thời gian tới về kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, chương 3 đã đưa ra được các giải pháp có tính khả
thi và một số kiến nghị với chính phủ, với các hiệp hội…
136
KẾT LUẬN
Lãnh đạo, mà cụ thể là kỹ năng lãnh đạo, là nhân tố quyết định thành
công của mọi doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo thực thụ là một nhà lãnh đạo có khả
năng tập hợp mọi người trong tổ chức thành một khối kết dính, thống nhất nhằm
thực hiện thành công sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp.
Môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, sự phát triển như vũ
bão của khoa học công nghệ cũng đã tạo ra những thách thức lớn cho doanh
nghiệp, trong khi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
còn yếu kém trên nhiều mặt. Vì vậy, việc cần hoàn thiện và phát triển kỹ năng
lãnh đạo trong doanh nghiệp là một yêu cầu cấp bách đối với nhà lãnh đạo. Kỹ
năng lãnh đạo ở đây bao gồm ba nhóm kỹ năng chính (1) nhóm kỹ năng nền
tảng, (2) nhóm kỹ năng gây ảnh hưởng, (3) nhóm kỹ năng định hướng lãnh đạo.
Trong mỗi nhóm kỹ năng này lại có những kỹ năng cụ thể cần thực hiện trong
quá trình lãnh đạo doanh nghiệp của nhà lãnh đạo.
Sau khi nghiên cứu, luận án đã giải quyết được những vấn đề sau:
1. Làm rõ cơ sở lý luận về lãnh đạo, lãnh đạo trong doanh nghiệp, sự
khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý, khái niệm kỹ năng lãnh đạo.
2. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, luận án cũng đã đưa ra
được nội dung cơ bản của phát triển kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp.
3. Dựa trên số liệu thu thập được từ các nguồn thống kê cùng với kết
quả khảo sát trực tiếp qua phiếu điều tra thu được từ các nhà lãnh đạo trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, luận án đã phản ánh một cách toàn diện thực
trạng về sự nhận thức tầm quan trọng việc phát triển các kỹ năng lãnh đạo, tần
suất sử dụng cũng như mức độ của các kỹ năng lãnh đạo hiện nay. Đặc biệt,
luận án đã đưa ra và phân tích được mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các yếu
tố ảnh hưởng như giới tính, chức vụ, kinh nghiệm, trình độ của nhà lãnh đạo
tới việc phát triển các nhóm kỹ năng lãnh đạo, quy mô nhân sự, lĩnh vực hoạt
137
động, loại hình sở hữu, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp tới phát triển các
nhóm kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
4. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kỹ năng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, luận án đã đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị nhằm phát triển các nhóm kỹ năng này.
Trong thời gian tới, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tác giả sẽ tập
trung phân tích chuyên sâu hơn về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khác nữa
tới các nhóm kỹ năng lãnh đạo như: quê quán của nhà lãnh đạo (yếu tố văn hóa
vùng miền), bằng cấp của nhà lãnh đạo là trong nước hay quốc tế. Bên cạnh đó,
có thể triển khai khảo sát và đánh giá ở phạm vi địa lý rộng hơn, ví dụ phân
tích sự khác biệt về kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
với doanh nghiệp nhà nước.
Phát triển kỹ năng lãnh đạo trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh -
tác giả tập trung phân tích chuyên sâu tại Việt Nam – đây là một đề tài mới, với
nội hàm phong phú và phức tạp, phạm vi nghiên cứu rộng.
Tác giả mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu lý luận, khảo
sát thực tiễn, tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế nhất định, tác giả rất
mong nhận được sự động viên, góp ý của các Thầy, Cô giáo cùng các nhà khoa
học, các đồng nghiệp và các cộng đồng doanh nhân để luận án được hoàn thiện
hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
138
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Nguyễn Thị Thu Trang, 2012, Bàn về vai trò của CIO-người lãnh đạo
thông tin trong trong thời kỳ hội nhập, Tạp chí kinh tế đối ngoại số 51.
2. Nguyễn Thị Thu Trang, 2014, Xu hướng lãnh đạo trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, Tạp chí kinh tế đối ngoại số 66.
3. Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Kim Ngân,
2015, Hoạt động quản trị công ty ở Australia và một số gợi ý cho Việt
Nam, Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới số 225.
139
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt:
1. Anthony F. Smith (2010), 10 sự thật bị che giấu của nhà lãnh đạo, Nhà
xuất bản Trẻ.
2. Nguyễn Thị Liên Diệp (2005), Quản trị học, Nhà xuất bản Thống kê.
3. Mai Tiến Dũng (2013), Luận án tiến sỹ, “ Năng lực lãnh đạo của cán bộ
khu vực công – nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Nam”
4. Trần Văn Đẩu (2010), Luận án tiến sỹ , “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ Giám đốc doanh nhiệp nhà nước-khảo sát nghiên cứu ở tỉnh
Nam Định”
5. Elizabeth Osleary (2008), 10 phút chỉ dẫn nghệ thuật lãnh đạo, NXB Văn
hóa thông tin.
6. Trần Thị Vân Hoa (2011), Đề tài cấp Bộ ,”Nâng cao năng lực lãnh đạo của
các giám đốc điều hành doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế”.
7. Trần Thị Phương Hiền (2014) Luận án tiến sỹ , “Năng lực lãnh đạo của đội
ngũ CEO Việt Nam (Khảo sát nghiên cứu ở Hà Nội)”
8. Ao Thu Hoài (2012), Luận án tiến sỹ “Mối quan hệ giữa phong cách lãnh
đạo và hành vi nhân viên: kiểm chứng tại các doanh nghiệp bưu chính Việt
Nam”.
9. Nguyễn Thanh Hội (2009), Nghệ thuật lãnh đạo và động viên , Nhà xuất
bản TP HCM.
10. Nguyễn Thành Hưng (2008), Kỹ năng lãnh đạo trong doanh nghiệp, Nhà
xuất bản Phụ nữ.
11. Jim Kouzes & Barry Posner (2010), Di sản nhà lãnh đạo, Nhà xuất bản Tri
thức.
140
12. John C. Maxwell (2013), Tinh hoa lãnh đạo, Nhà xuất bản Lao động – xã
hội.
13. John C. Maxwell (2012), 21 nguyên tắc vàng của nghệ thuật lãnh đạo, Nhà
xuất bản Lao động-xã hội.
14. John C. Maxwell (2011), Phát triển kỹ năng lãnh đạo, Nhà xuất bản Lao
động – Xã hội.
15. Nguyễn Hữu Lam (2007), Nghệ thuật lãnh đạo, NXB Hồng Đức.
16. Nguyễn Hữu Lam (2007), Hành vi tổ chức , Nhà xuất bản Thống Kê.
17. Lam Minh (2010), Jack Welch và 11 chuẩn mực điều hành của nhà lãnh
đạo, NXB Từ điển Bách Khoa.
18. Phùng Xuân Nhạ và cộng sự, (2012), “Kết quả khảo sát lãnh đạo doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam”
19. Ngô Quý Nhâm (2014), Năng lực lãnh đạo của giám đốc điều hành Việt
Nam hiện nay, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 66.
20. Lê Quân (4/2011), “Đánh giá năng lực giám đốc điều hành qua mô hình
ASK”, chuyên san Kinh tế, kinh doanh-tạp chí Khoa học Đại học quốc gia
Hà Nội
21. Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012), Quản trị nhân lực, Nhà
xuất bản ĐH Kinh tế Quốc dân.
22. Robert Heller (2007), Lãnh đạo hiệu quả, NXB TP HCM.
23. Richard L. Hughes, Robert C. Ginnett và Gordon J. Curphy (2010), Năng
lực lãnh đạo – những bài học trải nghiệm, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố
Hồ Chí Minh.
24. Stephen R. Covey (2012), Nghệ thuật lãnh đạo theo nguyên tắc, Nhà xuất
bản tổng hợp TP HCM.
141
25. Đặng Ngọc Sự (2009), Năng lực lãnh đạo – Từ lý luận đến thực tiễn của
các doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Kinh tế phát triển.
26. Phan Thăng, Nguyễn Thanh Hội (2011) , Quản trị học , Nhà xuất bản Hồng
Đức.
27. Đoàn Quang Thọ (2010), Giáo trình Triết học, Nhà xuất bản chính trị-hành
chính.
28. Nguyễn Thị Thu Trang, 2014, Xu hướng lãnh đạo trong các doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Việt Nam, Tạp chí kinh tế đối ngoại số 66.
29. Warren Blank (2005), 108 kỹ năng của nhà lãnh đạo, Nhà xuất bản Lao
động – xã hội.
30. Warren Bennis & Joan Goldsmith (2009), Học làm lãnh đạo, Nhà xuất bản
Trẻ.
31. Luật Doanh nghiệp 2015.
32. Niên giám thống kê, 2014.
Tài liệu tiếng Anh:
33. Abraham Zaleznik (1977), Managers anh Leaders: Are they different?,
Havard Business Review.
34. Afsaneh Nahavandi (2007), The Art and Sicience of Leadership, Prentice
Hall
35. Argyris (1960), Organizational Traps: Leadership, Culture and
Organizational Design, Prentice Hall
36. Bass, B.M (1990), Handbook of leadership: A survey of theory and
research. New York: Free Press.
37. Bennis (1998), On becoming a leader, Arrow Books Ltd.
38. Benjamin Blomm (1956), Taxonomy of Educational Objectives, Handbook
I: The Cognitive Domain, New York: David McKey Co Inc.
142
39. Bycio, P.hackett, R.D and Allen, J.S. (1995), Futher Assessment of Bass’s
(1985) Conceptualization of Transactional and Transformation
Leadership, Journal os Applied Psychology, 80(4): 468-478.
40. Campell, J.P (1977), The cutting edge of leadership: An overview. In J.G
Hunt & L.L Larson, Leadership: The cutting edge, Carbondale: Southern
Illinois University.
41. Conger, J.A and Kanungo (1998), Charismatic leadership in
organizations, Thousand Oaks, CA: Sage Publications.
42. Donald Clark (1997), The Art anh Science of Leadership, Donald Clark.
43. Gary Yukl (2006), Leadership In Organizations, Prentice Hall
44. Jacobs & Jaques (1990), Military executive leadership, Measures of
leadership, West Orange, NJ: Leadership Library os America.
45. James A.F.Stoner (1998), Charles Wankle, Management, Prentice Hall Inc,
New York.
46. Janda, K (1960), Toward the explication of the concept of leadership in
terms of the concept of power, Human Realation, 13.
47. John C. Maxwell (1993), Developing the Leader Within You,
Publisher: Thomas Nelson.
48. Harvard Business Review on Decision Making (2001), Harvard Business
School Press.
49. Howell, J.M and Avolio, B.J (1993), Transformational leadership,
Transactional leadership, Locus of Control and Support for Innovation:
Key Predictors of Consolidated-Business-Unit Performance, Journal of
Applied Psychology, 78: 891-902.
50. House (1996), Path-goal theory of leadership: lesson, legacy and a
reformulated theory, Leadership Quarterly, 323-352.
51. Katz (1955), ,“Skills of an Effective Administrator”, Harvard Business
review.
52. Kotter, J.P (1998), The leadership factor. New York: Free Press.
143
53. MacInnis, D. J., Moorman, C., and Jaworski, B. J., 1991. Enhancing and
Measuring Consumers' Motivation, Opportunity, and Ability to Process
Brand Information from Ads. Journal of Marketing
54. Mark Anderson(2010),The Leadership Book, Paperback (Aug 2010)
55. Michael Useem (1999), The Leadership Moment: Nine True Stories of
Triumph and Disaster and Their Lessons for Us All, Crown Business; 1
edition (June 1, 1999)
56. Mumford and Connelly (1991), Leaders as creator: Leader performance
and problem solving in ill-defined domains, Leadership Quarterly, 2 289-
315
57. Mumford, Zaccaro, Harding, Jacobs và Fleishman, (2000) “Leadership
Skills for a Changing World: Solving Complex Social Problems,”
Leadership Quarterly 11(1), 23,200
58. Noriyuki Sasaki (2010), Introduce to Manager.
59. Ouchi, W.G (1981), Theory Z: How American Business can Meet the
Jappanese Challenge, MA: Addison-Wesley.
60. Pierce, J.,L. Adn Newstrom J.W (2008) On The Meaning of Leadership
in “Leaders and The Leadership Process” Edited by Pierce, J.,L. Adn
Newstrom J.W (2008), McGraw-Hill, New York.
61. Reeve, J. (2009) Understanding Motivation and Emotion. Hoboken, NJ,
Wiley.
62. Richard & Engle (1986), After the vision: Suggestions to corporate
visionaries and vision champions, Transforming leadership, Alexandria,
VA: Miles River Press.
63. Robert H. House (2004), Culture, Leadership and organization – The
GLOBE Study of 62 Societies, Sage Publication Inc, Thousand Oaks.
144
64. Richard L.Hughes, Robert C.Ginnett, Gordon J Curphy (2005),
Leadership: Enhancing the Lessons of Experience, McGraw-Hill.
65. Schein, E.H (1985), Organizational Culture and Leadership (1st edn), San
Francisco: Jossey-Bass.
66. Stephen R. Covey (2009),The 7 Habits of Highly Effective ,
People RosettaBooks; Revised edition (December 2, 2009)
67. Stogdill, Ralph M (1974), Handbook of leadership: A survey of theory and
research, Free Press Publisher.
68. V.Room, V.H and Yetton, P.W (1973), Leadership and decision-making,
pittsburg: University of Pittsburg Press.
69. Webber (1981), To be a Manager, Homewood, IL: Irwin.
70. Yukl, G (2002), Leadership in Organizations, 5 Edition, Prentice Hall,
USA.
71. Zaleznik, A. (1977), Managers and leaders: Are they different?, Harvard
Business Review, 55(5), 67-80.
72. Warren Blank (2007), The nine natural laws of Leadership., Viva Books.

