intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vào Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:112

0
78
lượt xem
24
download

LUẬN VĂN: Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vào Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment: FDI) là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế chung của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện FDI là nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng quota xuất khẩu của...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vào Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

  1. LUẬN VĂN: Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vào Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment: FDI) là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế chung của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện FDI là nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng quota xuất khẩu của nước nhận đầu tư để mở rộng thị trường, tiếp cận người tiêu dùng, nâng cao trình độ khoa học công nghệ, năng lực quản lý và trình độ tiếp thị giữa các quốc gia. Ngày nay, tùy thuộc vào nhu cầu, khả năng và điều kiện của mỗi nước mà hoạt động FDI cân bằng và song hành với việc thu hút FDI. Việt Nam đến nay trải qua hơn 20 năm đổi mới đã và đang thành công trong việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI. Song dưới tác động của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và đứng trước việc là một thành viên của WTO, nhiều doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) đã mạnh dạn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Hiện nay, DNVN đã có mặt tại nhiều nước và vùng lãnh thổ thuộc năm châu lục mà lớn nhất là Cộng hoà Dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào. Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng vốn có quan hệ hữu nghị truyền thống từ lâu đời. Hai nước có chung 2.067km đường biên giới, sự gần gũi về trình độ phát triển và lịch sử văn hoá cùng với sự tương đồng về việc lựa chọn mục tiêu, con đường phát triển trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước trở thành một trong những nhân tố mang ý nghĩa quyết định tạo lập mối quan hệ hữu nghị Việt – Lào. Với bề dày truyền thống hữu nghị, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, quan hệ hợp tác kinh tế và đầu tư giữa Việt Nam và Lào cũng đã được thiết lập từ lâu, có nhiều bước phát triển và khá toàn diện. Đặc biệt, trong những năm gần đây, ngoài những lĩnh vực hợp tác truyền thống, hai bên tập trung chú ý nhiều hơn đến hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp của Việt Nam và Lào từ trung ương cho đến địa phương theo hướng thiết thực và hiệu quả. Ngay từ năm 1987, khi Luật đầu tư nước ngoài của Việt
  3. Nam được ban hành, các DNVN đã tìm kiếm cơ hội đầu tư sang Lào nhất là một số doanh nghiệp tư nhân của những địa phương có đường biên giới với Lào đã thực hiện một số dự án FDI vào Lào theo thoả thuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hai nước. Từ khi Lào có Luật đầu tư nước ngoài (1988), FDI của DNVN vào Lào ngày càng tăng. Tuy nhiên, hoạt động FDI của DNVN vào Lào chưa tương xứng với mối quan hệ "đặc biệt" giữa hai nước. Đứng trước xu thế mở cửa, hội nhập trên thế giới và tình hình thực tiễn ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật hướng dẫn và quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài nói chung, FDI nói riêng qua các kỳ Đại hội của Đảng. Đến nay, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định và chỉ rõ: "Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài” [7, tr.115]. Từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài "Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam vào Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào” được tác giả chọn làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Xung quanh chủ đề nghiên cứu đã có một số công trình nghiên cứu khoa học được đăng tải như: - Ban Tuyên giáo Trung ương, Trung tâm thông tin công tác tuyên giáo, Tình hình đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và những giải pháp chiến lược, Tạp chí Tư liệu báo cáo viên, số 10 , 2008 . - Vũ Xuân Bình, Đầu tư trực tiếp nước ngoài - nguồn tiềm năng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 6 ,2002 . - Bua Khăm Thip Pha Vong, Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội, 2000. - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ năm 1999 – 2000, Quan hệ giữa Việt Nam và Lào trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội, 2000. - Nguyễn Hữu Hiểu, Giải pháp tài chính thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 4 ,2005.
  4. - Lê Thị Thanh Huyền, Các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường đầu tư ra nước ngoài, Tạp chí Tài chính, số 2 ,2006. - Nguyễn Thị Hường, Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 5 ,2006. - Khay Kham Van Na Vong Sy, Mở rộng quan hệ kinh tế giữa Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với các nước láng giềng trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội, 2002. - Trần Lãm, Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước ASEAN, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 12 (260), 1994. - Nguyễn Thanh Long, Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Lào và Cămpuchia trong điều kiện mở rộng phân công lao động quốc tế XHCN, Luận án PTS, Hà Nội, 1987. - Lê Tự Minh và Nguyễn Minh Phong, Hỗ trợ các doanh nhân Việt Nam đầu tư ở nước ngoài - sự cần thiết mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam, Tạp chí Thương mại, số 8 ,2003. - Hà Phương, Thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài để chủ động hơn với thế giới, Tạp chí Nghiên cứu và Dự báo, số 16 ,2008. - Đinh Trọng Thịnh, Đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào Trung Quốc - thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 344/1,2006. - PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, Thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2006. - Việt Tuấn, Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài - những vấn đề đặt ra, Tạp chí Tài chính, số 9, 2006. Nhìn chung, các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả lý luận và thực tiễn về đầu tư nước ngoài. Song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về FDI của DNVN vào CHDCND Lào dưới góc độ kinh tế chính trị. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu
  5. Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp của DNVN vào CHDCND Lào. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh đầu tư trực tiếp của DNVN vào CHDCND Lào trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ một số lý luận chung về FDI. - Làm rõ sự cần thiết về đầu tư trực tiếp của DNVN vào CHDCND Lào. - Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp của DNVN vào CHDCND Lào. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh đầu tư trực tiếp của DNVN vào CHDCND Lào. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu đầu tư trực tiếp của DNVN vào CHDCND Lào. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu chủ yếu từ năm 2001 đến 2008 (có khảo sát hoạt động đầu tư trực tiếp của DNVN vào CHDCND Lào từ năm 1999 đến 2001). 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn được nghiên cứu dựa trên các học thuyết kinh tế của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các học thuyết kinh tế hiện đại; các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp như: trừu tượng hoá khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê so sánh, lô gíc và lịch sử. Gắn lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương, 8 tiết.
  6. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm FDI 1.1.1.1. Khái niệm FDI FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): "Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một tác vụ đầu tư bao hàm một quan hệ dài hạn, phản ánh một lợi ích lâu bền của một thực thể cư ngụ tại một nước gốc(nhà đầu tư trực tiếp) đối với một thực thể cư ngụ tại một nuớc khác (doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư).” Ngân hàng Pháp Quốc (Banque de France) định nghĩa: Một đầu tư là đầu tư trực tiếp nước ngoài khi nào: (a) Thiết lập được một pháp nhân hoặc một chi nhánh ở nước ngoài; (b) Nắm giữ được một tỷ lệ có ý nghĩa về vốn, cho phép nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát việc quản lý doanh nghiệp nước ngoài tiếp nhận đầu tư (tham gia bằng hoặc trên 10%);
  7. (c) Các khoản cho vay hoặc ứng trước ngắn hạn của nhà đầu tư cho công ty tiếp nhận đầu tư một khi đã thiết lập giữa hai bên mối quan hệ công ty mẹ và chi nhánh [30, tr.114]. Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin (Dùng cho các khối ngành không chuyên Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng) của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận [3, tr.326]. Nghị định 78/2006/NĐ – CP quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chỉ rõ: "Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài”. Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về FDI nhưng đa số các định nghĩa FDI đều bao hàm một số nội dung cơ bản sau đây: Thứ nhất, chủ đầu tư là người nước ngoài. Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài. Thứ ba, mục đích của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm mục đích sinh lợi. Tóm lại, FDI là hình thức chủ đầu tư nước ngoài bỏ ra toàn bộ hoặc một phần vốn đủ lớn vào các dự án để thiết lập các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm giành quyền quản lý và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ đã bỏ vốn ra đầu tư nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài. FDI là quá trình trong đó một hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Yếu tố nước ngoài của đầu tư trực tiếp thể hiện sự khác nhau về mặt quốc tịch của các bên tham gia đầu tư với những đặc thù riêng về sự can thiệp của chủ đầu tư nước ngoài vào quá trình sản xuất kinh
  8. doanh; về tính chất lâu dài của dự án; về sự gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm… Mọi hoạt động FDI đều nhằm mục đích sinh lợi. 1.1.1.2. Đặc điểm của FDI FDI là một hình thức đầu tư quốc tế đưa vốn ra nước ngoài tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều mục đích khác nhau về kinh tế, chính trị hoặc mục đích nào khác… Nhưng dù với mục đích nào thì FDI đều có đặc điểm: Thứ nhất, về nguồn vốn: chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài phải đóng một lượng vốn tối thiểu theo quy định của từng nước qua đó họ có quyền được trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn tham gia đầu tư. Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của nguồn vốn. Thay vì nhận được lãi suất trên số vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án hoạt động đầu tư có hiệu quả. Ở các nước phát triển nói chung, lượng vốn đầu tư phải chiếm trên 10% cổ phần của xí nghiệp nước ngoài thì mới được xem là đầu tư trực tiếp. Phần vốn tối thiểu thay đổi tuỳ theo từng nước từ 10 đến 25%. Có nước quy định là 25%, hoặc có nước quy định có cổ phần tuy dưới 25% nhưng nếu có một trong những điều kiện sau đây đều được xem là đầu tư trực tiếp: cử nhân viên quản lý hoặc nhân viên kỹ thuật đến xí nghiệp đầu tư, cung cấp kỹ thuật, cung cấp nguyên liệu; mua sản phẩm của xí nghiệp, giúp đỡ tiền vốn, cho vay hoặc đầu tư theo hình thức thương mại có hoàn trả [6, tr.12]. Vốn FDI thể hiện ở các hình thức: ngoại tệ, máy móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu, nhiên liệu, hàng hoá thành phẩm, hàng hoá bán thành phẩm; giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ; các tài sản khác. Nguồn vốn FDI bao gồm vốn góp để hình thành vốn pháp định, vốn vay hoặc vốn bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp để triển khai mở rộng dự án. Thứ hai, về quyền điều hành quản lý: chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc tham gia quản lý và điều hành quá trình thực hiện vận hành dự án đầu tư tuỳ theo tỷ lệ góp vốn. Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc thuê người quản lý điều hành.
  9. Thứ ba, về mặt chuyên môn: thông qua hoạt động FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp thu khoa học công nghệ, bí quyết kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm tổ chức quản lý hiện đại của nước đi đầu tư hoặc nước đi đầu tư sẽ tận dụng được sự ưu tiên, điều kiện thuận lợi mà nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp dành cho mình để phát huy lợi thế về nguồn nhân lực trình độ cao, phương tiện đầu tư…mà khi đầu tư trong nước sẽ không có được. Thứ tư, về mặt hoạt động: FDI đi vào sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ. Thứ năm, về phân chia lợi nhuận: lợi nhuận thu được từ kết quả hoạt động đầu tư, lãi hoặc lỗ được phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã trừ đi thuế lợi tức và các khoản đóng góp khác cho nước tiếp nhận đầu tư theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư. 1.1.2. Các hình thức FDI 1.1.2.1. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có đặc điểm: - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một pháp nhân của nước nhận đầu tư nhưng toàn bộ doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân người nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. - Hình thức pháp lý của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư. - Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp. Phần kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính với n ước sở tại là thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư nuớc ngoài. - Chủ đầu tư nước ngoài tự quyết định các vấn đề trong doanh nghiệp và các vấn đề liên quan để sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại. 1.1.2.2. Doanh nghiệp liên doanh
  10. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do một hoặc nhiều chủ đầu tư nước ngoài góp chung vốn với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Hình thức doanh nghiệp liên doanh có đặc điểm: - Về mặt pháp lý: Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân của nước nhận đầu tư, hoạt động theo luật pháp của nước nhận đầu tư. Hình thức liên doanh do các bên tự thoả thuận, phù hợp với các quy định pháp luật của nước nhận đầu tư. Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên và quyền quản lý doanh nghiệp liên doanh phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn và được ghi trong hợp đồng liên doanh và điều lệ của doanh nghiệp. - Về mặt tổ chức: Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên. Tuỳ theo quy định của từng quốc gia mà có mức góp vốn tối đa và tối thiểu vào vốn pháp định của chủ đầu tư nước ngoài. Quy định mức góp vốn tối đa nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc và cũng do nước sở tại không quá thiếu vốn. Quy định mức góp vốn tối thiểu nhằm mục đích thu hút càng nhiều càng tốt (Việt Nam quy định mức góp vồn tối thiểu của chủ đầu tư nước ngoài là 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh). Hội đồng quản trị của doanh nghiệp là mô hình chung cho mọi hình thức doanh nghiệp liên doanh không phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực, ngành nghề. Đây là cơ quan quản lý cao nhất của doanh nghiệp liên doanh. - Về mặt kinh tế: luôn có sự gặp gỡ và phân chia lợi ích một cách hài hoà giữa các bên trong liên doanh và cả các bên đứng sau liên doanh. - Về tổ chức điều hành: quyết định sản xuất kinh doanh dựa vào các quy định pháp lý của nước nhận đầu tư mà lựa chọn, vận dụng nguyên tắc nhất trí hay quá bán. 1.1.2.3. Đầu tư theo hợp đồng Đầu tư theo hợp đồng bao gồm các hình thức: * Hợp đồng hợp tác kinh doanh(Contractual Business co-operation: BBC) BBC là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho bên tiếp nhận đầu tư. BBC phải có sự tham gia của bên hợp danh là nước tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BBC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm
  11. và các hình thức hợp tác kinh doanh khác. Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thoả thuận giá trị trong hợp đồng. Hợp đồng này khác với các loại hợp đồng khác đó là nó phân chia kết quả kinh doanh và trách nhiệm của các bên cụ thể được ghi trong hợp đồng không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giao nhận sản phẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác không phân chia lợi nhuận. Nội dung chính của BBC bao gồm: quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp danh; mục tiêu và phạm vi kinh doanh; sản phẩm tiêu thụ chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm trong nước; quyền và nghĩa vụ của các bên hợp danh; đóng góp của các bên hợp danh, phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng. Trong quá trình kinh doanh, các bên hợp danh được phép thoả thuận thành lập ban điều phối để theo dõi giám sát công việc thực hiện hợp đồng. Mỗi bên hợp danh phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật và có nghĩa vụ tài chính tuỳ theo bên tiếp nhận đầu tư quy định. Trong quá trình hoạt động các bên hợp danh được quyền chuyển nhượng vốn cho các đối tượng khác nhưng phải ưu tiên cho các đối tượng đang hợp tác. Đặc điểm của hình thức BBC: - Hai bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng phân định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi. - Không thành lập pháp nhân mới. - Thời hạn hợp đồng do hai bên thoả thuận, khi hết thời hạn hiệu lực thì các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý. - Vốn kinh doanh không nhất thiết phải đề cập trong bản hợp đồng. * Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (Building – Opeate – Transfer: BOT). BOT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn hoặc với một giá tượng trưng công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư.
  12. Đặc điểm của hình thức BOT: - Nguồn vốn thực hiện: 100% vốn nước ngoài hoặc bằng vốn nước ngoài cộng với vốn của chính phủ, của các tổ chức, cá nhân nước tiếp nhận đầu tư. - Các chủ đầu tư tổ chức xây dựng, kinh doanh trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. - Chuyển giao cho nước tiếp nhận đầu tư toàn bộ công trình, dự án đã xây dựng, kinh doanh. * Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (Building – Transfer – Opeate: BTO). BTO là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư. Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư sẽ cùng với nhà đầu tư nước ngoài khai thác công trình đó trong một thời gian nhất định đủ để thu hồi vốn và đảm bảo có lãi. * Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Building – Transfer:BT). BT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư. Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý hoặc thanh toán cho nhà đầu tư nước ngoài theo thoả thuận trong hợp đồng BT. 1.1.2.4. Đầu tư thực hiện sáp nhập và mua lại(Mergers & Acquisition: M&A) FDI thông qua M&A là hình thức nhà đầu tư nước ngoài được quyền sáp nhập và mua lại công ty, chi nhánh ở nơi đầu tư. Điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật khác có liên quan của nước tiếp nhận đầu tư. Theo pháp luật Việt nam hiện hành, hoạt động M&A được hiểu là hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp và được xem xét dưới nhiều góc độ: như một trong các hành vi tập trung kinh tế được điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh, như một trong những
  13. hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được điều chỉnh theo pháp luật về doanh nghiệp và như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp được điều chỉnh theo pháp luật về đầu tư. Luật Đầu tư năm 2005 lần đầu tiên quy định “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp. Theo đó, đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức: (i) đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; (ii) mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động ; (iii) mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Trên thế giới M&A có một số đặc điểm: (i) hầu hết các vụ sáp nhập, mua lại này đều được diễn ra giữa các công ty của các nước phát triển. Theo Báo cáo đầu tư thế giới của UNCTAD, chỉ có 8% các vụ sáp nhập lớn diễn ra ở các quốc gia nằ m ngoài các nước công nghiệp hóa. Các vụ sáp nhập lớn thường diễn ra ở Anh và Mỹ và bên cạnh việc điều tiết bằng luật cạnh tranh là điều chỉnh việc mua bán sáp nhập bằng các tiền lệ; ở châu Âu lục địa thường chỉ diễn ra các vụ sáp nhập, mua bán nhỏ; (ii) chủ yếu là sáp nhập, mua bán các công ty nhỏ và có tính chất gia đình; (iii) các vụ sáp nhập, mua lại thường chỉ tập trung vào một số ít ngành ngân hàng, công nghiệp dầu khí, các công ty dược phẩm, công nghệ thông tin và ngành công nghiệp ô tô với sự chi phối bởi những hoàn cảnh cụ thể liên quan đến một ngành công nghiệp nhất định. Ở các ngành khác, các vụ M&A lớn ít diễn ra. Vì vậy, chúng ta cần phải thận trọng khi kết luận rằng chúng ta đang chứng kiến một xu hướng toàn cầu đang lan rộng và có ảnh hưởng tới tất cả các ngành công nghiệp; (iiii) hình thức M&A không chỉ chiếm tỉ trọng lớn trong FDI của các nước phát triển mà còn là một hình thức đầu tư hiệu quả để thâm nhập vào nền kinh tế các nước đang phát triển và chuyển đổi. Ảnh hưởng của nó luôn mang tính hai mặt và không đồng đều. Một mặt nó giúp các công ty lớn mở rộng thị trường, tăng quyền sở hữu nhưng mặt khác lại đặt ra cho nước nhận đầu tư phải cân nhắc giữa cái giá phải trả và cái lợi được hưởng. Trên thế giới, M&A được xem xét, điều tiết chủ yếu từ góc độ của pháp luật về cạnh tranh. Nhìn chung các điều khoản về sáp nhập, mua lại trong Luật cạnh tranh ở các nước trên thế giới không có tính bắt buộc. Cụ thể là không cần thiết phải rà soát một cách hệ thống và thông qua tất cả các vụ sáp nhập, mua lại. Yêu cầu thông báo về mọi vụ sáp nhập, mua lại sẽ tạo ra gánh nặng không đáng có cho cơ quan quản lý, làm phát sinh các
  14. khoản chi phí không hợp lý và làm chậm quá trình sáp nhập, mua lại. Có thể rút ra kết luận như sau: - Quan niệm phổ biến về M&A trên thế giới được hiểu bao gồm không chỉ sáp nhập, mua lại mà còn gồm cả hợp nhất và giành quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp. - Phân tích về M&A, chúng ta thấy đó không phải là hoạt động đầu tư theo nghĩa thông thường mà về bản chất đó là sự tối ưu hoá đầu tư. Chỉ có mua lại, giành quyền kiểm soát mới thực sự là bỏ vốn để tiến hành hoạt động đầu tư. 1.1.3. Vai trò của FDI 1.1.3.1. Đối với nước đầu tư FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và thương mại ở các nước đầu tư. Thứ nhất, FDI giúp cho nước đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính "dư thừa ” tương đối trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư; đồng thời khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế. Khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các quốc gia này sẽ đem các nguồn lực có lợi thế của mình để tiến hành đầu tư và có thể sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn khi đầu tư trong nước. Với môi trường kinh doanh mới, lành mạnh ở nhiều nước khác nhau trên thế giới, trình độ quản lý doanh nghiệp, quản lý quá trình đầu tư ngày càng hiện đại nên những nguồn lực “dư thừa” mà nhà đầu tư đem đi đầu tư sẽ được khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn. Các nguồn lực sẽ được khai thác tối đa trong môi trường kinh doanh rộng lớn hơn, với mật độ cạnh tranh thấp hơn với những ngành mà quốc gia đó có thế mạnh. Thứ hai, FDI giúp cho nước đầu tư tìm kiếm và tận dụng được các nguồn lực ở nước ngoài một cách có hiệu quả hơn ở trong nước, xây dựng được thị trường cung cấp đầu vào ổn định với giá cả hợp lý. Nguồn lực và khả năng khai thác các nguồn lực là vấn đề quan trọng để giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, góp phần đắc lực cho doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, sự phân bổ nguồn lực và khả năng khai thác các nguồn lực này tại mỗi quốc gia khác nhau là rất khác nhau. Do vậy, mới dẫn đến tình trạng là có những nơi “thừa” tương đối và “thiếu” tương đối
  15. các nguồn lực. Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, mỗi nhà quản lý đều phải luôn tìm cách tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận nên họ cố gắng sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháp. Thứ ba, FDI giúp cho các nhà đầu tư mở rộng thị trường xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm. FDI là một cách để thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Thâm nhập thị trường nước ngoài theo cách này sẽ giúp người tiêu dùng nước sở tại làm quen với sản phẩm của nước đầu tư do vậy góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thâm nhập thị trường nước ngoài đồng nghĩa với việc thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp nước đầu tư sẽ được nhiều người sử dụng hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời uy tín các doanh nghiệp của nước đầu tư cũng được nâng lên, khả năng phát triển doanh nghiệp ngày càng lớn. Mặt khác, thông qua uy tín của các doanh nghiệp mà vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế nói chung, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng ngày càng được nâng cao, quốc gia đó sẽ có tiếng nói mạnh mẽ và có trọng lượng trong các diễn đàn kinh tế và các tổ chức kinh tế thế giới. Thứ tư, FDI giúp các nước đầu tư tránh được hàng rào thuế quan và hàng rào bảo hộ phi thuế quan của nước tiếp nhận đầu tư. Do nhiều lý do khác nhau, cả lý do hợp lý và bất hợp lý, hầu hết các quốc gia trên thế giới kể cả các nước phát triển và đang phát triển đều sử dụng hàng rào thuế quan, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu để kiểm soát việc xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Thông thường, chính phủ các nước kiểm soát thương mại quốc tế nhằm mục đích tăng thu ngân sách, bảo hộ các ngành công nghiệp và thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế của mình. Ngoài rào cản truyền thống là sử dụng thuế quan, nhiều nước trên thế giới còn sử dụng một số hàng rào phi thuế quan sau đây: - Biện pháp hành chính: sử dụng các quy định bắt buộc để phân biệt, đối xử chống lại sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài, bảo vệ hàng hoá ở trong nước. Ví dụ: Nhật
  16. Bản quy định cấm nhập khẩu đậu lạc có chứa Apflatoxin, Pháp không cho nhập khẩu thịt bò có chất tăng trọng. - Rào cản kỹ thuật (Technological Barrier to Trade: TBT): đây là hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh, điểm kiểm soát tới hạn … đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường. Hệ thống này bao gồm: + Hệ thống quản trị chất lượng (ISO 9001. 2000): hệ thống này quan tâm chủ yếu đến các lĩnh vực về chất lượng. Các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước; nâng cao tinh thần làm việc, tinh thần đoàn kết của nhân viên trong doanh nghiệp; vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế, gia tăng thị phần, lợi nhuận và phát triển bền vững. Sản phẩm của doanh nghiệp nào được cấp giấy chứng nhận ISO 9001: 2000 sẽ dễ dàng thâm nhập vào thị trường các nước phát triển. Hiện nay có trên 140 quốc gia áp dụng hệ thống này. + Hệ thống quản trị môi trường (ISO 14001: 2000): hệ thống này xem xét vấn đề bảo vệ môi trường của tổ chức doanh nghiệp và của sản phẩm. Thị trường thế giới hiện nay rất chú trọng đến vấn đề môi trường, quan tâm những sản phẩm "xanh và sạch”. Mức độ ảnh hưởng đến môi trường của sản phẩm có vai trò to lớn đối với sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường. + Hệ thống thực hành sản xuất tốt (Good Manufacturing Practices: GMP): hệ thống này xem xét vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là dược phẩm. Sản phẩm muốn thâm nhập thị trường các nước phải áp dụng GMP. + Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (Hazrd Analysis Critical Control Point: HACCP): đây là những yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sản nếu muốn thâm nhập vào các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Australia, Canada… + Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội (SA 8000): đây là tiêu chuẩn dựa trên công ước quốc tế về lao động, quy định cấm nhập khẩu hàng hoá mà trong quá trình sản xuất có sử dụng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, phân biệt đối xử, bắt người lao động làm việc quá thời hạn cho phép của Luật lao động. Ngoài ra, nhiều quốc gia còn sử dụng một số hệ
  17. thống khác như: QS 9000 áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô; Q-Base áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài hàng rào thuế quan, hạn ngạch, và một số hình thức phi thuế quan thì chi phí vận tải cũng là một bộ phận cấu thành rào cản thương mại. Các loại sản phẩm, hàng hoá như: khoáng sản, xi măng, vật liệu xây dựng… có hàm lượng giá trị tương đối thấp, lại cồng kềnh nên chi phí vận chuyển chúng thật sự đã làm giảm lợi nhuận biên của nhà sản xuất và là trở ngại thực sự cho việc xuất khẩu. Trong các trường hợp như vậy, các nhà sản xuất thay vì xuất khẩu hàng hoá, họ xuất khẩu tư bản hay đầu tư trực tiếp nước ngoài để giảm chi phí và tránh được hàng rào bảo hộ thương mại của các nước, dễ dàng hơn trong việc đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường nước ngoài. FDI còn giúp cho các nước đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế, nâng cao uy tín về chính trị. Thông qua FDI, các chủ thể đầu tư khẳng định được khả năng, bản lĩnh và trình độ của mình nói riêng, của quốc gia nói chung đối với nước tiếp nhận đầu tư và thế giới. Thứ năm, FDI giúp cho các nước đầu tư kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, khắc phục tình trạng “lão hoá” của sản phẩm, tạo điều kiện để đổi mới công nghệ, đổi mới cơ cấu sản xuất thông qua việc di chuyển công nghệ, máy móc, trang thiết bị cũ đã hao mòn vô hình sang các nước tiếp nhận đầu tư. Trong giai đoạn đầu vòng đời của sản phẩm mới, giai đoạn thử nghiệm sản xuất được tiến hành tập trung tại chính quốc gia đó ngay cả khi chi phí sản xuất ở bên ngoài thấp hơn. Trong giai đoạn này, để thâm nhập thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp có thể thực hiện xuất khẩu trực tiếp sản phẩm. Khi sản phẩm đã trở nên tiêu chuẩn hoá trong giai đoạn phát triển, sản phẩm đã “bão hoà” ở thị trường trong nước đòi hỏi phải chấm dứt chu kỳ sản xuất và kinh doanh sản phẩm đó trên thị trường nước này. Nhưng đối với thị trường ở những nước khác, nó vẫn có thể tiếp tục “sống” và đem lại hiệu quả cho nhà sản xuất. Trong trường hợp này, các nhà sản xuất sẽ tích cực đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế chi phí thấp (yếu tố đầu vào, ưu đãi của nhà nước tiếp nhận đầu tư) và quan trọng hơn là nhằm ngăn chặn khả năng mất thị trường vào tay các nhà sản xuất địa phương. Các nhà
  18. sản xuất sẽ tiến hành di chuyển máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất sang các nước đó để sản xuất, kéo dài “tuổi thọ” của sản phẩm. Hơn nữa, với sự phát triển như vũ bão của tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới hiện nay, nhiều máy móc, thiết bị nhanh chóng bị hao mòn vô hình mặc dù về mặt vật chất và công nghệ nó vẫn còn tương đối mới. Để có thể áp dụng các tiến bộ mới về khoa học công nghệ vào doanh nghiệp thay thế cho các máy móc, thiết bị đã bị hao mòn vô hình, các doanh nghiệp tìm những quốc gia thích hợp để di chuyển các máy móc, thiết bị này đến đầu tư. Điều này sẽ mang lại lợi nhuận kép cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thứ sáu, thông qua FDI, các nước thực hiện đầu tư có thể tạo ra nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quản lý sản xuất, trong kỹ thuật sản xuất đối với lực lượng lao động ở trong nước thông qua đòi hỏi của nhà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với lực lượng lao động. Quá trình đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài luôn gặp phải sự cạnh tranh gay gắt đến từ các nhà đầu tư nước ngoài khác ở nơi đầu tư. Để chiến thắng trong cạnh tranh, mở rộng sản xuất tăng lợi nhuận, các nhà đầu tư nước ngoài tích cực cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động. Mặt khác, các nước tiếp nhận đầu tư luôn đặt ra hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật, vì vậy để thâm nhập được vào thị trường đó, các chủ đầu tư nước ngoài phải không ngừng nâng cao trình độ công nghệ, trình độ nguồn nhân lực, trình độ tổ chức quản lý sản xuất. Kết quả là trình độ nguồn nhân lực của các doanh nghiệp ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của sản xuất. Thứ bảy, thông qua FDI, nước thực hiện đầu tư có điều kiện học hỏi kinh nghiệm của nơi tiếp nhận đầu tư trong việc xây dựng và hoạch định chính sách quản lý kinh tế, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng của các chủ thể khác trên thị trường trong nước. Xu hướng FDI hiện nay không chỉ có chiều từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển mà còn có chiều từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển. Khi tích cực đầu tư trực tiếp vào các nước phát triển, nước đầu tư sẽ học hỏi được trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ, trình độ tổ chức quản lý sản xuất-kinh doanh, học hỏi kinh
  19. nghiệm xây dựng, hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn, kinh nghiệm xử lý ngắn hạn linh hoạt…từ các nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn mình. Tóm lại, việc tiến hành FDI giữa các nước trên thế giới với nhau tất yếu dẫn đến có sự di chuyển các nguồn lực tài chính, công nghệ, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm từ quốc gia này sang quốc gia khác. Sự di chuyển này vừa có tác động tích cực lẫn tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vì vậy mỗi quốc gia cần có sự cân nhắc trên cả hai khía cạnh, vừa sử dụng các nguồn lực trong nước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế; vừa khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài thông qua hoạt động FDI phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình. 1.1.3.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là từ những năm 70 của thế kỷ XX đến nay, hướng vận động của FDI không chỉ theo một chiều từ các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển mà đã có sự chảy ngược vốn FDI từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển. Dòng vốn FDI đa chiều, đan xen vào nhau, định hướng vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi gia tăng giá trị của chủ đầu tư để khai thác được lợi thế so sánh ở các địa bàn khắp thế giới. Đối với cả hai đối tượng tiếp nhận FDI là các nước phát triển và các nước đang phát triển thì FDI đều có vai trò quan trọng đặc biệt. * Đối với các nước phát triển. Theo đánh giá của một số nhà kinh tế thế giới, việc các nước phát triển (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản…) tích cực thu hút FDI vào mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế các nước đó hơn là mặt hại. Thứ nhất, FDI giúp các nước phát triển giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế như tiền lương, việc làm, lạm phát… FDI vào các nước phát triển sẽ làm tăng tiền vốn trên đầu người lao động, giúp người lao động tiếp cận với công nghệ mới, như vậy nó có xu hướng làm tăng tiền lương của công nhân có tay nghề. Trên thực tế, c ác công ty nước ngoài thường đầu tư vào các ngành tập trung nhiều vốn và có tiền l ương cao ở các nước phát triển. Ví dụ ở Mỹ, đối với các ngành công nghiệp có quy mô và trình độ cao, công nhân làm việc trong các công ty nước ngoài tại Mỹ có mức lương trung bình cao hơn gần 30% so với
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2