BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ---------o0o---------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

Ngành: Luật kinh tế

Hà Nội - 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ---------o0o---------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

Họ và tên: Đỗ Thị Lan Hồng

Người hướng dẫn Khoa học: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa

Hà Nội - 2019

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

tôi kết hợp với sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Tăng Văn Nghĩa. Luận văn

được sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật và các số liệu thu thập từ nguồn

thực tế, được công bố trên các báo cáo của các cơ quan nhà nước; các tổ chức kinh

tế trên thông tin đại chúng và được công khai hợp pháp. Những thông tin và nội

dung nêu trong đề tài đều trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Lan Hồng

ii

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS, TS Tăng

Văn Nghĩa là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi

cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu, chỉ bảo nhiều kinh nghiệm trong thời

gian thực hiện đề tài.

Xin được chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong Khoa Luật, Khoa Đào tạo

sau đại học, Trường đại học Ngoại thương đã tạo những điều kiện tốt nhất để tác

giả thực hiện luận văn.

Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn vẫn còn những thiếu sót.

Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầy Cô, đồng nghiệp và bạn bè

để luận văn được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Lan Hồng

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i

LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii

MỤC LỤC ........................................................................................................... iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ vii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ ............................................ viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. ix

1. Các thông tin chung ................................................................................. ix

2. Những đóng góp của luận văn ............................................................... ix

PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1

1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................... 1

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài .......................................................... 2

2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................... 2

2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài ..................................................... 3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 5

3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................... 5

3.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 5

4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 5

4.1. Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................ 5

4.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 6

5. Kết cấu luận văn .................................................................................... 7

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN

KHÍCH ĐẦU TƯ .................................................................................................. 8

iv

1.1 Khái quát về đầu tư ................................................................................. 8

1.2 Những vấn đề lý luận về bảo đảm đầu tư ............................................ 12

1.2.1 Khái niệm bảo đảm đầu tư .............................................................. 12

1.2.2 Các nguyên tắc bảo đảm đầu tư ...................................................... 12

1.2.3. Vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư .................................... 17

1.3 Những vấn đề lý luận về khuyến khích đầu tư ................................... 18

1.3.1 Khái niệm khuyến khích đầu tư và các biện pháp khuyến khích

đầu tư ........................................................................................................ 18

1.3.2 Phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư ............................... 20

1.3.3 Vai trò của các biện pháp khuyến khích đầu tư ........................... 23

1.3.4 Các yếu tố liên quan trong khuyến khích đầu tư ........................... 24

1.4 Những quy định của pháp luật về bảo đảm đầu tư và khuyến khích

đầu tư theo Luật Đầu tư .............................................................................. 26

1.4.1 Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm theo Luật Đầu tư . 26

1.4.2. Nội dung pháp luật về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu

tư ................................................................................................................ 33

1.4.3 Bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư

kinh doanh .................................................................................................. 38

1.4.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ

một số điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia ............. 39

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT

VỀ BẢO ĐẢM, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM ............. 49

2.1 Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam ........................................ 49

2.1.1 Tình hình chung về hoạt động đầu tư tại Việt Nam ...................... 49

v

2.1.2 Tác động của hoạt động đầu tư đến phát triển kinh tế- xã hội ở

Việt Nam .................................................................................................... 53

2.2. Thực trạng thực thi pháp luật về bảo đảm đầu tư tại Việt Nam ...... 56

2.2.1. Về bảo đảm quyền sở hữu tài sản .................................................. 56

2.2.2. Về bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh .................................... 57

2.2.3. Về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp .......... 59

2.2.4. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo lãnh của Chính phủ đối với

một số dự án quan trọng .......................................................................... 61

2.2.5. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu

tư khi có thay đổi về chính sách pháp luật .............................................. 63

2.3. Thực trạng thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư tại Việt Nam

........................................................................................................................ 64

2.3.1. Về các quy định ưu đãi tài chính ................................................... 64

2.3.2. Về các quy định ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt

biển ............................................................................................................ 67

2.3.3 Về các quy định biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính .............. 68

2.4. Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm và

khuyến khích đầu tư .................................................................................... 69

2.4.1. Ưu điểm .......................................................................................... 69

2.4.2. Nhược điểm .................................................................................... 73

CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO

ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT

NAM .............................................................................................................. 77

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và định hướng hoàn thiện

pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư ................ 77

vi

3.2. Giải pháp hoàn thiện và thực thi biện pháp bảo đảm và khuyến

khích đầu tư ở việt nam ............................................................................... 80

3.2.1. Hoàn thiện các quy định về bảo đảm và khuyến khích đầu tư ... 80

3.2.2. Tăng cường tính thực thi của pháp luật....................................... 83

3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về nền kinh tế thị trường

(thực chất) ................................................................................................. 86

3.2.4. Giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp

hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư .............................. 87

3.2.5. Giải pháp nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi

pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư ........................................ 88

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 90

vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt tắt

Association of Southeast ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Asian Nations

Comprehensive and Hiệp định Đối tác Toàn diện và CPTPP Progressive Agreement for Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Trans-Pacific Partnership

EU European Union Liên minh Châu Âu

EU-Vietnam Free Trade Hiệp định Thương mại Tự do giữa EVFTA Agreement Việt Nam và Liên minh Châu Âu

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trans-Pacific Partnership Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên TPP Agreement Thái Bình Dương

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

viii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 1.1: Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị

cấm áp dụng (TRIMS) .............................................................................................. 41

Bảng 2.1: Báo cáo nhanh đầu tư nước ngoài 9 tháng năm 2019 .............................. 49

Bảng 2.2: Các chương trình, dự án được ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh Chính phủ . 62

ix

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Các thông tin chung

1.1. Tên luận văn: Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư

1.2. Tác giả: Đỗ Thị Lan Hồng

1.3. Chuyên ngành: Luật Kinh tế

1.4. Bảo vệ năm: 2019

1.5. Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Tăng Văn Nghĩa

2. Những đóng góp của luận văn

- Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về đầu tư: làm rõ các khái

niệm đầu tư, bảo đảm đầu tư, khuyến khích đầu tư,…; tổng hợp và hệ thống các quy

định pháp luật Việt Nam về bảo đảm và khuyến khích đầu tư; so sánh với các Điều

ước, hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.

- Thứhai, luận văn phân tích các quy định pháp luật về bảo đảm và khuyến

khích đầu tư. Luận văn đưa ra thực trạng hoạt động đầu tư và thực tiễn thi hành

pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư, chỉ ra những kết quả đạt được và các

khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thực hiện bảo đảm và khuyến khích đầu tư

theo Luật Đầu tư

- Thứ ba, luận văn phân tích đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về bảo

đảm và khuyến khích đầu tư, từ đó đưa ra Định hướng hoàn thiện pháp luật về các

biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư. Tác giả nêu ra một số kiến nghị nhằm

hoàn thiện cơ chế bảo đảm đầu tư ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện pháp luật

và thực thi pháp luật về các biện pháp bảo đảm khuyến khích Đầu tư nhằm thu hút

đầu tư tại Việt Nam trong thời gian tới.

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 7/11/2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra

một thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế với các cơ hội lớn, tuy nhiên cũng phải đối mặt

với những thách thức không nhỏ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt

động đầu tư có một vị trí đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đóng vai trò trong quá

trình tái sản xuất của xã hội mà còn là đòn bẩy cho sự phát triển của nền kinh tế.

Kinh nghiệm được nhìn nhận từ các nước phát triển trên thế giới, con đường tất yếu

để tăng trưởng kinh tế nhanh là tăng trưởng về đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở

các khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đầu tư giúp giải quyết tình trạng mất cân đối

về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa các vùng yếu kém thoát khỏi tình trạng đói

nghèo, tận dụng được lợi thế về tài nguyên, địa thế, con người,…. Để hoạt động đầu

tư diễn ra có hiệu quả thì cần có những biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư

phù hợp để thu hút đầu tư . Nhận thức rõ vai trò của đầu tư, hầu hết các quốc gia

trên thế giới đều tìm mọi cách để thu hút và phát triển môi trường đầu tư của mình.

Để làm được điều đó, các quốc gia không ngừng nghiên cứu để đề ra một chế độ

pháp lý về đầu tư cho phù hợp bằng cách ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh

vấn đề đầu tư như một thứ công cụ hữu ích và phù hợp với thông lệ quốc tế, góp

phần tạo lập môi trường đầu tư có sức cạnh tranh lớn trong lĩnh vực thu hút đầu tư.

Việc thu hút đầu tư trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nhằm

phát huy lợi thế của quốc gia mình trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Với

các nhà đầu tư nước ngoài, thông qua các chính sách bảo đảm đầu tư để cải thiện

lòng tin và tận dụng tối đa những chính sách từ chính quyền trong nước. Ngoài ra,

nhà nước cũng phải dành cho các nhà đầu tư những ưu đãi, khuyến khích nhằm tận

dụng mọi nguồn lực bên ngoài, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Thực tiễn trong những năm gần đây, việc thực hiện pháp luật bảo đảm và

khuyến khích đầu tư đã đạt được những thành tựu đáng kể, bước đầu phát huy tốt

hiệu quả định hướng đầu tư. Tuy nhiên nguồn đầu tư ở nước ta hiện nay vẫn chưa

đáp ứng được nhu cầu xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế cũng như chưa tương

xứng với tiềm lực và thu hút đầu tư tại Việt Nam. Đó phải chăng là do những biện

2

pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư của nước ta chưa thực sự hấp dẫn để lôi kéo

các nhà đầu tư nước ngoài, chưa tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và vẫn còn

phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Vì vậy, tác giả đã lựa

chọn đề tài “Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư” làm đề tài nghiên

cứu luận văn thạc sỹ luật kinh tế của mình nhằm làm rõ các biện pháp bảo đảm và

khuyến khích đầu tư, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc quy

định các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư tại Việt Nam. Từ những bất

cập, hạn chế để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đầu tư và giúp cho

hoạt động này đạt được hiệu quả cao hơn.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

Pháp luật về đầu tư với các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư cho

đến nay có nhiều công trình nghiên cứu ở những mức độ và khía cạnh khác nhau, cả

trong và ngoài nước.

2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Đề tài về bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư là một đề tài khá

phổ biến, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, phải kể đến đó là:

Đề tài “ Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam

đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh nghiệp 2000-2011” của

tác giả Hoàng Văn Cương – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. Đề tài

với nội dung đề cập đến các chính sách tác động tới việc huy động các nguồn vốn

đầu tư của nhà nước, nguồn vốn đầu tư mạo hiểm,… để đổi mới công nghệ.

Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Thu Thủy với đề tài “ Các biện pháp

khuyến khích theo Luật đầu tư và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình” năm

2018, luận văn đã nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện

pháp khuyến khích theo Luật Đầu tư và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, trên

cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp

khuyến khích theo Luật đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Công trình nghiên cứu đăng trên Tạp chí Công Thương ngày 22/01/2018 của

các tác giả Nguyễn Thị Hưng – Phạm Thị Hiền – Nguyễn Thị Thùy Linh với đề tài

3

“Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước ASEAN và gợi

mở cho Việt Nam” đã đề cập tới pháp luật về ưu đãi hỗ trợ đầu tư của một số quốc

gia ASEAN, đánh giá ưu nhược điểm, từ đó rút ra bài học pháp luật để áp dụng

trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư tại

Việt Nam đạt hiệu quả.

Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có các bài báo cáo liên quan đến đề

tài này như:

“Báo cáo của Chuyên gia Quốc tế và Chuyên gia Việt Nam về hướng dẫn thi

hành Luật Đầu tư 2014”. Báo cáo đã tổng hợp các ý kiến của chuyên gia trong và

ngoài nước về các vấn đề thi hành Luật Đầu tư năm 2014.

“Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư một số nước, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, năm 2014”. Báo cáo nghiên cứu tổng quan pháp luật đầu tư của một số quốc gia

điển hình trên thế giới, từ đó nghiên cứu để hoàn thiện chính sách pháp luật ở Việt

Nam.

2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Đầu tư là một vấn đề quan trọng được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan

tâm và chú trọng nghiên cứu để phát triển. Do đó các công trình nghiên cứu nước

ngoài tương đối đa dạng, đi sâu vào nhiều khía cạnh của đầu tư. Các nghiên cứu, bài

viết tiêu biểu như:

Báo cáo Đầu tư Thế giới năm 2010 “United Nations Conference on Trade

and Development, World Investment Report (2010), Investing in a low-carbon

Economy”. Bài báo cáo đầu tư năm 2010 đánh dấu kỷ niệm 20 năm thu hút đầu tư

vào nền kinh tế low-carbon. Báo cáo minh họa xu hướng đầu tư toàn cầu trong thời

gian tới. Vượt qua các rào cản là một thách thức để thu hút vốn đầu tư cho các nền

kinh tế còn yếu kém.

Báo cáo đầu tư thế giới “UNCTAD (2013), World Investment Report, New

York and Geneva”, bài báo cáo này cung cấp các phân tích chuyên sâu, đưa ra các

lựa chọn phát triển chiến lược và lời khuyên thiết thực cho các nhà hoạch định

4

chính sách nhằm tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro trong chuỗi đầu tư. Đó là

điều cần thiết để bảo đảm tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

Gần đây nhất là báo cáo đầu tư thế giới “UNCTAD (2018), Investment and

New Industrial Policies, World Investment Report”, báo cáo về chính sách đầu tư và

công nghiệp mới. Báo cáo đưa ra thực trạng đầu tư xuyên biên giới vào các nền

kinh tế phát triển, trong khi tăng trưởng đối với các nền kinh tế đang phát triển gần

như bằng không. Xu hướng tiêu cực này là mối quan tâm tới các nhà hoạch định

chính sách kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hiện tại

trong những năm gần đây, các chính sách công nghiệp mới đã xuất hiện, đáp ứng

những cơ hội và thách thức liên quan đến cuộc cách mạng công nghiệp mới. Báo

cáo trình bày các lựa chọn công cụ chính sách đầu tư trong môi trường mới này,

đóng góp kịp thời trong hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế toàn cầu.

Như vậy, các công trình nghiên cứu về đầu tư, các biện pháp bảo đảm đầu tư,

biện pháp khuyến khích đầu tư đã được tiếp cận và thực hiện ở những phạm vi và

mức độ khác nhau, cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, một số bài nghiên cứu đã cũ

và không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Hơn nữa, các công trình nghiên cứu

chỉ đi sâu phân tích một khía cạnh bảo đảm đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư, có

công trình nghiên cứu cả hai vấn đề bảo đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư nhưng

lại trong phạm vi một lĩnh vực đầu tư cụ thể. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài

“Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư”. Trên cơ sở tiếp thu và học

tập từ các công trình nghiên cứu trước đây, nhận ra những hạn chế bất cập của các

bài nghiên cứu,luận văn này thực hiện phân tích làm rõ cả hai vấn đề: bảo đảm đầu

tư và khuyến khích đầu tư, cập nhật các quy định pháp luật hiện hành cùng với thực

trạng đầu tư và thực hiện pháp luật đầu tư hiện nay, tác giả mong muốn Luận văn

không chỉ nghiên cứu đầy đủ mà còn mang tính thời sự, có những đề xuất thiết thực

góp phần cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam đạt hiệu quả hơn nữa.

5

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Luật Đầu tư về hoạt

động đầu tư tại Việt Nam với các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư và vai

trò của nó trong hoạt động đầu tư.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về các biện pháp bảo

đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư.

Về không gian: luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam, tìm

hiều các quy định pháp luật là điều ước, hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia;

phân tích và đánh giá các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến

khích đầu tư theo pháp luật Việt Nam. Thông qua thực trạng hoạt động đầu tư và

thực tiễn thi hành pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư để

đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến

khích đầu tư theo Luật Đầu tư trong thời gian tới.

Về thời gian: luận văn hệ thống các quy định pháp luật còn hiệu lực, các điều

ước, hiệp định mà Việt Nam đã ký kết tham gia, thực trạng hoạt động đầu tư và thực

tiễn thi hành pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật

Đầu tư từ năm 2016 trở lại đây.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phối hợp các phương thức như: Tổng hợp,

thống kê, so sánh, phân tích,… với các nội dung chi tiết như sau:

4.1. Dữ liệu nghiên cứu

Luận văn sử dụng các dữ liệu nghiên cứu là các quy định pháp luật còn hiệu lực,

các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính mà Việt Nam đã công bố trong báo cáo tài

chính và báo cáo kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2017-2019.

6

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng kết hợp giữa các phương thức thống kê, phân tích- tổng

hợp, so sánh để làm rõ các dữ liệu nghiên cứu đã thu thập được. Phụ thuộc vào yêu

cầu và tính chất của từng phần mà chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp. Trong

đó, bao gồm một số phương pháp sau:

Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê được sử dụng phổ biến trong chương 2. Các bảng số liệu

thống kê về hoạt động đầu tư của Việt Nam trong những năm gần đây phục vụ cho

phân tích quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và

chương 3. Tác giả tổng hợp các quy định của pháp luật Việt Nam, các quy định

trong điều ước và hiệp định quốc tế về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu

tư. Từ những dữ liệu tổng hợp được, tác giả tiến hành phân tích các quy định pháp

luật, đánh giá ưu nhược điểm của các quy định Việt Nam, tổng hợp lại những kinh

nghiệm từ các quy định quốc tế từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện

pháp luật Đầu tư Việt Nam về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, các

giải pháp giúp Việt Nam thu hút đầu tư hơn và hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn.

Phương pháp so sánh – đối chiếu

Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1, chương 2 để so sánh bảng

số liệu qua các năm về hoạt động đầu tư tại Việt Nam trong những năm gần đây. So

sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định quốc tế nhằm tìm ra sự

tương đồng và khác biệt, từ đó rút ra được kinh nghiệm cho pháp luật đầu tư Việt

Nam.

7

5. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết

cấu ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm và khuyến khích đầu tư

Chương 2: Thực trạng đầu tư và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm và

khuyến khích đầu tư tại Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư

theo Luật Đầu tư Việt Nam

8

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN

KHÍCH ĐẦU TƯ

1.1 Khái quát về đầu tư

Những năm gần đây, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập thế giới,

đầu tư càng khẳng định vai trò to lớn đối với sự phát triển của kinh tế quốc gia nói

chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Đầu tư đóng vai trò then chốt quyết định

vận mệnh kinh tế của từng quốc gia, quyết định sự tồn tại và phát triển của các

doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, những quốc gia tiêu dùng phần lớn thu nhập của

mình có mức đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao. Ngược lại, những

quốc gia có tỷ lệ đầu tư cao sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Các doanh

nghiệp không chú trọng đầu tư sẽ khó thích nghi và phát triển trong nền kinh tế thị

trường, khi mà cạnh tranh ngày càng khốc liệt, sản phẩm sẽ bị suy yếu và sản xuất

kinh doanh bị trì trệ.

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư.

Dưới góc độ kinh tế, trong lý thuyết kinh tế hay kinh tế học vĩ mô, “đầu tư là số

tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử

dụng cho sản xuất trong tương lai (chẳng hạn: vốn)”1. Trong tài chính, theo tác giả

James chen, “Investment is the act of putting money to work to start or expand a

business or project or the purchase of an asset, with the goal of earning income or

capital appreciation” được hiểu “đầu tư là một hành động mua một tài sản với hy

vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với

giá cao hơn”2. Từ điển Econterms định nghĩa về đầu tư như sau: “Investment: Any

use of resources intended to increase future production output or income”3đầu tư

nghĩa là việc sử dụng các nguồn lực vớimong muốn tăng năng lực sản xuất hoặc

1 Theo từ điển Wikipedia, https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A7u_t%C6%B0

2 Theo JAMES CHEN, bài viết “ Investment” ngày 30/06/2019 đăng trên trang web https://www.investopedia.com/terms/i/investment.asp

3 Theo từ điển Econterms, http://econterms.com/econtent.html.

tăng thu nhập trong tương lai.

9

Ngoài ra, khái niệm về đầu tư nói chung còn được nêu trong giáo trình như sau:

“Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó

nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để

đạt được các kết quả đó”4.

Các khái niệm nêu trên đều đưa ra mục đích của đầu tư là thu về nhiều hơn

những gì đã bỏ ra hay chính là tính sinh lợi của hoạt động đầu tư. Chủ đầu tư là

những người có tài sản hay nguồn lực nhất định như tiền, sức lao động, máy móc

thiết bị,… được sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không

phải đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm về đầu tư cũng được đề cập trong nhiều văn bản

pháp luật khác nhau. Theo Luật đầu tư 2014, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư

bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức

kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư

theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”5. Theo khái niệm của Luật

đầu tư Việt Nam thì hoạt động đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực

hiện các hoạt động kinh doanh bao gồm: thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,

mua cổ phần; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

Theo Hiệp định TPP, Hoạt động/dự án đầu tư là toàn bộ tài sản do một nhà đầu

tư trực tiếp hay gián tiếp sở hữu và quản lý mang đặc điểm của một khoản đầu tư,

bao gồm những đặc điểm theo đúng cam kết về vốn hoặc nguồn vốn khác, đặc điểm

về mức doanh thu hay lợi nhuận kỳ vọng hoặc khả năng chấp nhận rủi ro6. Cùng với

đó, Hiệp định cũng chỉ ra các hình thức đầu tư bao gồm: doanh nghiệp; cổ phần, cổ

phiếu và các dạng góp vốn tham gia vào doanh nghiệp; trái phiếu, tín phiếu, các

công cụ nợ khác và các khoản vay; các hợp đồng tương lai, quyền chọn và các hợp

đồng phái sinh khác; đầu tư theo hình thức chìa khóa trao tay, xây dựng, quản lý,

4 Nguyễn Bạch Nguyêt và TS. Từ Quang Phương (2007), Giáo trình “Kinh tế Đầu tư”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân; Tr.7.

5 Khoản 5, Điều 4, Luật Đầu tư 2014.

6Điều 9.1, Mục A, chương 9, Hiệp định TPP

sản xuất, nhượng quyền, chia sẻ doanh thu và các hợp đồng khác; quyền sở hữu trí

10

tuệ; giấy chứng nhận, ủy quyền, giấy phép và các quyền tương tự; tài sản hữu hình

hoặc vô hình, tài sản di động hoặc bất động và quyền tài sản liên quan bao gồm cho

thuê, thế chấp, cầm cố và bảo lãnh.

Có thể thấy, Luật Đầu tư Việt Nam và Hiệp định TPP đều dùng phương pháp

liệt kê để mô tả những hành động được xem là đầu tư. Tuy nhiên, so với Hiệp định

TPP, khái niệm về đầu tư theo pháp luật Việt Nam còn hạn hẹp, chỉ bao gồm 4

nhóm hoạt động nêu trên, trong khi Hiệp định TPP lại nhìn nhận đầu tư rộng hầu

hết các lĩnh vực, cả Sở hữu trí tuệ, quyền thế chấp, tín chấp,…

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư, tuy nhiên dù được nhìn nhận

dưới góc độ nào thì đều có điểm chung là bỏ vốn ban đầu và mục tiêu của đầu tư là

hiệu quả.

Vậy từ những khái niệm trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát nhất: Đầu

tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại (tài chính, tài nguyên thiên nhiên,

sức lao động, trí tuệ,…) để tiến hành các hoạt động nhằm thu về các kết quả nhất

định trong tương lai, mà các kết quả này phải lớn hơn các nguồn lực bỏ ra để thu

được các kết quả đó. Thực chất của hoạt động đầu tư là tìm kiếm lợi ích đối với chủ

đầu tư và lợi ích kinh tế – xã hội của đất nước.

Với khái niệm trên, đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:

Có vốn đầu tư: Vốn có thể bằng tiền hoặc các loại tài sản khác như máy móc,

thiết bị, nhà xưởng, giá trị quyền sử dụng đất, bí quyết kỹ thuật, phát minh, sáng

chế, mặt nước, các nguồn tài nguyên khác,… Vốn thường được lượng hoá bằng một

đơn vị tiền tệ để dễ tính toán, so sánh. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư

nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.

Tính sinh lợi: đầu tư phải đạt kết quả lợi nhuận (lợi ích tài chính) hoặc lợi ích

kinh tế xã hội. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư,

còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.

Tính mạo hiểm: hoạt động đầu tư có thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm

trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động

ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Do thời gian đầu

11

tư dài nên nó có tính mạo hiểm. Quá trình tiến hành hoạt động đầu tư chịu tác động

của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư khác với dự tính

ban đầu và rất có thể lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội thu được sẽ thấp, thậm

chí là lỗ. Chủ đầu tư trước khi ra quyết định đầu tư phải dám chấp nhận rủi ro, thất

bại.

Trong thực tiễn, hoạt động đầu tư rất đa dạng và phong phú, được thể hiện trên

nhiều khía cạnh khác nhau như: chủ thể đầu tư, hình thức và lĩnh vực đầu tư. Mặc

dù đa đạng song hoạt động đầu tư có thể chia thành những loại chính như sau:

Phân loại theo chủ thể hoạt động đầu tư bao gồm: Đầu tư của Nhà nước, đầu tư

của doanh nghiệp và đầu tư cá nhân.

Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, có thể chia thành: “Đầu tư gán

tiếp” là trường hợp người bỏ vốn không trực tiếp quản trị vốn mà họ đã bỏ ra. Do

vậy, họ cũng không trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực hiện đầu

tư.Đây là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng nguồn vốn là những

chủ thể riêng biệt. “Đầu tư trực tiếp” là trường hợp người bỏ vốn trực tiếp tham gia

quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Loại đầu tư

này, người bỏ vốn và người sử dụng vốn là cùng một chủ thể.

Phân loại theo hình thức đầu tư có: hình thức đầu tư mới; hình thức đầu tư chiều

sâu, mở rộng quy mô sản xuất. Trong đó, đầu tư mới là hoạt động bỏ vốn để xây

dựng các công trình mới hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh có đầy đủ tư cách pháp

nhân. Hình thức đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất là hoạt động bỏ vốn để

mở rộng công trình cũ đang hoạt động, tăng thêm mặt hàng, nâng cao năng suất,

hay hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền công nghệ trên cơ sở các công trình đã có

từ trước.

Phân loại theo nguồn vốn đầu tư thì Đầu tư bao gồm: đầu tư bằng nguồn vốn

nước ngoài và đầu tư bằng nguồn vốn trong nước.

Mặc dù có nhiều cách phân loại về đầu tư, tuy nhiên đầu tư đều mang những đặc

điểm chung như đã phân tích ở trên, đều giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế

và doanh nghiệp.

12

1.2 Những vấn đề lý luận về bảo đảm đầu tư

1.2.1 Khái niệm bảo đảm đầu tư

Bảo đảm đầu tư là một nội dung vô cùng quan trọng mà các nhà đầu tư đặc biệt

quan tâm khi quyết định đầu tư, giúp các nhà đầu tư yên tâm vì lợi ích được đảm

bảo. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam lại chưa có một văn bản nào đưa

ra khái niệm cụ thể về bảo đảm đầu tư mà chỉ dừng lại ở việc đưa ra các quy định về

các biện pháp bảo đảm đầu tư, cụ thể quy định từ Điều 9 đến Điều 14 Luật Đầu tư

Việt Nam.

Từ quy định về các biện pháp bảo đảm, có thể hiểu “Bảo đảm đầu tư là những

cam kết không cần điều kiện của nhà nước đối với các nhà đầu tư nhằm tạo sự an

toàn về mặt pháp lý đối với tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp

pháp khác của nhà đầu tư khi họ tiến hành hoạt động đầu tư”.

Còn các biện pháp đầu tư là những biện pháp thể hiện trong quy định pháp luật

nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư trong quá trình hoạt

động đầu tư. Các biện pháp này chính là những cam kết từ phía nhà nước với các

nhà đầu tư về trách nhiệm của nhà nước tiếp nhận đầu tư, không chỉ được quy định

trong pháp luật quốc gia mà còn thể hiện trong các điều ước quốc tế mà nhà nước

đó tham gia ký kết. Việc bảo đảm đầu tư nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của

các nhà đầu tư, doanh nghiệp được phép kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật

không cấm. Đây là điều kiện mà các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu khi quyết định

đầu tư,giúp các nhà đầu tư yên tâm vì lợi ích được đảm bảo. Việc bảo đảm có một

môi trường đầu tư bình đẳng và thông thoáng có mối quan hệ mật thiết với các biện

pháp khuyến khích để thu hút vốn đầu tư, và có thể nói bảo đảm đầu tư là một biện

pháp khuyến khích ưu việt nhất.

1.2.2 Các nguyên tắc bảo đảm đầu tư

Bảo đảm đầu tư là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt

động đầu tư. Vì vậy, Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới đều chú

trọng đến việc ban hành các quy định về vấn đề hoạt động đầu tư sao cho hoạt động

này đạt hiệu quả cao nhất. Các quy định của pháp luật Việt Nam và các quy định

13

quốc tế đều tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau: Bảo đảm đối xử bình đẳng giữa

các nhà đầu tư; nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản; nhà đầu tư

được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật

không cấm; nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo

quy định; nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu

tư.

1.2.2.1. Nguyên tắc bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đấu tư

Bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư là nguyên tắc đầu tiên và cũng

giữ vai trò quan trọng trong các nguyên tắc bảo đảm đầu tư. Nguyên tắc này được

cụ thể hóa trong Luật Đầu tư Việt Nam 2014 như sau: “Nhà nước đối xử bình đẳng

giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà

đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh

tế”7. Theo nguyên tắc này, các quy định của pháp luật liên quan đến đầu tư đều

được quy định chung cho các nhà đầu tư mà không có sự khác biệt, bảo đảm không

phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài.

Nguyên tắc này không chỉ thể hiện trong pháp luật Việt Nam mà còn thể hiện

trong các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết. Trong Hiệp định

TPP có quy định: “Mỗi Bên phải dành cho nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử không

kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình, hoặc nhà đầu tư

của Bên không phải thành viên Hiệp định này trong những hoàn cảnh tương tự đối

với việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận hành, kinh doanh

hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác trong lãnh thổ của mình”8.

Đây là nội dung của nguyên tắc tối huệ quốc, được hiểu là trong cam kết một nước

dành cho nước đối tác sự ưu đãi có lợi không kém những ưu đãi mà nước đó đang

và sẽ dành cho nước đối tác thứ ba. Hay nói cách khác, nếu một thành viên dành ưu

đãi cho một thành viên khác hay dành một sự miễn trừ nào đó thì ngay lập tức và

7 Khoản 4 Điều 5, Luật Đầu tư 2014.

8Khoản 1, Điều 9.5 Hiệp định TPP.

không điều kiện các thành viên khác cũng sẽ được hưởng sự ưu đãi đó.

14

Nếu nguyên tắc tối huệ quốc thể hiện bình đẳng của các nhà đầu tư của các quốc

gia khác, thì nguyên tắc đối xử quốc gia thể hiện bình đẳng giữa nhà đầu tư trong

nước và nhà đầu tư nước ngoài. Nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định trong

Hiệp định TPP “Mỗi Bên phải dành cho nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử không

kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình trong những hoàn

cảnh tương tự đối với việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận

hành, kinh doanh hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác trong lãnh

thổ của Bên đó”9. Theo nguyên tắc này, một nước sẽ dành cho nhà đầu tư của nước

khác những ưu đãi không kém hơn so với ưu đãi mà nước đó đang dành cho các nhà

đầu tư trong nước.

Như vậy, nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng giữa các nhà đầu tư là một

trong những nguyên tắc quan trọng. Khi mà các nhà đầu tư được đối xử công bằng,

có môi trường đầu tư lành mạnh, tiềm năng, khả năng cạnh trạnh trên thị trường

được đảm bảo là một trong những lý do cho các nhà đầu tư quyết định hoạt động

đầu tư của mình.

1.2.2.2 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản

Bản chất của hoạt động đầu tư là gắn liền với tài sản, vốn đầu tư, thu nhập từ

hoạt động đầu tư. Một nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào một quốc gia khác, thì vấn

đề lo ngại là về văn hóa, xã hội, tình hình an ninh chính trị và pháp luật của quốc

gia đó. Nhà đầu tư nào cũng mong muốn tài sản mà mình mang ra đầu tư sẽ có hiệu

quả và đem lại lợi nhuận, không một nhà đầu tư nào mong muốn rằng khi thực hiện

đầu tư ra nước ngoài mà nước sở tại tịch thu và quốc hữu hóa tài sản của họ, thu

nhập từ hoạt động đầu tư của họ không được chuyển về nước. Nhưng theo cơ chế

thị trường thì song song với lợi nhuận đạt được, các nhà đầu tư phải chấp nhận mạo

hiểm vì việc kinh doanh có thể không đạt kết quả dẫn đến thua lỗ, tài sản đem ra

đầu tư có thể bị thất thoát. Tài sản của nhà đầu tư ngoài việc bị hao hụt do kinh

doanh thua lỗi thì đôi khi Nhà nước trưng mua, trưng dụng nhằm mục đích liên

9 Khoản 1, Điều 9.4, Hiệp định TPP.

quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống

15

thiên tài. Để tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư, nhà nước tiếp nhận đầu tư đã ghi

nhận nguyên tắc công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, bảo đảm tải sản hợp

pháp của các nhà đầu tư, phần nào phá vỡ rào cản, góp phần thu hút đầu tư vào Việt

Nam.

1.2.2.3 Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm

Tại Việt Nam, quyền con người luôn được tôn trọng và giữ vị trí trọng tâm hàng

đầu. Trong các quyền con người, tự do kinh doanh nói chung và tự do hoạt động

đầu tư nói riêng là quyền quan trọng được xác định rõ trong Hiến pháp và pháp luật.

Đặc biệt, sau khi Việt Nam thực hiện mở cửa hội nhập quốc tế, cùng với các quyền

con người được bảo đảm thì quyền tự do kinh doanh cũng được mở rộng. Điều này

hết sức có ý nghĩa, khi đã coi tự do kinh doanh là quyền con người cơ bản, đồng

nghĩa, quyền con người trong đó có quyền tự do kinh doanh được Nhà nước không

những công nhận, tôn trọng mà còn được bảo vệ. Tuy nhiên, không phải các nhà

đầu tư được tự do thực hiện tất cả các ngành nghề, mà chỉ được thực hiện các ngành

nghề mà pháp luật không cấm. Theo như quy định pháp luật trước đây, các chủ thể

đầu tư được kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật cho phép. Với quy định này,

các ngành nghề đầu tư kinh doanh bị giới hạn bởi các quy định pháp luật. Điểm hạn

chế của quy định này là pháp luật đôi khi không thể tiên lượng trước tất cả các

ngành nghề có thể xuất hiện vì kinh tế phát triển không ngừng, các ngành nghề kinh

doanh cũng từ đó mà tăng trưởng cả về mặt chất lượng và số lượng, nhiều ngành

nghề kinh doanh mới xuất hiện nhưng nếu pháp luật không quy định thì là một rào

cản đối với các nhà kinh doanh dẫn đến kìm hãm sự phát triển của cả nền kinh tế.

Do vậy, quy định các chủ đầu tư được thực hiện các hoạt động đầu tư với các ngành

nghề mà pháp luật không cấm là một đổi mới tích cực của pháp luật. Tất nhiên, khi

tiến hành các hoạt động các ngành nghề đầu tư mà pháp luật không cấm thì nhà đầu

tư vẫn phải thực hiện các thủ tục cần thiết, các quy định nhất định theo pháp luật,

đặc biệt là đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

16

1.2.2.4 Nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh

theo quy định

Nhằm tiếp tục tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, phù hợp với xu

hướng hội nhập chung của thế giới vào Việt Nam, bảo đảm đầu tư còn thực hiện

theo nguyên tắc nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh

theo quy định. Nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc nhà đầu tư

được thực hiện các ngành nghề mà pháp luật không cấm, thể hiện quyền tự định

đoạt của các nhà đầu tư. Khi thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư phải bỏ tiền hoặc tài

sản khác ra để thực hiện đầu tư, do vậy họ phải đòi hỏi quyền định đoạt của mình

đối với hoạt động đầu tư đó. Việc tự định đoạt của nhà đầu tư được thể hiện ở việc

nhà đầu tư được lựa chọn lĩnh vực tiến hành đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức

huy động vốn, địa bàn đầu tư, quy mô và đối tác đầu tư,… Ngoài ra, nhà đầu tư có

quyền đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành, nghề; thành lập doanh nghiệp

theo quy định pháp luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư, kinh doanh đã đăng ký.

Nhà nước ghi nhận quyền cơ bản này của chủ đầu tư được xem là hợp lý và tất yếu

để bảo đảm quyền cơ bản của các nhà đầu tư.

1.2.2.5 Nhà nước tôn trọng và cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên

quan đến đầu tư

Trong bối cảnh hiện nay, việc giao lưu hợp tác giứa các quốc gia ngày càng

được tăng cường. Hòa mình cùng sự phát triển của toàn thế giới, Việt Nam đã ký

kết rất nhiều điều ước quốc tế. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết rất đa

dạng, thuộc nhiều lĩnh vực quan trọng trong xã hội. Khi Việt Nam tham gia ký kết

các Điều ước quốc tế với các thành viên khác thì điều ước quốc tế với các điều

khoản phải được ưu tiên sử dụng, bất kể có sự khác biệt với pháp luật trong nước,

trừ Hiến pháp. Điều này được ghi nhận trong Luật Đầu tư 2014, cụ thể như sau:

“Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành

viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều

10Khoản 3, Điều 4 Luật Đầu tư Việt Nam 2014.

ước quốc tế đó”10. Ngoài ra, Luật Điều ước quốc tế 2016 cũng quy định tương tự

17

Luật Đầu tư 2014, đó là ưu tiên áp dụng theo điều ước quốc tế, tuy nhiên quy định

thêm trường hợp ngoại lệ: “ Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước

quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định

khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ

Hiến pháp”11. Như vậy, theo quy định này thì khi Điều ước quốc tế và Hiến pháp có

quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì sẽ áp dụng Hiến pháp để điều chỉnh vấn

đề đó.

1.2.3. Vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư

Các biện pháp bảo đảm đầu tư là những cam kết mà Nhà nước dành cho các nhà

đầu tư nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu

tư, là một trong những công cụ thúc đẩy đầu tư và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Do đó, các biện pháp bảo đảm đầu tư đóng vai trò vô cùng quan trọng. Theo quan

điểm của tác giả, các biện pháp đầu tư có các vai trò nổi bật như sau:

Thứ nhất, các biện pháp đầu tư là cơ sở giúp các nhà đầu tư ra quyết định đầu

tư.

Một nhà đầu tư trước khi đầu tư vào một dự án mới sẽ luôn quan tâm đến độ an

toàn và hiệu quả của việc đầu tư. Những dự án được bảo đảm đầu tư sẽ được ưu tiên

lựa chọn vì có lợi hơn cho nhà đầu tư khi tính an toàn cao hơn, thuận lợi, tiết kiệm

và hiệu quả hơn so với việc đầu tư vào một dự án ít hoặc không được đảm bảo. Nhà

nước đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước,

đảm bảo những vấn đề cần thiết về pháp lý để các nhà đầu tư có thể thực hiện dự án

một cách yên tâm. Như vậy có thể khẳng định các biện pháp bảo đảm đầu tư là nền

tảng, cơ sở để các nhà đầu tư lựa chọn hình thức, lĩnh vực, địa bàn đầu tư.

Thứ hai, các biện pháp bảo đảm đầu tư là điểm tựa an toàn cho hoạt động đầu

tư.

Như đã phân tích tại mục trên, hoạt động đầu tư mang lại lợi nhuận nhưng cũng

11Khoản 1, Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016.

tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó khi thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư luôn mong muốn có

18

một điểm tựa an toàn để hoạt động đầu tư hiệu quả. Các biện pháp bảo đảm đầu tư

giống như một lời cam kết giúp các nhà đầu tư yên tâm thực hiện dự án đầu tư của

mình. Đồng thời, những biện pháp đảm bảo này còn xây dựng niềm tin cho các nhà

đầu tư và tạo ra một một cơ chế thủ tục hành chính thông thoáng, giúp cho các dự

án đầu tư diễn ra minh bạch, hiệu quả, công bằng.

Thứ ba, biện pháp bảo đảm đầu tư thống nhất quyền lợi các nhà đầu tư

Các biện pháp bảo đảm đầu tư được quy định trong pháp luật tạo tính thống nhất

cho quyền lợi cho các nhà đầu tư. Tính nhất quán trong pháp luật bảo đảm công

bằng cho các nhà đầu tư khác nhau, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các nhà

đầu tư khi tiến hành thực hiện dự án đầu tư của mình.

1.3 Những vấn đề lý luận về khuyến khích đầu tư

Như đã phân tích tại mục trên các vấn đề khái quát về đầu tư, ta có thể thấy đầu

tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển của kinh tế. Để hoạt động đầu tư diễn ra

có hiệu quả và kích cầu nền kinh tế quốc gia thì ngoài bảo đảm đầu tư, cần thiết

phải đưa ra những biện pháp khuyến khích đầu tư phù hợp để kích thích, thu hút

đầu tư vào Việt Nam. Vậy khuyến khích đầu tư là gì? Và phân biệt khuyến khích

đầu tư và bảo đảm đầu tư như thế nào?

1.3.1 Khái niệm khuyến khích đầu tư và các biện pháp khuyến khích đầu tư

Hiện này, chưa có một khái niệm chính thức nào về khuyến khích đầu tư. Theo

Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) thì

“Investment promotion covers all activities and measures aimed at creating

favourable determinants for foreign investment in the host country. These

determinants include the policy framework for foreign investment, economic

determinants, and business facilitation”12. Theo đó, khuyến khích đầu tư bao gồm

tất cả các hoạt động và các biện pháp nhằm tạo ra những thuận lợi cho các nhà đầu

12Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), “Investment promotion provisions in international investment agreements”, UNITED NATIONS New York and Geneva, 2008.

tư nước ngoài tại nước sở tại. Những yếu tố quyết định bao gồm chính sách đầu tư

19

cho người nước ngoài, các yếu tố quyết định kinh tế và tạo thuận lợi cho doanh

nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm này chưa bao quát khi mới áp dụng với các đối tượng

là các nhà đầu tư nước ngoài.

Để mang tính tổng quát hơn, có thể rút ra khái niệm Khuyến khích đầu tư là

công cụ, chính sách được Chính phủ sử dụng nhằm thu hút đầu tư hoặc định hướng

đầu tư theo những mục tiêu nhất định. Dưới góc độ pháp lí, khuyến khích đầu tư

được coi là một trong những biện pháp thu hút vốn đầu tư có hiệu quả. Trong bối

cảnh các quốc gia trên thế giới đều cần vốn đầu tư để giúp nền kinh tế có thể tồn tại

và phát triển thì khuyến khích đầu tư càng có vai trò thiết yếu không thể thiếu.

Các biện pháp khuyến khích đầu tư là những quy định do nhà nước ban hành

nhằm tạo điều kiện thuận lợi hay tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư

trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên

cơ sở kết hợp giữa lợi ích nhà nước, nền kinh tế- xã hội và của các nhà đầu tư. Hiến

pháp Việt Nam đã có nhiều quy định liên quan đến việc nhà nước khuyến khích đối

với hoạt động đầu tư, cụ thể: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân,

doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền

vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá

nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc

hữu hóa”13.

Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, chương 3 Luật Đầu tư 2014 đã cụ

thể hóa quy định về khuyến khích đầu tư, trong đó các biện pháp khuyến khích đầu

tư có thể bao gồm các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Ưu đãi đầu tư và hỗ

trợ đầu tư là tất các chính sách do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi

hoặc tạo ra những thuận lợi nhất định cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi

tiến hành đầu tư vào Việt Nam mà theo quy định của pháp luật được hưởng các ưu

đãi đầu tư hoặc được hỗ trợ đầu tư trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích Nhà nước,

lợi ích công cộng và lợi ích của các nhà đầu tư. Ưu đãi đầu tư có thể là ưu đãi về

13 Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp Việt Nam 2013.

thuế và các ưu đãi về tài chính. Còn hỗ trợ đầu tư là những biện pháp tích cực chủ

20

động của nhà nước nhằm giúp đỡ các nhà đầu tư, thường áp dụng trong trường hợp

xảy ra những bất lợi hay rủi ro đối với các nhà đầu tư tại những địa bàn mà chính

phủ khuyến khích đầu tư.

1.3.2 Phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư

Theo quy định Luật Đầu tư 2014, các biện pháp khuyến khích đầu tư có thể bao

gồm các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Khi các nhà đầu tư quyết định và

tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam, với phương hướng phát triển kinh tế làm

nòng cốt, nhà nước luôn khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ được

hưởng các ưu đãi đầu tư và sẽ được hỗ trợ đầu tư nếu các nhà đầu tư thực hiện đầu

tư vào các lĩnh vực mà Nhà nước quy định, vào những nơi có điều kiện Kinh tế – xã

hội khó khăn hoặc các ngành nghề thuộc danh mục ưu đãi đầu tư của Nhà nước. Ưu

đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư có tầm quan trọng chiến lược trong sự tăng trưởng kinh

tế và mang lại nhiều tác động tích cực đến kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Như

vậy, để phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư, có thể dựa trên phân loại ưu

đãi và hỗ trợ đầu tư, bao gồm: Ưu đãi về tài chính; ưu đãi về chính sách sử dụng

đất, mặt nước,mặt biển; các biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính;…

1.3.2.1 Các ưu đãi về tài chính

Các ưu đãi về tài chính có thể là ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế

xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,….

Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp:

Một trong những vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm khi thực hiện dự án đầu tư là

ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp là một

trong những công cụ mà các nhà lập pháp Việt Nam sử dụng để thu hút đầu tư đặc

biệt là đầu tư nước ngoài. Trong trường hợp công ty có vốn đầu tư nước ngoài thực

hiện một dự án đâu tư mới thì để dự án đó được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập

doanh nghiệp thì phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định. Chẳng hạn, đối với doanh

nghiệp, điều kiện là doanh nghiệp đó thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ

và nộp thuế theo kê khai; Hoạch toán riêng phần thu nhập từ hoạt động được ưu đãi

thuế với phần không được ưu đãi thuế. Đối với dự án mới, một số điều kiện như Dự

21

án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu từ ngày 01/01/2014 và phát sinh doanh

thu của dự án đó sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Dự án đầu tư trong

nước gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới có vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng Việt

Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện được cấp Giấy chứng

nhận đăng ký doanh nghiệp từ ngày 01/01/2014;….

Tuy nhiên, có một số trường hợp dự án đầu tư mới không được hưởng ưu đãi

thuế thu nhập doanh nghiệp như: Dự án đầu tư hình thành từ việc: chia, tách, sáp

nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Dự

án đầu tư hình thành từ việc chuyển đổi chủ sở hữu;…

Ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào

hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Thuế xuất nhập

khẩu có thể được dùng như công cụ bảo hộ mậu dịch, có tác động là giảm nhập

khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đất hơn so với các mặt hàng thay thế có

trong nước, giảm xuất khẩu do nhà nước không khuyến khích xuất khẩu các mặt

hàng sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt, hay các mặt hàng quan

trọng với sự an toàn an ninh quốc gia;… Những tác động nêu trên của thuế xuất

nhập khẩu là một trong những nguyên nhân lo ngại của các chủ đầu tư khi thực hiện

hoạt động đầu tư của mình. Chính vì vậy, để phá bỏ rào cản và khuyến khích đầu tư,

nhà nước đã ban hành quy định nhà đầu miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa bao

gồm các thiết bị, máy móc, vật tư, phương tiện vận tải và hàng hóa khác để thực

hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.

Ngoài các ưu đãi kể trên, các nhà đầu tư còn được hưởng các ưu đãi về thuế giá

trị gia tăng, nhà nước chủ trương miễn thuế giá trị gia tăng đối với một số hàng hóa,

hoạt động phục vụ đầu tư nhất định; hay ưu đãi liên quan đến vấn đề về chuyển lỗ

kinh doanh, doanh nghiệp có lỗ được chuyển lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ

vào thu nhập tính thuế. Thời gian được chuyển lỗ không quá năm năm, kể từ năm

tiếp theo năm phát sinh lỗ.

22

1.3.2.2 Các ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển

Các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực khuyến khích đầu tư

hoặc đầu tư vào địa bàn được khuyến khích đầu tư sẽ được hưởng một số ưu đãi

liên quan đến việc sử dụng đất như: giá thuê đất, thời hạn thuê đất. Đối với việc sử

dụng mặt nước, mặt biển, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành những khung giá

tương đối ổn định và có những ưu đãi cụ thể, đặc biệt là với những dự án thuộc đối

tượng đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư.

Chính sách ưu đãi về đất đai được nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước thực

hiện dự án đầu tư nghiên cứu, nhân giống, nuôi trồng dược liệu được quy định

tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định 65/2017/NĐ-CP chính sách đặc thù về giống, vốn và

công nghệ trong phát triển, nuôi trồng, khai thác dược liệu có hiệu lực từ ngày

05/07/2017. Cụ thể là:

Trường hợp được nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước để nuôi trồng, xây dựng

nhà xưởng, kho chứa dược liệu thì được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước

theo quy định của pháp luật đất đai.

1.3.2.3 Các biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính về đầu tư đang là rào cản trong môi trường kinh doanh như

các thủ tục xin đăng ký kinh doanh, giải phóng mặt bằng, xin giấy phép xây

dựng,…. Để tiếp tục tăng cường năng lực cạnh tranh trên lĩnh vực thu hút đầu tư

trong và ngoài nước thì Nhà nước cần tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn, đặc

biệt là giảm bớt các rào cản về hành chính tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà

đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, có chính sách bảo đảm hấp dẫn, công

bằng, minh bạch và thống nhất cho các nhà đầu tư. Các biện pháp cụ thể như: tạo ra

đầu mối duy nhất để các nhà đầu tư nước ngoài có thể liên hệ để xin cấp phép đầu

tư; rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải

thiện cách thức đăng kí cấp phép đầu tư; thành lập Cục đầu tư trực tiếp nước ngoài

với cơ cấu gồm 3 trung tâm xúc tiến đầu tư tại 3 tỉnh Bắc, Trung, Nam. Vai trò của

Cục như một trung tâm dịch vụ hỗ trợ, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được cung cấp

đầy đủ các thông tin về môi trường đầu tư, các thủ tục cấp phép cần thiết cho việc

thành lập và hoạt động của doanh nghiệp.

23

1.3.2.4 Các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ để khuyến khích đầu tư khác

Ngoài những ưu đãi về thuế; sử dụng đất, mặt nước, mặt biển; ưu đãi các thủ tục

hành chính, còn có những biện pháp ưu đãi, hỗ trợ khác cho các nhà đầu tư như: Ưu

đãi về chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp được cho vay vốn với lãi suất ưu

đãi, hỗ trợ lãi suất vay để thực hiện chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kinh phí thông

qua thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc hỗ trợ trực tiếp; hay ưu đãi đào

tạo nhân công; ưu đãi về ngoại hối;….

1.3.3 Vai trò của các biện pháp khuyến khích đầu tư

Thu hút đầu tư trong và ngoài nước là chủ trương quan trọng của bất cứ quốc

gia nào. Không chỉ khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào các loại hình

doanh nghiệp, nhà nước còn tăng cường khuyến khích các nhà đầu tư vốn vào

những địa bàn, lĩnh vực và ngành nghề trọng điểm sao cho phù hợp với hướng phát

triển của cả nền kinh tế. Việc đưa ra các biện pháp khuyến khích đầu tư có ý nghĩa

nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút các nhà

đầu tư trong và ngoài nước. Với ý nghĩa to lớn đó, các biện pháp khuyến khích đầu

tư giữ một vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ với doanh nghiệp, nhà nước mà

với cả nền kinh tế.

1.3.3.1 Vai trò đối với doanh nghiệp

Các doanh nghiệp khi thực hiện đầu tư là đã quyết định hi sinh nguồn lực ở hiện

tại để thu về các kết quả cao hơn trong tương lai. Tuy nhiên, những rào cản về môi

trường pháp lý, môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế – xã hội,… đã tác động

không nhỏ đến hoạt động đầu tư. Do đó, các biện pháp khuyến khích đầu tư đóng

góp vai trò quan trọng khi đã giảm thiểu, hạn chế và xóa bỏ được những rào cản

trong đầu tư, tạo một môi trường đầu tư thông thoáng, cởi mở, có sức hấp dẫn và

khi đó, doanh nghiệp chính là những người được hưởng lợi, có khả năng cạnh tranh

cao hơn, giúp doanh nghiệp thu lợi lớn hơn, là điều kiện để doanh nghiệp gia tăng

vốn tự có, thực hiện tái đầu tư và các hoạt động khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.

24

1.3.3.2.Vai trò đối với nhà nước

Thông qua việc ban hành và áp dụng các biện pháp đầu tư, nhà nước chủ động

cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chủ quan của mình; khai thác có hiệu quả tài

nguyên của đất nước; tạo thêm công ăn việc làm; đẩy mạnh hoạt động đầu tư, tăng

tích luỹ cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước; nhanh chóng tạo được chỗ đứng

vững chắc của nước ta trong phân công lao động quốc tế, tạo được thế mạnh trên thị

trường quốc tế.

1.3.3.3.Vai trò đối với nền kinh tế

Đối với nền kinh tế, các biện pháp khuyến khích đầu tư góp phần thu hút vốn

đầu tư trong nước nhằm thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế khu vực, góp phần kích

thích tăng trưởng kinh tế; tạo ra sự đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư, phù hợp

với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư

đầu tư cần được xem xét cẩn trọng vì đây là chính sách ảnh hưởng đến hệ thống

thuế quốc gia và những hạn chế về ngân sách mà nó tạo ra đối với nước sở tại. Các

biện pháp khuyến khích đầu tư cần phải được rà soát liên tục nhằm đánh giá tính

hiệu quả của các biện pháp và giám sát để xác định liệu các biện pháp đó có thực sự

mang lại kết quả như mong đợi hay không.

1.3.4 Các yếu tố liên quan trong khuyến khích đầu tư

1.3.4.1 Yếu tố kinh tế vĩ mô

Trong các yếu tố liên quan trong khuyến khích đầu tư, yếu tố kinh tế vĩ mô là

một yếu tố cơ bản nhất,bao gồm các yếu tố như: Độ mở cửa kinh tế quốc tế của

quốc gia tiếp nhận; sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô; chiến lược thu hút vốn để

phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia và hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận

vốn đầu tư.

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là

xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Các quốc gia hợp tác cùng tồn tại và

phát triển. Quốc gia có mức độ mở cửa càng lớn thì các biện pháp khuyến khích đầu

tư càng được tăng cường và ngược lại.

25

Về sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội;

là điều kiện quan trọng để thu hút các nhà đầu tư. Với môi trường kinh tế bất ổn thì

hoạt động đầu tư tại nơi này sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro kinh doanh mà các nhà đầu tư

không thể lường trước được. Do đó, các nhà đầu tư sẽ hạn chế khi tham gia vào

những nước có môi trường kinh tế vĩ mô kém ổn định.

Đối với yếu tố chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế – xã hội của quốc

gia, xét trên bình diện chung cả nước, trong bối cảnh ngân sách hạn chế, chủ trương

xuyên suốt là thu hút các nguồn lực từ xã hội để tạo động lực phát triển kinh tế - xã

hội. Tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh và hướng tới thu

hút dự án đầu tư có vai trò động lực và tác động quan trọng cho sự phát triển kinh tế

xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư.

Một yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng liên quan đến khuyến khích đầu tư là hệ

thống pháp luật của nước tiếp nhận vốn đầu tư. Những quy định của pháp luật thông

thoáng đã mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà

đầu tư bằng việc xóa bỏ một loạt rào cản đầu tư không phù hợp với thông lệ kinh tế

thị trường và cam kết hội nhập quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi

trường đầu tư kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng

giữa các nhà đầu tư.

1.3.4.2 Nhân tố nội địa của địa phương tiếp nhận vốn đầu tư

Liên quan đến khuyến khích đầu tư, nhân tố nội địa của địa phương với sự phát

triển cơ sở hạ tầng là một điều kiện vật chất để các nhà đầu tư quyết định tiến hành

hoạt động đầu tư. Cơ sở hạ tầng có thể là mạng lưới giao thông, hệ thống điện, cấp

thoát nước, sân bay, cảng biển, mạng lưới thông tin liên lạc,…Cơ sở hạ tầng tốt là

yếu tố quan trọng giúp nhà đầu tư giảm thiểu chi phí, tạo thuận lợi cho các nhà đầu

tư có thể triển khai các hoạt động đầu tư có hiệu quả, đạt được lợi nhuận như mong

muốn.

Ngoài yếu tố về sự phát triển cơ sở hạ tầng thì yếu tố như địa lý thuận lợi, địa

chất ổn định, nguồn nhân lực dồi dào, nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên

phong phú cũng là một yếu tố quan trọng giúp thu hút các nhà đầu tư.

26

Thủ tục hành chính và tư tưởng thái độ của lãnh đạo địa phương cũng là các yếu

tố tác động mạnh và góp phần tạo nên sự thành công của việc thu hút vốn đầu tư

vào địa phương đó. Nếu thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, gọn nhẹ thì sức hút

đối với các nhà đầu tư càng lớn. Nếu lãnh đạo địa phương nhận thức và thấy rõ

được vai trò quan trọng của vốn đầu tư thì sẽ có những chính sách ưu tiên, tạo điều

kiện thuận lơi, cải thiện môi trường đầu tư, chủ động tìm đối tác đầu tư phù hợp để

thu hút vốn đầu tư vào địa phương mình.

1.3.4.3 Nhân tố liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài

Các quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì ngoài yếu tố hoàn thiện

môi trường đầu tư, hệ thống pháp luật và các chính sách đối ngoại,… thì còn phải

chú trọng đến các chiến lược và tiềm lực tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài.

Với các nhà đầu tư có khả năng tài chính thì khi các quốc gia tạo điều kiện thuận lợi

và có cơ hội kinh doanh thì mới tiến hành đầu tư được.

1.4 Những quy định của pháp luật về bảo đảm đầu tư và khuyến khích

đầu tư theo Luật Đầu tư

Tại Việt Nam, quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp 2013 ghi nhận “Mọi

người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không

cấm”14. Trên cơ sở thể chế hóa Hiến pháp 2013, Luật Đầu tư đã quy định những

chính sách của nhà nước đối với đầu tư kinh doanh nhằm bảo đảm, khuyến khích

việc đầu tư kinh doanh của các cá nhân, tổ chức. Luật Đầu tư quy định về bảo đảm

đầu tư và khuyến khích đầu tư như sau:

1.4.1 Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm theo Luật Đầu tư

1.4.1.1 Bảo đảm quyền sở hữu tài sản

Quy định pháp luật Việt Nam hiện nay đã chú trọng đến việc khuyến khích, tạo

điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt

Nam. Như đã phân tích trong mục trên, bảo đảm quyền sở hữu tài sản là một trong

14 Điều 33, Hiến pháp 2013

những nguyên tắc bảo đảm đầu tư mà theo nguyên tắc này nhà đầu tư được quyền

27

thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà pháp luật không

cấm, được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định pháp luật ;

được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài

nguyên khác theo quy định của pháp luật; Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở

hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà

đầu tư.

Bảo đảm đầu tư là một nội dung quan trọng được nhà nước chú trọng và đưa

vào các quy định pháp luật từ khá lâu. Ngay trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam năm 1987 có quy định: “Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản

của các tổ chức, cá nhân nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện

pháp hành chính, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá”15.

Quy định bảo đảm rằng vốn và tài sản của các nhà đầu tư tại Việt Nam sẽ không bị

tịch thu, trưng dụng hay quốc hữu hóa. Ngoài ra, nhà đầu tư có thể chuyển về nước

lợi nhuận thu được trong quá trình kinh doanh, những khoản tiền cho việc cung cấp

kỹ thuật hoặc dịch vụ; tiền gốc và lãi của các khoản cho vay trong quá trình hoạt

động; vốn đầu tư và các tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ đầu tư.

Tuy nhiên, quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 về bảo

đảm đầu tư còn sơ sài, chưa lường trước hết các trường hợp có thể xảy ra trong quá

trình hoạt động đầu tư. Năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa

đổi, bổ sung quy định trường hợp khác “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà

đầu tư nước ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam. Trong

trường hợp do thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi

ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp

tác kinh doanh đã được cấp giấy phép, thì Nhà nước có biện pháp giải quyết thoả

đáng đối với quyền lợi của nhà đầu tư”16. So với năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài

tại Việt Nam năm 1996 có điểm mới, nổi bật là quy định thêm về việc bảo đảm

15 Điều 21 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987

16 Điều 21 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996.

quyền sở hữu công nghiệp. Với sự phát triển kinh tế, sự bùng nổ của công nghệ

28

thông tin đòi hỏi các nhà đầu tư phải nhanh chóng đưa vào thị trường sự thay đổi về

công nghệ để tăng sức cạnh tranh, do đó bổ sung quy định về bảo đảm quyền sở

hữu công nghiệp là một bước tiến có ý nghĩa quan trọng, góp phần thu hút đầu tư và

giúp đất nước bắt kịp xu thế hội nhập quốc tế. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

năm 1996 cũng quy định trường hợp pháp luật có thay đổi mà làm thiệt hại đến lợi

ích của nhà đầu tư thì nhà nước sẽ có biện pháp giải quyết thỏa đáng đối với quyền

lợi của nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, theo thời gian, pháp luật luôn luôn có sự điều

chỉnh, sửa đổi bổ sung hay hủy bỏ để phù hợp với thực trạng thi hành. Do vậy, quy

định nêu trên là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, tuy nhiên thế nào là giải quyết

thỏa đáng quyền lợi của nhà đầu tư, hay các biện pháp giải quyết chi tiết như thế

nào vẫn là một dấu hỏi cho pháp luật Việt Nam khi màtrong giai đoạn hiện nay,

pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh, hướng dẫn nội dung này. Khắc

phục những hạn chế của các quy định về đầu tư trước đây, Luật Đầu tư 2014 được

ban hành với một nội dung mới quan trọng “Trường hợp Nhà nước trưng mua,

trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia; tình trạng

khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo

quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp

luật có liên quan”17. Theo quy định này, mọi nhà đầu tư có hoạt động đầu tư theo

quy định pháp luật Việt Nam đều được bảo đảm về quyền sở hữu tài sản hợp pháp.

Các biện pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư có hiệu

lực kể từ khi các nhà đầu tư bắt đầu triển khai dự án đầu tư mà không cần phải

thông qua bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Quy định này có ý nghĩa đặc biệt

quan trọng trong việc tạo sự yên tâm về mặt pháp lý cho các chủ đầu tư, giúp các

nhà đầu tư yên tâm trước sự bảo hộ về tài sản hợp pháp của mình không bị quốc

hữu hóa hay tịch thu. Trừ trường hợp bất khả kháng vì lý do quốc phòng, an ninh

hay tình trạng khẩn cấp thì nhà nước được phép trưng mua, trưng dụng nhưng nhà

nước sẽ thanh toán, bồi thường cho chủ đầu tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp

17 Khoản 2, Điều 9 Luật Đầu tư Việt Nam 2014

của chủ đầu tư được bảo hộ.

29

1.4.1.2 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh

Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, nhằm mục đích tăng cường đầu

tư phát triển kinh tế, nhà nước đã bảo đảm tạo môi trường cạnh tranh phát triển lành

mạnh và bảo hộ đầu tư. Bên cạnh những đảm bảo về quyền sở hữu tài sản, nhà nước

còn đảm bảo hoạt động đầu tư kinh doanh. Theo đó, pháp luật quy định một số hoạt

động nhà đầu tư không bắt buộc phải thực hiện, cụ thể:

“ 1. Nhà nước không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện những yêu cầu sau

đây:

a) Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua, sử

dụng hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ trong nước;

b) Xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng,

giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;

c) Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá

trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp

ứng nhu cầu nhập khẩu;

d) Đạt được tỷ lệ nội địa hóa đối với hàng hóa sản xuất trong nước;

đ) Đạt được một mức độ hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và

phát triển ở trong nước;

e) Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc

nước ngoài;

g) Đặt trụ sở chính tại địa điểm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền.”18

Về việc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, nhà đầu tư có thể thực hiện trong

nước hoặc không thực hiện ở trong nước. Quy định này giúp cho nhà đầu tư tự do

18 Điều 10, Luật Đầu tư 2014.

lựa chọn sử dụng dịch vụ, hàng hóa được cung ứng từ nước ngoài, là một lợi thế bởi

30

đối với một số mặt hàng, chất lượng sản phẩm nước ngoài hơn hẳn sản phẩm nội

địa.

Về việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, nhà đầu tư không bị buộc phải đạt đến

một tỉ lệ nhất định. Bên cạnh đó, số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất

khẩu hoặc sản xuất, cung ứng ở trong nước cũng không bị hạn chế. Tuy nhiên theo

quy định trên cần bổ sung thêm nội dung không hạn chế trừ một số mặt hàng bị

cấm.

Khi nhập khẩu, nhà đầu tư không bị yêu cầu nhập khẩu một khối lượng hàng

hóa, dịch vụ tương ứng số hàng hóa xuất khẩu. Nếu không cân bằng được, nhà đầu

tư có thể tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.

Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, nhà đầu tư cũng không bị buộc pải đạt

được tỷ lệ nội địa hóa19.

Ngoài ra, đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư

của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và những dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ

tầng quan trọng khác, pháp luật có quy định Thủ tướng Chính phủ quyết định việc

bảo đảm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ căn cứ định hướng phát triển kinh tế - xã hội,

chính sách quản lý ngoại hối và khả năng cân đối ngoại tệ trong từng thời kỳ. Đây

là một trong những quy định đảm bảo quan trọng cho hoạt động đầu tư kinh doanh

của nhà đầu tư.

1.4.1.3 Bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp

Quy định của Luật Đầu tư về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp

pháp như sau:

“Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo

quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài

sản sau đây:

19“Tỷ lệ nội địa hóa là tỷ lệ sử dụng các nguyên vật liệu và phụ tùng công nghiệp sản xuất trong nước so với nhập khẩu”, khái niệm theo trang web: https://pedia.vietstock.vn/terms/termdetail.aspx?id=1933

1. Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

31

2. Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh;

3. Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư”20.

Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu

của các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vào một quốc gia khác. Quy định trên bảo

đảm cho các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển lợi nhuận hợp pháp ra nước ngoài

sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, góp phần tạo môi trường đầu tư an

toàn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các tài sản nhà đầu tư có thể được chuyển ra

nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư; Thu nhập từ hoạt động

đầu tư kinh doanh; Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư. Lợi

nhuận mà nhà đầu tư chuyển ra nước ngoài là lợi nhuận sau thuế, khi mà nhà đầu tư

đã nộp thuế thu nhập trước khi chuyển lợi nhuận. Với biện pháp bảo đảm đầu tư này

đã hợp lý hóa quy định về việc chống đánh thuế hai lần đối với lợi nhuận của các

nhà đầu tư nước ngoài. Biện pháp này cũng góp phần thực hiện có hiệu quả biện

pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư, đồng thời tăng khả

năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

1.4.1.4 Bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng

Điều 12, Luật Đầu tư 2014 quy định:

“ Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo lãnh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc doanh nghiệp nhà nước tham gia thực

hiện dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội,

Thủ tướng Chính phủ và những dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quan trọng

khác”21.

Theo quy định trên, Chính phủ sẽ thực hiện bảo lãnh đối với một số dự án quan

trọng. Đó là những dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, ảnh hưởng đến kinh tế và

cả xã hội. Biện pháp bảo đảm đầu tư này cho thấy sự quan tâm của chính phủ đối

20 Điều 11, Luật Đầu tư 2014.

21 Khoản 1, Điều 12 Luật Đầu tư 2014.

với các dự án quan trọng đó. Ngoài ra, những dự án này phải là những dự án lớn,

32

nhà đầu tư phải có tiềm lực tài chính mạnh và lượng vốn dồi dào nên cần sự bảo

lãnh của Chính phủ là rất cần thiết.

1.4.1.5. Bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có thay đổi về chính sách

pháp luật

Nhằm khuyến khích đầu tư, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối

với những dự án đầu tư. Nhưng việc áp dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư là có thời

hạn. Trong trường hợp, trong thời hạn đang được hưởng ưu đãi đầu tư, pháp luật

liên quan đến ưu đãi đầu tư có sự thay đổi thì theo tinh thần của Luật Đầu tư

2014,nếu có sự thay đổi về chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan trực tiếp

đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư thì nhà nước cam kết bảo đảm tối đa

các quyền lợi cho các nhà đầu tư, cụ thể như sau:

“1. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư

cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng

ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi

còn lại của dự án.

2. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư

thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được

tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi

còn lại của dự án”22.

Trong trường hợp, chính sách ưu đãi đầu tư thay đổi thấp hơn so với quy định

trước đó vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã

hội, sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường thì dự án đầu tư phải áp dụng mức ưu

đãi giảm so với mức ưu đãi hiện tại theo quy định được thay đổi. Khi đó, nhà đầu tư

sẽ được xem xét giải quyết bằng một hoặc một số biện pháp: Khấu trừ thiệt hại thực

tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế; Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án

22 Khoản 1, khoản 2 Điều 13, Luật Đầu tư 2014.

đầu tư; hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại,…

33

Biện pháp đảm bảo quyền lợi của nhà đầutư trong trường hợp có thay đổi chính

sách, pháp luật thể hiện rõ nét thiện ý và mong muốn của nhà nước đối với việc thu

hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, quy định nêu trên mới chỉ đề cập đến việc bảo đảm quyền lợi của

nhà đầu tư khi có sự thay đổi ưu đãi đầu tư, chưa bao quát hết theo tiêu đề Điều luật

về sự thay đổi của chính sách, pháp luật. Thực trạng tại Việt Nam, pháp luật luôn

luôn có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tiễn thi hành, khi thay đổi chính

sách pháp luật mà nhà đầu tư chỉ được bảo đảm quyền lợi về ưu đãi đầu tư thì chưa

đủ, chẳng hạn một dự án đầu tư được nhà đầu tư trước đó thực hiện không thuộc dự

án đầu tư, kinh doanh có điều kiện. Nhưng sau khi thay đổi pháp luật, dự án đó lại

thuộc dự án đầu tư kinh doanh có điều kiện, thì theo quy định pháp luật nhà đầu tư

đó vẫn phải thực hiện các thủ tục và điều kiện theo luật mới mà luật cũ không yêu

cầu. Như vậy, trong trường hợp thay đổi chính sách pháp luật, nhà nước cần quan

tâm nhiều khía cạnh hơn nữa ngoài ưu đãi về đầu tư như quy định hiện nay.

1.4.2. Nội dung pháp luật về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu tư

1.4.2.1 Đối tượng và nguyên tắc điều chỉnh, giới hạn can thiệp bằng pháp

luật của các biện pháp khuyến khích theo Luật Đâu tư đối với hoạt động đầu tư

Đối tượng được hưởng các biện pháp khuyến khích đầu tư

Theo quy định Luật Đầu tư 2014, đối tượng được hưởng các biện pháp khuyến

khích đầu tư bao gồm các ngành nghề thuộc dự án ưu đãi đầu tư, thực hiện dự án

đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư và hình thức ưu đãi, cụ thể như sau:

- Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư ưu đãi như: Hoạt động công nghệ cao,

sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao, hoạt động nghiên cứu và phát triển;

sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản

xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản

xuất sản phẩm điện tử, sản phẩm cơ khí trọng điểm, máy nông nghiệp, ô tô, phụ

tùng ô tô; đóng tàu; Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may, da

giày; Sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số; Nuôi trồng,

chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; trồng và bảo vệ rừng; làm muối; khai thác hải

34

sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi, sản phẩm

công nghệ sinh học; thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải; Đầu tư phát

triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng; phát triển vận tải hành khách

công cộng tại các đô thị; Đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu

hạ tầng; phát triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị; khám bệnh, chữa

bệnh; sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc chủ yếu, thuốc thiết yếu, thuốc

phòng, chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông

y; nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các

loại thuốc mới; Đầu tư cơ sở luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết

tật hoặc chuyên nghiệp; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Đầu tư trung tâm

lão khoa, tâm thần, điều trị bệnh nhân nhiễm chất độc màu da cam; trung tâm chăm

sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ em lang thang không nơi nương

tựa; Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô;…23.

- Dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm: Địa bàn có điều kiện kinh tế -

xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khu công

nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;…24

- Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối

thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận

đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư25;

- Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên26;

- Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức

khoa học và công nghệ27.

23Điểm a, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư 2014

24 Điểm b, khoản 2 Điều 15 và khoản 2 Điều 16 Luật Đầu tư 2014

25 Điểm c, khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư 2014

26 Điểm d, khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư 2014

27 Điểm đ, khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư 2014

Nguyên tắc điều chỉnh các biện pháp khuyến khích đầu tư:

35

Các biện pháp khuyến khích đầu tư được điều chỉnh dựa trên các nguyên tắc cơ

bản sau đây:

Nguyên tắc thứ nhất: Nhà nước chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô. Còn hoạt động mang

tính vi mô là hoạt động của các doanh nghiệp, ở đây chính là các nhà đầu tư, họ

được tự do quyết định đầu tư, lựa chọn các ngành nghề đầu tư mà pháp luật không

cấm, lựa chọn địa bàn, hình thức đầu tư,… và tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu

tư của mình.

Nguyên tắc thứ hai: Nhà nước đưa ra các chính sách khuyến khích đầu tư dựa

trên hoàn cảnh phát triển trong nước kết hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Đặc thù

phát triển của mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau, nên không thể sao chép máy

móc mô hình của nước khác vào nước mình. Các chính sách đưa ra căn cứ vào điều

kiện và hoàn cảnh thực tế trong nước. Tuy nhiên, các chính sách cũng cần phù hợp

với các quy định quốc tế, không nên bó hẹp trong khuôn khổ quốc gia có thể gây ra

những hậu quả vô cùng bất lợi cho nền kinh tế.

Nguyên tắc thứ ba: Nhà nước can thiệp vào các hoạt động khuyến khích đầu tư

bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng đảm bảo không gây cản trở quá trình tự do

hóa thương mại quốc tế, không cản trở quyền tự do đầu tư kinh doanh của các chủ

thể khi tiến hành hoạt động đầu tư.

Nguyên tắc thứ tư: Nhà nước can thiệp vào các hoạt động khuyến khích đầu tư

phải đạt được kết quả là sự tăng trưởng kinh tế bền vững; các chủ thể đầu tư được

thỏa mãn lợi ích của mình; xã hội ổn định; ngày càng thúc đẩy hội nhập quốc tế.

Giới hạn can thiệp bằng pháp luật của các biện pháp khuyến khích

Các nguyên tắc nêu trên đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, từ đó, giới hạn can

thiệp bằng pháp luật đối với các biện pháp đầu tư được thể hiện theo những nội

dung: hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lý an toàn và hiệu quả cho việc

xác lập và thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu tư; nhà nước đưa ra các chính

sách vĩ mô, kế hoạch định hướng có liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh

nghiệp, các chính sách vĩ mô có thể là chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách thuế

khóa, chính sách ngoại hối,…

36

1.4.2.2. Quy định pháp luật về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu

Quy định pháp luật về hình thức áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư

Nhà nước bảo đảm cho các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư bằng các

biện pháp bảo đảm quyền sở hữu, bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh, bảo đảm

việc chuyển tài sản ra nước ngoài,… Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho

các nhà đầu tư và để thu hút hoạt động đầu tư, nhà nước còn sử dụng các biện pháp

ưu đãi khuyến khích đầu tư, với các hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư và hình thức

hỗ trợ đầu tư cụ thể được quy định trong Luật Đầu tư 2014 như sau:

“1. Hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư:

a) Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất

thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn,

giảm thuế thu nhập doanh nghiệp;

b) Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định;

nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư;

c) Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất”28.

Hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư được Nhà nước áp dụng chủ yếu là miễn,

giảm các loại thuế cho nhà đầu tư. Ngoài ra, hình thức hỗ trợ đầu tư được pháp luật

quy định:

“ 1. Các hình thức hỗ trợ đầu tư:

a) Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và

ngoài hàng rào dự án;

b) Hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực;

28 Khoản 1 Điều 15 Luật Đầu tư 2014.

c) Hỗ trợ tín dụng;

37

d) Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất

ra khỏi nội thành, nội thị;

đ) Hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ;

e) Hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin;

g) Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển”29.

Trên thực tế, ngoài những hỗ trợ đầu tư nói trên, một số địa phương còn áp

dụng các hình thức hỗ trợ khác như: hỗ trợ giải phóng mặt bằng, rà phá bom mìn,

hỗ trợ chi phí đo đạc lập bản đồ địa chính,… Tùy thuộc vào địa bàn đầu tư và điền

kiện từng địa phương mà nhà đầu tư được hưởng các hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

và mức ưu đãi, hỗ trợ khác nhau.

Quy định pháp luật về thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư

Nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh có thể nhận được các

chính sách ưu đãi đầu tư do nhà nước quy định. Luật Đầu tư 2014 quy định thủ tục

áp dụng ưu đãi đầu tư như sau:

“ 1. Đối với dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cơ quan đăng

ký đầu tư ghi nội dung ưu đãi đầu tư, căn cứ và điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư tại

Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

2. Đối với dự án không thuộc trường hợp cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu

tư, nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư nếu đáp ứng các điều kiện hưởng ưu đãi

đầu tư mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trong

trường hợp này, nhà đầu tư căn cứ điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Điều

15 và Điều 16 của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan để tự xác

định ưu đãi đầu tư và thực hiện thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại cơ quan thuế, cơ

29 Khoản 1 Điều 19 Luật Đầu tư 2014

30 Điều 17 Luật Đầu tư 2014

quan tài chính và cơ quan hải quan tương ứng với từng loại ưu đãi đầu tư”30

38

Như vậy, thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư có sự khác biệt đối với dự án thuộc

diện và không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ

trương đầu tư. Tùy thuộc vào tính chất của dự án đầu tư mà chủ đầu tư có thể căn cứ

để xác định thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư.

Quy định pháp luật về điều chỉnh ưu đãi đầu tư

Căn cứ vào Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật đầu tư thì các trường

hợp ưu đãi đầu tư được điều chỉnh bao gồm:

- Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng điều kiện để được hưởng thêm ưu đãi đầu

tư thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư đó cho thời gian ưu đãi còn lại;

- Nhà đầu tư không được hưởng ưu đãi theo quy định tại Giấy chứng nhận

đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư trong trường hợp dự án đầu

tư không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đăng

ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư. Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng điều

kiện hưởng ưu đãi đầu tư khác thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi theo điều kiện đó;

- Trường hợp dự án đầu tư có thời gian không đáp ứng điều kiện

hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư không được hưởng ưu đãi đầu tư cho thời gian

không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư31.

1.4.3 Bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh

Đầu tư kinh doanh là việc các nhà đầu tư bỏ vốn ra để thực hiện hoạt động kinh

doanh mong muốn thu về lợi nhuận trong tương lai. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt

động đầu tư thì tranh chấp xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Khi đó, tranh chấp

được giải quyết theo quy định pháp luật, cụ thể trong Luật Đầu tư 2014 quy định

như sau:

“1. Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được

31 Khoản 4 Điều 17 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa

39

giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy

định”32.

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định các trường hợp giải quyết tranh chấp khác:

Trường hợp1: tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có

vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư

kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam

hoặc Tòa án Việt Nam

Trường hợp 2: Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là

nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được giải

quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức: Tòa án Việt Nam; Trọng tài

Việt Nam; trọng tài nước ngoài; trọng tài quốc tế; trọng tài do các bên tranh chấp

thỏa thuận thành lập.

Trường hợp 3: Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có

thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được

giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có

thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

1.4.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ một

số điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia

Hiện nay, đầu tư quốc tế đang là một xu hướng phát triển kinh tế hàng đầu trên

thế giới, Chính phủ các quốc gia đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư trong

nước, hoàn thiện pháp luật về đầu tư với các biện pháp bảo đảm, khuyến khích để

thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Hơn thế nữa, các quốc gia đã cùng nhau tham

gia xây dựng một cơ chế toàn cầu cho hoạt động đầu tư thông qua các Hiệp định và

Điều ước quốc tế. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ đi sâu tìm hiểu và phân

32 Khoản 1 Điều 14 Luật Đầu tư 2014

tích các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ quy định của

40

một số tổ chức, hiệp hội và các hiệp định tiêu biểu. Luận văn phân tích các quy định

trong khuôn khổ của các Tổ chức từ phạm vi thế giới (WTO) đến khu vực

(ASEAN) mà Việt Nam đã tham gia; Hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết

với bên thứ hai là Liên minh châu Âu (một liên minh với mục tiêu thiết lập một thị

trường kinh tế duy nhất ở châu Âu, đạt được sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu lớn

nhất thế giới, đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn nhất đối với các thị trường

lớn trên thế giới); Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và một quốc gia điển hình

là Hoa Kỳ.

1.4.4.1 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ các

quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Tổ chức Thương mại thế giới WTO được thành lập và hoạt động

từ 01/01/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do,

thuận lợi và minh bạch với các nhiệm vụ chính là thúc đẩy việc thực hiện các Hiệp

định và cam kết trong khuôn khổ WTO, là diễn đàn để các nước thành viên đàm

phán và ký kết các Hiệp định tạo thuận lợi cho thương mại; giải quyết các tranh

chấp phát sinh giữa các thành viên WTO và rà soát định kỳ các chính sách thương

mại của các thành viên. Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7-11-2006, và được

công nhận là thành viên chính thức của tổ chức này vào ngày 11-1-2007. Việc gia

nhập WTO đã mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam với thị

trường rộng lớn, kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực.Từ thời

điểm gia nhập, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang

tính ràng buộc của WTO, thực thi đầy đủ các cam kết gia nhập và các nghĩa vụ

chung trong tổ chức với một số cam kết chính như: Cam kết về mở cửa thị trường

hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, cam kết về đầu tư và cam kết về quyền sở hữu

trí tuệ. Trong đó, đối với các cam kết về đầu tư phải tuân thủ đầy đủ các quy định

của Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS).

Hiệp định TRIMS quy định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị

cấm sử dụng đối với các nước thành viên nhằm tạo ra sự công bằng, thúc đầy mở

rộng tự do hóa đầu tư và thương mại quốc tế để tăng trưởng kinh tế các quốc gia

thành viên trên cơ sở bảo đảm tự do cạnh tranh. Hiệp định đưa ra danh mục minh

41

họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại cấm áp dụng đối với các nước

thành viên WTO, cụ thể:

Bảng 1.1: Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

bị cấm áp dụng (TRIMS)

(Nguồn: Phụ lục Doanh mục minh họa Hiệp định về cá biện pháp đầu tư liên

quan đến thương mại – TRIMS)

Biện pháp Nội dung

Doanh nghiệp nước ngoài mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất

Yêu cầu tỷ xứ trong nước hoặc từ một nguồn cung cấptrong nước, dù yêu cầu

lệ nội địa đó được xác định theo sản phẩm nhất định, theo số lượng hoặc giá

hóa trị sản phẩm hay theo một tỷ lệ trên khối lượng hoặc giá trị sản

lượng sản xuất của doanh nghiệp

Doanh nghiệp nước ngoài chỉ được mua hoặc sử dụng các sản Yêu cầu cân phẩm nhập khẩu được giới hạn trong một tổng sốtính theo khối bằng lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất thương mại khẩu

Hạn chế doanh nghiệp nước ngoài nhập khẩu sản phẩm để sử Hạn chế dụng trong hoặc có liên quan đến sản xuất của mình bằng việc hạn giao dịch chế khả năng tiếp cận và sử dụng ngoại hối đến một mức nhất ngoại hối định so với các nguồn thu ngoại hối của doanh nghiệp này

Hạn chế doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu hoặc bán để xuất

Hạn chế khẩu các sản phẩm dưới hình thức sản phẩm cụ thề, hay số lượng

xuất khẩu hoặc giá trị sản phẩm hay theo một tỷ lệ về số lượng họăc giá trị

sản lượng sản xuất trong nước của doanh nghiệp

Thời hạn các biện pháp nêu trên phải được loại bỏ là:

- “2 năm đối với thành viên phát triển;

42

- 5 năm đối với thành viên đang phát triển;

- 7 năm đối với thành viên chậm phát triển”33.

Nhằm bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp đã thành lập đang chịu tác động của

một số biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, Hiệp định TRIMs có một điều

khoản quy định cho phép nước thành viên trong giai đoạn chuyển đổi được áp dụng

những biện pháp đó đối với các doanh nghiệp mới thành lập nếu sản phẩm của

những doanh nghiệp này là tương tự với những sản phẩm của các doanh nghiệp đã

thành lập, và việc áp dụng những biện pháp đó là cần thiết để tránh làm méo mó

điều kiện cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đã thành lập và các doanh nghiệp mới

thành lập. Những biện pháp áp dụng đối với cả 2 loại doanh nghiệp này sẽ được loại

bỏ đồng thời.

Điều 6 Hiệp định TRIMS cũng quy địnhCác nước thành viên phải thông báo

cho WTO tất cả các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại không phù hợp với

Hiệp định TRIMs, cũng như các tài liệu, thông tin liên quan, kể cả các biện pháp

được áp dụng ở cấp chính quyền địa phương.Nước thành viên có trách nhiệm cung

cấp thông tin và tạo điều kiện để tiến hành tham vấn nếu có nước thành viên khác

yêu cầu.

Hiệp định TRIMS thường được áp dụng tại các nước đang phát triển, khi mà các

vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài được quan tâm hàng đầu. Việc thực hiện TRIMS

đã đặt ra thách thức lớn cho các nước đang phát triển khi tham gia WTO, trong đó

có Việt Nam. Theo quy định nêu trên, thời hạn đối với các nước đang phát triển là 5

năm, tuy nhiên thời gian này thường không đủ để các quốc gia hoàn thành việc xóa

bỏ các chính sách đi ngược lại với TRIMS. Một số quốc gia còn không có đủ khả

năng để xác định đâu là biện pháp không phù hợp TRIMS, do đó không thể hoàn

thành việc xóa bỏ như TRIMS quy định đúng thời hạn.

Việc thực hiện nghĩa vụ của Hiệp định TRIMS sẽ xóa bỏ rào cản đối với đầu tư

nước ngoài, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia hoạt động đầu tư. Tuy nhiên,

33 Khoản 2 Điều 5 Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại – TRIMS.

hạn chế của Hiệp định này chỉ áp dụng đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến

43

thương mại hàng hoá, khi trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay không chỉ phát

triển về thương mại hàng hóa mà còn các lĩnh vực liên quan khác như thương mại

dịch vụ.

1.4.4.2 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ các

cam kết của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông

Nam Á(ASEAN) ngày 28/07/1995. Kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam đã nhanh

chóng hội nhập và tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực hợp tác của ASEAN, trong

đó có lĩnh vực đầu tư. Trước đây, các hoạt động về đầu tư trong ASEAN được điều

chỉnh bởi hai Hiệp định là Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư năm

1987(IGA) và Hiệp định khung về khu vực đầu tư năm 1998 (AIA) của các nước

ASEAN. Tuy nhiên, do tình hình phát triển trong và ngoài khối dẫn đến một số quy

định trong hai Hiệp định không còn phù hợp. Để tăng cường hợp tác trong khu vực,

tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút đầu tư nước ngoài vào ASEAN và

cũng để phù hợp hơn với tầm nhìn của một cộng đồng kinh tế ASEAN thống nhất,

năng động đòi hỏi phải có một văn bản hoàn chỉnh điều chỉnh toàn diện lĩnh vực

đầu tư trong ASEAN. Chính vì vậy, Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) ra

đời; kế thừa một số quy định của hai hiệp định trước đây, đồng thời có những cải

tiến đáng kể trong việc làm rõ và mở rộng quyền của nhà đầu tư.

Đảm bảo đầu tư và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định AICA được thể hiện

ngay tại Điều 1 về mục tiêu của Hiệp định là tạo ra một cơ chế đầu tư tự do và mở

cửa trong khu vực ASEAN nhằm đạt các mục tiêu cuối cùng như: tự do hóa từng

bước cơ chế đầu tư của các quốc gia thành viên; tăng cường bảo hộ cho các nhà đầu

tư và khoản đầu tư của họ; tăng cường tính minh bạch và có thể dự đoán của các

quy tắc, quy đinh và thủ tục đầu tư nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư

được mở rộng; cùng thúc đẩy khu vực thành một khu vực hội nhập đầu tư và hợp

tác để tạo ra các điều kiện ưu đãi cho hoạt động đầu tư. Cùng với đó, để tạo ra môi

trường đầu tư tự do, thuận lợi và minh bạch, mang tính cạnh tranh thì Hiệp định

cũng quy định các nguyên tắc như sau:

44

“(a) quy định hoạt động tự do hóa đầu tư, bảo hộ đầu tư, xúc tiến và thuận lợi

hóa đầu tư;

(b) tự do hóa từng bước hoạt động đầu tư với mục tiêu thực hiện thành công

một môi trường đầu tư tự do và mở trong khu vực;

(c) tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và các khoản đầu tư của họ trong

ASEAN;

(d) duy trì và chấp thuận đối xử ưu đãi giữa các Quốc gia thành viên;….”34

Hiệp định ACIA với mục tiêu rõ ràng cụ thể, cùng quy định các nguyên tắc phải

tuân thủ, Hiệp định cũng đưa ra các khái niệm rõ ràng và rộng hơn về nhà đầu tư và

đầu tư, giúp giảm rủi ro và sự không chắc chắn cho các nhà đầu tư. Hơn nữa, ACIA

cũng yêu cầu chính phủ sở tại cam kết bằng các hình thức bảo vệ đầu tư. Một trong

những hình thức bảo vệ đó là đối đãi ngang bằng và công bằng - có nghĩa là các

nước chủ nhà phải đưa ra quyết định dựa trên luật pháp và không được phép hành

độngtùy ý và phân biệt đối xử; cung cấp cho các nhà đầu tư quyền tự bảo vệ

mìnhnhư cho phép tiếp cận với luật sư và quyền kháng cáo. Ngoài việc bảo đảm đối

xử ngang bằng và công bằng cho các nhà đầu tư, các chính phủ cũng phải bảo vệ sự

an toàn và an ninh cho các khoản đầu tư mọi lúc.

Nội dung về bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định ACIA cònđược

quy định cụ thể trong Điều 1: Đãi ngộ đầu tư, với nội dung là:

“1. Mỗi Quốc gia thành viên sẽ dành cho khoản đầu tư của nhà đầu tư của bất

kì quốc gia thành viên khác đối xử một cách công bằng và bình đẳng, và bảo hộ an

toàn và đầy đủ,…”

Để bảo đảm và khuyến khích đầu tư, Hiệp định cũng quy định về các biện pháp

khi xảy ra tranh chấp. Các nhà đầu tư có nhiều lựa chọn để giải quyết tranh chấp với

chính phủ sở tại nếu họ cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm. Cơ chế giải

quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài có 3 lựa chọn chính:

34 Điều 2 Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA).

Một là đưa yêu cầu lên các tòa án trong nước của nước chủ nhà.

45

Hai là khi nhà đầu tư cần yêu cầu một bên thứ ba độc lập hơn, họ có thể lựa

chọn sử dụng phương thức trọng tài tòa án quốc tế, ở Ủy ban Liên hợp quốc về Luật

Thương mại quốc tế (UNCITRAL), hoặc Trung tâm Quốc tế Giải quyết tranh chấp

đầu tư (ICSID), hoặc bất kỳ trung tâm trọng tài nào khác trong khu vực ASEAN.

Ba là các bên cũng được tự do lựa chọn một phương thức thay thế khác mà hai

bên thoả thuận, và được khuyến khích giải quyết thông qua hòa giải và thương

lượng tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Hiệp định ACIA đã đề ra các hướng cụ thể để xây dựng và phát triển một khu

vực đầu tư nhiều thuận lợi hơn. Những định hướng phù hợp với tình hình thực tế

khu vực, thích hợp với bối cảnh hiện tại sẽ giúp các nước ASEAN xóa bỏ dần các

yếu tố cản trở, dần hình thành những môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư

vào khu vực.

1.4.4.3 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ

của Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu

(EVFTA và EVIPA)

Tháng 10/2010 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đã đồng ý khởi

động đàm phán Hiệp định EVFTA. Đến Tháng 6/2018, Việt Nam và EU đã chính

thức thống nhất việc tách riêng EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định Thương

mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) phần đầu tư sẽ chỉ bao gồm tự do hóa đầu tư

trực tiếp nước ngoàivà Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) bao gồm nội dung bảo hộ

đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư.Hiệp định Thương mại tự do(EVFTA) và

Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) được

ký kết vào ngày 30/06/2019. Có thể coi hai Hiệp định là toàn diện, chất lượng cao

và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy

định của WTO. Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi

nhớ kèm theo. Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm

tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp

hai bên. Hiệp định EVFTA và EVIPA có hai điểm mới:

Một là, EU sẽ đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, lĩnh vực tiềm năng được

nhiều doanh nghiệp EU chờ đón. Với quy mô và tiềm năng về vốn, công nghệ của

46

EU, Việt Nam đang đứng trước cơ hội trở thành địa bàn trung chuyển, cửa ngõ kết

nối cho hoạt động thương mại và đầu tư của EU trong khu vực châu Á.

Hai là, việc đầu tư hướng tới không chỉ nhằm vào sản xuất, xuất nhập khẩu mà

còn cả những lĩnh vực dịch vụ công nghệ 4.0 như viễn thông và công nghệ thông

tin, kiến trúc và tư vấn kỹ thuật, dịch vụ môi trường.

Trong hiệp định, số các cam kết mang tính quy tắc, có ý nghĩa ràng buộc cách

hành xử chính sách của các bên là rất lớn. Theo đó, hai bên cam kết sẽ dành đối xử

quốc gia và đối xử tối huệ quốc với đầu tư của nhà đầu tư của Bên kia, với một số

ngoại lệ, cũng như sự đối xử công bằng, thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ, cho

phép tự do chuyển vốn và lợi nhuận từ đầu tư ra nước ngoài, cam kết không trưng

thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư mà không có bồi thường thỏa đáng, cam

kết bồi thường thiệt hại phù hợp cho nhà đầu tư của bên kia tương tự như nhà đầu tư

trong nước hoặc của bên thứ ba trong trường hợp bị thiệt hại do chiến tranh, bạo

loạn, v.v... Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh giữa một Bên và nhà đầu tư

của Bên kia, hai bên thống nhất ưu tiên giải quyết tranh chấp một cách thiện chí

thông qua đàm phán và hòa giải. Trong trường hợp không thể giải quyết tranh chấp

thông qua tham vấn và hòa giải thì mới sử dụng đến cơ chế giải quyết tranh chấp

được quy định cụ thể trong Hiệp định này.

Tuy nhiên, các lợi ích từ hiệp định sẽ không đương nhiên trở thành hiện thực,

các quyền và nghĩa vụ theo các cam kết không tự nhiên phát huy tác dụng mà cần

những nỗ lực lớn để thực thi các cam kết, hiện thực hóa các lợi ích và xử lý thách

thức liên quan.Việc thực thi các cam kết đòi hỏi cùng lúc rà soát và điều chỉnh về cơ

chế, trong một số trường hợp còn điều chỉnh cả bộ máy và phương thức thực hiện..

Điều này đặt ra thách thức lớn không chỉ về năng lực mà cả về nguồn lực đối với

Việt Nam.

1.4.4.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định

thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000

Năm 2000, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã chính thức được ký

kết. Đây được coi là hiệp định song phương mang tính chất tổng thể và bao quát

nhất, được đàm phán trên cở sở các nguyên tắc của WTO. Hiệp định không chỉ đề

47

cập đến thương mại hàng hóa mà còn chứa đựng các điều khoản về thương mại dịch

vụ, sở hữu trí tuệ, đặc biệt về đầu tư, bao gồm 7 chương với 72 Điều và 9 Phụ lục

và các quy định về đầu tư được quy định tại Chương 4 của Hiệp định. Nội dung về

bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định quy định trước hết được thể hiện

tại quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc tại Điều 2

Chương 4. Hiệp định quy định tiêu chuẩn chung về đối xử, mỗi bên luôn dành cho

các khoản đầu tư theo Hiệp định sự đối xử công bằng, thỏa đáng và sự bảo hộ, an

toàn đầy đủ trong mọi trường hợp; dành sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối

xử theo yêu cầu của các quy tắc áp dụng của pháp luật tập quán quốc tế; mỗi bên

không áp dụng các biện pháp bất hợp lý và phân biệt đối xử để gây phương hại đối

với việc quản lý, điều hành, vận hành, bán hoặc định đoạt bằng cách khác các khoản

đầu tư theo Hiệp định. Ngoài ra, Hiệp định cũng đưa ra quy chế giải quyết tranh

chấp về đầu tư. Cụ thể tại Điều 4 Chương 4: Mỗi bên dành cho công ty và công dân

của bên kia các công cụ hữu hiệu để khiếu nại và thực thi các quyền liên quan đến

các khoản đầu tư theo Hiệp định. Phương thức giải quyết tranh chấp có thể thông

qua tham vấn, thương lượng, đưa ra tòa án hoặc cơ quan tài phán hành chính có

thẩm quyền trên lãnh thổ một bên nới đầu tư theo Hiệp định được thực hiện, giải

quyết tranh chấp thông qua trọng tài. Để bảo đảm và khuyến khích đầu tư, Hiệp

định còn có nội dung về tính minh bạch, theo đó, các luật, các quy định và thủ tục

hành chính được áp dụng chung có liên quan hoặc ảnh hưởng đến các khoản đầu tư

và các thỏa thuận đầu tư và các chấp thuận đầu tư sẽ nhanh chóng được đăng hoặc

có sẵn cho công chúng. Về chuyển giao công nghệ; nhập cảnh, tạm trú và tuyển

dụng người nước ngoài; bảo lưu các quyền cũng là các nội dung trong Hiệp địnhg

giúp cải thiện môi trường đầu tư của các nước tham gia hiệp định, bảo đảm quyền

lợi của các nhà dầu tư khi quy định “Không bên nào được tước quyền sở hữu hoặc

quốc hữu hóa các khoản đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các biện

pháp tương tự như tước quyền sở hửu hoặc quốc hữu hóa, trong trường hợp vì mục

đích công cộng thì sẽ được bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và có hiệu quả, phù

35 Điều 10 Chương 4 Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ 2000.

hợp với thủ tục luật định và các nguyên tắc chung về đối xử…”35

48

Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng Hiệp định vẫn còn tồn tại hạn chế, chưa thực

sự xóa bỏ hết rào cản như quy định tại Điều 6 Chương 4 về các thủ tục riêng. Tại

điều này quy định không ngăn cản một bên quy định các thủ tục riêng liên quan đến

các khoản đầu tư theo Hiệp định như yêu cầu các khoản đầu tư đó phải được thành

lập hợp pháp theo luật và quy định của bên đó, hoặc yêu cầu việc chuyển tiền hay

các công cụ tiền tệ khác phải được báo cáo.

49

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ

BẢO ĐẢM, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM

2.1 Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam

2.1.1 Tình hình chung về hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Sau hơn 30 năm hội nhập quốc tế, đến nay đầu tư tại Việt Nam đã có sự tăng

trưởng mạnh mẽ, là nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế- xã hội. Từ các

báo cáo cho thấy, việc thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của Việt

Nam ra nước ngoài đã mang lại nhiều kết quả quan trọng. Lĩnh vực tham gia đầu tư

của các doanh nghiệp FDI hiện nay khá đa dạng, có đến 19/21 lĩnh vực kinh tế của

Việt Nam có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Báo cáo tình hình đầu tư tại

Việt Nam 9 tháng năm 2019 tiếp tục ghi dấu mốc tăng trưởng vượt bậc trong vòng 5

năm trở lại đây.

2.1.1.1 Về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Theo báo cáo tình hình đầu tư ngày 30/9/2019 của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ

kế hoạch và đầu tư, trong 9 tháng đầu năm 2019, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp

nước ngoài đã giải ngân được 14,22 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Bảng 2.1: Báo cáo nhanh đầu tư nước ngoài 9 tháng năm 2019

(Nguồn: Trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch và đầu tư)

Đơn vị 9 tháng năm 9 tháng năm So cùng Chỉ tiêu tính 2018 2019 kỳ

Vốn thực hiện triệu USD 13.25 14.22 107,3%

Vốn đăng ký triệu USD 25.372,95 26.164,38 103,1%

- Đăng ký cấp mới triệu USD 14.124,54 10.973,39 77,7%

- Đăng ký điều chỉnh triệu USD 5.544,20 4.789,76 86,4%

- Góp vốn, mua cổ phần triệu USD 5.704,21 10.401,23 182,3%

Số dự án

50

- Cấp mới dự án 2.182 2.759 126,4%

- Điều chỉnh vốn lượt dự án 841 1.037 123,3%

- Góp vốn, mua cổ phần lượt dự án 5.275 6.502 123,3%

Xuất khẩu

- Xuất khẩu (kể cả dầu triệu USD 128.356 134.725 105,0% thô)

- Xuất khẩu (không kể triệu USD 126.701 133.212 105,1% dầu thô)

Nhập khẩu triệu USD 103.777 109.449 105,5%

Bảng số liệu trên cho thấy:

Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134.725 triệu

USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm 69,3% kim ngạch xuất khẩu.

Xuất khẩu không kể dầu thô đạt 133.212 triệu USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ 2018

và chiếm 68,6% kim ngạch xuất khẩu.

Nhập khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đạt 109.449 triệu USD, tăng 5,5% so

với cùng kỳ năm 2018 và chiếm 58,1% kim ngạch nhập khẩu.

Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2019, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu

25,28 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 23,76 tỷ USD không kể dầu thô. Mặc dù

khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 19,4 tỷ USD, nhưng suất siêu khu vực đầu tư

nước ngoài đã bù đắp được nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước. Vì vậy cả

nước xuất siêu 5,87 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 201936.

Ngoài ra, tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn thể hiện ở tình hình cấp

36 Theo báo cáo Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài 9 tháng năm 2019, ngày 30/09/2019 của Cục Đầu tư nước ngoài.

Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tính đến 20/9/2019, tổng vốn đăng ký cấp mới,

51

điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 26,16 tỷ USD,

tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó:

Cấp mới: đến ngày 20/9/2019, cả nước có 2.759 dự án mới được cấp Giấy

chứng nhận đăng ký đầu tư, tăng 26,4% số dự án so với cùng kỳ năm 2018. Tổng

vốn đăng ký cấp mới 10,97 tỷ USD, bằng 77,7% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu

tư đăng ký cấp mới giảm so với cùng kỳ do quy mô dự án giảm, trong 9T/2019

không có dự án đầu tư mới nào có quy mô vốn trên 300 triệu USD. Trong khi đó, 9

tháng năm 2018 có một số dự án lớn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới

(dự án Thành phố thông minh tại xã Hải Bối, Đông Anh, Hà Nội – Nhật Bản đầu tư

với tổng vốn đăng ký 4,14 tỷ USD; dự án nhà máy sản xuất Polypropylene và kho

ngầm chứa dầu mỏ hóa lỏng – Hàn Quốc đầu tư với tổng vốn đăng ký 1,2 tỷ USD

tại Bà Rịa – Vũng Tàu). Nếu không tính các dự án lớn trên 1 tỷ USD, tổng vốn đầu

tư đăng ký mới trong 9 tháng năm 2019 tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2018 và

tăng 30,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Điều chỉnh vốn: có 1.037 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư, tăng 23,3%

so với cùng kỳ năm 2018. Tổng vốn đăng ký điều chỉnh gần 4,79 tỷ USD, bằng

86,4% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 9 tháng năm 2019, quy mô điều chỉnh mở

rộng vốn của các dự án nhỏ, không có dự án tăng vốn lớn như trong cùng kỳ 2018.

Nếu không tính các dự án điều chỉnh vốn lớn trên 1 tỷ USD, vốn điều chỉnh tăng

thêm trong 9 tháng năm 2019 cũng tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng

12,6% so với cùng kỳ năm 2017.

Góp vốn, mua cổ phần: cũng trong 9 tháng đầu năm 2019, cả nước có 6.502 lượt

góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp 10,4 tỷ

USD, tăng 82,3% so với cùng kỳ 2018 và chiếm 39,8% tổng vốn đăng ký.

Một số dự án lớn trong 9 tháng đầu năm 2019 như:

- Dự án góp vốn, mua cổ phần của Beerco Limited (Hồng Kông) vào công ty

TNHH Vietnam Beverage, giá trị vốn góp là 3,85 tỷ USD với mục tiêu chính là sản

xuất bia và mạch nha ủ men bia tại Hà Nội.

52

- Dự án chế tạo lốp xe Radian toàn thép ACTR (Trung Quốc), tổng vốn đầu

tư đăng ký 280 triệu USD đầu tư tại Tây Ninh với mục tiêu sản xuất lốp xe toàn

thép TBR.

- Dự án nhà máy điện mặt trời Hòa Hội tại Phú Yên, tổng vốn đầu tư đăng ký

216,7 triệu USD, do nhà đầu tư Thái Lan đầu tư tại Phú Yên với mục tiêu sản xuất

điện mặt trời.

- Dự án Vinhtex, tổng vốn đầu tư đăng ký 200 triệu USD do Royal Pagoda

Private Limited (Singapore) đầu tư với mục tiêu sản xuất vải và nhuộm vải dệt kim

tại Nghệ An.

- Dự án Công ty TNHH điện tử Meiko Việt Nam (Hồng Kông) với mục tiêu

thiết kế, lắp ráp và sản xuất linh kiện điện tử tại Hà Nội điều chỉnh tăng vốn đầu tư

thêm 200 triệu USD

2.1.1.2 Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài

Cũng trong báo cáo 9 tháng đầu năm 2019 của Cục Đầu tư nước ngoài có ghi

nhận, tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và tăng thêm đạt 431,68

triệu USD. Trong đó có 117 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới,

với tổng vốn đầu tư bên Việt Nam đạt 307,67 triệu USD. Có 27 lượt dự án điều

chỉnh vốn đầu tư với vốn đầu tư Việt Nam tăng thêm là 124 triệu USD.

Theo lĩnh vực: lĩnh vực bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra

nước ngoài với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 110,6 triệu USD, chiếm

25,6% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ đứng

thứ hai với 83,36 triệu USD và chiếm 19,3% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực nông nghiệp,

lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ 3 với 64,14 triệu USD, chiếm 14,9% tổng vốn đầu

tư. Còn lại là các dự án thuộc các lĩnh vực khác.

Theo địa bàn: trong 9 tháng đầu năm 2019, Việt Nam đã đầu tư sang 30 quốc

gia, vùng lãnh thổ. Australia là địa bàn dẫn đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra nước

ngoài với 140,63 triệu USD, chiếm 32,6% tổng vốn đầu tư. Hoa Kỳ xếp thứ 2 với

20 dự án, tổng vốn đầu tư là 59,86 triệu USD, chiếm 13,9% tổng vốn đầu tư.

53

2.1.2 Tác động của hoạt động đầu tư đến phát triển kinh tế- xã hội ở Việt

Nam

Hoạt động đầu tư trên phương diện vĩ mô của nền kinh tế bao gồm hoạt động

đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, là hai hoạt động đầu tư có mối quan hệ mật

thiết, tác động lẫn nhau thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế.

Với vai trò là nước tiếp nhận đầu tư

Việt Nam với vai trò là nước tiếp nhận đầu tư, hoạt động đầu tư có tác động tích

cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam.

Tác động tích cực:

Thứ nhất, đầu tư giúp tăng trưởng kinh tế, tác động đến các yếu tố như: bổ sung

vốn trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; tiếp nhận và phát triển công

nghệ hiện đại, tạo nguồn việc làm, phát triển nguồn nhân lực; thúc đẩy xuất nhập

khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới,…

Thứ hai, đầu tư là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về

vốn và ngoại tệ. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với thu nhập thấp dẫn

đến tiết kiệm thấp, vì vậy vốn đầu tư cũng thấp. Có thể nói vốn đầu tư là cơ sở để

tạo ra công ăn việc làm trong nước, giúp đổi mới công nghệ, kỹ thuật và nâng cao

năng suất lao động… Vốn đầu tư nước ngoài là một nguồn quan trọng không chỉ bổ

sung nguồn vốn mà còn giải quyết sự thiếu hụt về ngoại tệ, góp phần tăng khả năng

cạnh tranh và mở rộng xuất khẩu,…

Thứ ba, đầu tư giúp phát triển công nghệ trong nước, được tiếp cận với trình độ

khoa học - kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Hoạt động đầu tư nước ngoài gắn liền với

việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, chuyên môn, bí quyết và trình độ khoa học, là

những nghiên cứu ứng dụng tiên tiến đã được thử nghiệm tại nước ngoài. Bên cạnh

việc chuyển giao công nghệ sẵn có, đầu tư còn góp phần tích cực thúc đẩy nghiên

cứu và phát triển công nghệ của nước tiếp nhậnđầu tư. Vì vậy, các doanh nghiệp

Việt Nam muốn cạnh tranh được trong thị trường thì cần phải nỗ lực đổi mới công

nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.

54

Thứ tư, đầu tư giúp phát triển nguồn nhân lực và giải quyết vấn đề việc làm.

Đầu tư tạo thêm việc làm không chỉ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

mà còn gián tiếp tạo việc làm cho các doanh nghiệp liên quan đến hoạt động đầu tư.

Chẳng hạn các doanh nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào, doanh nghiệp phân phối,

doanh nghiệp vận tải,… Ngoài ra, đầu tư còn góp phần quan trọng đối với phát triển

ngành giáo dục của nước chủ nhà trong lĩnh vực dạy nghề, nâng cao chất lượng

quản lý,…

Thứ năm, đầu tư góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phù hợp với chiến

lược công nghiệp hóa của nước chủ nhà đó là tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và

dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, thúc đẩy sự hòa nhập vào khu vực và quốc tế.

Mặc dù có nhiều mặt tác động tích cực nêu trên, nhưng đầu tư nước ngoài vẫn

có nhiều tác động tiêu cực, đó là:

Đầu tư nước ngoài nghĩa là nước chủ nhà mở cửa hội nhập với nhiều nền văn

hóa khác nhau trên thế giới. Do đó, bên cạnh việc tiếp thu những văn hóa tốt đẹp thì

không thể tránh khỏi việc du nhập những văn hóa xấu, những lối sống không đúng

ảnh hưởng đến nền văn hóa dân tộc.

Đầu tư có thể gây nguy hiểm đến an ninh kinh tế của nước chủ nhà nếu sự quản

lý lỏng lẻo, một số ngành nghề bị thao túng,…

Một số trường hợp người lao động bị coi thường, xúc phạm, sức lao động bị

khai thác cạn kiệt, tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân, địa phương.

Các nước tiếp nhận đầu tư có nguy cơ trở thành bãi rác công nghiệp. Có một

thực tế rằng, một số quốc gia phát triển trước yêu cầu cấp bách là phải đổi mới đột

phá về công nghệ, để có thể cạnh tranh được với những thị trường đang áp thuế rất

cao vào quốc gia này. Để đổi mới, họ sẽ phải thay thế toàn bộ công nghệ cũ, dẫn tới

thực tế các thế hệ công nghệ thải loại phải tìm cách đi sang các quốc gia khác kém

phát triển hơn.

Với vai trò là nước đi đầu tư

Việt Nam với vai trò là nước đi đầu tư, đầu tư có những mặt tích cực, cụ thể như

sau:

55

Đầu tư ra nước ngoài củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của Việt Nam

trong khu vực và trên thế giới, tạo tiền đề cho hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt

Nam đa dạng và phong phú, hoạt động ngoại giao đi vào chiều sâu.

Đầu tư ra nước ngoài tránh được tình trạng cạnh tranh gay gắt đang diễn ra

trong nước.

Đầu tư ra nước ngoài tận dụng được nguồn lực của các quốc gia khác mà trong

nước không đáp ứng được. Chẳng hạn: nguồn lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên

phong phú, thị trường tiêu thụ rộng lớn,…

Đối với một số sản phẩm thị trường trong nước đã bão hòa. Việc đầu tư ra nước

ngoài đem lại một khoản lợi nhuận cao hơn đối với những thị trường khác rộng lớn

mà có nhu cầu về sản phẩm đó, giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường

thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn;

giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh, tích lũy kinh nghiệm trên thương

trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết công nghệ; sử dụng đội ngũ

quản lý và khoa học kỹ thuật bản xứ…và áp dụng những thành công ở nước ngoài

vào hoạt động kinh doanh của công ty mẹ trong nước.

Đầu tư ra nước ngoài thành công sẽ tác động ngược lại nền kinh tế trong nước

theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế: về thể chế chính sách, về thuế, về

thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối ngoại, về chính sách điều hành vĩ mô.

Một số công nghệ tại một thời điểm có thể là lỗi thời tại quốc gia này thì tại

quốc gia khác lại là những công nghệ hiện đại, tiên tiến. Đầu tư ra nước ngoài giúp

nước đi đầu tư tận dụng được những công nghệ được coi là lỗi thời trong nước, thu

lợi nhuận từ những công nghệ đó khi chuyển giao sang quốc gia kém phát triển hơn.

Bên cạnh những tác động tích cực, đầu tư ra nước ngoài còn tiềm ẩn nhiều rủi ro

và thách thức, cụ thể như: Sự khác biệt về văn hóa, pháp luật giữa nước đầu tư và

nước tiếp nhận đầu tư dẫn đến những tranh chấp ngoài mong muốn. Tiềm lực tài

chính chưa đủ lớn mạnh là yếu tố cản trở cơ hội đầu tư ra nước ngoài của nhiều

doanh nghiệp. Quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài không tốt có thể dẫn tới chảy

máu ngoại tệ, tạo kẽ hở cho hoạt động rửa tiền.

56

2.2. Thực trạng thực thi pháp luật về bảo đảm đầu tư tại Việt Nam

2.2.1. Về bảo đảm quyền sở hữu tài sản

Theo quy định Luật Đầu tư Việt Nam, mọi nhà đầu tư có hoạt động đầu tư đều

được bảo đảm về quyền sở hữu tài sản, và tài sản đó phải hợp pháp. Nhưng theo cơ

chế thị trường thì song song với lợi nhuận đạt được các nhà đầu tư cũng phải chấp

nhận mạo hiểm vì việc kinh doanh có thể không đạt hiệu quả dẫn đến thua lỗ. Tiền

bạc, tài sản đem ra đầu tư có thể bị thất thoát, hao hụt. Tài sản của nhà đầu tư ngoài

việc bị hao hụt do kinh doanh thua lỗ thì đôi khi trong một số trường hợp bị Nhà

nước trưng mua, trung dụng nhằm mục đích liên quan đến quốc phòng, an ninh

quốc gia, trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tài. Trong trường hợp này,

Nhà nước cần bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư. Sau khi tài sản của nhà

đầu tư bị Nhà nước trưng mua, trưng dụng phải thanh toán, bồi thường cho nhà đầu

tư.

Trong những năm gần đây, khi Việt Nam tích cực tham gia ký kết các Hiệp

định, Điều ước quốc tế về đầu tư, cùng với đó hoàn thiện hệ thống pháp luật dần ổn

định thì vấn đề bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư được thực hiện khá tốt.

Tuy nhiên, có một sự kiện nổi bật từ năm 2015 nhưng đến nay vẫn còn gây

nhiều tranh cãi. Đó là việc Ngân hàng Nhà nước quyết định mua bắt buộc Ngân

hàng TMCP Xây dựng (VNCB), Ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank), ngân

hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu (GPBank) với giá 0 đồng, chuyển đổi thành ba ngân

hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do Ngân hàng Nhà nước làm

chủ sở hữu; đồng thời chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích của các cổ đông, bảo đảm

quyền lợi cho người gửi tiền. Có ý kiến cho rằng, bằng việc mua lại các ngân hàng

này với giá 0 đồng, ngân hàng nhà nước đã thế chân các cổ đông hiện hữu, chuyển

đổi hình thức sở hữu từ sở hữu tư nhân sang thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước,

đó là một hình thức quốc hữu hoá.

Về phía Ngân hàng thì cho rằng, việc ngân hàng nhà nước thực hiện mua các

ngân hàng với giá 0 đồng chỉ là việc mua bán bình thường, không phải quốc hữu

hóa mà hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật, cụ thể trong Luật các tổ chức

tín dụng 2010 quy định: “Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu tăng

57

vốn, xây dựng, thực hiện kế hoạch tái cơ cấu hoặc bắt buộc sáp nhập, hợp nhất,

mua lại đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, nếu chủ sở hữu không có

khả năng hoặc không thực hiện việc tăng vốn”37.

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đầu tư, nhà nước chỉ được trưng mua, trưng

dụng nhằm mục đích liên quan đến quốc phòng, an ninh, trong tình trang khẩn cấp

hay phòng chống thiên tai mà không có quy định nào doanh nghiệp bị trưng mua

khi kinh doanh thua lỗ.

Vậy một câu hỏi đặt ra quy định của Luật chuyên ngành ngân hàng như vậy liệu

có phù hợp với các quy định theo Luật Đầu tư và các quy định quốc tế liên quan đến

đầu tư hay không?

2.2.2. Về bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh

Trong thời gian qua, pháp luật Việt Nam về đầu tư đã có nhiều thay đổi góp

phần xóa bỏ rào cản về đầu tư kinh doanh không phù hợp với kinh tế thị trường và

cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu

tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các

nhà đầu tư. Theo đó, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày

01/7/2015 đã tiếp tục tạo pháp lý quan trọng bảo đảm thực hiện các quy định của

Hiến pháp về quyền tự do kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà luật

không cấm. Cùng với đó, bãi bỏ các yêu cầu, điều kiện tại thời điểm thành lập

doanh nghiệp cũng như đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian thành lập doanh

nghiệp, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài. Bãi bỏ

thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư trong nước, tạo điều

kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và tổ

chức quản lý doanh nghiệp.

Từ tháng 7/2015 đến tháng 11/2018, Việt Nam có 8.909 dự án đầu tư của nhà

đầu tư nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký

cấp mới là 61,06 tỷ USD và 3.961 dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất, với tổng

37 Khoản 1 Điều 149 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010

vốn tăng thêm là 28,04 tỷ USD. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn đầu tư thì tổng

58

vốn đầu tư đăng ký trong giai đoạn này đạt 89,1 tỷ USD, tăng 5,6% so với giai đoạn

3,5 năm trước đó38. Kết quả trên cho thấy những tác động tích cực của việc thi hành

pháp luật về biện pháp bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh.

Như vậy, có sự tương đồng giữa pháp luật quốc gia và luật quốc tế, khi nước ta

luôn bảo đảm cho các nhà đầu tư được tự do sản xuất kinh doanh, đầu tư những

ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Theo xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường, nhà nước ta trong thời gian qua

đã tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, quá trình cổ phần

hóa còn chưa triệt để khi nhà nước vẫn can thiệp nhiều vào việc kinh doanh của

doanh nghiệp được cổ phần hóa khi mà nhà nước chỉ định hay bổ nhiệm công chức

nhà nước đóng vai trò quản trị công ty. Đây là một hạn chế tạo rào cản để doanh

38 Theo nguồn được đăng tải trên web: www.mpi.gov.vn

nghiệp thực hiện việc tự do định đoạt trong đầu tư của mình.

59

2.2.3. Về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp

Một trong những biện pháp bảo đảm đầu tư mà Nhà nước cam kết khi nhà đầu

tư nước ngoài thực hiện đầu tư tại Việt Nam đó là bảo đảm chuyển tài sản của nhà

đầu tư nước ngoài ra nước ngoài. Với lợi nhuận chuyển ra nước ngoài bằng tiền sẽ

theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối; Lợi nhuận chuyển ra nước ngoài

bằng hiện vật và thực hiện quy đổi giá trị hiện vật theo quy định của pháp luật về

xuất nhập khẩu hàng hoá và quy định của pháp luật liên quan.

Quy định pháp luật về bảo đảm chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp ra nước

ngoài mang ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài, bởi lẽ khi thực

hiện đầu tư, nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng và mong muốn có lời, lợi nhuận tạo ra

được họ định đoạt và được chuyển về nước hay chuyển đi đâu là quyền lợi chính

đáng của họ. Tuy nhiên, quy định bảo đảm này cũng có mặt tiêu cực khi một số

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ cố gắng tìm các biện pháp hợp pháp khác

để dịch chuyển lợi nhuận của họ ra nước ngoài trước khi có báo cáo tài chính được

kiểm toán và báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế. Các thủ thuật mà doanh

nghiệp thường sử dụng để chuyển lợi nhận ra nước ngoài mà không theo quy định

của Luật Đầu tư là: chuyển giá, phí dịch vụ, tiền lãi vay,… Cụ thể như sau:

Phí dịch vụ

Kê khai phí dịch vụ cũng là một trong các thủ thuật mà các doanh nghiệp áp

dụng để báo cáo giảm lợi nhuận, từ đó giảm thuế thu nhập phải đóng cho nhà nước.

Các nhà đầu tư có thể cung cấp một số dịch vụ cho công ty con của họ tại Việt Nam

như phí tư vấn kỹ thuật, phí tư vấn quản lý và có sự thỏa thuận trả phí dịch vụ giữa

các bên. Hợp đồng dịch vụ nói chung không phải thực hiện thủ tục đăng ký hoặc

trình nộp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam dẫn đến khó khăn về

công tác kiểm soát của nhà nước đối với các loại phí này.

Chuyển giá

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam đang phải đối diện với hoạt động

chuyển giá diễn ra ngày càng phức tạp, gây ra những tác động nhất định đối với nền

kinh tế nói chung cũng như với các nhà quản lý. Chuyển giá là việc thực hiện chính

60

sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên

trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số

thuế của các tập đoàn hay của nhóm liên kết. Phương pháp này hợp pháp chỉ khi giá

chuyển nhượng là hợp lý và chính đáng. Vụ việc điển hình trong các năm qua là:

Các vụ việc về chuyển giá điển hình trong những năm qua

(Nguồn bài viết “Chống chuyển giá của các công ty xuyên quốc gia- giải pháp

đối với Việt Nam, đăng trên Tạp chí tài chính TS. Phạm Thị Tường Vân ngày

24/06/2019)

Vụ việc số 1:

Adidas AG là Công ty đa quốc gia được thành lập vào năm 1948 tại Đức, hoạt

động trong lĩnh vực thiết kế và sản xuất dụng cụ thể thao. Các sản phẩm của Adidas

đến Việt Nam từ năm 1993 và đến năm 2009, Adidas thành lập thêm một công ty

con ở Việt Nam. Từ cuối năm 2012, Adidas Việt Nam hoạt động theo giấy phép

đăng ký kinh doanh là quyền phân phối bán buôn, nhưng danh mục chi phí của DN

này lại xuất hiện nhiều chi phí của một DN bán lẻ như: chi phí hỗ trợ vật dụng cho

nhà bán lẻ, tiền tiếp thị quốc tế, phí quản lý vùng, tiền hoa hồng mua hàng và đặc

biệt, Adidas Việt Nam không phải là nhà sản xuất, nhưng phát sinh khoản tiền bản

quyền. Thực tế, Adidas Việt Nam thanh toán cho Công ty Adidas AG phí bản quyền

6%, chi phí tiếp thị quốc tế 4% doanh thu ròng đối với các sản phẩm được tiêu thụ

và cả giá trị sản phẩm được cấp phép. Ngoài ra, Adidas Việt Nam cũng phải trả chi

phí hoa hồng mua hàng cho Addias International Trading B.V, với tỷ lệ 8,25% giá

trị mỗi giao dịch.

Bên cạnh đó, theo hợp đồng dịch vụ Đông Nam Á giữa Adidas Singapore và

Adidas Việt Nam, Adidas Singapore và các công ty con địa phương, trong đó có

Adidas Việt Nam cung cấp một dịch vụ và thỏa thuận việc thu các khoản phí liên

quan. Với việc phát sinh quá nhiều chi phí trung gian đầu vào đã khiến cho giá

thành nhập khẩu các sản phẩm Adidas tại thị trường Việt Nam bị đội giá lớn, làm

cho Adidas Việt Nam luôn rơi vào tình trạng thua lỗ và không phải nộp thuế thu

nhập doanh nghiệp.

61

Vụ việc số 2:

Công ty 3A Nutrition khi mới thành lập vào năm 2010, dù không phải nộp thuế

vì chưa có doanh thu, nhưng sang năm 2011, doanh thu của 3A Nutrition đạt 1.200

tỷ đồng mà chỉ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hơn 2 tỷ đồng. Nguyên nhân, doanh

nghiệp này khai tỷ suất lợi nhuận chỉ có 1,3% nên tỷ suất nộp thuế trên thu nhập chỉ

0,2%. Năm 2012 - 2013, doanh số tăng lên gần 7.000 tỷ đồng/năm, với tỷ suất lợi

nhuận chỉ 3,8% thì số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cũng chỉ có 46 - 48 tỷ

đồng (với tỷ suất thuế trên doanh thu chỉ hơn 0,6%).

Kể từ năm 2014 đến nay, Công ty 3A Nutrition liên tục báo cáo thuế lỗ nên

không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, dù doanh số liên tục tăng, có năm đạt

gần 10.000 tỷ đồng. Tính ra từ khi thành lập tại Việt Nam đến nay, 3A Nutrition chỉ

có 3 năm có lãi với tỷ suất lợi nhuận cao nhất cũng chỉ 3,8%, sau đó doanh nghiệp

chuyển sang khai lỗ và số lỗ có tỷ suất âm đến gần 5%. Trong khi lượng hàng hóa

nhập khẩu vẫn không giảm, thị trường được mở rộng, hiện 3A Nutrition đã “mở

rộng” hệ thống phân phối thông qua việc thành lập nhiều chi nhánh ở các tỉnh,

thành như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Đồng Nai… nhưng vẫn thông

báo lỗ

2.2.4. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo lãnh của Chính phủ đối với một

số dự án quan trọng

Một trong những biện pháp bảo đảm và thu hút đầu tư là bảo lãnh của Chính

phủ đối với một số dự án quan trọng. Ngày 26/06/2018, Chính phủ ban hành Nghị

định số 91/2018/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ, trong đó quy định

rõ các điều kiện cấp bảo lãnh chính phủ đối với doanh nghiệp thực hiện dự án.

Trước đó, năm 2015, Quyết định 34/2015/QĐ-TTg ban hành danh mục các

chương trình, dự án ưu tiên được xem xét cấp bảo lãnh chính phủ, với danh mục cụ

thể như sau:

62

Bảng 2.2: Các chương trình, dự án được ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh C. phủ

(Nguồn: Danh mục này được ban hành kèm theo Quyết định số 34/2015/QĐ-

TTg ngày 14 tháng 8 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ)

STT CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN

1 Dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai

thác, chế biến khoáng sản hoặc sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuất

khẩu phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đáp

ứng các tiêu chí:

a) Là dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu

tư theo Luật Đầu tư công; và

b) Thuộc lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư theo Luật

Đầu tư.

2 Chương trình, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai thác và chế biến

khoáng sản thuộc nhóm A theo Luật Đầu tư công:

a) Đầu tư hạ tầng điện lực, đầu tư xây dựng mới nhà máy điện, phân phối

điện, truyền tải điện;

b) Đầu tư nhà máy lọc dầu.

3 Chương trình, dự án thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích đầu tư

gồm:

a) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông (đường cao tốc) có tổng

vốn đầu tư từ 10.000 tỷ đồng trở lên;

b) Phát triển vận tải công cộng: Đầu tư mua máy bay theo chương trình

được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

4 Các dự án đặc biệt do Chính phủ quyết định.

63

Theo báo cáo tổng hợp tình hình bảo lãnh chính phủ năm 2018 được Bộ Tài

chính gửi Thủ tướng chính phủ: Lũy kế đến hết năm 2018, tổng giá trị các khoản

vay được Chính phủ bảo lãnh lên tới 27,7 tỉ USD, trong đó 23,6 tỉ USD vốn vay

nước ngoài; 4,1 tỉ USD vốn vay trong nước. Nhiều dự án được Chính phủ bảo lãnh

do khó khăn về tài chính đã không có khả năng trả nợ, đang phải thanh lý tài sản để

thu hồi vốn hoặc phải tái cơ cấu do nợ quá hạn cao, hoặc Chính phủ phải dùng

nguồn tiền từ Quỹ Tích lũy trả nợ quốc gia trả nợ thay. Các dự án được Chính phủ

bảo lãnh hoạt động không mấy hiệu quả, có những tình trạng vi phạm nghĩa vụ trả

nợdiễn ra làm ảnh hưởng không nhỏ tới nợ công trong nước. Vậy để biện pháp bảo

lãnh Chính phủ được hoạt động hiệu quả thì chính phủ có cần thay đổi cơ chế giám

sát và quản lý chặt chẽ hơn không?

2.2.5. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư

khi có thay đổi về chính sách pháp luật

Sự thay đổi liên lục về mặt chính sách pháp luật là điều mà doanh nghiệp e ngại

nhất hiện nay, không chỉ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mà cả với doanh nghiệp

trong nước.

Nhà đầu tư khi đưa ra quyết định đầu tư, họ sẽ xây dựng một kế hoạch kinh

doanh dài hạn từ 5 đến 10 năm để ước tính lợi nhuận đầu tư thu được. Những thay

đổi về pháp luật, chẳng hạn như thuế sẽ làm thay đổi toàn bộ kế hoạch kinh doanh

ban đầu, do chi phí tăng cao, giảm doanh thu và do đó, giảm tỷ suất lợi nhuận hoặc

kéo dài thời gian thu hồi vốn đầu tư.

Thực trạng tại Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều sự thay đổi về pháp

luật, ngoài những quy định mang tính tích cực, thì có những quy định bất hợp lý.

Chẳng hạn Nghị định 54 hướng dẫn thi hành Luật Dược ban hành ngày 08/05/2017

quy định các doanh nghiệp FDI nhập khẩu thuốc không được thực hiện các hoạt

động liên quan trực tiếp đến phân phối thuốc, nguyên liệu làm thuốc… bao gồm vận

chuyển, nhận bảo quản thuốc. Theo hướng dẫn này thì việc vận chuyển, nhận bảo

quản thuốc bị coi như phân phối thuốc. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đầu

tư thành lập cơ sở bảo quản thuốc, trong khi đây là lĩnh vực được phép theo Luật

Dược và cam kết WTO. Một số hệ quả tiêu cực dễ thấy là các doanh nghiệp FDI

64

đang cung cấp dịch vụ bảo quản thuốc chuyên nghiệp sẽ phải ngừng hoạt động hoặc

thay đổi mô hình kinh doanh, gây tổn thất cho dự án đầu tư. Các doanh nghiệp nhập

khẩu thuốc sẽ phải đầu tư xây dựng hệ thống kho bảo quản mới và đầu tư nhân lực

để vận hành hệ thống kho đó

Quy định về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có sự thay đổi về chính sách

pháp luật trong Luật Đầu tư 2014 tại Điều 13. Tuy nhiên Điều luật mới quy định

trường hợp thay đổi chính sách pháp luật các nhà đầu tư chỉ được bảo đảm quyền

lợi về các ưu đãi đầu tư. Trong khi một dự án đầu tư chịu chi phối rất nhiều khía

cạnh pháp luật khác như thủ tục đăng ký kinh doanh, kinh doanh có điều kiện, thuế,

Việc thường xuyên thay đổi chính sách pháp lý sẽ khiến Việt Nam trở thành

điểm đến đầu tư rủi ro hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Thị trường đầu tư cạnh

tranh công bằng là động lực chính thúc đẩy gia tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và

tăng năng suất lao động. Vì vậy, tất cả các giải pháp cải cách chính sách pháp luật,

cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đều hướng đến phát triển các loại thị trường,

đảm bảo cạnh tranh công bằng và tăng mức độ cạnh tranh thị trường nhằm tăng hiệu

quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố và hiệu quả động năng, là động lực chủ yếu của tăng

trưởng kinh tế.

2.3. Thực trạng thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư tại Việt Nam

2.3.1. Về các quy định ưu đãi tài chính

Như đã phân tích tại phần trên, các ưu đãi về tài chính bao gồm ưu đãi về thuế

thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế chuyển lợi

nhuận ra nước ngoài hay các ưu đãi liên quan đến vấn đề chuyển lỗ kinh doanh,…

Thực tế trong thời gian qua, các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh

nghiệp của Việt Nam là rất hấp dẫn so với các nước trong khu vực. Nhờ có chính

sách thuế ưu đãi hấp dẫn cùng với giá lao động thấp, Việt Nam trong thời gian qua

đã thu hút được lượng lớn đầu tư. Đến tháng 6/2018, tổng vốn đăng ký đạt 331,2 tỷ

USD và vốn giải ngân lũy kế khoảng 180,7 tỷ USD. Khu vực đầu tư nước ngoài

đóng góp to lớn vào GDP, kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và góp phần

65

vào nguồn thu ngân sách. Bên cạnh đó đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế, thúc đẩy

hội nhập kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao năng lực quản lý

kinh tế, quản trị doanh nghiệp, hỗ trợ quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải

cách đổi mới hành chính, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Các dự án đầu tư nước ngoài có giá trị cao vào Việt Nam có thể kể đến:

Samsung (20 tỷ USD vào nhà máy sản xuất điện thoại, xuất khẩu trên 50 tỷ

USD/năm; sử dụng 130.000 lao động); Intel (1 tỷ USD vào nhà máy lắp rắp và thử

nghiệm chip siêu nhỏ, sử dụng 3.000 lao động); LG (4 tỷ), GE, Mitsubishi, Sanofi,

Panasonic…

Về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu, ngày 26/6/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký

Nghị định 57/2019/NĐ-CP ban hành Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của

Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình

Dương (CPTPP) giai đoạn từ 14/1/2019 đến hết ngày 31/12/2022. Như vậy, Việt

Nam sẽ thực hiện ưu đãi thuế xuất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt với 6 quốc gia, bao

gồm: Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada và Austraylia. Theo

Hiệp định CPTPP, Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi gồm 519 dòng thuế; các mặt hàng

không thuộc Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi này sẽ áp dụng thuế xuất khẩu ưu đãi 0%

khi xuất khẩu sang lãnh thổ các nước thành viên mà Hiệp định CPTPP đã có hiệu

lực. Để được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi, hàng hóa xuất khẩu phải có

chứng từ vận tải và tờ khai nhập khẩu thể hiện đích đến thuộc lãnh thổ các nước

thành viên mà Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực

Trước khi ban hành Nghị định 57, pháp luật Việt Nam đã có những quy định ưu

đãi thuế suất và thời gian miễn thuế, giảm thuế như:

- Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối với các khoản thu

nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt

khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao, kể cả khu công nghệ thông tin tập trung

được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

66

- Thuế suất 15% đối với thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi,

chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản ở địa bàn không thuộc địa bàn có

điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc

biệt khó khăn.

- Thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm áp dụng đối với: Thu nhập

của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã

hội khó khăn; Phát triển ngành nghề truyền thống (bao gồm xây dựng và phát triển

các ngành nghề truyền thống về sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản

thực phẩm, các sản phẩm văn hóa). Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới vào

các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế quy định tại khoản này kể từ ngày 01/01/2016 áp

dụng thuế suất 17%.

- Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo đối

với trường hợp áp dụng thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại một số địa bàn

theo quy định; thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh

vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc

biệt khó khăn.

- Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 05 năm tiếp theo đối

với thu nhập của dpanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội

hóa thực hiện tại địa bàn không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã

hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.

- Miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối

với: Thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn hoặc lĩnh vực theo quy

định; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp

(trừ khu công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện thuận lợi).

Các ưu đãi thuế về mặt tích cực giúp thu hút đầu tư, đồng thời cũng có mặt tiêu

cực khi các nhà đầu tư lợi dụng ưu đãi để thực hiện các thủ thuật như chuyển giá

dẫn đến tình trạng số lượng doanh nghiệp báo lỗ hàng năm tăng trong khi tốc độ

tăng quy mô và hoạt động của các doanh nghiệp báo lỗ, lỗ luỹ kế cao hơn.Mức tăng

số lượng doanh nghiệp báo lỗ cho thấy tình trạng chuyển giá của khu vực doanh

67

nghiệp đầu tư ngày càng gia tăng, phức tạp. Ngoài hiện tượng chuyển giá từ Việt

Nam ra nước ngoài, còn hiện tượng chuyển giá, chuyển lợi nhuận ngược từ nước

ngoài vào Việt Nam của một bộ phận doanh nghiệp được hưởng ưu đãi lớn về thời

gian và thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp.

2.3.2. Về các quy định ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt

biển

Ưu đãi về chính sách sử dụng mặt đất, mặt nước, mặt biển là một trong những

biện pháp ưu đãi được chính phủ định hướng trong chính sách để thu hút đầu tư. Từ

năm 2005 đến nay, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ như

giảm 50% tiền thuê đất trong giai đoạn từ 2011 – 2014, điều chỉnh giảm mức tỷ lệ

% tính đơn giá thuê đất chung từ 1,5% xuống 1% và ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy

định cụ thể mức trong khung từ 0,5% đến 3% để áp dụng thu tiền thuê đất tại địa

phương… Thực hiện Luật Đất đai 2013, Chính phủ đã ban hành các Nghị định về

thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước với những quy định nhằm hỗ trợ

doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh như: miễn tiền thuê đất, thuê mặt

nước đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư; ưu đãi trong

lĩnh vực xã hội hóa; ưu đãi khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; mở

rộng phạm vi áp dụng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất và đối tượng áp dụng

để xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất cho doanh nghiệp đã cải cách thủ tục

hành chính, rút ngắn thời gian xác định, thông báo nộp tiền thuê đất vào ngân sách

và hỗ trợ một phần cho doanh nghiệp…

Đồng thời, để thu hút đầu tư, sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai tại các khu

kinh tế, khu công nghệ cao, Chính phủ đã ban hành Nghị định 35 năm 2017 quy

định thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong khu kinh tế, khu

công nghiệp cao với những ưu đãi cao hơn mức ưu đãi của các dự án đầu tư thông

thường.

Các chính sách ưu đãi về đất đai, mặt nước, mặt biển nhìn chung đã đem lại

những hiệu quả nhất định thu hút đầu tư, đặc biệt là vùng khó khăn, góp phần thực

hiện chính sách của Nhà nước đối với các lĩnh vực cần khuyến khích. Tuy nhiên,

các chính sách ưu đãi thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế như diện ưu đãi còn

68

rộng, dàn trải, chồng chéo, làm suy giảm nguồn thu ngân sách, vốn đang rất thiếu

cho đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, một số lĩnh vực, địa bàn cũng chưa đạt được các

mục tiêu thu hút đầu tư như định hướng.

2.3.3 Về các quy định biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính

Trong những năm qua, chính phủ Việt Nam xác định cải cách thủ tục hành

chính về đầu tư là nhiệm vụ trọng tâm và phải được thực hiện thường xuyên liên tục

từ khâu xây dựng đến tổ chức thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho các nhà

đầu tư.

Năm 2017, Bộ kế hoạch và đầu tư đã ban hành Thông tư 02/2017/TT-BKHĐT

hướng dẫn về cơ chế phối hợp giải quyết các thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký

doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Thông tư hướng dẫn trình tự thực

hiện cơ chế liên thông giải quyết hồ sơ đăng ký đầu tư, đăng ký doanh nghiệp của

nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp.

Theo quy định tại Điều 26 của Luật Đầu tư năm 2014 thì nhà đầu tư phải thực

hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế nếu

thuộc các trường hợp sau đây:

- Nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt

động trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với

nhà đầu tư nước ngoài.

Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp sẽ dẫn đến nhà đầu tư, tổ chức -

kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ

chức kinh tế nhận vốn góp.

- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ, Sở Kế

hoạch và Đầu tư sẽ có văn bản thông báo chấp thuận việc góp vốn, mua cổ

phần, phần vốn góp của nhà đầu tư đó.

Sau khi đã có văn bản chấp thuận, nhà đầu tư mới có thể thực hiện việc góp vốn,

mua cổ phần, phần vốn góp; Đồng thời, doanh nghiệp nhận vốn góp mới có thể

hoàn thành hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, như: đăng ký

69

thay đổi vốn điều lệ, đăng ký thay đổi thông tin cổ đông sáng lập; đăng ký thay đổi

thành viên công ty,…

Như vậy, để chính thức trở thành thành viên mới của công ty, nhà đầu tư phải

nộp hồ sơ đăng ký góp vốn; Sau khi nhận được văn bản chấp thuận thì cung cấp cho

công ty nhận vốn góp để công ty hoàn tất hồ sơ đăng ký thay đổi thành viên. Như

vậy là có thể mất 18 ngày để hoàn thành các thủ tục – khá mất thời gian.

Nay, theo cơ chế liên thông này, nhà đầu tư hoặc công ty nhận vốn góp có thể

nộp chung hồ sơ đăng ký góp vốn và đăng ký thay đổi thành viên tại bộ phận giải

quyết hồ sơ đăng ký đầu tư thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Ngoài các cải cách về thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với

các nhà đầu tư nước ngoài, thủ tục cấp phép đầu tư cho các dự án đầu tư cũng từng

bước thực hiện rút ngắn thời gian.Các địa phương đều đưa ra những ưu đãi riêng,

theo đó thời gian cấp phép đầu tư ngày càng rút ngắn. Điển hình như ở Hải Phòng

cấp phép đầu tư trong vòng 3 giờ; Quảng Nam cấp phép trong vòng 24 giờ;…

2.4. Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm và

khuyến khích đầu tư

2.4.1. Ưu điểm

Nhận thấy vai trò của đầu tư trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đã chủ

trương xây dựng, hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích

đầu tư, đảm bảo minh bạch trong quy định và áp dụng, công bằng giữa các nhà

đầu tư, giảm thiểu chi phí, góp phần tạomột môi trường đầu tư

bình ổn, an toàn để khuyến khích các nhà đầu tư.

Nhìn một cách tổng quát, các quy định Việt Nam về đầu tư và khuyến khích đầu

tư hiện nay khá đầy đủ. Ngay từ khi mới bắt đầu chính sách đổi mới, Luật Đầu tư

nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã có những quy định về ưu đãi đầu tư, tập

trung chủ yếu vào biện pháp giảm thuế lợi tức. Luật Đầu tư nước ngoài 1996 cũng

có các biện pháp ưu đãi đầu tư gồm cả thuế nhập khẩu và thuế lợi tức. Đối với các

nhà đầu tư trong nước, phải đến năm 1994 mới có Luật Khuyến khích đầu tư trong

nước, sau được thay thế bằng Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998. Năm

70

2005, Luật đầu tư mới được ban hành có sự tương thích với các quy định của

WTO, chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam đã có sự thống nhất, không còn phân

biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Nhiều tiêu chí để xác định

đối tượng được ưu đãi thuế cũng được điều chỉnh, bãi bỏ như không còn ưu đãi thuế

đối với hàng xuất khẩu (trợ cấp xuất khẩu) hoặc với hàng hoá có tỷ lệ nội địa hoá

cao. Về hình thức ưu đãi, theo Luật Đầu tư 2005 ngoài các hình thức ưu đãi quen

thuộc như thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, thuế xuất nhập khẩu, bắt đầu

xuất hiện thêm nhiều hình thức ưu đãi khác như: ưu đãi thuế thu nhập cá nhân cho

người lao động, hỗ trợ chi phí thủ tục hành chính, chi phí đầu tư hạ tầng, hỗ trợ lãi

suất, trợ giá, bao tiêu sản phẩm đối với một số ngành rất khó thu hút đầu tư như

năng lượng sạch, hoá dầu. Mặc dù có nhiều cải cách tiến bộ, nhưng Luật Đầu tư

2005 vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi tình hình

phát triển kinh tế đã có nhiều biến động.

Để giải quyết những hạn chế của Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư 2014 được ban

hành đã tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch để bảo đảm thực hiện quyền tự do đầu tư

kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà luật không cấm thông qua các

quy định về ngành, nghề cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện. Luật cũng

sửa đổi một số điều kiện đầu tư kinh doanh theo hướng giảm thiểu hình thức cấp

phép, xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển

sang áp dụng hình thức ban hành quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để nhà đầu tư tự

đăng ký thực hiện và cơ quan quản lý tiến hành hậu kiểm. Luật Đầu tư 2014 cải

cách mạnh mẽ thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, đơn giản và bảo đảm hiệu

quả quản lý nhà nước về đầu tư với những nội dung sửa đổi, bổ sung, gồm:

Thứ nhất, bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư

trong nước.

Thứ hai, Luật đã đơn giản hóa hồ sơ, trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian thực

hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài với

thời hạn tối đa 15 ngày thay cho 45 ngày như trước đây; Dự án đầu tư thuộc diện

quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân

cấp tỉnh: 5 ngày làm việc. Đối với trường hợp điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký

71

đầu tư là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, trường hợp từ chối thì phải

thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.

Thứ ba, Luật đưa ra quy định thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài

theo hướng bãi bỏ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là giấy chứng

nhận đăng ký kinh doanh) để tách bạch đầu tư theo dự án với đăng ký kinh doanh.

Theo quy định này, sau khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư,

nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh

doanh như nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư chỉ cần hoạt động theo giấy chứng

nhận đăng ký kinh doanh là được và đủ.

Thứ tư, thu hẹp phạm vi áp dụng cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với

nhà đầu tư nước ngoài. Theo Luật Đầu tư 2005, tất cả các dự án có vốn nước ngoài

không xác định tỷ lệ của nhà đầu tư nước của doanh nghiệp vẫn phải cấp Giấy

chứng nhận đầu tư. Nay theo Luật Đầu tư 2014 quy định đối với các dự án nhà đầu

tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp vốn 51% vốn điều

lệ mới phải xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước

ngoài. Đây thực sự là một bước mở nhằm góp phần thu hút, khuyến khích đầu tư

đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.

Bên cạnh những mặt tích cực của các quy định cải cách thủ tục hành chính, Luật

Đầu tư 2014 còn có nhiều ưu điểm như Luật đã xóa bỏ phân biệt đối xử đối với nhà

đầu tư nước ngoài, tạo mặt bằng pháp lý bình đẳng về quyền thành lập doanh

nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh

tế. Theo đó, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm vi hoạt động theo quy

định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài được quyền thành

lập tất cả các loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật doanh nghiệp, được góp vốn,

mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ sở hữu không hạn chế và thực

hiện hoạt động đầu tư theo quy định áp dụng thống nhất đối với nhà đầu tư trong

nước. Luật liệt kê cụ thể các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Quy định

này giúp nhà đầu tư tìm hiểu luôn được các ngành nghề kinh doanh có điều kiện

thay vì trước đây phải tìm hiểu qua các văn bản chuyên ngành. Quy định này cũng

tránh được cách hiểu khác nhau của người thi hành, áp dụng luật. Trước đây theo

72

Luật Đầu tư 2005, lĩnh vực cấm đầu tư mang tính chất chung chung, không rõ ràng

như: phương hại đến quốc phòng, an ninh, quốc gia… nhưng theo Luật Đầu tư 2014

chỉ cấm hoạt động đầu tư kinh doanh được liệt kê tại Luật. Đây là quy định tiến bộ,

khẳng định “Nhà đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong

những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

Một khía cạnh của các biện pháp khuyến khích đầu tư đó là hỗ trợ đầu tư. Hiện

nay, Luật Đầu tư 2014 với tư cách là nguồn luật chung điều chỉnh lĩnh vực đầu tư,

đã đưa ra những quy định về hỗ trợ đầu tư rất đơn giản và ngắn gọn trong 3 Điều

luật là Điều 19, Điều 20 và Điều 21. pháp luật hỗ trợ đầu tư tại Việt Nam là tập hợp

các quy định xác định các hình thức hỗ trợ đầu tư trong Luật Đầu tư 2014 và các

quy định về cách thức thực hiện các hỗ trợ đầu tư trong các văn bản pháp luật

chuyên ngành như: Luật Khoa học và Công nghệ 2013, Luật Công nghệ cao 2008,

Luật Chuyển giao công nghệ 2006; Luật Giáo dục 2005, Luật Giáo dục đại học

2012 và Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014; Luật Đất đai; Luật Hỗ trợ doanh nghiệp

nhỏ và vừa 2017 và các văn bản dưới luật khác,…

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, các hình thức hỗ trợ đầu tư hiện

nay đa dạng và có tính thu hút, khuyến khích đầu tư, với những quy định cụ thể như

sau:

- Hỗ trợ xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được quy

định trong Luật Đầu tư 2014, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày

12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật

Đầu tư và Luật Công nghệ cao 2008;

- Hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đã được thực hiện gắn liền với

chính sách phát triển giáo dục ( Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014);

- Hỗ trợ tín dụng giúp đỡ giải quyết khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp

đầu tư (Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017);

- Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh (Luật Đất đai 2013);

- Hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ được Nhà nước thực hiện

thông qua các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ để cung cấp dịch vụ

73

khoa học và công nghệ, việc thành lập và tổ chức quản lý các tổ chức này

được điều chỉnh bởi Luật Khoa học và Công nghệ 2013;…

Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn có quy định bảo đảm cơ chế giải quyết tranh

chấp, đảm bảo trong trường hợp xảy ra tranh chấp mà các bên không thể giải quyết

được thông qua con đường thỏa thuận, hòa giải thì một trong hai bên, đặc biệt là

nhà Đầu tư nước ngoài được chọn một cơ quan phán quyết để giải quyết tranh chấp

sao cho họ có lợi nhất phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế. Mặc dù tranh

chấp là điều không nhà đầu tư nào mong muốn, nhưng thực tế hoạt động đầu tư vô

cùng đa dạng, phức tạp và tranh chấp xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Việc quy

định cơ chế để giải quyết các tranh chấp phát sinh về đầu tư phần nào trấn an tâm lý

các nhà đầu tư, khiến họ cảm thấy yên tâm hơn khi tiến hành hoạt động đầu tư của

mình.

Như vậy, có thể nói, Chính phủ Việt Nam đã có sự quan tâm hàng đầu đến bảo

đảm và khuyến khích đầu tư, thể hiện trong việc điều chỉnh những quy định pháp

luật liên quan đến đầu tư kinh doanh từ đó tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn,

giảm bớt rào cản về thủ tục hành chính, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho

các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các quy định pháp luật đang ngày được hoàn

thiện, không chỉ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong nước mà còn phù hợp

với các Hiệp ước, Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.

2.4.2. Nhược điểm

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được của pháp luật Việt Nam về bảo đảm và

khuyến khích đầu tư thì còn tồn tại một số nhược điểm như:

Thứ nhất, pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư còn thiếu sự thống nhất

và chồng chéo giữa các văn bản (VD: Luật Đầu tư và Luật các tổ chức tín dụng như

thực trạng phân tích trong Chương 2), có sự khác biệt rõ nét giữa quy định trong

Luật đầu tư và các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tạo lỗ hổng trong việc chuyển

lợi nhuận ra nước ngoài khi các nhà đầu tư lợi dụng ưu đãi làm phản tác dụng của

các quy định pháp luật.

74

Thứ hai, các quy định pháp luật còn quy định nửa vời, chưa lường trước hết các

sự kiện có thể phát sinh trong thực tế, quy định pháp luật chưa kịp thời điều chỉnh

nhiều vấn đề bức xúc trong thực tiễn đầu tư tại Việt Nam, chẳng hạn quy định về

bảo đảm trong trường hợp thay đổi pháp luật.

Thứ ba, chưa có các chế tài đi kèm trường hợp các nhà đầu tư lợi dụng các biện

pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, an ninh,

xã hội.

Thứ tư, thủ tục hành chính về đầu tư còn rườm rà. Mặc dù pháp luật đã có quy

định rút gọn thủ tục hành chính nhưng thực tế các thủ tục này vẫn là mối e ngại của

các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào Việt Nam. Thủ tục phải qua nhiều cửa mà

mỗi cửa lại yêu cầu nhiều giấy phép con mà trong luật và các văn bản hướng dẫn

không đề cập tới.Thêm vào đó là thời gian để chờ các thủ tục này rất dài theo luật

định nhưng trên thực tế khoảng thời gian này còn dài hơn thế. Thủ tục đầu tư là cần

thiết để nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình nhưng phải đảm bảo đơn giản,

thuận lợi cho các nhà đầu tư. Cơ chế một cửa cũng như các thủ tục đăng ký online

đã được thực hiện nhưng chưa hiệu quả. Vì vậy, việc tiếp tục cải thiện các thủ tục

hành chính về đầu tư luôn luôn là yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay.

Thứ năm, một số chính sách ưu đãi được ban hành nhưng không có quy định

hoặc quy định không minh bạch về điều kiện và thủ tục để được hưởng ưu đãi. Điều

này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn vướng mắc trong việc xin xác

nhận đối tượng được hưởng ưu đãi. Thậm chí, có trường hợp chính sách trao quyền

tuỳ nghi quá lớn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, tạo cơ hội cho

tham nhũng tiêu cực, doanh nghiệp phải chung chi để được xác nhận đủ điều kiện

được ưu đãi. Kết quả là chính sách ưu đãi không phát huy được tác dụng, làm nản

lòng những doanh nghiệp muốn đầu tư vào những lĩnh vực được khuyến khích.

Thứ sáu, pháp luật tách biệt giữa xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư với việc xây

dựng kế hoạch ngân sách. Nhiều biện pháp ưu đãi hỗ trợ đầu tư dàn trải, lãng phí,

gây xói mòn cơ sở thu ngân sách, dẫn đến việc Nhà nước buộc phải tăng thu từ

những nguồn khác, gây phản ứng trong xã hội.

75

Thứ bảy, pháp luật chưa có cơ chế kiểm soát để hạn chế các doanh nghiệp đầu

tư có lỗ lũy kế, lỗ mất vốn nhưng vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh, các

doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá. Các quy định hiện hành quy định ưu đãi về

thuế thu nhập doanh nghiệp theo dự án mà không theo tư cách pháp nhân. Có những

dự án được ưu đãi, công ty mẹ được ưu đãi nên cùng trong một công ty mẹ nhưng các

chi nhánh, công ty con lại được hưởng chế độ thuế ưu đãi khác nhau. Do đó, các

doanh nghiệp sẽ chuyển giá.

Thứ tám, một số quy định trong Luật Đầu tư 2014 chưa thực sự phù hợp, còn

chồng chéo gây khó khăn cho các chủ thể thi hành và áp dụng. Chẳng hạn Nhà đầu tư

nước ngoài theo quy định tại Luật đầu tư 2014 được xác định theo tiêu chí quốc tịch:

“Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo

pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”(Khoản 14

Điều 3 Luật đầu tư 2014). Tuy nhiên một số quy định tại Luật đầu tư 2014 thì việc xác

định tư cách của nhà đầu tư nước ngoài lại dựa theo vốn, tức là, chỉ cần doanh nghiệp

tại Việt Nam có vốn đầu tư từ nước ngoài thì doanh nghiệp đó cũng bị xem là nhà đầu

tư nước ngoài.

Ví dụ: Tại Việt Nam, Doanh nghiệp X có 51% vốn đầu tư nước ngoài thành lập

doanh nghiệp mới Y. Theo quy định tại Điều 23 Luật đầu tư 2014 thì Doanh nghiệp Y

cũng vẫn phải áp dụng các điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù xét

về mặt quốc tịch pháp nhân thì Doanh nghiệp X và Y là pháp nhân Việt Nam và theo

quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2014 thì rõ ràng Doanh nghiệp X và Y

không phải là nhà đầu tư nước ngoài. Nếu vốn nước ngoài trong doanh nghiệp X là

52% và doanh nghiệp X nắm 52% vốn điều lệ của doanh nghiệp Y, như vậy, tỷ lệ vốn

nước ngoài trong doanh nghiệp Y chỉ là 27,04% (52% x 52%). Như vậy, chỉ với

27,04% vốn nước ngoài mà doanh nghiệp Y vẫn phải tuân theo các điều kiện đầu tư

và thủ tục đầu tư như quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài là khó thuyết phục, có

gây khó khăn, e ngại cho chính các nhà đầu tư nước ngoài.

Những nhược điểm nêu trên của pháp luật là do các nguyên nhân chủ yếu như sau:

Chúng ta chưa có chiến lược soạn thảo và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và

khuyến khích đầu tư. Thực tế thời gian qua, pháp luật điều chỉnh không đồng bộ, các

76

quy định được sửa đổi bổ sung chỉ giải quyết vấn đề mang tính tình thế. Chính vì vậy

mới có trường hợp pháp luật càng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, càng chi tiết thì

càng khó thi hành do mâu thuẫn giữa các luật mới sửa đổi bổ sung với luật chuyên

ngành khác.

Công tác xây dựng pháp luật chưa thống nhất giữa các cơ quan với nhau. Luật liên

quan đến ngành nào thì ngành đó lập dự án, nhiều trường hợp dự án đó có lợi cho một

ngành nhất định mà lại đi ngược với quy định của các ngành khác.

Hội nhập quốc tế là tất yếu, tuy nhiên việc nghiên cứu các quy định về đầu tư của

các nước trong khu vực và trên thế giới của cơ quan lập pháp Việt Nam còn chậm trễ,

chưa mang tính hệ thống và bị chắp vá nên dẫn đến nhiều quy định Việt Nam trái với

quy định quốc tế.

77

CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ

KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT NAM

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và định hướng hoàn thiện

pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư

Trong giai đoạn tới, tình hình đất nước và bối cảnh phát triển quốc tế đòi hỏi Việt

Nam phải tiếp tục công việc đổi mới, phát huy sức mạnh dân tộc để đưa đất nước tiến

nhanh và vững chắc.

Nước ta với thuận lợi lớn nhất là tình hình trong nước chính trị xã hội ổn định, là

nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế. Hệ thống pháp luật và chính sách đã và đang

được Đảng và nhà nước quan tâm, chỉ đạo xây dựng và điều chỉnh sao cho phù hợp

với thực tiễn. Cùng với đó, quan hệ về chính trị, ngoại giao của nước ta cũng ngày mở

rộng trên thị trường quốc tế.

Khó khăn lớn nhất còn tồn tại là trình độ phát triển kinh tế còn thấp, quy mô sản

xuất nhỏ, thu nhập dân cư thấp, hệ thống tài chính tiền tệ chưa thật sự vững chắc, cơ

cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

Nhìn chung trình độ công nghệ của Việt Nam còn khá lạc hậu so với các nước trong

khu vực. Xu hướng toàn cầu hóa là một cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn

đối với đất nước ta. Chúng ta cần tận dụng tối đa những thuận lợi và cơ hội, né tránh

và hạn chế những rủi ro tiêu cực.

Thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích

mạnh mẽ để thu hút các nhà đầu tư vào các ngành nghề như công nghiệp sản xuất

hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, viễn thông, công nghệ thông tin,…Việc ban

hành các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư đã thu hút được lượng lớn đầu tư

vào Việt Nam kể cả vốn lẫn các dự án đầu tư. Xuất phát từ ý nghĩa về tầm quan trọng

của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư mà các biện pháp này có sức ảnh

hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động đầu tư cả về số lượng và chất lượng của nước ta.

Thực tiễn cho thấy các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư này đã làm tăng

tính hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư, đồng thời tạo được sự hấp dẫn cho môi trường

78

đầu tư tại Việt Nam và rất phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra

mạnh mẽ.

Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư góp phần không nhỏ tạo ra môi

trường đầu tư bình ổn thu hút đầu tư tăng cao. Xu hướng quốc tế hóa về đầu tư đã tạo

ra những luồng đầu tư không chỉ giới hạn trong khuôn khổ biên giới một quốc gia mà

các nhà đầu tư đã thực hiện những dự án đầu tư ở nhiều quốc gia khác nhau. Do có sự

ổn định trong quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư; các nhà đầu tư có thể yên

tâm đầu tư trong môi trường đầu tư không bị xáo trộn đến các vấn đề cơ bản liên quan

đến những lợi ích trực tiếp của các nhà đầu tư. Sự thay đổi một cách linh hoạt và đúng

đắn của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư sẽ đồng nghĩa với việc cải tạo

môi trường đầu tư một cách tích cực; thông thoáng và hấp dẫn để đẩy nhanh tốc độ thu

hút nguồn lực từ bên ngoài. Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư là cơ sở

pháp lý để bảo đảm cho nhà đầu tư có một môi trường đầu tư tốt.

Bên cạnh đó, các biện pháp đảm bảo và khuyến khích đầu tư còn định hướng đầu

tư vào các lĩnh vực tạo cơ sở cho phát triển toàn bộ nền kinh tế; định hướng đầu tư vào

phát triển các vùng dân tộc; miền núi; hải đảo; các vùng nông thôn và duyên hải gặp

khó khăn; để thực hiện cơ cấu vùng lãnh thổ; giảm dần sự chênh lệch sự phát triển

giữa thành thị và nông thôn; giữa các vùng, miền khác nhau của tổ quốc.

Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư được ban hành đã thể hiện thái độ

đầy thiện chí cũng như những nỗ lực của nhà nước trong việc mời gọi các nhà đầu tư

đầu tư vào và tìm kiếm lợi nhuận. Như đã phân tích ở trên, mặc dù pháp luật Việt

Nam đã có nhiều cải cách tiến bộ, pháp luật đã có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với

tình hình phát triển thực tế, song vẫn còn nhiều hạn chế gây khó khăn cho việc thi

hành áp dụng, là rào cản các nhà đầu tư khi muốn thực hiện hoạt động đâu tư tại Việt

Nam. Chính vì vậy, nhu cầu cấp thiết là hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến

khích đầu tư. Có thể hoàn thiện pháp luật theo các định hướng sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư nhằm bảo vệ

quyền lợi của các nhà đầu tư.

79

Để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, pháp luật cần hoàn thiện các quy định

giải quyết những khó khăn trong hoạt độngđầu tư của nhà đầu tư, đặc biệt là những

vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về điềukiện đầu tư và thủ tục đầu tư;

Việc hoàn thiện pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo

quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh được thực hiện một các tốt nhất như lựa chọn lĩnh

vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn, quy mô đầu tư,

đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án,…

Các nhà đầu tư được đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành, nghề; thành lập

doanh nghiệp theo quy định pháp luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư, kinh

doanh đã đăng ký.

Nâng cao hiệu quả và hiệu lực công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu

tư, đồngthời hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý đầu tư và các quy định về thủ tục

đầu tư theo nguyêntắc đơn giản hóa thủ tục, nhưng phải đảm bảo thực hiện có hiệu

quả công tác quản lý nhànước, tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát và phối hợp

giữa các cơ quan quản lý ở trungương và địa phương.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư nhằm phát triển

nền kinh tế.

Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư không chỉ bảo đảm

quyền lợi của các nhà đầu tư mà còn tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế quốc

gia. Đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng

của doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng của hoạt động đầu tư mà Chính phủ

muốn đạt được là sự tăng trưởng của nền kinh tế. Pháp luật quy định các biện pháp

bảo đảm và khuyến khích nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, lành mạnh, thu

hút nhiều nhà đầu tư, tuy nhiên pháp luật cũng cần quy định chế tài đối với các

trường hợp lợi dụng ưu đãi để trục lợi cá nhân, gây phương hại đến xã hội hay kinh

tế. Chẳng hạn trường hợp các doanh nghiệp áp dụng thủ thuật để giảm thuế thu

nhập doanh nghiệp, xét về doanh nghiệp được hưởng lợi khi lợi nhuận tăng, tuy

nhiên lại là lỗ hổng cho ngân sách nhà nước.

80

Thực hiện công cuộc đổi mới, những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn

bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật

khuyến khích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước...

tạo nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với

đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với

yêu cầu hội nhập; tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc

mọi thành phần kinh tế.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật bảo đảm và khuyến khích đầu tư phù hợp các quy

định quốc tế

Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện nhiều quy định luật pháp quốc tế,

với cấp độ và hình thức hội nhập khác nhau như tham gia các thỏa thuận thương

mại ưu đãi, các hiệp định thương mại tự do, tham gia các tổ chức như WTO,

ASEAN,,…

Định hướng trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ước

quốc tế trong các lĩnh vực đầu tư. Việc ký kết nhiều hiệp định song phương và đa

phương về thương mại, đầu tư, tránh đánh thuế hai lần, đặc biệt là việc gia nhập Tổ

chức Thương mại Thế giới đã tạo cơ sở pháp lý và tiền đề, điều kiện quan trọng về

thể chế để nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền

kinh tế quốc tế.

Đồng thời, đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn

bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà

Việt Nam là thành viên, đảm bảo tính quốc tế của sự phát triển kinh tế thị trường

của Việt Nam.

3.2. Giải pháp hoàn thiện và thực thi biện pháp bảo đảm và khuyến khích

đầu tư ở việt nam

3.2.1. Hoàn thiện các quy định về bảo đảm và khuyến khích đầu tư

Hiện nay, các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm và khuyến khíchđầu

tư tương đối đầy đủ và chi tiết, tuy nhiên trong thực tế vẫn còn những hạn chếnhất

định như đã phân tích trong phần trước. Một trong những hạn chế của pháp luật đó

81

là chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật, các quy định còn rườm rà,cũng có

quy định chung chung chưa điều chỉnh bao quát hết các trường hợp có thểphát sinh

trong thực tiễn. Chính vì vậy, tác giả xin đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện các

quy định pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư phải phù

hợp với Hiến pháp và thống nhất đồng bộ trong hệ thống pháp luật

Xây dựng pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư phải phù hợp với Hiến

pháp bởi vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc có tính chất nền tảng của chế

độ nhà nước, là cơ sở xác định toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam.

Pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ và có tác

động qua lại các các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật, do vậy cần được quy

địnhthống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tránh quy định

chồngchéo và quy định rải rác ở các văn bản khác nhau gây khó khăn cho các chủ

thể ápdụng.Đồng thời hoàn thiện một cách đồng bộ các đạo luật khác nhau, không

điều chỉnh chắp vá mang tính tình thế. Hoàn thành xây dựng các văn bản trực tiếp

điều chỉnh hoạt động đầu tư như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp,… và các lĩnh vực

pháp luật khác có liên quan đến đầu tư như: Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Bộ

Luật Dân sự,…Ngoài ra pháp luật cần xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành để

tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư hoàn chỉnh trong thời gian tới. Pháp luật

cần quy định rõ ràng, không quy định nửa vời như biện pháp bảo đảm trong trường

hợp thay đổi pháp luật,…

Thứ hai, pháp luật cần hoàn thiện một số quy định pháp luật cụ thể như sau:

Sửa đổi nhóm các quy định chung của Luật (về khái niệm nhà đầu tư nước

ngoài, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dự án đầu tư...) làm cơ sở cho việc

áp dụng thống nhất điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh, khắc phục tình trạng xung

đột giữa Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các Luật có liên quan.

Hoàn thiện các quy định về lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư nhằm nâng cao

hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài, ưu tiên thực hiện các dự án có công nghệ hiện

đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng

82

sản, đất đai ...; quy định thống nhất Danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư làm

cơ sở để áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, tiền thuê

đất, sử dụng đất ...

Sửa đổi quy định về thủ tục đầu tư theo hướng bãi bỏ quy định Giấy chứng nhận

đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoàn thiện các quy định

về thủ tục đăng ký, thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư nhằm làm rõ hồ sơ, quy

trình, thủ tục, thời hạn thực hiện..., đồng thời bổ sung tiêu chí thẩm tra dự án phù

hợp với quy hoạch và yêu cầu quản lý nhằm tránh tình trạng cấp phép tùy tiện, phá

vỡ quy hoạch.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư đảm bảo tính

kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia tiến bộ trên

thế giới.

Hoàn thiện pháp luật dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định đã

được thực tiễn kiểm nghiệm là hợp lý, đúng đắn và hiệu quả. Sự kế thừa không chỉ

được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu pháp luật về đầu tư thực định mà còn phải

nghiên cứu cả pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Ngoài ra, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư cần phải tiếp

thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới, đặc biệt là các

nước có chế độ chính trị, kinh tế xã hội có nét tương đồng với nước ta như Trung

Quốc và các nước ASEAN vì những vấn đề mà Việt Nam đang tiếp cận đã từng

được cộng đồng quốc tế nghiên cứu, giải quyết bằng pháp luật một cách thỏa đáng

và khoa học. Việc tiếp thu các quy định này một mặt giúp chúng ta không tốn thời

gian và công sức, mặt khác góp phần làm cho pháp luật Việt Nam trở nên tương

thích hơn với pháp luật của các nước trên thế giới.

Thứ tư, bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch và công khai các quy định pháp luật

về bảo đảm và khuyến khích đầu tư.

Pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư cần được quy định rõ ràng và

minh bạch. Bởi trong xu thế hội nhập quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ e ngại

hợp tác với quốc gia có hệ thống pháp luật mập mờ, không rành mạch. Vì vậy, pháp

83

luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư phải được quy định dễ hiểu, hiểu theo một

nghĩa thống nhất, hết sức rành mạch. Các quy định sau khi được ban hành cần được

công bố công khai rộng rãi và kịp thời cho mọi đối tượng là cá nhân, tổ chức đầu tư,

các cán bộ thi hành pháp luật để có thể kịp thời nắm bắt từ đó mới có quyết định

đầu tư và thực hiện chính xác triệt để các quy định của pháp luật.

Thứ năm, xây dựng chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo đảm và

khuyến khích đầu tư.

Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư giúp kích cầu hoạt động đầu tư,

thu hút các nhà đầu tư. Tuy nhiên mặt hạn chế của các biện pháp này khi nhà đầu tư

lợi dụng các ưu đãi, hỗ trợ để thực hiện các hành vi trục lợi. Vì vậy, bên cạnh xây

dựng những chính sách bảo đảm và khuyến khích đầu tư, pháp luật cần xây dựng

những chế tài đi kèm để tránh trường hợp các nhà đầu tư bất chấp vì lợi nhuận mà

tác động xấu đến môi trường và kinh tế - xã hội.

3.2.2. Tăng cường tính thực thi của pháp luật

Thực trạng thi hành pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư

được xem là chưa thực sự hiệu quả, các nhà đầu tư còn lo ngại về thủ tục hành

chính, pháp luật còn chưa thống nhất và thường xuyên thay đổi.

Bên cạnh việc điều chỉnh pháp luật phù hợp với tình hình phát triển kinh tế đất

nước và phù hợp với thông lệ quốc tế, vai trò quản lý của cơ quan nhà nước cũng rất

quan trọng.

Đối với các doanh nghiệp đầu tư trong một ngành, lĩnh vực thì các quy định

quản lý ngành sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hơn là các quy định về ưu đãi.

Do đó, để thu hút đầu tư vào một ngành, lĩnh vực thì trước tiên cần tạo thuận lợi cho

các nhà đầu tư thông qua việc dỡ bỏ rào cản gia nhập ngành, minh bạch hoá thông

tin chính sách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, cải thiện cơ sở hạ tầng trước khi

phải sử dụng đến biện pháp ưu đãi đầu tư. Ví dụ: khi Nhà nước muốn khuyến khích

các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển thì cần có kế

hoạch, chiến lược để bảo hộ sáng chế, đảm bảo thực thi các quy định quyền sở hữu

trí tuệ trước khi tính đến việc ưu đãi đầu tư.

84

Khi xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư thì cần phải đánh giá cả tác động tích

cực và tiêu cực, chú trọng sử dụng phương pháp định lượng. Trong thời gian qua,

có tình trạng các cơ quan đề xuất chính sách ưu đãi chỉ tập trung vào việc trình bày

những tác động tích cực của chính sách như giúp phát triển kinh tế địa phương,

hoặc tăng vốn đầu tư vào một ngành nghề cụ thể. Tuy nhiên, các tác động tiêu cực

về ngân sách, về giảm đầu tư ở nơi khác hoặc tác động tiêu cực về môi trường, cạnh

tranh thì thường không được đề cập trong quá trình xây dựng chính sách. Do đó,

cần tiến tới đặt ra nguyên tắc rằng nếu đề xuất chính sách ưu đãi đầu tư nào mà

không thể hiện đầy đủ và rõ nét các tác động tiêu cực thì phải được hạn chế trong

quá trình thẩm định, thẩm tra và thông qua.

Hiện nay có tình trạng tách biệt giữa xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư với việc

xây dựng kế hoạch ngân sách. Nhiều chính sách ưu đãi đầu tư dàn trải, lãng phí, gây

xói mòn cơ sở thu ngân sách, dẫn đến việc Nhà nước buộc phải tăng thu từ những

nguồn khác, gây phản ứng trong xã hội. Có thể tính đến giải pháp đưa những nội

dung chung, mang tính nguyên tắc, về tổng chi/giảm thu cho ưu đãi đầu tư vào

trong dự toán ngân sách. Các chính sách ưu đãi cụ thể không được phép vượt quá

nguyên tắc và tổng chi/giảm thu đó.

Các ngành, các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình cấp phép và

quản lý dự án đầu tư nước ngoài. Đồng thời, thúc đẩy giải ngân, không cấp phép các

dự án công nghệ lạc hậu, có tác động xấu tới môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử

dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu

tư/diện tích đất, kể cả đất khu công nghiệp; cải thiện hạ tầng cơ sở, tăng cường quy

hoạch theo hướng hiện đại. Việc quy hoạch và cải thiện hạ tầng cơ sở cần phải thực

hiện đồng bộ giữa các địa phương, các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.

Một điều quan trọng nữa đối với cơ quan nhà nước, đó là thu hút đầu tư phải

phù hợp với lợi thế, điều kiện, trình độ phát triển và quy hoạch từng địa phương

trong mối liên kết vùng, đảm bảo hiệu quả tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường.

Đối với các thành phố đã phát triển như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,

Hải Phòng… cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ chất lượng

cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn; kiên quyết không lựa chọn dự án đầu tư sử dụng

85

nhiều lao động, gây ô nhiễm môi trường, phát thải khí nhà kính. Đối với các địa

phương, vùng kinh tế còn kém phát triển có thể lựa chọn dự án sử dụng nhiều lao

động (như dệt nhuộm, may, da dày) nhưng phải cam kết đầu tư bảo đảm bảo vệ môi

trường…

Nhà nước cần nâng cao vai trò điều hành chính sách vĩ mô và phối hợp giữa các

cơ quan để giải quyết các về đề quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập

quốc tế sâu rộng hiện nay, để đảm bảo đổi mới thành công, cần phải có một Nhà

nước mạnh, được tổ chức hợp lý, thực hành dân chủ, có khả năng huy động và quản

lý mọi nguồn lực.

Nước ta hiện đang đứng trước những thách thức rất lớn của yêu cầu tăng trưởng

kinh tế nhanh và bền vững; Khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường; Phát triển

kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội. Do vậy, cùng với việc tăng cường ban

hành luật, cần phải tiếp tục xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh thông

về nghiệp vụ để bảo đảm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc.

Để hoàn thiện các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, nhà nước cần tích

cực rà soát lại các quy định pháp luật, nhất là các ưu đãi về đất đaiđể đảm bảo tính

đồng bộ giữa pháp luật đất đai, pháp luật về đầu tư và các chính sách khác của Nhà

nước. Xác định rõ đối tượng được hưởng ưu đãi về đất đai của Nhà nước đến được

trực tiếp với người được thụ hưởng. Việc ưu đãi phải thực chất và chỉ nên thực hiện

đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật,

cơ sở hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường, đầu tư vào địa bàn kinh tế xã hội khó khăn,

đặc biệt khó khăn và các đối tượng chính sách.Hiện nay, nhiều dự án có thời gian

ưu đãi quá dài, làm hạn chế sự sáng tạo và đặc biệt là giảm đáng kể nguồn thu ngân

sách. Cùng với đó, toàn bộ các ngành, lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế phải phải quy

định tại luật về thuế, không nên quy định tại các luật chuyên ngành.

Tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước

để có hướng xử lý đối với từng loại dự án, đặc biệt với các dự án quy mô lớn, sử

dụng nhiều đất đai bao gồm cả việc rút giấy phép nếu cần thiết; Nâng cao hiệu quả

của công tác thực thi pháp luật, có chế tài xử phạt mạnh đối với các trường hợp vi

phạm.

86

Về các chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi về đất đai cần được xác định lại qua các

thời kỳ khác nhau, không thể áp dụng chung một kiểu mà không có đổi mới. Việt

Nam cần có cơ chế ưu đãi linh hoạt hơn, kể cả biện pháp phi tài chính để thu hút các

dự án lớn quan trọng từ các tập đoàn đa quốc gia, nhất là các tập đoàn đa quốc gia

đặt trụ sở chính tại Việt Nam. Đồng thời, chú trọng hoàn thiện chính sách về sử

dụng đất trong và ngoài khu công nghiệp, nâng cao hiệu suất đầu tư trên 1 ha đất sử

dụng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng đầu tư và bảo đảm nhu cầu phát triển đô thị,

xã hội.

3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về nền kinh tế thị trường

(thực chất)

Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã

hội chủ nghĩa, nhưng thực chất nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển

vẫn chưa công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, thậm chí còn xếp là nền

kinh tế phi thị trường (trong một số hiệp định có liên quan của WTO). Để xây dựng

nên kinh tế thị trường Nhà nước ta đã thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà

nước, thế nhưng khi các doanh nghiệp vẫn còn sự chi phối quá nhiều từ nhà nước

mà không theo cơ chế thị trường, theo năng lực cũng như tình hình sản xuất kinh

doanh làm cho các nhà đầu tư thêm phần lo lắng trong việc mua cổ phần từ việc cổ

phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù nhà nước ta luôn đảm bảo rằng quyền tự

định đoạt của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh cũng như đảm bảo sự công

bằng, minh bạch giữa các nhà đầu tư nhưng sự chưa công nhận nền kinh tế thị

trường của Việt Nam là mối lo ngại của các nhà đầu tư. Do đó, khi xây dụng một

nền kinh tế thị trường thực chất, được các nước trong khu vực và trên thế giới công

nhận thì sẽ làm cho các nhà đầu tư nước ngoài họ yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt

Nam.

Cùng với phương hướng xây dựng nền kinh tế thị trường thực chất, nhà nước

cũng cần có chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững, tạo môi

trường kinh doanh thuận lợi thông thoáng. Nền kinh tế tăng trưởng ổn định sẽ tạo

điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, tạo tiền đề thu hút thêm vốn đầu tư trong

tương lai. Môi trường chính trị cần được giữ vững ổn định; Nghiên cứu hoàn thiện

87

cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia đầu

tư vào các đơn vị hành chính - kinh tế, phát triển các khu công nghiệp, khu chế

xuất, khu công nghệ cao… Cơ quan xúc tiến đầu tư nước ngoài cần xây dựng năng

lực dự báo và đáp ứng các nhu cầu tìm kiếm nguồn cung của các nhà đầu tư nước

ngoài. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà cung cấp hỗ trợ, kết nối doanh

nghiệp; giúp doanh nghiệp khắc phục những trở ngại về thông tin trong thời đại

Cách mạng công nghiệp 4.0.

3.2.4. Giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành

pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư

Để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật về bảo đảm

và khuyến khích đầu tư trước hết cần tiến hành đẩy mạnh công tác phổ biến và

tuyên truyền pháp luật không chỉ với cán bộ công nhân viên chức mà tới toàn dân,

hướng tới bảo đảm rằng ai cũng biết luật và ai cũng làm đúng luật.

Các đối tượng cần được phổ biến là cán bộ các cơ quan như Sở Kế hoạch – Đầu

tư, Cục thuế,… và các nhà đầu tư là những doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Nội dung phổ biến bao gồm các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm và

khuyến khích đầu tư, cụ thể là những nguyên tắc bảo đảm đầu tư, các hình thức và

đối tượng được áp dụng biện pháp ưu đãi đầu tư, các ngành nghề và địa bàn được

ưu đãi, các chính sách ưu đãi và hỗ trợ riêng của từng địa phương, các thủ tục hành

chính liên quan đến đầu tư, các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp khi phát

sinh,…

Về hình thức phổ biến và tuyên truyền pháp luật, có thể thông qua các bài báo

truyền thống, các chương trình truyền hình, trang mạng xã hội, thư điện tử, các hội

thảo hội nghị, tổ chức các cuộc thi về tìm hiểu pháp luật tại các địa phương,…

Bên cạnh việc truyền thông và phổ biến pháp luật về bảo đảm và khuyến khích

đầu tư, nhà nước ta cũng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện

pháp luật của các cơ quan nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm khắc

các sai phạm, gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong kinh doanh. Qua đó răn đe,

giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các cán bộ công chức nhà

88

nước. Về phía doanh nghiệp, nhà nước cần tích cực trong công tác quản lý, thanh

tra, kiểm toán thường kỳ bảo đảm các doanh nghiệp đầu tư hoạt động đúng quy

định pháp luật, không gây phương hại đến nền kinh tế và xã hội của đất nước.

Tuy nhiên để công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật có thể giúp nâng cao ý

thức chấp hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư thì bản thân hệ thống

pháp luật cần phải được hoàn thiện, đồng bộ và phù hợp để áp dụng trong thực tiễn.

3.2.5. Giải pháp nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi pháp

luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư

Giải pháp nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi pháp luật về bảo

đảm và khuyến khích đầu tư có mối quan hệ mật thiết với giải pháp nâng cao trình

độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu

tư. Bởi lẽ cán bộ nhà nước thực thi tốt pháp luật chỉ khi nào họ am hiểu pháp luật và

có ý thức chấp hành và thực thi pháp luật.

Chủ động bố trí, sắp xếp cán bộ có năng lực, có trách nhiệm trong hướng dẫn

chuẩn bị hồ sơ đầu tư, tiếp nhận, xử lý các thủ tục hành chính bảo đảm đúng tiến độ

theo quy định, có chế tài khuyến khích đồng thời phát hiện và xử lý nghiêm những

cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, gây cản trở cho tổ chức, cá nhân khi thi

hành công vụ

Nâng cao năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công

tác xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích

đầu tư thông qua việc tập huấn, đào tạo lại hoặc mở rộng hợp tác với các đối tác

quốc tế để gửi đi đào tạo.

89

KẾT LUẬN

Đất nước ta đang trên đà phát triển nền kinh tế, trong đó vai trò to lớn của đầu tư

là không thể phủ nhận. Nhận thức rõ vai trò của đầu tư trong nền kinh tế hiện nay,

pháp luật Việt Nam đã và đang hoàn thiện theo hướng tích cực bằng các quy định

về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư

thông thoáng, bình đẳng và thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư, và thực tế các quy

định pháp luật đã gặt hái được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất

cập, mâu thuẫn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật gây khó khăn cho quá trình

thực thi và áp dụng. Không những vậy, pháp luật Việt Nam còn có những khác biệt

đáng kể với pháp luật các quốc gia khác và các điều ước, hiệp định mà chúng ta đã

ký kết với các nước trên thế giới. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về đầu tư nói

chung và pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư nói riêng là vô cùng cần

thiết, phải được thực hiện một cách đồng bộ trên cơ sở học tập kế thừa các quy định

trước đó, loại bỏ những quy định không còn phù hợp, học hỏi tiếp thu có chọn lọc

các kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến trên thế giới, từ đó áp dụng vào thực tiễn

phát triển của đất nước ta.

Ba chương trong luận văn đã đề cập các vấn đề lý luận về các biện pháp bảo

đảm và khuyến khích đầu tư; phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật trong

việc quy định các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư tại Việt Nam. Từ

những bất cập, hạn chế để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các

biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, tạo niềm tin đáng kể cho các nhà đầu tư

cũng như cải thiện môi trường đầu tư trong nước.

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn, tác giả đã cố gắng tổng hợp và

phân tích những quy định của pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư. Thông

qua nghiên cứu thực trạng thi hành pháp luật, tác giả đề xuất giải pháp để hoàn thiện

các quy định pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, sẽ không

tránh khỏi những thiếu sót nên rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để

luận văn được hoàn thiện hơn.

90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Văn bản quy phạm pháp luật

1. Hiến pháp Việt Nam 2013;

2. Luật Đầu tư 2014;

3. Luật Điều ước quốc tế 2016;

4. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987;

5. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996;

6. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010;

7. Thông tư 02/2017/TT-BKHĐT hướng dẫn về cơ chế phối hợp giải quyết các

thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư nước

ngoài;

8. Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26/06/2018 Về cấp và quản lý bảo lãnh

Chính phủ;

9. Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 Quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;

10. Quyết định số 34/2015/QĐ-TTg ngày 14/08/2015 Ban hành danh mục các

chương trình, dự án ưu tiên được xem xét cấp bảo lãnh chính phủ;

11. Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN năm 2009;

12. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP);

13. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP);

14. Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS);

Giáo trình, luận văn, tạp chí và các bài nghiên cứu khác

15. ThS. Hoàng Văn Cương, Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh

nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh

nghiệp 2000-2011, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư năm 2012;

16. ThS.Đào Thu Hà, Hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đầu tư trong điều kiện hội

nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Công Thương, ngày 17/12/2018;

91

17. Nguyễn Thị Hưng – Phạm Thị Hiền – Nguyễn Thị Thùy Linh, Pháp luật về

ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước ASEAN và gợi mở cho

Việt Nam, Tạp chí Công Thương, ngày 22/01/2018;

18. Tăng Văn Nghĩa, Tuân thủ của doanh nghiệp đối với trách nhiệm sản phẩm

và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Kinh tế đối

ngoại, Số 119 (7/2019);

19. Chủ biên PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt và TS. Từ Quang Phương, Giáo

trình Kinh tế đầu tư, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2007, Tr.7;

20. Lê Thị Thu Thủy, Các biện pháp khuyến khích theo Luật đầu tư và thực tiễn

áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học

Luật – Đại học Huế, Thừa Thiên Huế năm 2018;

21. TS. Phạm Thị Tường Vân, Chống chuyển giá của các công ty xuyên quốc

gia và giải pháp đối với Việt Nam,Tạp chí tài chính, ngày 24/06/2019

22. James chen, Investment, Investopedia, ngày 30/06/2019;

23. United Nationconference on trade and development, Investment promotion

provisions in international investment agreements, New York anh Geneva

2008;

24. United Nationconference on trade and development, World Investment

Report (2010), Investing in a low-carbon Econom, New York anh

Geneva,2010;

25. United Nationconference on trade and development, UNCTAD (2013),

World Investment Report, New York and Geneva 2013;

26. United Nationconference on trade and development, UNCTAD (2018),

Investment and New Industrial Policies,World Investment Report, New York

and Geneva 2018;

Tài liệu Internet

27. www.mpi.gov.vn;

28. http://econterms.com/econtent.html Từ điển Econterms;

29. https://vi.wikipedia.org;