BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ---------o0o---------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
Ngành: Luật kinh tế
Hà Nội - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ---------o0o---------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
Họ và tên: Đỗ Thị Lan Hồng
Người hướng dẫn Khoa học: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
Hà Nội - 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi kết hợp với sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Tăng Văn Nghĩa. Luận văn
được sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật và các số liệu thu thập từ nguồn
thực tế, được công bố trên các báo cáo của các cơ quan nhà nước; các tổ chức kinh
tế trên thông tin đại chúng và được công khai hợp pháp. Những thông tin và nội
dung nêu trong đề tài đều trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Lan Hồng
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS, TS Tăng
Văn Nghĩa là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi
cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu, chỉ bảo nhiều kinh nghiệm trong thời
gian thực hiện đề tài.
Xin được chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong Khoa Luật, Khoa Đào tạo
sau đại học, Trường đại học Ngoại thương đã tạo những điều kiện tốt nhất để tác
giả thực hiện luận văn.
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn vẫn còn những thiếu sót.
Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầy Cô, đồng nghiệp và bạn bè
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Lan Hồng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ vii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ ............................................ viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. ix
1. Các thông tin chung ................................................................................. ix
2. Những đóng góp của luận văn ............................................................... ix
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài .......................................................... 2
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................... 2
2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài ..................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................... 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 5
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 5
4.1. Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................ 5
4.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 6
5. Kết cấu luận văn .................................................................................... 7
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN
KHÍCH ĐẦU TƯ .................................................................................................. 8
iv
1.1 Khái quát về đầu tư ................................................................................. 8
1.2 Những vấn đề lý luận về bảo đảm đầu tư ............................................ 12
1.2.1 Khái niệm bảo đảm đầu tư .............................................................. 12
1.2.2 Các nguyên tắc bảo đảm đầu tư ...................................................... 12
1.2.3. Vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư .................................... 17
1.3 Những vấn đề lý luận về khuyến khích đầu tư ................................... 18
1.3.1 Khái niệm khuyến khích đầu tư và các biện pháp khuyến khích
đầu tư ........................................................................................................ 18
1.3.2 Phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư ............................... 20
1.3.3 Vai trò của các biện pháp khuyến khích đầu tư ........................... 23
1.3.4 Các yếu tố liên quan trong khuyến khích đầu tư ........................... 24
1.4 Những quy định của pháp luật về bảo đảm đầu tư và khuyến khích
đầu tư theo Luật Đầu tư .............................................................................. 26
1.4.1 Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm theo Luật Đầu tư . 26
1.4.2. Nội dung pháp luật về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu
tư ................................................................................................................ 33
1.4.3 Bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư
kinh doanh .................................................................................................. 38
1.4.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ
một số điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia ............. 39
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ BẢO ĐẢM, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM ............. 49
2.1 Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam ........................................ 49
2.1.1 Tình hình chung về hoạt động đầu tư tại Việt Nam ...................... 49
v
2.1.2 Tác động của hoạt động đầu tư đến phát triển kinh tế- xã hội ở
Việt Nam .................................................................................................... 53
2.2. Thực trạng thực thi pháp luật về bảo đảm đầu tư tại Việt Nam ...... 56
2.2.1. Về bảo đảm quyền sở hữu tài sản .................................................. 56
2.2.2. Về bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh .................................... 57
2.2.3. Về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp .......... 59
2.2.4. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo lãnh của Chính phủ đối với
một số dự án quan trọng .......................................................................... 61
2.2.5. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu
tư khi có thay đổi về chính sách pháp luật .............................................. 63
2.3. Thực trạng thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư tại Việt Nam
........................................................................................................................ 64
2.3.1. Về các quy định ưu đãi tài chính ................................................... 64
2.3.2. Về các quy định ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt
biển ............................................................................................................ 67
2.3.3 Về các quy định biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính .............. 68
2.4. Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm và
khuyến khích đầu tư .................................................................................... 69
2.4.1. Ưu điểm .......................................................................................... 69
2.4.2. Nhược điểm .................................................................................... 73
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO
ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT
NAM .............................................................................................................. 77
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và định hướng hoàn thiện
pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư ................ 77
vi
3.2. Giải pháp hoàn thiện và thực thi biện pháp bảo đảm và khuyến
khích đầu tư ở việt nam ............................................................................... 80
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về bảo đảm và khuyến khích đầu tư ... 80
3.2.2. Tăng cường tính thực thi của pháp luật....................................... 83
3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về nền kinh tế thị trường
(thực chất) ................................................................................................. 86
3.2.4. Giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp
hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư .............................. 87
3.2.5. Giải pháp nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi
pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư ........................................ 88
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 90
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt tắt
Association of Southeast ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Asian Nations
Comprehensive and Hiệp định Đối tác Toàn diện và CPTPP Progressive Agreement for Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Trans-Pacific Partnership
EU European Union Liên minh Châu Âu
EU-Vietnam Free Trade Hiệp định Thương mại Tự do giữa EVFTA Agreement Việt Nam và Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trans-Pacific Partnership Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên TPP Agreement Thái Bình Dương
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
viii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 1.1: Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị
cấm áp dụng (TRIMS) .............................................................................................. 41
Bảng 2.1: Báo cáo nhanh đầu tư nước ngoài 9 tháng năm 2019 .............................. 49
Bảng 2.2: Các chương trình, dự án được ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh Chính phủ . 62
ix
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Các thông tin chung
1.1. Tên luận văn: Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư
1.2. Tác giả: Đỗ Thị Lan Hồng
1.3. Chuyên ngành: Luật Kinh tế
1.4. Bảo vệ năm: 2019
1.5. Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Tăng Văn Nghĩa
2. Những đóng góp của luận văn
- Thứ nhất, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về đầu tư: làm rõ các khái
niệm đầu tư, bảo đảm đầu tư, khuyến khích đầu tư,…; tổng hợp và hệ thống các quy
định pháp luật Việt Nam về bảo đảm và khuyến khích đầu tư; so sánh với các Điều
ước, hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.
- Thứhai, luận văn phân tích các quy định pháp luật về bảo đảm và khuyến
khích đầu tư. Luận văn đưa ra thực trạng hoạt động đầu tư và thực tiễn thi hành
pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư, chỉ ra những kết quả đạt được và các
khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thực hiện bảo đảm và khuyến khích đầu tư
theo Luật Đầu tư
- Thứ ba, luận văn phân tích đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về bảo
đảm và khuyến khích đầu tư, từ đó đưa ra Định hướng hoàn thiện pháp luật về các
biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư. Tác giả nêu ra một số kiến nghị nhằm
hoàn thiện cơ chế bảo đảm đầu tư ở Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện pháp luật
và thực thi pháp luật về các biện pháp bảo đảm khuyến khích Đầu tư nhằm thu hút
đầu tư tại Việt Nam trong thời gian tới.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 7/11/2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra
một thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế với các cơ hội lớn, tuy nhiên cũng phải đối mặt
với những thách thức không nhỏ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt
động đầu tư có một vị trí đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đóng vai trò trong quá
trình tái sản xuất của xã hội mà còn là đòn bẩy cho sự phát triển của nền kinh tế.
Kinh nghiệm được nhìn nhận từ các nước phát triển trên thế giới, con đường tất yếu
để tăng trưởng kinh tế nhanh là tăng trưởng về đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở
các khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đầu tư giúp giải quyết tình trạng mất cân đối
về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa các vùng yếu kém thoát khỏi tình trạng đói
nghèo, tận dụng được lợi thế về tài nguyên, địa thế, con người,…. Để hoạt động đầu
tư diễn ra có hiệu quả thì cần có những biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư
phù hợp để thu hút đầu tư . Nhận thức rõ vai trò của đầu tư, hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều tìm mọi cách để thu hút và phát triển môi trường đầu tư của mình.
Để làm được điều đó, các quốc gia không ngừng nghiên cứu để đề ra một chế độ
pháp lý về đầu tư cho phù hợp bằng cách ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh
vấn đề đầu tư như một thứ công cụ hữu ích và phù hợp với thông lệ quốc tế, góp
phần tạo lập môi trường đầu tư có sức cạnh tranh lớn trong lĩnh vực thu hút đầu tư.
Việc thu hút đầu tư trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nhằm
phát huy lợi thế của quốc gia mình trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Với
các nhà đầu tư nước ngoài, thông qua các chính sách bảo đảm đầu tư để cải thiện
lòng tin và tận dụng tối đa những chính sách từ chính quyền trong nước. Ngoài ra,
nhà nước cũng phải dành cho các nhà đầu tư những ưu đãi, khuyến khích nhằm tận
dụng mọi nguồn lực bên ngoài, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tiễn trong những năm gần đây, việc thực hiện pháp luật bảo đảm và
khuyến khích đầu tư đã đạt được những thành tựu đáng kể, bước đầu phát huy tốt
hiệu quả định hướng đầu tư. Tuy nhiên nguồn đầu tư ở nước ta hiện nay vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế cũng như chưa tương
xứng với tiềm lực và thu hút đầu tư tại Việt Nam. Đó phải chăng là do những biện
2
pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư của nước ta chưa thực sự hấp dẫn để lôi kéo
các nhà đầu tư nước ngoài, chưa tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và vẫn còn
phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Vì vậy, tác giả đã lựa
chọn đề tài “Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư” làm đề tài nghiên
cứu luận văn thạc sỹ luật kinh tế của mình nhằm làm rõ các biện pháp bảo đảm và
khuyến khích đầu tư, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc quy
định các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư tại Việt Nam. Từ những bất
cập, hạn chế để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đầu tư và giúp cho
hoạt động này đạt được hiệu quả cao hơn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Pháp luật về đầu tư với các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư cho
đến nay có nhiều công trình nghiên cứu ở những mức độ và khía cạnh khác nhau, cả
trong và ngoài nước.
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Đề tài về bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư là một đề tài khá
phổ biến, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, phải kể đến đó là:
Đề tài “ Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam
đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh nghiệp 2000-2011” của
tác giả Hoàng Văn Cương – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. Đề tài
với nội dung đề cập đến các chính sách tác động tới việc huy động các nguồn vốn
đầu tư của nhà nước, nguồn vốn đầu tư mạo hiểm,… để đổi mới công nghệ.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Thu Thủy với đề tài “ Các biện pháp
khuyến khích theo Luật đầu tư và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình” năm
2018, luận văn đã nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện
pháp khuyến khích theo Luật Đầu tư và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, trên
cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp
khuyến khích theo Luật đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Công trình nghiên cứu đăng trên Tạp chí Công Thương ngày 22/01/2018 của
các tác giả Nguyễn Thị Hưng – Phạm Thị Hiền – Nguyễn Thị Thùy Linh với đề tài
3
“Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước ASEAN và gợi
mở cho Việt Nam” đã đề cập tới pháp luật về ưu đãi hỗ trợ đầu tư của một số quốc
gia ASEAN, đánh giá ưu nhược điểm, từ đó rút ra bài học pháp luật để áp dụng
trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư tại
Việt Nam đạt hiệu quả.
Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có các bài báo cáo liên quan đến đề
tài này như:
“Báo cáo của Chuyên gia Quốc tế và Chuyên gia Việt Nam về hướng dẫn thi
hành Luật Đầu tư 2014”. Báo cáo đã tổng hợp các ý kiến của chuyên gia trong và
ngoài nước về các vấn đề thi hành Luật Đầu tư năm 2014.
“Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư một số nước, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, năm 2014”. Báo cáo nghiên cứu tổng quan pháp luật đầu tư của một số quốc gia
điển hình trên thế giới, từ đó nghiên cứu để hoàn thiện chính sách pháp luật ở Việt
Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Đầu tư là một vấn đề quan trọng được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan
tâm và chú trọng nghiên cứu để phát triển. Do đó các công trình nghiên cứu nước
ngoài tương đối đa dạng, đi sâu vào nhiều khía cạnh của đầu tư. Các nghiên cứu, bài
viết tiêu biểu như:
Báo cáo Đầu tư Thế giới năm 2010 “United Nations Conference on Trade
and Development, World Investment Report (2010), Investing in a low-carbon
Economy”. Bài báo cáo đầu tư năm 2010 đánh dấu kỷ niệm 20 năm thu hút đầu tư
vào nền kinh tế low-carbon. Báo cáo minh họa xu hướng đầu tư toàn cầu trong thời
gian tới. Vượt qua các rào cản là một thách thức để thu hút vốn đầu tư cho các nền
kinh tế còn yếu kém.
Báo cáo đầu tư thế giới “UNCTAD (2013), World Investment Report, New
York and Geneva”, bài báo cáo này cung cấp các phân tích chuyên sâu, đưa ra các
lựa chọn phát triển chiến lược và lời khuyên thiết thực cho các nhà hoạch định
4
chính sách nhằm tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro trong chuỗi đầu tư. Đó là
điều cần thiết để bảo đảm tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Gần đây nhất là báo cáo đầu tư thế giới “UNCTAD (2018), Investment and
New Industrial Policies, World Investment Report”, báo cáo về chính sách đầu tư và
công nghiệp mới. Báo cáo đưa ra thực trạng đầu tư xuyên biên giới vào các nền
kinh tế phát triển, trong khi tăng trưởng đối với các nền kinh tế đang phát triển gần
như bằng không. Xu hướng tiêu cực này là mối quan tâm tới các nhà hoạch định
chính sách kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hiện tại
trong những năm gần đây, các chính sách công nghiệp mới đã xuất hiện, đáp ứng
những cơ hội và thách thức liên quan đến cuộc cách mạng công nghiệp mới. Báo
cáo trình bày các lựa chọn công cụ chính sách đầu tư trong môi trường mới này,
đóng góp kịp thời trong hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế toàn cầu.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về đầu tư, các biện pháp bảo đảm đầu tư,
biện pháp khuyến khích đầu tư đã được tiếp cận và thực hiện ở những phạm vi và
mức độ khác nhau, cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, một số bài nghiên cứu đã cũ
và không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Hơn nữa, các công trình nghiên cứu
chỉ đi sâu phân tích một khía cạnh bảo đảm đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư, có
công trình nghiên cứu cả hai vấn đề bảo đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư nhưng
lại trong phạm vi một lĩnh vực đầu tư cụ thể. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư”. Trên cơ sở tiếp thu và học
tập từ các công trình nghiên cứu trước đây, nhận ra những hạn chế bất cập của các
bài nghiên cứu,luận văn này thực hiện phân tích làm rõ cả hai vấn đề: bảo đảm đầu
tư và khuyến khích đầu tư, cập nhật các quy định pháp luật hiện hành cùng với thực
trạng đầu tư và thực hiện pháp luật đầu tư hiện nay, tác giả mong muốn Luận văn
không chỉ nghiên cứu đầy đủ mà còn mang tính thời sự, có những đề xuất thiết thực
góp phần cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam đạt hiệu quả hơn nữa.
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Luật Đầu tư về hoạt
động đầu tư tại Việt Nam với các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư và vai
trò của nó trong hoạt động đầu tư.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về các biện pháp bảo
đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư.
Về không gian: luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam, tìm
hiều các quy định pháp luật là điều ước, hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia;
phân tích và đánh giá các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến
khích đầu tư theo pháp luật Việt Nam. Thông qua thực trạng hoạt động đầu tư và
thực tiễn thi hành pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư để
đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến
khích đầu tư theo Luật Đầu tư trong thời gian tới.
Về thời gian: luận văn hệ thống các quy định pháp luật còn hiệu lực, các điều
ước, hiệp định mà Việt Nam đã ký kết tham gia, thực trạng hoạt động đầu tư và thực
tiễn thi hành pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật
Đầu tư từ năm 2016 trở lại đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phối hợp các phương thức như: Tổng hợp,
thống kê, so sánh, phân tích,… với các nội dung chi tiết như sau:
4.1. Dữ liệu nghiên cứu
Luận văn sử dụng các dữ liệu nghiên cứu là các quy định pháp luật còn hiệu lực,
các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính mà Việt Nam đã công bố trong báo cáo tài
chính và báo cáo kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2017-2019.
6
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng kết hợp giữa các phương thức thống kê, phân tích- tổng
hợp, so sánh để làm rõ các dữ liệu nghiên cứu đã thu thập được. Phụ thuộc vào yêu
cầu và tính chất của từng phần mà chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp. Trong
đó, bao gồm một số phương pháp sau:
Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng phổ biến trong chương 2. Các bảng số liệu
thống kê về hoạt động đầu tư của Việt Nam trong những năm gần đây phục vụ cho
phân tích quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và
chương 3. Tác giả tổng hợp các quy định của pháp luật Việt Nam, các quy định
trong điều ước và hiệp định quốc tế về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu
tư. Từ những dữ liệu tổng hợp được, tác giả tiến hành phân tích các quy định pháp
luật, đánh giá ưu nhược điểm của các quy định Việt Nam, tổng hợp lại những kinh
nghiệm từ các quy định quốc tế từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật Đầu tư Việt Nam về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, các
giải pháp giúp Việt Nam thu hút đầu tư hơn và hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn.
Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1, chương 2 để so sánh bảng
số liệu qua các năm về hoạt động đầu tư tại Việt Nam trong những năm gần đây. So
sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định quốc tế nhằm tìm ra sự
tương đồng và khác biệt, từ đó rút ra được kinh nghiệm cho pháp luật đầu tư Việt
Nam.
7
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết
cấu ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm và khuyến khích đầu tư
Chương 2: Thực trạng đầu tư và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm và
khuyến khích đầu tư tại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư
theo Luật Đầu tư Việt Nam
8
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN
KHÍCH ĐẦU TƯ
1.1 Khái quát về đầu tư
Những năm gần đây, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập thế giới,
đầu tư càng khẳng định vai trò to lớn đối với sự phát triển của kinh tế quốc gia nói
chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Đầu tư đóng vai trò then chốt quyết định
vận mệnh kinh tế của từng quốc gia, quyết định sự tồn tại và phát triển của các
doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, những quốc gia tiêu dùng phần lớn thu nhập của
mình có mức đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao. Ngược lại, những
quốc gia có tỷ lệ đầu tư cao sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Các doanh
nghiệp không chú trọng đầu tư sẽ khó thích nghi và phát triển trong nền kinh tế thị
trường, khi mà cạnh tranh ngày càng khốc liệt, sản phẩm sẽ bị suy yếu và sản xuất
kinh doanh bị trì trệ.
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư.
Dưới góc độ kinh tế, trong lý thuyết kinh tế hay kinh tế học vĩ mô, “đầu tư là số
tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử
dụng cho sản xuất trong tương lai (chẳng hạn: vốn)”1. Trong tài chính, theo tác giả
James chen, “Investment is the act of putting money to work to start or expand a
business or project or the purchase of an asset, with the goal of earning income or
capital appreciation” được hiểu “đầu tư là một hành động mua một tài sản với hy
vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với
giá cao hơn”2. Từ điển Econterms định nghĩa về đầu tư như sau: “Investment: Any
use of resources intended to increase future production output or income”3đầu tư
nghĩa là việc sử dụng các nguồn lực vớimong muốn tăng năng lực sản xuất hoặc
1 Theo từ điển Wikipedia, https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A7u_t%C6%B0
2 Theo JAMES CHEN, bài viết “ Investment” ngày 30/06/2019 đăng trên trang web https://www.investopedia.com/terms/i/investment.asp
3 Theo từ điển Econterms, http://econterms.com/econtent.html.
tăng thu nhập trong tương lai.
9
Ngoài ra, khái niệm về đầu tư nói chung còn được nêu trong giáo trình như sau:
“Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó
nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để
đạt được các kết quả đó”4.
Các khái niệm nêu trên đều đưa ra mục đích của đầu tư là thu về nhiều hơn
những gì đã bỏ ra hay chính là tính sinh lợi của hoạt động đầu tư. Chủ đầu tư là
những người có tài sản hay nguồn lực nhất định như tiền, sức lao động, máy móc
thiết bị,… được sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không
phải đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm về đầu tư cũng được đề cập trong nhiều văn bản
pháp luật khác nhau. Theo Luật đầu tư 2014, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư
bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức
kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư
theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”5. Theo khái niệm của Luật
đầu tư Việt Nam thì hoạt động đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực
hiện các hoạt động kinh doanh bao gồm: thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,
mua cổ phần; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.
Theo Hiệp định TPP, Hoạt động/dự án đầu tư là toàn bộ tài sản do một nhà đầu
tư trực tiếp hay gián tiếp sở hữu và quản lý mang đặc điểm của một khoản đầu tư,
bao gồm những đặc điểm theo đúng cam kết về vốn hoặc nguồn vốn khác, đặc điểm
về mức doanh thu hay lợi nhuận kỳ vọng hoặc khả năng chấp nhận rủi ro6. Cùng với
đó, Hiệp định cũng chỉ ra các hình thức đầu tư bao gồm: doanh nghiệp; cổ phần, cổ
phiếu và các dạng góp vốn tham gia vào doanh nghiệp; trái phiếu, tín phiếu, các
công cụ nợ khác và các khoản vay; các hợp đồng tương lai, quyền chọn và các hợp
đồng phái sinh khác; đầu tư theo hình thức chìa khóa trao tay, xây dựng, quản lý,
4 Nguyễn Bạch Nguyêt và TS. Từ Quang Phương (2007), Giáo trình “Kinh tế Đầu tư”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân; Tr.7.
5 Khoản 5, Điều 4, Luật Đầu tư 2014.
6Điều 9.1, Mục A, chương 9, Hiệp định TPP
sản xuất, nhượng quyền, chia sẻ doanh thu và các hợp đồng khác; quyền sở hữu trí
10
tuệ; giấy chứng nhận, ủy quyền, giấy phép và các quyền tương tự; tài sản hữu hình
hoặc vô hình, tài sản di động hoặc bất động và quyền tài sản liên quan bao gồm cho
thuê, thế chấp, cầm cố và bảo lãnh.
Có thể thấy, Luật Đầu tư Việt Nam và Hiệp định TPP đều dùng phương pháp
liệt kê để mô tả những hành động được xem là đầu tư. Tuy nhiên, so với Hiệp định
TPP, khái niệm về đầu tư theo pháp luật Việt Nam còn hạn hẹp, chỉ bao gồm 4
nhóm hoạt động nêu trên, trong khi Hiệp định TPP lại nhìn nhận đầu tư rộng hầu
hết các lĩnh vực, cả Sở hữu trí tuệ, quyền thế chấp, tín chấp,…
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư, tuy nhiên dù được nhìn nhận
dưới góc độ nào thì đều có điểm chung là bỏ vốn ban đầu và mục tiêu của đầu tư là
hiệu quả.
Vậy từ những khái niệm trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát nhất: Đầu
tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại (tài chính, tài nguyên thiên nhiên,
sức lao động, trí tuệ,…) để tiến hành các hoạt động nhằm thu về các kết quả nhất
định trong tương lai, mà các kết quả này phải lớn hơn các nguồn lực bỏ ra để thu
được các kết quả đó. Thực chất của hoạt động đầu tư là tìm kiếm lợi ích đối với chủ
đầu tư và lợi ích kinh tế – xã hội của đất nước.
Với khái niệm trên, đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:
Có vốn đầu tư: Vốn có thể bằng tiền hoặc các loại tài sản khác như máy móc,
thiết bị, nhà xưởng, giá trị quyền sử dụng đất, bí quyết kỹ thuật, phát minh, sáng
chế, mặt nước, các nguồn tài nguyên khác,… Vốn thường được lượng hoá bằng một
đơn vị tiền tệ để dễ tính toán, so sánh. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư
nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
Tính sinh lợi: đầu tư phải đạt kết quả lợi nhuận (lợi ích tài chính) hoặc lợi ích
kinh tế xã hội. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư,
còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.
Tính mạo hiểm: hoạt động đầu tư có thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm
trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động
ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Do thời gian đầu
11
tư dài nên nó có tính mạo hiểm. Quá trình tiến hành hoạt động đầu tư chịu tác động
của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư khác với dự tính
ban đầu và rất có thể lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội thu được sẽ thấp, thậm
chí là lỗ. Chủ đầu tư trước khi ra quyết định đầu tư phải dám chấp nhận rủi ro, thất
bại.
Trong thực tiễn, hoạt động đầu tư rất đa dạng và phong phú, được thể hiện trên
nhiều khía cạnh khác nhau như: chủ thể đầu tư, hình thức và lĩnh vực đầu tư. Mặc
dù đa đạng song hoạt động đầu tư có thể chia thành những loại chính như sau:
Phân loại theo chủ thể hoạt động đầu tư bao gồm: Đầu tư của Nhà nước, đầu tư
của doanh nghiệp và đầu tư cá nhân.
Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, có thể chia thành: “Đầu tư gán
tiếp” là trường hợp người bỏ vốn không trực tiếp quản trị vốn mà họ đã bỏ ra. Do
vậy, họ cũng không trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực hiện đầu
tư.Đây là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng nguồn vốn là những
chủ thể riêng biệt. “Đầu tư trực tiếp” là trường hợp người bỏ vốn trực tiếp tham gia
quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Loại đầu tư
này, người bỏ vốn và người sử dụng vốn là cùng một chủ thể.
Phân loại theo hình thức đầu tư có: hình thức đầu tư mới; hình thức đầu tư chiều
sâu, mở rộng quy mô sản xuất. Trong đó, đầu tư mới là hoạt động bỏ vốn để xây
dựng các công trình mới hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh có đầy đủ tư cách pháp
nhân. Hình thức đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất là hoạt động bỏ vốn để
mở rộng công trình cũ đang hoạt động, tăng thêm mặt hàng, nâng cao năng suất,
hay hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền công nghệ trên cơ sở các công trình đã có
từ trước.
Phân loại theo nguồn vốn đầu tư thì Đầu tư bao gồm: đầu tư bằng nguồn vốn
nước ngoài và đầu tư bằng nguồn vốn trong nước.
Mặc dù có nhiều cách phân loại về đầu tư, tuy nhiên đầu tư đều mang những đặc
điểm chung như đã phân tích ở trên, đều giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
và doanh nghiệp.
12
1.2 Những vấn đề lý luận về bảo đảm đầu tư
1.2.1 Khái niệm bảo đảm đầu tư
Bảo đảm đầu tư là một nội dung vô cùng quan trọng mà các nhà đầu tư đặc biệt
quan tâm khi quyết định đầu tư, giúp các nhà đầu tư yên tâm vì lợi ích được đảm
bảo. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam lại chưa có một văn bản nào đưa
ra khái niệm cụ thể về bảo đảm đầu tư mà chỉ dừng lại ở việc đưa ra các quy định về
các biện pháp bảo đảm đầu tư, cụ thể quy định từ Điều 9 đến Điều 14 Luật Đầu tư
Việt Nam.
Từ quy định về các biện pháp bảo đảm, có thể hiểu “Bảo đảm đầu tư là những
cam kết không cần điều kiện của nhà nước đối với các nhà đầu tư nhằm tạo sự an
toàn về mặt pháp lý đối với tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp
pháp khác của nhà đầu tư khi họ tiến hành hoạt động đầu tư”.
Còn các biện pháp đầu tư là những biện pháp thể hiện trong quy định pháp luật
nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư trong quá trình hoạt
động đầu tư. Các biện pháp này chính là những cam kết từ phía nhà nước với các
nhà đầu tư về trách nhiệm của nhà nước tiếp nhận đầu tư, không chỉ được quy định
trong pháp luật quốc gia mà còn thể hiện trong các điều ước quốc tế mà nhà nước
đó tham gia ký kết. Việc bảo đảm đầu tư nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của
các nhà đầu tư, doanh nghiệp được phép kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật
không cấm. Đây là điều kiện mà các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu khi quyết định
đầu tư,giúp các nhà đầu tư yên tâm vì lợi ích được đảm bảo. Việc bảo đảm có một
môi trường đầu tư bình đẳng và thông thoáng có mối quan hệ mật thiết với các biện
pháp khuyến khích để thu hút vốn đầu tư, và có thể nói bảo đảm đầu tư là một biện
pháp khuyến khích ưu việt nhất.
1.2.2 Các nguyên tắc bảo đảm đầu tư
Bảo đảm đầu tư là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt
động đầu tư. Vì vậy, Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới đều chú
trọng đến việc ban hành các quy định về vấn đề hoạt động đầu tư sao cho hoạt động
này đạt hiệu quả cao nhất. Các quy định của pháp luật Việt Nam và các quy định
13
quốc tế đều tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau: Bảo đảm đối xử bình đẳng giữa
các nhà đầu tư; nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản; nhà đầu tư
được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật
không cấm; nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo
quy định; nhà nước tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu
tư.
1.2.2.1. Nguyên tắc bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đấu tư
Bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư là nguyên tắc đầu tiên và cũng
giữ vai trò quan trọng trong các nguyên tắc bảo đảm đầu tư. Nguyên tắc này được
cụ thể hóa trong Luật Đầu tư Việt Nam 2014 như sau: “Nhà nước đối xử bình đẳng
giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà
đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh
tế”7. Theo nguyên tắc này, các quy định của pháp luật liên quan đến đầu tư đều
được quy định chung cho các nhà đầu tư mà không có sự khác biệt, bảo đảm không
phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài.
Nguyên tắc này không chỉ thể hiện trong pháp luật Việt Nam mà còn thể hiện
trong các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết. Trong Hiệp định
TPP có quy định: “Mỗi Bên phải dành cho nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử không
kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình, hoặc nhà đầu tư
của Bên không phải thành viên Hiệp định này trong những hoàn cảnh tương tự đối
với việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận hành, kinh doanh
hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác trong lãnh thổ của mình”8.
Đây là nội dung của nguyên tắc tối huệ quốc, được hiểu là trong cam kết một nước
dành cho nước đối tác sự ưu đãi có lợi không kém những ưu đãi mà nước đó đang
và sẽ dành cho nước đối tác thứ ba. Hay nói cách khác, nếu một thành viên dành ưu
đãi cho một thành viên khác hay dành một sự miễn trừ nào đó thì ngay lập tức và
7 Khoản 4 Điều 5, Luật Đầu tư 2014.
8Khoản 1, Điều 9.5 Hiệp định TPP.
không điều kiện các thành viên khác cũng sẽ được hưởng sự ưu đãi đó.
14
Nếu nguyên tắc tối huệ quốc thể hiện bình đẳng của các nhà đầu tư của các quốc
gia khác, thì nguyên tắc đối xử quốc gia thể hiện bình đẳng giữa nhà đầu tư trong
nước và nhà đầu tư nước ngoài. Nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định trong
Hiệp định TPP “Mỗi Bên phải dành cho nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử không
kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình trong những hoàn
cảnh tương tự đối với việc thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận
hành, kinh doanh hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác trong lãnh
thổ của Bên đó”9. Theo nguyên tắc này, một nước sẽ dành cho nhà đầu tư của nước
khác những ưu đãi không kém hơn so với ưu đãi mà nước đó đang dành cho các nhà
đầu tư trong nước.
Như vậy, nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng giữa các nhà đầu tư là một
trong những nguyên tắc quan trọng. Khi mà các nhà đầu tư được đối xử công bằng,
có môi trường đầu tư lành mạnh, tiềm năng, khả năng cạnh trạnh trên thị trường
được đảm bảo là một trong những lý do cho các nhà đầu tư quyết định hoạt động
đầu tư của mình.
1.2.2.2 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản
Bản chất của hoạt động đầu tư là gắn liền với tài sản, vốn đầu tư, thu nhập từ
hoạt động đầu tư. Một nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào một quốc gia khác, thì vấn
đề lo ngại là về văn hóa, xã hội, tình hình an ninh chính trị và pháp luật của quốc
gia đó. Nhà đầu tư nào cũng mong muốn tài sản mà mình mang ra đầu tư sẽ có hiệu
quả và đem lại lợi nhuận, không một nhà đầu tư nào mong muốn rằng khi thực hiện
đầu tư ra nước ngoài mà nước sở tại tịch thu và quốc hữu hóa tài sản của họ, thu
nhập từ hoạt động đầu tư của họ không được chuyển về nước. Nhưng theo cơ chế
thị trường thì song song với lợi nhuận đạt được, các nhà đầu tư phải chấp nhận mạo
hiểm vì việc kinh doanh có thể không đạt kết quả dẫn đến thua lỗ, tài sản đem ra
đầu tư có thể bị thất thoát. Tài sản của nhà đầu tư ngoài việc bị hao hụt do kinh
doanh thua lỗi thì đôi khi Nhà nước trưng mua, trưng dụng nhằm mục đích liên
9 Khoản 1, Điều 9.4, Hiệp định TPP.
quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống
15
thiên tài. Để tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư, nhà nước tiếp nhận đầu tư đã ghi
nhận nguyên tắc công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, bảo đảm tải sản hợp
pháp của các nhà đầu tư, phần nào phá vỡ rào cản, góp phần thu hút đầu tư vào Việt
Nam.
1.2.2.3 Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh
trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm
Tại Việt Nam, quyền con người luôn được tôn trọng và giữ vị trí trọng tâm hàng
đầu. Trong các quyền con người, tự do kinh doanh nói chung và tự do hoạt động
đầu tư nói riêng là quyền quan trọng được xác định rõ trong Hiến pháp và pháp luật.
Đặc biệt, sau khi Việt Nam thực hiện mở cửa hội nhập quốc tế, cùng với các quyền
con người được bảo đảm thì quyền tự do kinh doanh cũng được mở rộng. Điều này
hết sức có ý nghĩa, khi đã coi tự do kinh doanh là quyền con người cơ bản, đồng
nghĩa, quyền con người trong đó có quyền tự do kinh doanh được Nhà nước không
những công nhận, tôn trọng mà còn được bảo vệ. Tuy nhiên, không phải các nhà
đầu tư được tự do thực hiện tất cả các ngành nghề, mà chỉ được thực hiện các ngành
nghề mà pháp luật không cấm. Theo như quy định pháp luật trước đây, các chủ thể
đầu tư được kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật cho phép. Với quy định này,
các ngành nghề đầu tư kinh doanh bị giới hạn bởi các quy định pháp luật. Điểm hạn
chế của quy định này là pháp luật đôi khi không thể tiên lượng trước tất cả các
ngành nghề có thể xuất hiện vì kinh tế phát triển không ngừng, các ngành nghề kinh
doanh cũng từ đó mà tăng trưởng cả về mặt chất lượng và số lượng, nhiều ngành
nghề kinh doanh mới xuất hiện nhưng nếu pháp luật không quy định thì là một rào
cản đối với các nhà kinh doanh dẫn đến kìm hãm sự phát triển của cả nền kinh tế.
Do vậy, quy định các chủ đầu tư được thực hiện các hoạt động đầu tư với các ngành
nghề mà pháp luật không cấm là một đổi mới tích cực của pháp luật. Tất nhiên, khi
tiến hành các hoạt động các ngành nghề đầu tư mà pháp luật không cấm thì nhà đầu
tư vẫn phải thực hiện các thủ tục cần thiết, các quy định nhất định theo pháp luật,
đặc biệt là đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
16
1.2.2.4 Nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh
theo quy định
Nhằm tiếp tục tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, phù hợp với xu
hướng hội nhập chung của thế giới vào Việt Nam, bảo đảm đầu tư còn thực hiện
theo nguyên tắc nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh
theo quy định. Nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc nhà đầu tư
được thực hiện các ngành nghề mà pháp luật không cấm, thể hiện quyền tự định
đoạt của các nhà đầu tư. Khi thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư phải bỏ tiền hoặc tài
sản khác ra để thực hiện đầu tư, do vậy họ phải đòi hỏi quyền định đoạt của mình
đối với hoạt động đầu tư đó. Việc tự định đoạt của nhà đầu tư được thể hiện ở việc
nhà đầu tư được lựa chọn lĩnh vực tiến hành đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức
huy động vốn, địa bàn đầu tư, quy mô và đối tác đầu tư,… Ngoài ra, nhà đầu tư có
quyền đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành, nghề; thành lập doanh nghiệp
theo quy định pháp luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư, kinh doanh đã đăng ký.
Nhà nước ghi nhận quyền cơ bản này của chủ đầu tư được xem là hợp lý và tất yếu
để bảo đảm quyền cơ bản của các nhà đầu tư.
1.2.2.5 Nhà nước tôn trọng và cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên
quan đến đầu tư
Trong bối cảnh hiện nay, việc giao lưu hợp tác giứa các quốc gia ngày càng
được tăng cường. Hòa mình cùng sự phát triển của toàn thế giới, Việt Nam đã ký
kết rất nhiều điều ước quốc tế. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết rất đa
dạng, thuộc nhiều lĩnh vực quan trọng trong xã hội. Khi Việt Nam tham gia ký kết
các Điều ước quốc tế với các thành viên khác thì điều ước quốc tế với các điều
khoản phải được ưu tiên sử dụng, bất kể có sự khác biệt với pháp luật trong nước,
trừ Hiến pháp. Điều này được ghi nhận trong Luật Đầu tư 2014, cụ thể như sau:
“Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều
10Khoản 3, Điều 4 Luật Đầu tư Việt Nam 2014.
ước quốc tế đó”10. Ngoài ra, Luật Điều ước quốc tế 2016 cũng quy định tương tự
17
Luật Đầu tư 2014, đó là ưu tiên áp dụng theo điều ước quốc tế, tuy nhiên quy định
thêm trường hợp ngoại lệ: “ Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước
quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ
Hiến pháp”11. Như vậy, theo quy định này thì khi Điều ước quốc tế và Hiến pháp có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì sẽ áp dụng Hiến pháp để điều chỉnh vấn
đề đó.
1.2.3. Vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư
Các biện pháp bảo đảm đầu tư là những cam kết mà Nhà nước dành cho các nhà
đầu tư nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu
tư, là một trong những công cụ thúc đẩy đầu tư và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Do đó, các biện pháp bảo đảm đầu tư đóng vai trò vô cùng quan trọng. Theo quan
điểm của tác giả, các biện pháp đầu tư có các vai trò nổi bật như sau:
Thứ nhất, các biện pháp đầu tư là cơ sở giúp các nhà đầu tư ra quyết định đầu
tư.
Một nhà đầu tư trước khi đầu tư vào một dự án mới sẽ luôn quan tâm đến độ an
toàn và hiệu quả của việc đầu tư. Những dự án được bảo đảm đầu tư sẽ được ưu tiên
lựa chọn vì có lợi hơn cho nhà đầu tư khi tính an toàn cao hơn, thuận lợi, tiết kiệm
và hiệu quả hơn so với việc đầu tư vào một dự án ít hoặc không được đảm bảo. Nhà
nước đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước,
đảm bảo những vấn đề cần thiết về pháp lý để các nhà đầu tư có thể thực hiện dự án
một cách yên tâm. Như vậy có thể khẳng định các biện pháp bảo đảm đầu tư là nền
tảng, cơ sở để các nhà đầu tư lựa chọn hình thức, lĩnh vực, địa bàn đầu tư.
Thứ hai, các biện pháp bảo đảm đầu tư là điểm tựa an toàn cho hoạt động đầu
tư.
Như đã phân tích tại mục trên, hoạt động đầu tư mang lại lợi nhuận nhưng cũng
11Khoản 1, Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016.
tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó khi thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư luôn mong muốn có
18
một điểm tựa an toàn để hoạt động đầu tư hiệu quả. Các biện pháp bảo đảm đầu tư
giống như một lời cam kết giúp các nhà đầu tư yên tâm thực hiện dự án đầu tư của
mình. Đồng thời, những biện pháp đảm bảo này còn xây dựng niềm tin cho các nhà
đầu tư và tạo ra một một cơ chế thủ tục hành chính thông thoáng, giúp cho các dự
án đầu tư diễn ra minh bạch, hiệu quả, công bằng.
Thứ ba, biện pháp bảo đảm đầu tư thống nhất quyền lợi các nhà đầu tư
Các biện pháp bảo đảm đầu tư được quy định trong pháp luật tạo tính thống nhất
cho quyền lợi cho các nhà đầu tư. Tính nhất quán trong pháp luật bảo đảm công
bằng cho các nhà đầu tư khác nhau, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các nhà
đầu tư khi tiến hành thực hiện dự án đầu tư của mình.
1.3 Những vấn đề lý luận về khuyến khích đầu tư
Như đã phân tích tại mục trên các vấn đề khái quát về đầu tư, ta có thể thấy đầu
tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển của kinh tế. Để hoạt động đầu tư diễn ra
có hiệu quả và kích cầu nền kinh tế quốc gia thì ngoài bảo đảm đầu tư, cần thiết
phải đưa ra những biện pháp khuyến khích đầu tư phù hợp để kích thích, thu hút
đầu tư vào Việt Nam. Vậy khuyến khích đầu tư là gì? Và phân biệt khuyến khích
đầu tư và bảo đảm đầu tư như thế nào?
1.3.1 Khái niệm khuyến khích đầu tư và các biện pháp khuyến khích đầu tư
Hiện này, chưa có một khái niệm chính thức nào về khuyến khích đầu tư. Theo
Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) thì
“Investment promotion covers all activities and measures aimed at creating
favourable determinants for foreign investment in the host country. These
determinants include the policy framework for foreign investment, economic
determinants, and business facilitation”12. Theo đó, khuyến khích đầu tư bao gồm
tất cả các hoạt động và các biện pháp nhằm tạo ra những thuận lợi cho các nhà đầu
12Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), “Investment promotion provisions in international investment agreements”, UNITED NATIONS New York and Geneva, 2008.
tư nước ngoài tại nước sở tại. Những yếu tố quyết định bao gồm chính sách đầu tư
19
cho người nước ngoài, các yếu tố quyết định kinh tế và tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm này chưa bao quát khi mới áp dụng với các đối tượng
là các nhà đầu tư nước ngoài.
Để mang tính tổng quát hơn, có thể rút ra khái niệm Khuyến khích đầu tư là
công cụ, chính sách được Chính phủ sử dụng nhằm thu hút đầu tư hoặc định hướng
đầu tư theo những mục tiêu nhất định. Dưới góc độ pháp lí, khuyến khích đầu tư
được coi là một trong những biện pháp thu hút vốn đầu tư có hiệu quả. Trong bối
cảnh các quốc gia trên thế giới đều cần vốn đầu tư để giúp nền kinh tế có thể tồn tại
và phát triển thì khuyến khích đầu tư càng có vai trò thiết yếu không thể thiếu.
Các biện pháp khuyến khích đầu tư là những quy định do nhà nước ban hành
nhằm tạo điều kiện thuận lợi hay tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư
trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên
cơ sở kết hợp giữa lợi ích nhà nước, nền kinh tế- xã hội và của các nhà đầu tư. Hiến
pháp Việt Nam đã có nhiều quy định liên quan đến việc nhà nước khuyến khích đối
với hoạt động đầu tư, cụ thể: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân,
doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền
vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá
nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc
hữu hóa”13.
Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, chương 3 Luật Đầu tư 2014 đã cụ
thể hóa quy định về khuyến khích đầu tư, trong đó các biện pháp khuyến khích đầu
tư có thể bao gồm các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Ưu đãi đầu tư và hỗ
trợ đầu tư là tất các chính sách do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi
hoặc tạo ra những thuận lợi nhất định cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi
tiến hành đầu tư vào Việt Nam mà theo quy định của pháp luật được hưởng các ưu
đãi đầu tư hoặc được hỗ trợ đầu tư trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích Nhà nước,
lợi ích công cộng và lợi ích của các nhà đầu tư. Ưu đãi đầu tư có thể là ưu đãi về
13 Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp Việt Nam 2013.
thuế và các ưu đãi về tài chính. Còn hỗ trợ đầu tư là những biện pháp tích cực chủ
20
động của nhà nước nhằm giúp đỡ các nhà đầu tư, thường áp dụng trong trường hợp
xảy ra những bất lợi hay rủi ro đối với các nhà đầu tư tại những địa bàn mà chính
phủ khuyến khích đầu tư.
1.3.2 Phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư
Theo quy định Luật Đầu tư 2014, các biện pháp khuyến khích đầu tư có thể bao
gồm các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Khi các nhà đầu tư quyết định và
tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam, với phương hướng phát triển kinh tế làm
nòng cốt, nhà nước luôn khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ được
hưởng các ưu đãi đầu tư và sẽ được hỗ trợ đầu tư nếu các nhà đầu tư thực hiện đầu
tư vào các lĩnh vực mà Nhà nước quy định, vào những nơi có điều kiện Kinh tế – xã
hội khó khăn hoặc các ngành nghề thuộc danh mục ưu đãi đầu tư của Nhà nước. Ưu
đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư có tầm quan trọng chiến lược trong sự tăng trưởng kinh
tế và mang lại nhiều tác động tích cực đến kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Như
vậy, để phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư, có thể dựa trên phân loại ưu
đãi và hỗ trợ đầu tư, bao gồm: Ưu đãi về tài chính; ưu đãi về chính sách sử dụng
đất, mặt nước,mặt biển; các biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính;…
1.3.2.1 Các ưu đãi về tài chính
Các ưu đãi về tài chính có thể là ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,….
Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp:
Một trong những vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm khi thực hiện dự án đầu tư là
ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp là một
trong những công cụ mà các nhà lập pháp Việt Nam sử dụng để thu hút đầu tư đặc
biệt là đầu tư nước ngoài. Trong trường hợp công ty có vốn đầu tư nước ngoài thực
hiện một dự án đâu tư mới thì để dự án đó được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập
doanh nghiệp thì phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định. Chẳng hạn, đối với doanh
nghiệp, điều kiện là doanh nghiệp đó thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ
và nộp thuế theo kê khai; Hoạch toán riêng phần thu nhập từ hoạt động được ưu đãi
thuế với phần không được ưu đãi thuế. Đối với dự án mới, một số điều kiện như Dự
21
án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu từ ngày 01/01/2014 và phát sinh doanh
thu của dự án đó sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Dự án đầu tư trong
nước gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới có vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng Việt
Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp từ ngày 01/01/2014;….
Tuy nhiên, có một số trường hợp dự án đầu tư mới không được hưởng ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp như: Dự án đầu tư hình thành từ việc: chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Dự
án đầu tư hình thành từ việc chuyển đổi chủ sở hữu;…
Ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu
Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào
hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. Thuế xuất nhập
khẩu có thể được dùng như công cụ bảo hộ mậu dịch, có tác động là giảm nhập
khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đất hơn so với các mặt hàng thay thế có
trong nước, giảm xuất khẩu do nhà nước không khuyến khích xuất khẩu các mặt
hàng sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt, hay các mặt hàng quan
trọng với sự an toàn an ninh quốc gia;… Những tác động nêu trên của thuế xuất
nhập khẩu là một trong những nguyên nhân lo ngại của các chủ đầu tư khi thực hiện
hoạt động đầu tư của mình. Chính vì vậy, để phá bỏ rào cản và khuyến khích đầu tư,
nhà nước đã ban hành quy định nhà đầu miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa bao
gồm các thiết bị, máy móc, vật tư, phương tiện vận tải và hàng hóa khác để thực
hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.
Ngoài các ưu đãi kể trên, các nhà đầu tư còn được hưởng các ưu đãi về thuế giá
trị gia tăng, nhà nước chủ trương miễn thuế giá trị gia tăng đối với một số hàng hóa,
hoạt động phục vụ đầu tư nhất định; hay ưu đãi liên quan đến vấn đề về chuyển lỗ
kinh doanh, doanh nghiệp có lỗ được chuyển lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ
vào thu nhập tính thuế. Thời gian được chuyển lỗ không quá năm năm, kể từ năm
tiếp theo năm phát sinh lỗ.
22
1.3.2.2 Các ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển
Các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực khuyến khích đầu tư
hoặc đầu tư vào địa bàn được khuyến khích đầu tư sẽ được hưởng một số ưu đãi
liên quan đến việc sử dụng đất như: giá thuê đất, thời hạn thuê đất. Đối với việc sử
dụng mặt nước, mặt biển, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành những khung giá
tương đối ổn định và có những ưu đãi cụ thể, đặc biệt là với những dự án thuộc đối
tượng đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư.
Chính sách ưu đãi về đất đai được nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước thực
hiện dự án đầu tư nghiên cứu, nhân giống, nuôi trồng dược liệu được quy định
tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định 65/2017/NĐ-CP chính sách đặc thù về giống, vốn và
công nghệ trong phát triển, nuôi trồng, khai thác dược liệu có hiệu lực từ ngày
05/07/2017. Cụ thể là:
Trường hợp được nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước để nuôi trồng, xây dựng
nhà xưởng, kho chứa dược liệu thì được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước
theo quy định của pháp luật đất đai.
1.3.2.3 Các biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính về đầu tư đang là rào cản trong môi trường kinh doanh như
các thủ tục xin đăng ký kinh doanh, giải phóng mặt bằng, xin giấy phép xây
dựng,…. Để tiếp tục tăng cường năng lực cạnh tranh trên lĩnh vực thu hút đầu tư
trong và ngoài nước thì Nhà nước cần tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn, đặc
biệt là giảm bớt các rào cản về hành chính tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà
đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, có chính sách bảo đảm hấp dẫn, công
bằng, minh bạch và thống nhất cho các nhà đầu tư. Các biện pháp cụ thể như: tạo ra
đầu mối duy nhất để các nhà đầu tư nước ngoài có thể liên hệ để xin cấp phép đầu
tư; rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải
thiện cách thức đăng kí cấp phép đầu tư; thành lập Cục đầu tư trực tiếp nước ngoài
với cơ cấu gồm 3 trung tâm xúc tiến đầu tư tại 3 tỉnh Bắc, Trung, Nam. Vai trò của
Cục như một trung tâm dịch vụ hỗ trợ, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được cung cấp
đầy đủ các thông tin về môi trường đầu tư, các thủ tục cấp phép cần thiết cho việc
thành lập và hoạt động của doanh nghiệp.
23
1.3.2.4 Các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ để khuyến khích đầu tư khác
Ngoài những ưu đãi về thuế; sử dụng đất, mặt nước, mặt biển; ưu đãi các thủ tục
hành chính, còn có những biện pháp ưu đãi, hỗ trợ khác cho các nhà đầu tư như: Ưu
đãi về chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp được cho vay vốn với lãi suất ưu
đãi, hỗ trợ lãi suất vay để thực hiện chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kinh phí thông
qua thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc hỗ trợ trực tiếp; hay ưu đãi đào
tạo nhân công; ưu đãi về ngoại hối;….
1.3.3 Vai trò của các biện pháp khuyến khích đầu tư
Thu hút đầu tư trong và ngoài nước là chủ trương quan trọng của bất cứ quốc
gia nào. Không chỉ khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào các loại hình
doanh nghiệp, nhà nước còn tăng cường khuyến khích các nhà đầu tư vốn vào
những địa bàn, lĩnh vực và ngành nghề trọng điểm sao cho phù hợp với hướng phát
triển của cả nền kinh tế. Việc đưa ra các biện pháp khuyến khích đầu tư có ý nghĩa
nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Với ý nghĩa to lớn đó, các biện pháp khuyến khích đầu
tư giữ một vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ với doanh nghiệp, nhà nước mà
với cả nền kinh tế.
1.3.3.1 Vai trò đối với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp khi thực hiện đầu tư là đã quyết định hi sinh nguồn lực ở hiện
tại để thu về các kết quả cao hơn trong tương lai. Tuy nhiên, những rào cản về môi
trường pháp lý, môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế – xã hội,… đã tác động
không nhỏ đến hoạt động đầu tư. Do đó, các biện pháp khuyến khích đầu tư đóng
góp vai trò quan trọng khi đã giảm thiểu, hạn chế và xóa bỏ được những rào cản
trong đầu tư, tạo một môi trường đầu tư thông thoáng, cởi mở, có sức hấp dẫn và
khi đó, doanh nghiệp chính là những người được hưởng lợi, có khả năng cạnh tranh
cao hơn, giúp doanh nghiệp thu lợi lớn hơn, là điều kiện để doanh nghiệp gia tăng
vốn tự có, thực hiện tái đầu tư và các hoạt động khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
24
1.3.3.2.Vai trò đối với nhà nước
Thông qua việc ban hành và áp dụng các biện pháp đầu tư, nhà nước chủ động
cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chủ quan của mình; khai thác có hiệu quả tài
nguyên của đất nước; tạo thêm công ăn việc làm; đẩy mạnh hoạt động đầu tư, tăng
tích luỹ cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước; nhanh chóng tạo được chỗ đứng
vững chắc của nước ta trong phân công lao động quốc tế, tạo được thế mạnh trên thị
trường quốc tế.
1.3.3.3.Vai trò đối với nền kinh tế
Đối với nền kinh tế, các biện pháp khuyến khích đầu tư góp phần thu hút vốn
đầu tư trong nước nhằm thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế khu vực, góp phần kích
thích tăng trưởng kinh tế; tạo ra sự đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư, phù hợp
với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư
đầu tư cần được xem xét cẩn trọng vì đây là chính sách ảnh hưởng đến hệ thống
thuế quốc gia và những hạn chế về ngân sách mà nó tạo ra đối với nước sở tại. Các
biện pháp khuyến khích đầu tư cần phải được rà soát liên tục nhằm đánh giá tính
hiệu quả của các biện pháp và giám sát để xác định liệu các biện pháp đó có thực sự
mang lại kết quả như mong đợi hay không.
1.3.4 Các yếu tố liên quan trong khuyến khích đầu tư
1.3.4.1 Yếu tố kinh tế vĩ mô
Trong các yếu tố liên quan trong khuyến khích đầu tư, yếu tố kinh tế vĩ mô là
một yếu tố cơ bản nhất,bao gồm các yếu tố như: Độ mở cửa kinh tế quốc tế của
quốc gia tiếp nhận; sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô; chiến lược thu hút vốn để
phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia và hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận
vốn đầu tư.
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là
xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Các quốc gia hợp tác cùng tồn tại và
phát triển. Quốc gia có mức độ mở cửa càng lớn thì các biện pháp khuyến khích đầu
tư càng được tăng cường và ngược lại.
25
Về sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội;
là điều kiện quan trọng để thu hút các nhà đầu tư. Với môi trường kinh tế bất ổn thì
hoạt động đầu tư tại nơi này sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro kinh doanh mà các nhà đầu tư
không thể lường trước được. Do đó, các nhà đầu tư sẽ hạn chế khi tham gia vào
những nước có môi trường kinh tế vĩ mô kém ổn định.
Đối với yếu tố chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế – xã hội của quốc
gia, xét trên bình diện chung cả nước, trong bối cảnh ngân sách hạn chế, chủ trương
xuyên suốt là thu hút các nguồn lực từ xã hội để tạo động lực phát triển kinh tế - xã
hội. Tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh và hướng tới thu
hút dự án đầu tư có vai trò động lực và tác động quan trọng cho sự phát triển kinh tế
xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Một yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng liên quan đến khuyến khích đầu tư là hệ
thống pháp luật của nước tiếp nhận vốn đầu tư. Những quy định của pháp luật thông
thoáng đã mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của các nhà
đầu tư bằng việc xóa bỏ một loạt rào cản đầu tư không phù hợp với thông lệ kinh tế
thị trường và cam kết hội nhập quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi
trường đầu tư kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng
giữa các nhà đầu tư.
1.3.4.2 Nhân tố nội địa của địa phương tiếp nhận vốn đầu tư
Liên quan đến khuyến khích đầu tư, nhân tố nội địa của địa phương với sự phát
triển cơ sở hạ tầng là một điều kiện vật chất để các nhà đầu tư quyết định tiến hành
hoạt động đầu tư. Cơ sở hạ tầng có thể là mạng lưới giao thông, hệ thống điện, cấp
thoát nước, sân bay, cảng biển, mạng lưới thông tin liên lạc,…Cơ sở hạ tầng tốt là
yếu tố quan trọng giúp nhà đầu tư giảm thiểu chi phí, tạo thuận lợi cho các nhà đầu
tư có thể triển khai các hoạt động đầu tư có hiệu quả, đạt được lợi nhuận như mong
muốn.
Ngoài yếu tố về sự phát triển cơ sở hạ tầng thì yếu tố như địa lý thuận lợi, địa
chất ổn định, nguồn nhân lực dồi dào, nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên
phong phú cũng là một yếu tố quan trọng giúp thu hút các nhà đầu tư.
26
Thủ tục hành chính và tư tưởng thái độ của lãnh đạo địa phương cũng là các yếu
tố tác động mạnh và góp phần tạo nên sự thành công của việc thu hút vốn đầu tư
vào địa phương đó. Nếu thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, gọn nhẹ thì sức hút
đối với các nhà đầu tư càng lớn. Nếu lãnh đạo địa phương nhận thức và thấy rõ
được vai trò quan trọng của vốn đầu tư thì sẽ có những chính sách ưu tiên, tạo điều
kiện thuận lơi, cải thiện môi trường đầu tư, chủ động tìm đối tác đầu tư phù hợp để
thu hút vốn đầu tư vào địa phương mình.
1.3.4.3 Nhân tố liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài
Các quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì ngoài yếu tố hoàn thiện
môi trường đầu tư, hệ thống pháp luật và các chính sách đối ngoại,… thì còn phải
chú trọng đến các chiến lược và tiềm lực tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài.
Với các nhà đầu tư có khả năng tài chính thì khi các quốc gia tạo điều kiện thuận lợi
và có cơ hội kinh doanh thì mới tiến hành đầu tư được.
1.4 Những quy định của pháp luật về bảo đảm đầu tư và khuyến khích
đầu tư theo Luật Đầu tư
Tại Việt Nam, quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp 2013 ghi nhận “Mọi
người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không
cấm”14. Trên cơ sở thể chế hóa Hiến pháp 2013, Luật Đầu tư đã quy định những
chính sách của nhà nước đối với đầu tư kinh doanh nhằm bảo đảm, khuyến khích
việc đầu tư kinh doanh của các cá nhân, tổ chức. Luật Đầu tư quy định về bảo đảm
đầu tư và khuyến khích đầu tư như sau:
1.4.1 Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm theo Luật Đầu tư
1.4.1.1 Bảo đảm quyền sở hữu tài sản
Quy định pháp luật Việt Nam hiện nay đã chú trọng đến việc khuyến khích, tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt
Nam. Như đã phân tích trong mục trên, bảo đảm quyền sở hữu tài sản là một trong
14 Điều 33, Hiến pháp 2013
những nguyên tắc bảo đảm đầu tư mà theo nguyên tắc này nhà đầu tư được quyền
27
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà pháp luật không
cấm, được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định pháp luật ;
được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài
nguyên khác theo quy định của pháp luật; Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở
hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà
đầu tư.
Bảo đảm đầu tư là một nội dung quan trọng được nhà nước chú trọng và đưa
vào các quy định pháp luật từ khá lâu. Ngay trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam năm 1987 có quy định: “Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản
của các tổ chức, cá nhân nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện
pháp hành chính, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá”15.
Quy định bảo đảm rằng vốn và tài sản của các nhà đầu tư tại Việt Nam sẽ không bị
tịch thu, trưng dụng hay quốc hữu hóa. Ngoài ra, nhà đầu tư có thể chuyển về nước
lợi nhuận thu được trong quá trình kinh doanh, những khoản tiền cho việc cung cấp
kỹ thuật hoặc dịch vụ; tiền gốc và lãi của các khoản cho vay trong quá trình hoạt
động; vốn đầu tư và các tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ đầu tư.
Tuy nhiên, quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 về bảo
đảm đầu tư còn sơ sài, chưa lường trước hết các trường hợp có thể xảy ra trong quá
trình hoạt động đầu tư. Năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa
đổi, bổ sung quy định trường hợp khác “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà
đầu tư nước ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam. Trong
trường hợp do thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi
ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp
tác kinh doanh đã được cấp giấy phép, thì Nhà nước có biện pháp giải quyết thoả
đáng đối với quyền lợi của nhà đầu tư”16. So với năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam năm 1996 có điểm mới, nổi bật là quy định thêm về việc bảo đảm
15 Điều 21 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987
16 Điều 21 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996.
quyền sở hữu công nghiệp. Với sự phát triển kinh tế, sự bùng nổ của công nghệ
28
thông tin đòi hỏi các nhà đầu tư phải nhanh chóng đưa vào thị trường sự thay đổi về
công nghệ để tăng sức cạnh tranh, do đó bổ sung quy định về bảo đảm quyền sở
hữu công nghiệp là một bước tiến có ý nghĩa quan trọng, góp phần thu hút đầu tư và
giúp đất nước bắt kịp xu thế hội nhập quốc tế. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
năm 1996 cũng quy định trường hợp pháp luật có thay đổi mà làm thiệt hại đến lợi
ích của nhà đầu tư thì nhà nước sẽ có biện pháp giải quyết thỏa đáng đối với quyền
lợi của nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, theo thời gian, pháp luật luôn luôn có sự điều
chỉnh, sửa đổi bổ sung hay hủy bỏ để phù hợp với thực trạng thi hành. Do vậy, quy
định nêu trên là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, tuy nhiên thế nào là giải quyết
thỏa đáng quyền lợi của nhà đầu tư, hay các biện pháp giải quyết chi tiết như thế
nào vẫn là một dấu hỏi cho pháp luật Việt Nam khi màtrong giai đoạn hiện nay,
pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh, hướng dẫn nội dung này. Khắc
phục những hạn chế của các quy định về đầu tư trước đây, Luật Đầu tư 2014 được
ban hành với một nội dung mới quan trọng “Trường hợp Nhà nước trưng mua,
trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia; tình trạng
khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo
quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp
luật có liên quan”17. Theo quy định này, mọi nhà đầu tư có hoạt động đầu tư theo
quy định pháp luật Việt Nam đều được bảo đảm về quyền sở hữu tài sản hợp pháp.
Các biện pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư có hiệu
lực kể từ khi các nhà đầu tư bắt đầu triển khai dự án đầu tư mà không cần phải
thông qua bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Quy định này có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong việc tạo sự yên tâm về mặt pháp lý cho các chủ đầu tư, giúp các
nhà đầu tư yên tâm trước sự bảo hộ về tài sản hợp pháp của mình không bị quốc
hữu hóa hay tịch thu. Trừ trường hợp bất khả kháng vì lý do quốc phòng, an ninh
hay tình trạng khẩn cấp thì nhà nước được phép trưng mua, trưng dụng nhưng nhà
nước sẽ thanh toán, bồi thường cho chủ đầu tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
17 Khoản 2, Điều 9 Luật Đầu tư Việt Nam 2014
của chủ đầu tư được bảo hộ.
29
1.4.1.2 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, nhằm mục đích tăng cường đầu
tư phát triển kinh tế, nhà nước đã bảo đảm tạo môi trường cạnh tranh phát triển lành
mạnh và bảo hộ đầu tư. Bên cạnh những đảm bảo về quyền sở hữu tài sản, nhà nước
còn đảm bảo hoạt động đầu tư kinh doanh. Theo đó, pháp luật quy định một số hoạt
động nhà đầu tư không bắt buộc phải thực hiện, cụ thể:
“ 1. Nhà nước không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện những yêu cầu sau
đây:
a) Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua, sử
dụng hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ trong nước;
b) Xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng,
giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;
c) Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá
trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp
ứng nhu cầu nhập khẩu;
d) Đạt được tỷ lệ nội địa hóa đối với hàng hóa sản xuất trong nước;
đ) Đạt được một mức độ hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và
phát triển ở trong nước;
e) Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc
nước ngoài;
g) Đặt trụ sở chính tại địa điểm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.”18
Về việc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, nhà đầu tư có thể thực hiện trong
nước hoặc không thực hiện ở trong nước. Quy định này giúp cho nhà đầu tư tự do
18 Điều 10, Luật Đầu tư 2014.
lựa chọn sử dụng dịch vụ, hàng hóa được cung ứng từ nước ngoài, là một lợi thế bởi
30
đối với một số mặt hàng, chất lượng sản phẩm nước ngoài hơn hẳn sản phẩm nội
địa.
Về việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, nhà đầu tư không bị buộc phải đạt đến
một tỉ lệ nhất định. Bên cạnh đó, số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất
khẩu hoặc sản xuất, cung ứng ở trong nước cũng không bị hạn chế. Tuy nhiên theo
quy định trên cần bổ sung thêm nội dung không hạn chế trừ một số mặt hàng bị
cấm.
Khi nhập khẩu, nhà đầu tư không bị yêu cầu nhập khẩu một khối lượng hàng
hóa, dịch vụ tương ứng số hàng hóa xuất khẩu. Nếu không cân bằng được, nhà đầu
tư có thể tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.
Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, nhà đầu tư cũng không bị buộc pải đạt
được tỷ lệ nội địa hóa19.
Ngoài ra, đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư
của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và những dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng quan trọng khác, pháp luật có quy định Thủ tướng Chính phủ quyết định việc
bảo đảm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ căn cứ định hướng phát triển kinh tế - xã hội,
chính sách quản lý ngoại hối và khả năng cân đối ngoại tệ trong từng thời kỳ. Đây
là một trong những quy định đảm bảo quan trọng cho hoạt động đầu tư kinh doanh
của nhà đầu tư.
1.4.1.3 Bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp
Quy định của Luật Đầu tư về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp
pháp như sau:
“Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo
quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài
sản sau đây:
19“Tỷ lệ nội địa hóa là tỷ lệ sử dụng các nguyên vật liệu và phụ tùng công nghiệp sản xuất trong nước so với nhập khẩu”, khái niệm theo trang web: https://pedia.vietstock.vn/terms/termdetail.aspx?id=1933
1. Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;
31
2. Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh;
3. Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư”20.
Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu
của các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vào một quốc gia khác. Quy định trên bảo
đảm cho các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển lợi nhuận hợp pháp ra nước ngoài
sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, góp phần tạo môi trường đầu tư an
toàn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các tài sản nhà đầu tư có thể được chuyển ra
nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư; Thu nhập từ hoạt động
đầu tư kinh doanh; Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư. Lợi
nhuận mà nhà đầu tư chuyển ra nước ngoài là lợi nhuận sau thuế, khi mà nhà đầu tư
đã nộp thuế thu nhập trước khi chuyển lợi nhuận. Với biện pháp bảo đảm đầu tư này
đã hợp lý hóa quy định về việc chống đánh thuế hai lần đối với lợi nhuận của các
nhà đầu tư nước ngoài. Biện pháp này cũng góp phần thực hiện có hiệu quả biện
pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư, đồng thời tăng khả
năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
1.4.1.4 Bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng
Điều 12, Luật Đầu tư 2014 quy định:
“ Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo lãnh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc doanh nghiệp nhà nước tham gia thực
hiện dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ và những dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quan trọng
khác”21.
Theo quy định trên, Chính phủ sẽ thực hiện bảo lãnh đối với một số dự án quan
trọng. Đó là những dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, ảnh hưởng đến kinh tế và
cả xã hội. Biện pháp bảo đảm đầu tư này cho thấy sự quan tâm của chính phủ đối
20 Điều 11, Luật Đầu tư 2014.
21 Khoản 1, Điều 12 Luật Đầu tư 2014.
với các dự án quan trọng đó. Ngoài ra, những dự án này phải là những dự án lớn,
32
nhà đầu tư phải có tiềm lực tài chính mạnh và lượng vốn dồi dào nên cần sự bảo
lãnh của Chính phủ là rất cần thiết.
1.4.1.5. Bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có thay đổi về chính sách
pháp luật
Nhằm khuyến khích đầu tư, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối
với những dự án đầu tư. Nhưng việc áp dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư là có thời
hạn. Trong trường hợp, trong thời hạn đang được hưởng ưu đãi đầu tư, pháp luật
liên quan đến ưu đãi đầu tư có sự thay đổi thì theo tinh thần của Luật Đầu tư
2014,nếu có sự thay đổi về chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan trực tiếp
đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư thì nhà nước cam kết bảo đảm tối đa
các quyền lợi cho các nhà đầu tư, cụ thể như sau:
“1. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư
cao hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư được hưởng
ưu đãi đầu tư theo quy định của văn bản pháp luật mới cho thời gian hưởng ưu đãi
còn lại của dự án.
2. Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư
thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được
tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi
còn lại của dự án”22.
Trong trường hợp, chính sách ưu đãi đầu tư thay đổi thấp hơn so với quy định
trước đó vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
hội, sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường thì dự án đầu tư phải áp dụng mức ưu
đãi giảm so với mức ưu đãi hiện tại theo quy định được thay đổi. Khi đó, nhà đầu tư
sẽ được xem xét giải quyết bằng một hoặc một số biện pháp: Khấu trừ thiệt hại thực
tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế; Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án
22 Khoản 1, khoản 2 Điều 13, Luật Đầu tư 2014.
đầu tư; hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại,…
33
Biện pháp đảm bảo quyền lợi của nhà đầutư trong trường hợp có thay đổi chính
sách, pháp luật thể hiện rõ nét thiện ý và mong muốn của nhà nước đối với việc thu
hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài.
Tuy nhiên, quy định nêu trên mới chỉ đề cập đến việc bảo đảm quyền lợi của
nhà đầu tư khi có sự thay đổi ưu đãi đầu tư, chưa bao quát hết theo tiêu đề Điều luật
về sự thay đổi của chính sách, pháp luật. Thực trạng tại Việt Nam, pháp luật luôn
luôn có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tiễn thi hành, khi thay đổi chính
sách pháp luật mà nhà đầu tư chỉ được bảo đảm quyền lợi về ưu đãi đầu tư thì chưa
đủ, chẳng hạn một dự án đầu tư được nhà đầu tư trước đó thực hiện không thuộc dự
án đầu tư, kinh doanh có điều kiện. Nhưng sau khi thay đổi pháp luật, dự án đó lại
thuộc dự án đầu tư kinh doanh có điều kiện, thì theo quy định pháp luật nhà đầu tư
đó vẫn phải thực hiện các thủ tục và điều kiện theo luật mới mà luật cũ không yêu
cầu. Như vậy, trong trường hợp thay đổi chính sách pháp luật, nhà nước cần quan
tâm nhiều khía cạnh hơn nữa ngoài ưu đãi về đầu tư như quy định hiện nay.
1.4.2. Nội dung pháp luật về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu tư
1.4.2.1 Đối tượng và nguyên tắc điều chỉnh, giới hạn can thiệp bằng pháp
luật của các biện pháp khuyến khích theo Luật Đâu tư đối với hoạt động đầu tư
Đối tượng được hưởng các biện pháp khuyến khích đầu tư
Theo quy định Luật Đầu tư 2014, đối tượng được hưởng các biện pháp khuyến
khích đầu tư bao gồm các ngành nghề thuộc dự án ưu đãi đầu tư, thực hiện dự án
đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư và hình thức ưu đãi, cụ thể như sau:
- Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề đầu tư ưu đãi như: Hoạt động công nghệ cao,
sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao, hoạt động nghiên cứu và phát triển;
sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản
xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản
xuất sản phẩm điện tử, sản phẩm cơ khí trọng điểm, máy nông nghiệp, ô tô, phụ
tùng ô tô; đóng tàu; Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may, da
giày; Sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số; Nuôi trồng,
chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; trồng và bảo vệ rừng; làm muối; khai thác hải
34
sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi, sản phẩm
công nghệ sinh học; thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải; Đầu tư phát
triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng; phát triển vận tải hành khách
công cộng tại các đô thị; Đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu
hạ tầng; phát triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị; khám bệnh, chữa
bệnh; sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc chủ yếu, thuốc thiết yếu, thuốc
phòng, chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông
y; nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các
loại thuốc mới; Đầu tư cơ sở luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết
tật hoặc chuyên nghiệp; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Đầu tư trung tâm
lão khoa, tâm thần, điều trị bệnh nhân nhiễm chất độc màu da cam; trung tâm chăm
sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ em lang thang không nơi nương
tựa; Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô;…23.
- Dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm: Địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;…24
- Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối
thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư25;
- Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên26;
- Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức
khoa học và công nghệ27.
23Điểm a, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư 2014
24 Điểm b, khoản 2 Điều 15 và khoản 2 Điều 16 Luật Đầu tư 2014
25 Điểm c, khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư 2014
26 Điểm d, khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư 2014
27 Điểm đ, khoản 2 Điều 15 Luật Đầu tư 2014
Nguyên tắc điều chỉnh các biện pháp khuyến khích đầu tư:
35
Các biện pháp khuyến khích đầu tư được điều chỉnh dựa trên các nguyên tắc cơ
bản sau đây:
Nguyên tắc thứ nhất: Nhà nước chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô. Còn hoạt động mang
tính vi mô là hoạt động của các doanh nghiệp, ở đây chính là các nhà đầu tư, họ
được tự do quyết định đầu tư, lựa chọn các ngành nghề đầu tư mà pháp luật không
cấm, lựa chọn địa bàn, hình thức đầu tư,… và tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu
tư của mình.
Nguyên tắc thứ hai: Nhà nước đưa ra các chính sách khuyến khích đầu tư dựa
trên hoàn cảnh phát triển trong nước kết hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Đặc thù
phát triển của mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau, nên không thể sao chép máy
móc mô hình của nước khác vào nước mình. Các chính sách đưa ra căn cứ vào điều
kiện và hoàn cảnh thực tế trong nước. Tuy nhiên, các chính sách cũng cần phù hợp
với các quy định quốc tế, không nên bó hẹp trong khuôn khổ quốc gia có thể gây ra
những hậu quả vô cùng bất lợi cho nền kinh tế.
Nguyên tắc thứ ba: Nhà nước can thiệp vào các hoạt động khuyến khích đầu tư
bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng đảm bảo không gây cản trở quá trình tự do
hóa thương mại quốc tế, không cản trở quyền tự do đầu tư kinh doanh của các chủ
thể khi tiến hành hoạt động đầu tư.
Nguyên tắc thứ tư: Nhà nước can thiệp vào các hoạt động khuyến khích đầu tư
phải đạt được kết quả là sự tăng trưởng kinh tế bền vững; các chủ thể đầu tư được
thỏa mãn lợi ích của mình; xã hội ổn định; ngày càng thúc đẩy hội nhập quốc tế.
Giới hạn can thiệp bằng pháp luật của các biện pháp khuyến khích
Các nguyên tắc nêu trên đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, từ đó, giới hạn can
thiệp bằng pháp luật đối với các biện pháp đầu tư được thể hiện theo những nội
dung: hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lý an toàn và hiệu quả cho việc
xác lập và thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu tư; nhà nước đưa ra các chính
sách vĩ mô, kế hoạch định hướng có liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp, các chính sách vĩ mô có thể là chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách thuế
khóa, chính sách ngoại hối,…
36
1.4.2.2. Quy định pháp luật về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu
tư
Quy định pháp luật về hình thức áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư
Nhà nước bảo đảm cho các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư bằng các
biện pháp bảo đảm quyền sở hữu, bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh, bảo đảm
việc chuyển tài sản ra nước ngoài,… Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho
các nhà đầu tư và để thu hút hoạt động đầu tư, nhà nước còn sử dụng các biện pháp
ưu đãi khuyến khích đầu tư, với các hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư và hình thức
hỗ trợ đầu tư cụ thể được quy định trong Luật Đầu tư 2014 như sau:
“1. Hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư:
a) Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất
thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn,
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp;
b) Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định;
nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư;
c) Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất”28.
Hình thức áp dụng ưu đãi đầu tư được Nhà nước áp dụng chủ yếu là miễn,
giảm các loại thuế cho nhà đầu tư. Ngoài ra, hình thức hỗ trợ đầu tư được pháp luật
quy định:
“ 1. Các hình thức hỗ trợ đầu tư:
a) Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và
ngoài hàng rào dự án;
b) Hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực;
28 Khoản 1 Điều 15 Luật Đầu tư 2014.
c) Hỗ trợ tín dụng;
37
d) Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất
ra khỏi nội thành, nội thị;
đ) Hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ;
e) Hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin;
g) Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển”29.
Trên thực tế, ngoài những hỗ trợ đầu tư nói trên, một số địa phương còn áp
dụng các hình thức hỗ trợ khác như: hỗ trợ giải phóng mặt bằng, rà phá bom mìn,
hỗ trợ chi phí đo đạc lập bản đồ địa chính,… Tùy thuộc vào địa bàn đầu tư và điền
kiện từng địa phương mà nhà đầu tư được hưởng các hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
và mức ưu đãi, hỗ trợ khác nhau.
Quy định pháp luật về thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư
Nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh có thể nhận được các
chính sách ưu đãi đầu tư do nhà nước quy định. Luật Đầu tư 2014 quy định thủ tục
áp dụng ưu đãi đầu tư như sau:
“ 1. Đối với dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cơ quan đăng
ký đầu tư ghi nội dung ưu đãi đầu tư, căn cứ và điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư tại
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
2. Đối với dự án không thuộc trường hợp cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư, nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư nếu đáp ứng các điều kiện hưởng ưu đãi
đầu tư mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trong
trường hợp này, nhà đầu tư căn cứ điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Điều
15 và Điều 16 của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan để tự xác
định ưu đãi đầu tư và thực hiện thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại cơ quan thuế, cơ
29 Khoản 1 Điều 19 Luật Đầu tư 2014
30 Điều 17 Luật Đầu tư 2014
quan tài chính và cơ quan hải quan tương ứng với từng loại ưu đãi đầu tư”30
38
Như vậy, thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư có sự khác biệt đối với dự án thuộc
diện và không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ
trương đầu tư. Tùy thuộc vào tính chất của dự án đầu tư mà chủ đầu tư có thể căn cứ
để xác định thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư.
Quy định pháp luật về điều chỉnh ưu đãi đầu tư
Căn cứ vào Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật đầu tư thì các trường
hợp ưu đãi đầu tư được điều chỉnh bao gồm:
- Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng điều kiện để được hưởng thêm ưu đãi đầu
tư thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư đó cho thời gian ưu đãi còn lại;
- Nhà đầu tư không được hưởng ưu đãi theo quy định tại Giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư, văn bản quyết định chủ trương đầu tư trong trường hợp dự án đầu
tư không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư. Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng điều
kiện hưởng ưu đãi đầu tư khác thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi theo điều kiện đó;
- Trường hợp dự án đầu tư có thời gian không đáp ứng điều kiện
hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư không được hưởng ưu đãi đầu tư cho thời gian
không đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư31.
1.4.3 Bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh
Đầu tư kinh doanh là việc các nhà đầu tư bỏ vốn ra để thực hiện hoạt động kinh
doanh mong muốn thu về lợi nhuận trong tương lai. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt
động đầu tư thì tranh chấp xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Khi đó, tranh chấp
được giải quyết theo quy định pháp luật, cụ thể trong Luật Đầu tư 2014 quy định
như sau:
“1. Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được
31 Khoản 4 Điều 17 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa
39
giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy
định”32.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định các trường hợp giải quyết tranh chấp khác:
Trường hợp1: tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư
kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam
hoặc Tòa án Việt Nam
Trường hợp 2: Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là
nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được giải
quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức: Tòa án Việt Nam; Trọng tài
Việt Nam; trọng tài nước ngoài; trọng tài quốc tế; trọng tài do các bên tranh chấp
thỏa thuận thành lập.
Trường hợp 3: Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được
giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
1.4.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ một
số điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia
Hiện nay, đầu tư quốc tế đang là một xu hướng phát triển kinh tế hàng đầu trên
thế giới, Chính phủ các quốc gia đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư trong
nước, hoàn thiện pháp luật về đầu tư với các biện pháp bảo đảm, khuyến khích để
thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Hơn thế nữa, các quốc gia đã cùng nhau tham
gia xây dựng một cơ chế toàn cầu cho hoạt động đầu tư thông qua các Hiệp định và
Điều ước quốc tế. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ đi sâu tìm hiểu và phân
32 Khoản 1 Điều 14 Luật Đầu tư 2014
tích các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ quy định của
40
một số tổ chức, hiệp hội và các hiệp định tiêu biểu. Luận văn phân tích các quy định
trong khuôn khổ của các Tổ chức từ phạm vi thế giới (WTO) đến khu vực
(ASEAN) mà Việt Nam đã tham gia; Hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết
với bên thứ hai là Liên minh châu Âu (một liên minh với mục tiêu thiết lập một thị
trường kinh tế duy nhất ở châu Âu, đạt được sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu lớn
nhất thế giới, đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn nhất đối với các thị trường
lớn trên thế giới); Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và một quốc gia điển hình
là Hoa Kỳ.
1.4.4.1 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ các
quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Tổ chức Thương mại thế giới WTO được thành lập và hoạt động
từ 01/01/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do,
thuận lợi và minh bạch với các nhiệm vụ chính là thúc đẩy việc thực hiện các Hiệp
định và cam kết trong khuôn khổ WTO, là diễn đàn để các nước thành viên đàm
phán và ký kết các Hiệp định tạo thuận lợi cho thương mại; giải quyết các tranh
chấp phát sinh giữa các thành viên WTO và rà soát định kỳ các chính sách thương
mại của các thành viên. Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7-11-2006, và được
công nhận là thành viên chính thức của tổ chức này vào ngày 11-1-2007. Việc gia
nhập WTO đã mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam với thị
trường rộng lớn, kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực.Từ thời
điểm gia nhập, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang
tính ràng buộc của WTO, thực thi đầy đủ các cam kết gia nhập và các nghĩa vụ
chung trong tổ chức với một số cam kết chính như: Cam kết về mở cửa thị trường
hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, cam kết về đầu tư và cam kết về quyền sở hữu
trí tuệ. Trong đó, đối với các cam kết về đầu tư phải tuân thủ đầy đủ các quy định
của Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS).
Hiệp định TRIMS quy định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị
cấm sử dụng đối với các nước thành viên nhằm tạo ra sự công bằng, thúc đầy mở
rộng tự do hóa đầu tư và thương mại quốc tế để tăng trưởng kinh tế các quốc gia
thành viên trên cơ sở bảo đảm tự do cạnh tranh. Hiệp định đưa ra danh mục minh
41
họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại cấm áp dụng đối với các nước
thành viên WTO, cụ thể:
Bảng 1.1: Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
bị cấm áp dụng (TRIMS)
(Nguồn: Phụ lục Doanh mục minh họa Hiệp định về cá biện pháp đầu tư liên
quan đến thương mại – TRIMS)
Biện pháp Nội dung
Doanh nghiệp nước ngoài mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất
Yêu cầu tỷ xứ trong nước hoặc từ một nguồn cung cấptrong nước, dù yêu cầu
lệ nội địa đó được xác định theo sản phẩm nhất định, theo số lượng hoặc giá
hóa trị sản phẩm hay theo một tỷ lệ trên khối lượng hoặc giá trị sản
lượng sản xuất của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nước ngoài chỉ được mua hoặc sử dụng các sản Yêu cầu cân phẩm nhập khẩu được giới hạn trong một tổng sốtính theo khối bằng lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất thương mại khẩu
Hạn chế doanh nghiệp nước ngoài nhập khẩu sản phẩm để sử Hạn chế dụng trong hoặc có liên quan đến sản xuất của mình bằng việc hạn giao dịch chế khả năng tiếp cận và sử dụng ngoại hối đến một mức nhất ngoại hối định so với các nguồn thu ngoại hối của doanh nghiệp này
Hạn chế doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu hoặc bán để xuất
Hạn chế khẩu các sản phẩm dưới hình thức sản phẩm cụ thề, hay số lượng
xuất khẩu hoặc giá trị sản phẩm hay theo một tỷ lệ về số lượng họăc giá trị
sản lượng sản xuất trong nước của doanh nghiệp
Thời hạn các biện pháp nêu trên phải được loại bỏ là:
- “2 năm đối với thành viên phát triển;
42
- 5 năm đối với thành viên đang phát triển;
- 7 năm đối với thành viên chậm phát triển”33.
Nhằm bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp đã thành lập đang chịu tác động của
một số biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, Hiệp định TRIMs có một điều
khoản quy định cho phép nước thành viên trong giai đoạn chuyển đổi được áp dụng
những biện pháp đó đối với các doanh nghiệp mới thành lập nếu sản phẩm của
những doanh nghiệp này là tương tự với những sản phẩm của các doanh nghiệp đã
thành lập, và việc áp dụng những biện pháp đó là cần thiết để tránh làm méo mó
điều kiện cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đã thành lập và các doanh nghiệp mới
thành lập. Những biện pháp áp dụng đối với cả 2 loại doanh nghiệp này sẽ được loại
bỏ đồng thời.
Điều 6 Hiệp định TRIMS cũng quy địnhCác nước thành viên phải thông báo
cho WTO tất cả các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại không phù hợp với
Hiệp định TRIMs, cũng như các tài liệu, thông tin liên quan, kể cả các biện pháp
được áp dụng ở cấp chính quyền địa phương.Nước thành viên có trách nhiệm cung
cấp thông tin và tạo điều kiện để tiến hành tham vấn nếu có nước thành viên khác
yêu cầu.
Hiệp định TRIMS thường được áp dụng tại các nước đang phát triển, khi mà các
vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài được quan tâm hàng đầu. Việc thực hiện TRIMS
đã đặt ra thách thức lớn cho các nước đang phát triển khi tham gia WTO, trong đó
có Việt Nam. Theo quy định nêu trên, thời hạn đối với các nước đang phát triển là 5
năm, tuy nhiên thời gian này thường không đủ để các quốc gia hoàn thành việc xóa
bỏ các chính sách đi ngược lại với TRIMS. Một số quốc gia còn không có đủ khả
năng để xác định đâu là biện pháp không phù hợp TRIMS, do đó không thể hoàn
thành việc xóa bỏ như TRIMS quy định đúng thời hạn.
Việc thực hiện nghĩa vụ của Hiệp định TRIMS sẽ xóa bỏ rào cản đối với đầu tư
nước ngoài, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia hoạt động đầu tư. Tuy nhiên,
33 Khoản 2 Điều 5 Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại – TRIMS.
hạn chế của Hiệp định này chỉ áp dụng đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến
43
thương mại hàng hoá, khi trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay không chỉ phát
triển về thương mại hàng hóa mà còn các lĩnh vực liên quan khác như thương mại
dịch vụ.
1.4.4.2 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ các
cam kết của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á(ASEAN) ngày 28/07/1995. Kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam đã nhanh
chóng hội nhập và tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực hợp tác của ASEAN, trong
đó có lĩnh vực đầu tư. Trước đây, các hoạt động về đầu tư trong ASEAN được điều
chỉnh bởi hai Hiệp định là Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư năm
1987(IGA) và Hiệp định khung về khu vực đầu tư năm 1998 (AIA) của các nước
ASEAN. Tuy nhiên, do tình hình phát triển trong và ngoài khối dẫn đến một số quy
định trong hai Hiệp định không còn phù hợp. Để tăng cường hợp tác trong khu vực,
tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút đầu tư nước ngoài vào ASEAN và
cũng để phù hợp hơn với tầm nhìn của một cộng đồng kinh tế ASEAN thống nhất,
năng động đòi hỏi phải có một văn bản hoàn chỉnh điều chỉnh toàn diện lĩnh vực
đầu tư trong ASEAN. Chính vì vậy, Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) ra
đời; kế thừa một số quy định của hai hiệp định trước đây, đồng thời có những cải
tiến đáng kể trong việc làm rõ và mở rộng quyền của nhà đầu tư.
Đảm bảo đầu tư và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định AICA được thể hiện
ngay tại Điều 1 về mục tiêu của Hiệp định là tạo ra một cơ chế đầu tư tự do và mở
cửa trong khu vực ASEAN nhằm đạt các mục tiêu cuối cùng như: tự do hóa từng
bước cơ chế đầu tư của các quốc gia thành viên; tăng cường bảo hộ cho các nhà đầu
tư và khoản đầu tư của họ; tăng cường tính minh bạch và có thể dự đoán của các
quy tắc, quy đinh và thủ tục đầu tư nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư
được mở rộng; cùng thúc đẩy khu vực thành một khu vực hội nhập đầu tư và hợp
tác để tạo ra các điều kiện ưu đãi cho hoạt động đầu tư. Cùng với đó, để tạo ra môi
trường đầu tư tự do, thuận lợi và minh bạch, mang tính cạnh tranh thì Hiệp định
cũng quy định các nguyên tắc như sau:
44
“(a) quy định hoạt động tự do hóa đầu tư, bảo hộ đầu tư, xúc tiến và thuận lợi
hóa đầu tư;
(b) tự do hóa từng bước hoạt động đầu tư với mục tiêu thực hiện thành công
một môi trường đầu tư tự do và mở trong khu vực;
(c) tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và các khoản đầu tư của họ trong
ASEAN;
(d) duy trì và chấp thuận đối xử ưu đãi giữa các Quốc gia thành viên;….”34
Hiệp định ACIA với mục tiêu rõ ràng cụ thể, cùng quy định các nguyên tắc phải
tuân thủ, Hiệp định cũng đưa ra các khái niệm rõ ràng và rộng hơn về nhà đầu tư và
đầu tư, giúp giảm rủi ro và sự không chắc chắn cho các nhà đầu tư. Hơn nữa, ACIA
cũng yêu cầu chính phủ sở tại cam kết bằng các hình thức bảo vệ đầu tư. Một trong
những hình thức bảo vệ đó là đối đãi ngang bằng và công bằng - có nghĩa là các
nước chủ nhà phải đưa ra quyết định dựa trên luật pháp và không được phép hành
độngtùy ý và phân biệt đối xử; cung cấp cho các nhà đầu tư quyền tự bảo vệ
mìnhnhư cho phép tiếp cận với luật sư và quyền kháng cáo. Ngoài việc bảo đảm đối
xử ngang bằng và công bằng cho các nhà đầu tư, các chính phủ cũng phải bảo vệ sự
an toàn và an ninh cho các khoản đầu tư mọi lúc.
Nội dung về bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định ACIA cònđược
quy định cụ thể trong Điều 1: Đãi ngộ đầu tư, với nội dung là:
“1. Mỗi Quốc gia thành viên sẽ dành cho khoản đầu tư của nhà đầu tư của bất
kì quốc gia thành viên khác đối xử một cách công bằng và bình đẳng, và bảo hộ an
toàn và đầy đủ,…”
Để bảo đảm và khuyến khích đầu tư, Hiệp định cũng quy định về các biện pháp
khi xảy ra tranh chấp. Các nhà đầu tư có nhiều lựa chọn để giải quyết tranh chấp với
chính phủ sở tại nếu họ cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm. Cơ chế giải
quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài có 3 lựa chọn chính:
34 Điều 2 Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA).
Một là đưa yêu cầu lên các tòa án trong nước của nước chủ nhà.
45
Hai là khi nhà đầu tư cần yêu cầu một bên thứ ba độc lập hơn, họ có thể lựa
chọn sử dụng phương thức trọng tài tòa án quốc tế, ở Ủy ban Liên hợp quốc về Luật
Thương mại quốc tế (UNCITRAL), hoặc Trung tâm Quốc tế Giải quyết tranh chấp
đầu tư (ICSID), hoặc bất kỳ trung tâm trọng tài nào khác trong khu vực ASEAN.
Ba là các bên cũng được tự do lựa chọn một phương thức thay thế khác mà hai
bên thoả thuận, và được khuyến khích giải quyết thông qua hòa giải và thương
lượng tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Hiệp định ACIA đã đề ra các hướng cụ thể để xây dựng và phát triển một khu
vực đầu tư nhiều thuận lợi hơn. Những định hướng phù hợp với tình hình thực tế
khu vực, thích hợp với bối cảnh hiện tại sẽ giúp các nước ASEAN xóa bỏ dần các
yếu tố cản trở, dần hình thành những môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư
vào khu vực.
1.4.4.3 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ
của Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu
(EVFTA và EVIPA)
Tháng 10/2010 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đã đồng ý khởi
động đàm phán Hiệp định EVFTA. Đến Tháng 6/2018, Việt Nam và EU đã chính
thức thống nhất việc tách riêng EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định Thương
mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) phần đầu tư sẽ chỉ bao gồm tự do hóa đầu tư
trực tiếp nước ngoàivà Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) bao gồm nội dung bảo hộ
đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư.Hiệp định Thương mại tự do(EVFTA) và
Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) được
ký kết vào ngày 30/06/2019. Có thể coi hai Hiệp định là toàn diện, chất lượng cao
và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy
định của WTO. Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi
nhớ kèm theo. Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm
tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp
hai bên. Hiệp định EVFTA và EVIPA có hai điểm mới:
Một là, EU sẽ đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, lĩnh vực tiềm năng được
nhiều doanh nghiệp EU chờ đón. Với quy mô và tiềm năng về vốn, công nghệ của
46
EU, Việt Nam đang đứng trước cơ hội trở thành địa bàn trung chuyển, cửa ngõ kết
nối cho hoạt động thương mại và đầu tư của EU trong khu vực châu Á.
Hai là, việc đầu tư hướng tới không chỉ nhằm vào sản xuất, xuất nhập khẩu mà
còn cả những lĩnh vực dịch vụ công nghệ 4.0 như viễn thông và công nghệ thông
tin, kiến trúc và tư vấn kỹ thuật, dịch vụ môi trường.
Trong hiệp định, số các cam kết mang tính quy tắc, có ý nghĩa ràng buộc cách
hành xử chính sách của các bên là rất lớn. Theo đó, hai bên cam kết sẽ dành đối xử
quốc gia và đối xử tối huệ quốc với đầu tư của nhà đầu tư của Bên kia, với một số
ngoại lệ, cũng như sự đối xử công bằng, thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ, cho
phép tự do chuyển vốn và lợi nhuận từ đầu tư ra nước ngoài, cam kết không trưng
thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư mà không có bồi thường thỏa đáng, cam
kết bồi thường thiệt hại phù hợp cho nhà đầu tư của bên kia tương tự như nhà đầu tư
trong nước hoặc của bên thứ ba trong trường hợp bị thiệt hại do chiến tranh, bạo
loạn, v.v... Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh giữa một Bên và nhà đầu tư
của Bên kia, hai bên thống nhất ưu tiên giải quyết tranh chấp một cách thiện chí
thông qua đàm phán và hòa giải. Trong trường hợp không thể giải quyết tranh chấp
thông qua tham vấn và hòa giải thì mới sử dụng đến cơ chế giải quyết tranh chấp
được quy định cụ thể trong Hiệp định này.
Tuy nhiên, các lợi ích từ hiệp định sẽ không đương nhiên trở thành hiện thực,
các quyền và nghĩa vụ theo các cam kết không tự nhiên phát huy tác dụng mà cần
những nỗ lực lớn để thực thi các cam kết, hiện thực hóa các lợi ích và xử lý thách
thức liên quan.Việc thực thi các cam kết đòi hỏi cùng lúc rà soát và điều chỉnh về cơ
chế, trong một số trường hợp còn điều chỉnh cả bộ máy và phương thức thực hiện..
Điều này đặt ra thách thức lớn không chỉ về năng lực mà cả về nguồn lực đối với
Việt Nam.
1.4.4.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định
thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000
Năm 2000, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã chính thức được ký
kết. Đây được coi là hiệp định song phương mang tính chất tổng thể và bao quát
nhất, được đàm phán trên cở sở các nguyên tắc của WTO. Hiệp định không chỉ đề
47
cập đến thương mại hàng hóa mà còn chứa đựng các điều khoản về thương mại dịch
vụ, sở hữu trí tuệ, đặc biệt về đầu tư, bao gồm 7 chương với 72 Điều và 9 Phụ lục
và các quy định về đầu tư được quy định tại Chương 4 của Hiệp định. Nội dung về
bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong Hiệp định quy định trước hết được thể hiện
tại quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc tại Điều 2
Chương 4. Hiệp định quy định tiêu chuẩn chung về đối xử, mỗi bên luôn dành cho
các khoản đầu tư theo Hiệp định sự đối xử công bằng, thỏa đáng và sự bảo hộ, an
toàn đầy đủ trong mọi trường hợp; dành sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối
xử theo yêu cầu của các quy tắc áp dụng của pháp luật tập quán quốc tế; mỗi bên
không áp dụng các biện pháp bất hợp lý và phân biệt đối xử để gây phương hại đối
với việc quản lý, điều hành, vận hành, bán hoặc định đoạt bằng cách khác các khoản
đầu tư theo Hiệp định. Ngoài ra, Hiệp định cũng đưa ra quy chế giải quyết tranh
chấp về đầu tư. Cụ thể tại Điều 4 Chương 4: Mỗi bên dành cho công ty và công dân
của bên kia các công cụ hữu hiệu để khiếu nại và thực thi các quyền liên quan đến
các khoản đầu tư theo Hiệp định. Phương thức giải quyết tranh chấp có thể thông
qua tham vấn, thương lượng, đưa ra tòa án hoặc cơ quan tài phán hành chính có
thẩm quyền trên lãnh thổ một bên nới đầu tư theo Hiệp định được thực hiện, giải
quyết tranh chấp thông qua trọng tài. Để bảo đảm và khuyến khích đầu tư, Hiệp
định còn có nội dung về tính minh bạch, theo đó, các luật, các quy định và thủ tục
hành chính được áp dụng chung có liên quan hoặc ảnh hưởng đến các khoản đầu tư
và các thỏa thuận đầu tư và các chấp thuận đầu tư sẽ nhanh chóng được đăng hoặc
có sẵn cho công chúng. Về chuyển giao công nghệ; nhập cảnh, tạm trú và tuyển
dụng người nước ngoài; bảo lưu các quyền cũng là các nội dung trong Hiệp địnhg
giúp cải thiện môi trường đầu tư của các nước tham gia hiệp định, bảo đảm quyền
lợi của các nhà dầu tư khi quy định “Không bên nào được tước quyền sở hữu hoặc
quốc hữu hóa các khoản đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các biện
pháp tương tự như tước quyền sở hửu hoặc quốc hữu hóa, trong trường hợp vì mục
đích công cộng thì sẽ được bồi thường nhanh chóng, đầy đủ và có hiệu quả, phù
35 Điều 10 Chương 4 Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ 2000.
hợp với thủ tục luật định và các nguyên tắc chung về đối xử…”35
48
Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng Hiệp định vẫn còn tồn tại hạn chế, chưa thực
sự xóa bỏ hết rào cản như quy định tại Điều 6 Chương 4 về các thủ tục riêng. Tại
điều này quy định không ngăn cản một bên quy định các thủ tục riêng liên quan đến
các khoản đầu tư theo Hiệp định như yêu cầu các khoản đầu tư đó phải được thành
lập hợp pháp theo luật và quy định của bên đó, hoặc yêu cầu việc chuyển tiền hay
các công cụ tiền tệ khác phải được báo cáo.
49
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ
BẢO ĐẢM, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
2.1 Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình chung về hoạt động đầu tư tại Việt Nam
Sau hơn 30 năm hội nhập quốc tế, đến nay đầu tư tại Việt Nam đã có sự tăng
trưởng mạnh mẽ, là nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế- xã hội. Từ các
báo cáo cho thấy, việc thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của Việt
Nam ra nước ngoài đã mang lại nhiều kết quả quan trọng. Lĩnh vực tham gia đầu tư
của các doanh nghiệp FDI hiện nay khá đa dạng, có đến 19/21 lĩnh vực kinh tế của
Việt Nam có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Báo cáo tình hình đầu tư tại
Việt Nam 9 tháng năm 2019 tiếp tục ghi dấu mốc tăng trưởng vượt bậc trong vòng 5
năm trở lại đây.
2.1.1.1 Về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Theo báo cáo tình hình đầu tư ngày 30/9/2019 của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ
kế hoạch và đầu tư, trong 9 tháng đầu năm 2019, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã giải ngân được 14,22 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018.
Bảng 2.1: Báo cáo nhanh đầu tư nước ngoài 9 tháng năm 2019
(Nguồn: Trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch và đầu tư)
Đơn vị 9 tháng năm 9 tháng năm So cùng Chỉ tiêu tính 2018 2019 kỳ
Vốn thực hiện triệu USD 13.25 14.22 107,3%
Vốn đăng ký triệu USD 25.372,95 26.164,38 103,1%
- Đăng ký cấp mới triệu USD 14.124,54 10.973,39 77,7%
- Đăng ký điều chỉnh triệu USD 5.544,20 4.789,76 86,4%
- Góp vốn, mua cổ phần triệu USD 5.704,21 10.401,23 182,3%
Số dự án
50
- Cấp mới dự án 2.182 2.759 126,4%
- Điều chỉnh vốn lượt dự án 841 1.037 123,3%
- Góp vốn, mua cổ phần lượt dự án 5.275 6.502 123,3%
Xuất khẩu
- Xuất khẩu (kể cả dầu triệu USD 128.356 134.725 105,0% thô)
- Xuất khẩu (không kể triệu USD 126.701 133.212 105,1% dầu thô)
Nhập khẩu triệu USD 103.777 109.449 105,5%
Bảng số liệu trên cho thấy:
Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134.725 triệu
USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm 69,3% kim ngạch xuất khẩu.
Xuất khẩu không kể dầu thô đạt 133.212 triệu USD, tăng 5,1% so với cùng kỳ 2018
và chiếm 68,6% kim ngạch xuất khẩu.
Nhập khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đạt 109.449 triệu USD, tăng 5,5% so
với cùng kỳ năm 2018 và chiếm 58,1% kim ngạch nhập khẩu.
Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2019, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu
25,28 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 23,76 tỷ USD không kể dầu thô. Mặc dù
khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 19,4 tỷ USD, nhưng suất siêu khu vực đầu tư
nước ngoài đã bù đắp được nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước. Vì vậy cả
nước xuất siêu 5,87 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 201936.
Ngoài ra, tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn thể hiện ở tình hình cấp
36 Theo báo cáo Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài 9 tháng năm 2019, ngày 30/09/2019 của Cục Đầu tư nước ngoài.
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tính đến 20/9/2019, tổng vốn đăng ký cấp mới,
51
điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 26,16 tỷ USD,
tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó:
Cấp mới: đến ngày 20/9/2019, cả nước có 2.759 dự án mới được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư, tăng 26,4% số dự án so với cùng kỳ năm 2018. Tổng
vốn đăng ký cấp mới 10,97 tỷ USD, bằng 77,7% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu
tư đăng ký cấp mới giảm so với cùng kỳ do quy mô dự án giảm, trong 9T/2019
không có dự án đầu tư mới nào có quy mô vốn trên 300 triệu USD. Trong khi đó, 9
tháng năm 2018 có một số dự án lớn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới
(dự án Thành phố thông minh tại xã Hải Bối, Đông Anh, Hà Nội – Nhật Bản đầu tư
với tổng vốn đăng ký 4,14 tỷ USD; dự án nhà máy sản xuất Polypropylene và kho
ngầm chứa dầu mỏ hóa lỏng – Hàn Quốc đầu tư với tổng vốn đăng ký 1,2 tỷ USD
tại Bà Rịa – Vũng Tàu). Nếu không tính các dự án lớn trên 1 tỷ USD, tổng vốn đầu
tư đăng ký mới trong 9 tháng năm 2019 tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2018 và
tăng 30,2% so với cùng kỳ năm 2017.
Điều chỉnh vốn: có 1.037 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư, tăng 23,3%
so với cùng kỳ năm 2018. Tổng vốn đăng ký điều chỉnh gần 4,79 tỷ USD, bằng
86,4% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 9 tháng năm 2019, quy mô điều chỉnh mở
rộng vốn của các dự án nhỏ, không có dự án tăng vốn lớn như trong cùng kỳ 2018.
Nếu không tính các dự án điều chỉnh vốn lớn trên 1 tỷ USD, vốn điều chỉnh tăng
thêm trong 9 tháng năm 2019 cũng tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng
12,6% so với cùng kỳ năm 2017.
Góp vốn, mua cổ phần: cũng trong 9 tháng đầu năm 2019, cả nước có 6.502 lượt
góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp 10,4 tỷ
USD, tăng 82,3% so với cùng kỳ 2018 và chiếm 39,8% tổng vốn đăng ký.
Một số dự án lớn trong 9 tháng đầu năm 2019 như:
- Dự án góp vốn, mua cổ phần của Beerco Limited (Hồng Kông) vào công ty
TNHH Vietnam Beverage, giá trị vốn góp là 3,85 tỷ USD với mục tiêu chính là sản
xuất bia và mạch nha ủ men bia tại Hà Nội.
52
- Dự án chế tạo lốp xe Radian toàn thép ACTR (Trung Quốc), tổng vốn đầu
tư đăng ký 280 triệu USD đầu tư tại Tây Ninh với mục tiêu sản xuất lốp xe toàn
thép TBR.
- Dự án nhà máy điện mặt trời Hòa Hội tại Phú Yên, tổng vốn đầu tư đăng ký
216,7 triệu USD, do nhà đầu tư Thái Lan đầu tư tại Phú Yên với mục tiêu sản xuất
điện mặt trời.
- Dự án Vinhtex, tổng vốn đầu tư đăng ký 200 triệu USD do Royal Pagoda
Private Limited (Singapore) đầu tư với mục tiêu sản xuất vải và nhuộm vải dệt kim
tại Nghệ An.
- Dự án Công ty TNHH điện tử Meiko Việt Nam (Hồng Kông) với mục tiêu
thiết kế, lắp ráp và sản xuất linh kiện điện tử tại Hà Nội điều chỉnh tăng vốn đầu tư
thêm 200 triệu USD
2.1.1.2 Về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài
Cũng trong báo cáo 9 tháng đầu năm 2019 của Cục Đầu tư nước ngoài có ghi
nhận, tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và tăng thêm đạt 431,68
triệu USD. Trong đó có 117 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới,
với tổng vốn đầu tư bên Việt Nam đạt 307,67 triệu USD. Có 27 lượt dự án điều
chỉnh vốn đầu tư với vốn đầu tư Việt Nam tăng thêm là 124 triệu USD.
Theo lĩnh vực: lĩnh vực bán buôn, bán lẻ dẫn đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra
nước ngoài với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 110,6 triệu USD, chiếm
25,6% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ đứng
thứ hai với 83,36 triệu USD và chiếm 19,3% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực nông nghiệp,
lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ 3 với 64,14 triệu USD, chiếm 14,9% tổng vốn đầu
tư. Còn lại là các dự án thuộc các lĩnh vực khác.
Theo địa bàn: trong 9 tháng đầu năm 2019, Việt Nam đã đầu tư sang 30 quốc
gia, vùng lãnh thổ. Australia là địa bàn dẫn đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra nước
ngoài với 140,63 triệu USD, chiếm 32,6% tổng vốn đầu tư. Hoa Kỳ xếp thứ 2 với
20 dự án, tổng vốn đầu tư là 59,86 triệu USD, chiếm 13,9% tổng vốn đầu tư.
53
2.1.2 Tác động của hoạt động đầu tư đến phát triển kinh tế- xã hội ở Việt
Nam
Hoạt động đầu tư trên phương diện vĩ mô của nền kinh tế bao gồm hoạt động
đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, là hai hoạt động đầu tư có mối quan hệ mật
thiết, tác động lẫn nhau thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế.
Với vai trò là nước tiếp nhận đầu tư
Việt Nam với vai trò là nước tiếp nhận đầu tư, hoạt động đầu tư có tác động tích
cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam.
Tác động tích cực:
Thứ nhất, đầu tư giúp tăng trưởng kinh tế, tác động đến các yếu tố như: bổ sung
vốn trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; tiếp nhận và phát triển công
nghệ hiện đại, tạo nguồn việc làm, phát triển nguồn nhân lực; thúc đẩy xuất nhập
khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới,…
Thứ hai, đầu tư là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về
vốn và ngoại tệ. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với thu nhập thấp dẫn
đến tiết kiệm thấp, vì vậy vốn đầu tư cũng thấp. Có thể nói vốn đầu tư là cơ sở để
tạo ra công ăn việc làm trong nước, giúp đổi mới công nghệ, kỹ thuật và nâng cao
năng suất lao động… Vốn đầu tư nước ngoài là một nguồn quan trọng không chỉ bổ
sung nguồn vốn mà còn giải quyết sự thiếu hụt về ngoại tệ, góp phần tăng khả năng
cạnh tranh và mở rộng xuất khẩu,…
Thứ ba, đầu tư giúp phát triển công nghệ trong nước, được tiếp cận với trình độ
khoa học - kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Hoạt động đầu tư nước ngoài gắn liền với
việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, chuyên môn, bí quyết và trình độ khoa học, là
những nghiên cứu ứng dụng tiên tiến đã được thử nghiệm tại nước ngoài. Bên cạnh
việc chuyển giao công nghệ sẵn có, đầu tư còn góp phần tích cực thúc đẩy nghiên
cứu và phát triển công nghệ của nước tiếp nhậnđầu tư. Vì vậy, các doanh nghiệp
Việt Nam muốn cạnh tranh được trong thị trường thì cần phải nỗ lực đổi mới công
nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.
54
Thứ tư, đầu tư giúp phát triển nguồn nhân lực và giải quyết vấn đề việc làm.
Đầu tư tạo thêm việc làm không chỉ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
mà còn gián tiếp tạo việc làm cho các doanh nghiệp liên quan đến hoạt động đầu tư.
Chẳng hạn các doanh nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào, doanh nghiệp phân phối,
doanh nghiệp vận tải,… Ngoài ra, đầu tư còn góp phần quan trọng đối với phát triển
ngành giáo dục của nước chủ nhà trong lĩnh vực dạy nghề, nâng cao chất lượng
quản lý,…
Thứ năm, đầu tư góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phù hợp với chiến
lược công nghiệp hóa của nước chủ nhà đó là tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, thúc đẩy sự hòa nhập vào khu vực và quốc tế.
Mặc dù có nhiều mặt tác động tích cực nêu trên, nhưng đầu tư nước ngoài vẫn
có nhiều tác động tiêu cực, đó là:
Đầu tư nước ngoài nghĩa là nước chủ nhà mở cửa hội nhập với nhiều nền văn
hóa khác nhau trên thế giới. Do đó, bên cạnh việc tiếp thu những văn hóa tốt đẹp thì
không thể tránh khỏi việc du nhập những văn hóa xấu, những lối sống không đúng
ảnh hưởng đến nền văn hóa dân tộc.
Đầu tư có thể gây nguy hiểm đến an ninh kinh tế của nước chủ nhà nếu sự quản
lý lỏng lẻo, một số ngành nghề bị thao túng,…
Một số trường hợp người lao động bị coi thường, xúc phạm, sức lao động bị
khai thác cạn kiệt, tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân, địa phương.
Các nước tiếp nhận đầu tư có nguy cơ trở thành bãi rác công nghiệp. Có một
thực tế rằng, một số quốc gia phát triển trước yêu cầu cấp bách là phải đổi mới đột
phá về công nghệ, để có thể cạnh tranh được với những thị trường đang áp thuế rất
cao vào quốc gia này. Để đổi mới, họ sẽ phải thay thế toàn bộ công nghệ cũ, dẫn tới
thực tế các thế hệ công nghệ thải loại phải tìm cách đi sang các quốc gia khác kém
phát triển hơn.
Với vai trò là nước đi đầu tư
Việt Nam với vai trò là nước đi đầu tư, đầu tư có những mặt tích cực, cụ thể như
sau:
55
Đầu tư ra nước ngoài củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của Việt Nam
trong khu vực và trên thế giới, tạo tiền đề cho hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt
Nam đa dạng và phong phú, hoạt động ngoại giao đi vào chiều sâu.
Đầu tư ra nước ngoài tránh được tình trạng cạnh tranh gay gắt đang diễn ra
trong nước.
Đầu tư ra nước ngoài tận dụng được nguồn lực của các quốc gia khác mà trong
nước không đáp ứng được. Chẳng hạn: nguồn lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên
phong phú, thị trường tiêu thụ rộng lớn,…
Đối với một số sản phẩm thị trường trong nước đã bão hòa. Việc đầu tư ra nước
ngoài đem lại một khoản lợi nhuận cao hơn đối với những thị trường khác rộng lớn
mà có nhu cầu về sản phẩm đó, giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường
thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn;
giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh, tích lũy kinh nghiệm trên thương
trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết công nghệ; sử dụng đội ngũ
quản lý và khoa học kỹ thuật bản xứ…và áp dụng những thành công ở nước ngoài
vào hoạt động kinh doanh của công ty mẹ trong nước.
Đầu tư ra nước ngoài thành công sẽ tác động ngược lại nền kinh tế trong nước
theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế: về thể chế chính sách, về thuế, về
thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối ngoại, về chính sách điều hành vĩ mô.
Một số công nghệ tại một thời điểm có thể là lỗi thời tại quốc gia này thì tại
quốc gia khác lại là những công nghệ hiện đại, tiên tiến. Đầu tư ra nước ngoài giúp
nước đi đầu tư tận dụng được những công nghệ được coi là lỗi thời trong nước, thu
lợi nhuận từ những công nghệ đó khi chuyển giao sang quốc gia kém phát triển hơn.
Bên cạnh những tác động tích cực, đầu tư ra nước ngoài còn tiềm ẩn nhiều rủi ro
và thách thức, cụ thể như: Sự khác biệt về văn hóa, pháp luật giữa nước đầu tư và
nước tiếp nhận đầu tư dẫn đến những tranh chấp ngoài mong muốn. Tiềm lực tài
chính chưa đủ lớn mạnh là yếu tố cản trở cơ hội đầu tư ra nước ngoài của nhiều
doanh nghiệp. Quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài không tốt có thể dẫn tới chảy
máu ngoại tệ, tạo kẽ hở cho hoạt động rửa tiền.
56
2.2. Thực trạng thực thi pháp luật về bảo đảm đầu tư tại Việt Nam
2.2.1. Về bảo đảm quyền sở hữu tài sản
Theo quy định Luật Đầu tư Việt Nam, mọi nhà đầu tư có hoạt động đầu tư đều
được bảo đảm về quyền sở hữu tài sản, và tài sản đó phải hợp pháp. Nhưng theo cơ
chế thị trường thì song song với lợi nhuận đạt được các nhà đầu tư cũng phải chấp
nhận mạo hiểm vì việc kinh doanh có thể không đạt hiệu quả dẫn đến thua lỗ. Tiền
bạc, tài sản đem ra đầu tư có thể bị thất thoát, hao hụt. Tài sản của nhà đầu tư ngoài
việc bị hao hụt do kinh doanh thua lỗ thì đôi khi trong một số trường hợp bị Nhà
nước trưng mua, trung dụng nhằm mục đích liên quan đến quốc phòng, an ninh
quốc gia, trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tài. Trong trường hợp này,
Nhà nước cần bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư. Sau khi tài sản của nhà
đầu tư bị Nhà nước trưng mua, trưng dụng phải thanh toán, bồi thường cho nhà đầu
tư.
Trong những năm gần đây, khi Việt Nam tích cực tham gia ký kết các Hiệp
định, Điều ước quốc tế về đầu tư, cùng với đó hoàn thiện hệ thống pháp luật dần ổn
định thì vấn đề bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư được thực hiện khá tốt.
Tuy nhiên, có một sự kiện nổi bật từ năm 2015 nhưng đến nay vẫn còn gây
nhiều tranh cãi. Đó là việc Ngân hàng Nhà nước quyết định mua bắt buộc Ngân
hàng TMCP Xây dựng (VNCB), Ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank), ngân
hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu (GPBank) với giá 0 đồng, chuyển đổi thành ba ngân
hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do Ngân hàng Nhà nước làm
chủ sở hữu; đồng thời chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích của các cổ đông, bảo đảm
quyền lợi cho người gửi tiền. Có ý kiến cho rằng, bằng việc mua lại các ngân hàng
này với giá 0 đồng, ngân hàng nhà nước đã thế chân các cổ đông hiện hữu, chuyển
đổi hình thức sở hữu từ sở hữu tư nhân sang thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước,
đó là một hình thức quốc hữu hoá.
Về phía Ngân hàng thì cho rằng, việc ngân hàng nhà nước thực hiện mua các
ngân hàng với giá 0 đồng chỉ là việc mua bán bình thường, không phải quốc hữu
hóa mà hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật, cụ thể trong Luật các tổ chức
tín dụng 2010 quy định: “Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu tăng
57
vốn, xây dựng, thực hiện kế hoạch tái cơ cấu hoặc bắt buộc sáp nhập, hợp nhất,
mua lại đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, nếu chủ sở hữu không có
khả năng hoặc không thực hiện việc tăng vốn”37.
Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đầu tư, nhà nước chỉ được trưng mua, trưng
dụng nhằm mục đích liên quan đến quốc phòng, an ninh, trong tình trang khẩn cấp
hay phòng chống thiên tai mà không có quy định nào doanh nghiệp bị trưng mua
khi kinh doanh thua lỗ.
Vậy một câu hỏi đặt ra quy định của Luật chuyên ngành ngân hàng như vậy liệu
có phù hợp với các quy định theo Luật Đầu tư và các quy định quốc tế liên quan đến
đầu tư hay không?
2.2.2. Về bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh
Trong thời gian qua, pháp luật Việt Nam về đầu tư đã có nhiều thay đổi góp
phần xóa bỏ rào cản về đầu tư kinh doanh không phù hợp với kinh tế thị trường và
cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu
tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các
nhà đầu tư. Theo đó, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày
01/7/2015 đã tiếp tục tạo pháp lý quan trọng bảo đảm thực hiện các quy định của
Hiến pháp về quyền tự do kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà luật
không cấm. Cùng với đó, bãi bỏ các yêu cầu, điều kiện tại thời điểm thành lập
doanh nghiệp cũng như đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian thành lập doanh
nghiệp, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài. Bãi bỏ
thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư trong nước, tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và tổ
chức quản lý doanh nghiệp.
Từ tháng 7/2015 đến tháng 11/2018, Việt Nam có 8.909 dự án đầu tư của nhà
đầu tư nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký
cấp mới là 61,06 tỷ USD và 3.961 dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất, với tổng
37 Khoản 1 Điều 149 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010
vốn tăng thêm là 28,04 tỷ USD. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn đầu tư thì tổng
58
vốn đầu tư đăng ký trong giai đoạn này đạt 89,1 tỷ USD, tăng 5,6% so với giai đoạn
3,5 năm trước đó38. Kết quả trên cho thấy những tác động tích cực của việc thi hành
pháp luật về biện pháp bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh.
Như vậy, có sự tương đồng giữa pháp luật quốc gia và luật quốc tế, khi nước ta
luôn bảo đảm cho các nhà đầu tư được tự do sản xuất kinh doanh, đầu tư những
ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Theo xu hướng phát triển nền kinh tế thị trường, nhà nước ta trong thời gian qua
đã tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, quá trình cổ phần
hóa còn chưa triệt để khi nhà nước vẫn can thiệp nhiều vào việc kinh doanh của
doanh nghiệp được cổ phần hóa khi mà nhà nước chỉ định hay bổ nhiệm công chức
nhà nước đóng vai trò quản trị công ty. Đây là một hạn chế tạo rào cản để doanh
38 Theo nguồn được đăng tải trên web: www.mpi.gov.vn
nghiệp thực hiện việc tự do định đoạt trong đầu tư của mình.
59
2.2.3. Về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp
Một trong những biện pháp bảo đảm đầu tư mà Nhà nước cam kết khi nhà đầu
tư nước ngoài thực hiện đầu tư tại Việt Nam đó là bảo đảm chuyển tài sản của nhà
đầu tư nước ngoài ra nước ngoài. Với lợi nhuận chuyển ra nước ngoài bằng tiền sẽ
theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối; Lợi nhuận chuyển ra nước ngoài
bằng hiện vật và thực hiện quy đổi giá trị hiện vật theo quy định của pháp luật về
xuất nhập khẩu hàng hoá và quy định của pháp luật liên quan.
Quy định pháp luật về bảo đảm chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp ra nước
ngoài mang ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài, bởi lẽ khi thực
hiện đầu tư, nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng và mong muốn có lời, lợi nhuận tạo ra
được họ định đoạt và được chuyển về nước hay chuyển đi đâu là quyền lợi chính
đáng của họ. Tuy nhiên, quy định bảo đảm này cũng có mặt tiêu cực khi một số
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ cố gắng tìm các biện pháp hợp pháp khác
để dịch chuyển lợi nhuận của họ ra nước ngoài trước khi có báo cáo tài chính được
kiểm toán và báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế. Các thủ thuật mà doanh
nghiệp thường sử dụng để chuyển lợi nhận ra nước ngoài mà không theo quy định
của Luật Đầu tư là: chuyển giá, phí dịch vụ, tiền lãi vay,… Cụ thể như sau:
Phí dịch vụ
Kê khai phí dịch vụ cũng là một trong các thủ thuật mà các doanh nghiệp áp
dụng để báo cáo giảm lợi nhuận, từ đó giảm thuế thu nhập phải đóng cho nhà nước.
Các nhà đầu tư có thể cung cấp một số dịch vụ cho công ty con của họ tại Việt Nam
như phí tư vấn kỹ thuật, phí tư vấn quản lý và có sự thỏa thuận trả phí dịch vụ giữa
các bên. Hợp đồng dịch vụ nói chung không phải thực hiện thủ tục đăng ký hoặc
trình nộp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam dẫn đến khó khăn về
công tác kiểm soát của nhà nước đối với các loại phí này.
Chuyển giá
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam đang phải đối diện với hoạt động
chuyển giá diễn ra ngày càng phức tạp, gây ra những tác động nhất định đối với nền
kinh tế nói chung cũng như với các nhà quản lý. Chuyển giá là việc thực hiện chính
60
sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên
trong tập đoàn hay nhóm liên kết không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số
thuế của các tập đoàn hay của nhóm liên kết. Phương pháp này hợp pháp chỉ khi giá
chuyển nhượng là hợp lý và chính đáng. Vụ việc điển hình trong các năm qua là:
Các vụ việc về chuyển giá điển hình trong những năm qua
(Nguồn bài viết “Chống chuyển giá của các công ty xuyên quốc gia- giải pháp
đối với Việt Nam, đăng trên Tạp chí tài chính TS. Phạm Thị Tường Vân ngày
24/06/2019)
Vụ việc số 1:
Adidas AG là Công ty đa quốc gia được thành lập vào năm 1948 tại Đức, hoạt
động trong lĩnh vực thiết kế và sản xuất dụng cụ thể thao. Các sản phẩm của Adidas
đến Việt Nam từ năm 1993 và đến năm 2009, Adidas thành lập thêm một công ty
con ở Việt Nam. Từ cuối năm 2012, Adidas Việt Nam hoạt động theo giấy phép
đăng ký kinh doanh là quyền phân phối bán buôn, nhưng danh mục chi phí của DN
này lại xuất hiện nhiều chi phí của một DN bán lẻ như: chi phí hỗ trợ vật dụng cho
nhà bán lẻ, tiền tiếp thị quốc tế, phí quản lý vùng, tiền hoa hồng mua hàng và đặc
biệt, Adidas Việt Nam không phải là nhà sản xuất, nhưng phát sinh khoản tiền bản
quyền. Thực tế, Adidas Việt Nam thanh toán cho Công ty Adidas AG phí bản quyền
6%, chi phí tiếp thị quốc tế 4% doanh thu ròng đối với các sản phẩm được tiêu thụ
và cả giá trị sản phẩm được cấp phép. Ngoài ra, Adidas Việt Nam cũng phải trả chi
phí hoa hồng mua hàng cho Addias International Trading B.V, với tỷ lệ 8,25% giá
trị mỗi giao dịch.
Bên cạnh đó, theo hợp đồng dịch vụ Đông Nam Á giữa Adidas Singapore và
Adidas Việt Nam, Adidas Singapore và các công ty con địa phương, trong đó có
Adidas Việt Nam cung cấp một dịch vụ và thỏa thuận việc thu các khoản phí liên
quan. Với việc phát sinh quá nhiều chi phí trung gian đầu vào đã khiến cho giá
thành nhập khẩu các sản phẩm Adidas tại thị trường Việt Nam bị đội giá lớn, làm
cho Adidas Việt Nam luôn rơi vào tình trạng thua lỗ và không phải nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp.
61
Vụ việc số 2:
Công ty 3A Nutrition khi mới thành lập vào năm 2010, dù không phải nộp thuế
vì chưa có doanh thu, nhưng sang năm 2011, doanh thu của 3A Nutrition đạt 1.200
tỷ đồng mà chỉ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hơn 2 tỷ đồng. Nguyên nhân, doanh
nghiệp này khai tỷ suất lợi nhuận chỉ có 1,3% nên tỷ suất nộp thuế trên thu nhập chỉ
0,2%. Năm 2012 - 2013, doanh số tăng lên gần 7.000 tỷ đồng/năm, với tỷ suất lợi
nhuận chỉ 3,8% thì số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cũng chỉ có 46 - 48 tỷ
đồng (với tỷ suất thuế trên doanh thu chỉ hơn 0,6%).
Kể từ năm 2014 đến nay, Công ty 3A Nutrition liên tục báo cáo thuế lỗ nên
không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, dù doanh số liên tục tăng, có năm đạt
gần 10.000 tỷ đồng. Tính ra từ khi thành lập tại Việt Nam đến nay, 3A Nutrition chỉ
có 3 năm có lãi với tỷ suất lợi nhuận cao nhất cũng chỉ 3,8%, sau đó doanh nghiệp
chuyển sang khai lỗ và số lỗ có tỷ suất âm đến gần 5%. Trong khi lượng hàng hóa
nhập khẩu vẫn không giảm, thị trường được mở rộng, hiện 3A Nutrition đã “mở
rộng” hệ thống phân phối thông qua việc thành lập nhiều chi nhánh ở các tỉnh,
thành như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Đồng Nai… nhưng vẫn thông
báo lỗ
2.2.4. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo lãnh của Chính phủ đối với một
số dự án quan trọng
Một trong những biện pháp bảo đảm và thu hút đầu tư là bảo lãnh của Chính
phủ đối với một số dự án quan trọng. Ngày 26/06/2018, Chính phủ ban hành Nghị
định số 91/2018/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ, trong đó quy định
rõ các điều kiện cấp bảo lãnh chính phủ đối với doanh nghiệp thực hiện dự án.
Trước đó, năm 2015, Quyết định 34/2015/QĐ-TTg ban hành danh mục các
chương trình, dự án ưu tiên được xem xét cấp bảo lãnh chính phủ, với danh mục cụ
thể như sau:
62
Bảng 2.2: Các chương trình, dự án được ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh C. phủ
(Nguồn: Danh mục này được ban hành kèm theo Quyết định số 34/2015/QĐ-
TTg ngày 14 tháng 8 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ)
STT CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN
1 Dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai
thác, chế biến khoáng sản hoặc sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuất
khẩu phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đáp
ứng các tiêu chí:
a) Là dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu
tư theo Luật Đầu tư công; và
b) Thuộc lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư theo Luật
Đầu tư.
2 Chương trình, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai thác và chế biến
khoáng sản thuộc nhóm A theo Luật Đầu tư công:
a) Đầu tư hạ tầng điện lực, đầu tư xây dựng mới nhà máy điện, phân phối
điện, truyền tải điện;
b) Đầu tư nhà máy lọc dầu.
3 Chương trình, dự án thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích đầu tư
gồm:
a) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông (đường cao tốc) có tổng
vốn đầu tư từ 10.000 tỷ đồng trở lên;
b) Phát triển vận tải công cộng: Đầu tư mua máy bay theo chương trình
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
4 Các dự án đặc biệt do Chính phủ quyết định.
63
Theo báo cáo tổng hợp tình hình bảo lãnh chính phủ năm 2018 được Bộ Tài
chính gửi Thủ tướng chính phủ: Lũy kế đến hết năm 2018, tổng giá trị các khoản
vay được Chính phủ bảo lãnh lên tới 27,7 tỉ USD, trong đó 23,6 tỉ USD vốn vay
nước ngoài; 4,1 tỉ USD vốn vay trong nước. Nhiều dự án được Chính phủ bảo lãnh
do khó khăn về tài chính đã không có khả năng trả nợ, đang phải thanh lý tài sản để
thu hồi vốn hoặc phải tái cơ cấu do nợ quá hạn cao, hoặc Chính phủ phải dùng
nguồn tiền từ Quỹ Tích lũy trả nợ quốc gia trả nợ thay. Các dự án được Chính phủ
bảo lãnh hoạt động không mấy hiệu quả, có những tình trạng vi phạm nghĩa vụ trả
nợdiễn ra làm ảnh hưởng không nhỏ tới nợ công trong nước. Vậy để biện pháp bảo
lãnh Chính phủ được hoạt động hiệu quả thì chính phủ có cần thay đổi cơ chế giám
sát và quản lý chặt chẽ hơn không?
2.2.5. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư
khi có thay đổi về chính sách pháp luật
Sự thay đổi liên lục về mặt chính sách pháp luật là điều mà doanh nghiệp e ngại
nhất hiện nay, không chỉ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mà cả với doanh nghiệp
trong nước.
Nhà đầu tư khi đưa ra quyết định đầu tư, họ sẽ xây dựng một kế hoạch kinh
doanh dài hạn từ 5 đến 10 năm để ước tính lợi nhuận đầu tư thu được. Những thay
đổi về pháp luật, chẳng hạn như thuế sẽ làm thay đổi toàn bộ kế hoạch kinh doanh
ban đầu, do chi phí tăng cao, giảm doanh thu và do đó, giảm tỷ suất lợi nhuận hoặc
kéo dài thời gian thu hồi vốn đầu tư.
Thực trạng tại Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều sự thay đổi về pháp
luật, ngoài những quy định mang tính tích cực, thì có những quy định bất hợp lý.
Chẳng hạn Nghị định 54 hướng dẫn thi hành Luật Dược ban hành ngày 08/05/2017
quy định các doanh nghiệp FDI nhập khẩu thuốc không được thực hiện các hoạt
động liên quan trực tiếp đến phân phối thuốc, nguyên liệu làm thuốc… bao gồm vận
chuyển, nhận bảo quản thuốc. Theo hướng dẫn này thì việc vận chuyển, nhận bảo
quản thuốc bị coi như phân phối thuốc. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đầu
tư thành lập cơ sở bảo quản thuốc, trong khi đây là lĩnh vực được phép theo Luật
Dược và cam kết WTO. Một số hệ quả tiêu cực dễ thấy là các doanh nghiệp FDI
64
đang cung cấp dịch vụ bảo quản thuốc chuyên nghiệp sẽ phải ngừng hoạt động hoặc
thay đổi mô hình kinh doanh, gây tổn thất cho dự án đầu tư. Các doanh nghiệp nhập
khẩu thuốc sẽ phải đầu tư xây dựng hệ thống kho bảo quản mới và đầu tư nhân lực
để vận hành hệ thống kho đó
Quy định về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có sự thay đổi về chính sách
pháp luật trong Luật Đầu tư 2014 tại Điều 13. Tuy nhiên Điều luật mới quy định
trường hợp thay đổi chính sách pháp luật các nhà đầu tư chỉ được bảo đảm quyền
lợi về các ưu đãi đầu tư. Trong khi một dự án đầu tư chịu chi phối rất nhiều khía
cạnh pháp luật khác như thủ tục đăng ký kinh doanh, kinh doanh có điều kiện, thuế,
…
Việc thường xuyên thay đổi chính sách pháp lý sẽ khiến Việt Nam trở thành
điểm đến đầu tư rủi ro hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài. Thị trường đầu tư cạnh
tranh công bằng là động lực chính thúc đẩy gia tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và
tăng năng suất lao động. Vì vậy, tất cả các giải pháp cải cách chính sách pháp luật,
cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đều hướng đến phát triển các loại thị trường,
đảm bảo cạnh tranh công bằng và tăng mức độ cạnh tranh thị trường nhằm tăng hiệu
quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố và hiệu quả động năng, là động lực chủ yếu của tăng
trưởng kinh tế.
2.3. Thực trạng thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư tại Việt Nam
2.3.1. Về các quy định ưu đãi tài chính
Như đã phân tích tại phần trên, các ưu đãi về tài chính bao gồm ưu đãi về thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài hay các ưu đãi liên quan đến vấn đề chuyển lỗ kinh doanh,…
Thực tế trong thời gian qua, các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp của Việt Nam là rất hấp dẫn so với các nước trong khu vực. Nhờ có chính
sách thuế ưu đãi hấp dẫn cùng với giá lao động thấp, Việt Nam trong thời gian qua
đã thu hút được lượng lớn đầu tư. Đến tháng 6/2018, tổng vốn đăng ký đạt 331,2 tỷ
USD và vốn giải ngân lũy kế khoảng 180,7 tỷ USD. Khu vực đầu tư nước ngoài
đóng góp to lớn vào GDP, kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và góp phần
65
vào nguồn thu ngân sách. Bên cạnh đó đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế, thúc đẩy
hội nhập kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao năng lực quản lý
kinh tế, quản trị doanh nghiệp, hỗ trợ quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải
cách đổi mới hành chính, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Các dự án đầu tư nước ngoài có giá trị cao vào Việt Nam có thể kể đến:
Samsung (20 tỷ USD vào nhà máy sản xuất điện thoại, xuất khẩu trên 50 tỷ
USD/năm; sử dụng 130.000 lao động); Intel (1 tỷ USD vào nhà máy lắp rắp và thử
nghiệm chip siêu nhỏ, sử dụng 3.000 lao động); LG (4 tỷ), GE, Mitsubishi, Sanofi,
Panasonic…
Về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu, ngày 26/6/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký
Nghị định 57/2019/NĐ-CP ban hành Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của
Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương (CPTPP) giai đoạn từ 14/1/2019 đến hết ngày 31/12/2022. Như vậy, Việt
Nam sẽ thực hiện ưu đãi thuế xuất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt với 6 quốc gia, bao
gồm: Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada và Austraylia. Theo
Hiệp định CPTPP, Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi gồm 519 dòng thuế; các mặt hàng
không thuộc Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi này sẽ áp dụng thuế xuất khẩu ưu đãi 0%
khi xuất khẩu sang lãnh thổ các nước thành viên mà Hiệp định CPTPP đã có hiệu
lực. Để được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi, hàng hóa xuất khẩu phải có
chứng từ vận tải và tờ khai nhập khẩu thể hiện đích đến thuộc lãnh thổ các nước
thành viên mà Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực
Trước khi ban hành Nghị định 57, pháp luật Việt Nam đã có những quy định ưu
đãi thuế suất và thời gian miễn thuế, giảm thuế như:
- Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối với các khoản thu
nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt
khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao, kể cả khu công nghệ thông tin tập trung
được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
66
- Thuế suất 15% đối với thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi,
chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản ở địa bàn không thuộc địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn.
- Thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm áp dụng đối với: Thu nhập
của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã
hội khó khăn; Phát triển ngành nghề truyền thống (bao gồm xây dựng và phát triển
các ngành nghề truyền thống về sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản
thực phẩm, các sản phẩm văn hóa). Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới vào
các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế quy định tại khoản này kể từ ngày 01/01/2016 áp
dụng thuế suất 17%.
- Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo đối
với trường hợp áp dụng thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại một số địa bàn
theo quy định; thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh
vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc
biệt khó khăn.
- Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 05 năm tiếp theo đối
với thu nhập của dpanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội
hóa thực hiện tại địa bàn không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã
hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.
- Miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối
với: Thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn hoặc lĩnh vực theo quy
định; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp
(trừ khu công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện thuận lợi).
Các ưu đãi thuế về mặt tích cực giúp thu hút đầu tư, đồng thời cũng có mặt tiêu
cực khi các nhà đầu tư lợi dụng ưu đãi để thực hiện các thủ thuật như chuyển giá
dẫn đến tình trạng số lượng doanh nghiệp báo lỗ hàng năm tăng trong khi tốc độ
tăng quy mô và hoạt động của các doanh nghiệp báo lỗ, lỗ luỹ kế cao hơn.Mức tăng
số lượng doanh nghiệp báo lỗ cho thấy tình trạng chuyển giá của khu vực doanh
67
nghiệp đầu tư ngày càng gia tăng, phức tạp. Ngoài hiện tượng chuyển giá từ Việt
Nam ra nước ngoài, còn hiện tượng chuyển giá, chuyển lợi nhuận ngược từ nước
ngoài vào Việt Nam của một bộ phận doanh nghiệp được hưởng ưu đãi lớn về thời
gian và thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp.
2.3.2. Về các quy định ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt
biển
Ưu đãi về chính sách sử dụng mặt đất, mặt nước, mặt biển là một trong những
biện pháp ưu đãi được chính phủ định hướng trong chính sách để thu hút đầu tư. Từ
năm 2005 đến nay, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ như
giảm 50% tiền thuê đất trong giai đoạn từ 2011 – 2014, điều chỉnh giảm mức tỷ lệ
% tính đơn giá thuê đất chung từ 1,5% xuống 1% và ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy
định cụ thể mức trong khung từ 0,5% đến 3% để áp dụng thu tiền thuê đất tại địa
phương… Thực hiện Luật Đất đai 2013, Chính phủ đã ban hành các Nghị định về
thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước với những quy định nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh như: miễn tiền thuê đất, thuê mặt
nước đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư; ưu đãi trong
lĩnh vực xã hội hóa; ưu đãi khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; mở
rộng phạm vi áp dụng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất và đối tượng áp dụng
để xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất cho doanh nghiệp đã cải cách thủ tục
hành chính, rút ngắn thời gian xác định, thông báo nộp tiền thuê đất vào ngân sách
và hỗ trợ một phần cho doanh nghiệp…
Đồng thời, để thu hút đầu tư, sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai tại các khu
kinh tế, khu công nghệ cao, Chính phủ đã ban hành Nghị định 35 năm 2017 quy
định thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong khu kinh tế, khu
công nghiệp cao với những ưu đãi cao hơn mức ưu đãi của các dự án đầu tư thông
thường.
Các chính sách ưu đãi về đất đai, mặt nước, mặt biển nhìn chung đã đem lại
những hiệu quả nhất định thu hút đầu tư, đặc biệt là vùng khó khăn, góp phần thực
hiện chính sách của Nhà nước đối với các lĩnh vực cần khuyến khích. Tuy nhiên,
các chính sách ưu đãi thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế như diện ưu đãi còn
68
rộng, dàn trải, chồng chéo, làm suy giảm nguồn thu ngân sách, vốn đang rất thiếu
cho đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, một số lĩnh vực, địa bàn cũng chưa đạt được các
mục tiêu thu hút đầu tư như định hướng.
2.3.3 Về các quy định biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính
Trong những năm qua, chính phủ Việt Nam xác định cải cách thủ tục hành
chính về đầu tư là nhiệm vụ trọng tâm và phải được thực hiện thường xuyên liên tục
từ khâu xây dựng đến tổ chức thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho các nhà
đầu tư.
Năm 2017, Bộ kế hoạch và đầu tư đã ban hành Thông tư 02/2017/TT-BKHĐT
hướng dẫn về cơ chế phối hợp giải quyết các thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký
doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Thông tư hướng dẫn trình tự thực
hiện cơ chế liên thông giải quyết hồ sơ đăng ký đầu tư, đăng ký doanh nghiệp của
nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp.
Theo quy định tại Điều 26 của Luật Đầu tư năm 2014 thì nhà đầu tư phải thực
hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế nếu
thuộc các trường hợp sau đây:
- Nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt
động trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với
nhà đầu tư nước ngoài.
Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp sẽ dẫn đến nhà đầu tư, tổ chức -
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ
chức kinh tế nhận vốn góp.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ, Sở Kế
hoạch và Đầu tư sẽ có văn bản thông báo chấp thuận việc góp vốn, mua cổ
phần, phần vốn góp của nhà đầu tư đó.
Sau khi đã có văn bản chấp thuận, nhà đầu tư mới có thể thực hiện việc góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp; Đồng thời, doanh nghiệp nhận vốn góp mới có thể
hoàn thành hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, như: đăng ký
69
thay đổi vốn điều lệ, đăng ký thay đổi thông tin cổ đông sáng lập; đăng ký thay đổi
thành viên công ty,…
Như vậy, để chính thức trở thành thành viên mới của công ty, nhà đầu tư phải
nộp hồ sơ đăng ký góp vốn; Sau khi nhận được văn bản chấp thuận thì cung cấp cho
công ty nhận vốn góp để công ty hoàn tất hồ sơ đăng ký thay đổi thành viên. Như
vậy là có thể mất 18 ngày để hoàn thành các thủ tục – khá mất thời gian.
Nay, theo cơ chế liên thông này, nhà đầu tư hoặc công ty nhận vốn góp có thể
nộp chung hồ sơ đăng ký góp vốn và đăng ký thay đổi thành viên tại bộ phận giải
quyết hồ sơ đăng ký đầu tư thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Ngoài các cải cách về thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với
các nhà đầu tư nước ngoài, thủ tục cấp phép đầu tư cho các dự án đầu tư cũng từng
bước thực hiện rút ngắn thời gian.Các địa phương đều đưa ra những ưu đãi riêng,
theo đó thời gian cấp phép đầu tư ngày càng rút ngắn. Điển hình như ở Hải Phòng
cấp phép đầu tư trong vòng 3 giờ; Quảng Nam cấp phép trong vòng 24 giờ;…
2.4. Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm và
khuyến khích đầu tư
2.4.1. Ưu điểm
Nhận thấy vai trò của đầu tư trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đã chủ
trương xây dựng, hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích
đầu tư, đảm bảo minh bạch trong quy định và áp dụng, công bằng giữa các nhà
đầu tư, giảm thiểu chi phí, góp phần tạomột môi trường đầu tư
bình ổn, an toàn để khuyến khích các nhà đầu tư.
Nhìn một cách tổng quát, các quy định Việt Nam về đầu tư và khuyến khích đầu
tư hiện nay khá đầy đủ. Ngay từ khi mới bắt đầu chính sách đổi mới, Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã có những quy định về ưu đãi đầu tư, tập
trung chủ yếu vào biện pháp giảm thuế lợi tức. Luật Đầu tư nước ngoài 1996 cũng
có các biện pháp ưu đãi đầu tư gồm cả thuế nhập khẩu và thuế lợi tức. Đối với các
nhà đầu tư trong nước, phải đến năm 1994 mới có Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước, sau được thay thế bằng Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998. Năm
70
2005, Luật đầu tư mới được ban hành có sự tương thích với các quy định của
WTO, chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam đã có sự thống nhất, không còn phân
biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Nhiều tiêu chí để xác định
đối tượng được ưu đãi thuế cũng được điều chỉnh, bãi bỏ như không còn ưu đãi thuế
đối với hàng xuất khẩu (trợ cấp xuất khẩu) hoặc với hàng hoá có tỷ lệ nội địa hoá
cao. Về hình thức ưu đãi, theo Luật Đầu tư 2005 ngoài các hình thức ưu đãi quen
thuộc như thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, thuế xuất nhập khẩu, bắt đầu
xuất hiện thêm nhiều hình thức ưu đãi khác như: ưu đãi thuế thu nhập cá nhân cho
người lao động, hỗ trợ chi phí thủ tục hành chính, chi phí đầu tư hạ tầng, hỗ trợ lãi
suất, trợ giá, bao tiêu sản phẩm đối với một số ngành rất khó thu hút đầu tư như
năng lượng sạch, hoá dầu. Mặc dù có nhiều cải cách tiến bộ, nhưng Luật Đầu tư
2005 vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi tình hình
phát triển kinh tế đã có nhiều biến động.
Để giải quyết những hạn chế của Luật Đầu tư 2005, Luật Đầu tư 2014 được ban
hành đã tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch để bảo đảm thực hiện quyền tự do đầu tư
kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà luật không cấm thông qua các
quy định về ngành, nghề cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện. Luật cũng
sửa đổi một số điều kiện đầu tư kinh doanh theo hướng giảm thiểu hình thức cấp
phép, xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển
sang áp dụng hình thức ban hành quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để nhà đầu tư tự
đăng ký thực hiện và cơ quan quản lý tiến hành hậu kiểm. Luật Đầu tư 2014 cải
cách mạnh mẽ thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, đơn giản và bảo đảm hiệu
quả quản lý nhà nước về đầu tư với những nội dung sửa đổi, bổ sung, gồm:
Thứ nhất, bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư
trong nước.
Thứ hai, Luật đã đơn giản hóa hồ sơ, trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian thực
hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài với
thời hạn tối đa 15 ngày thay cho 45 ngày như trước đây; Dự án đầu tư thuộc diện
quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh: 5 ngày làm việc. Đối với trường hợp điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký
71
đầu tư là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, trường hợp từ chối thì phải
thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.
Thứ ba, Luật đưa ra quy định thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài
theo hướng bãi bỏ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh) để tách bạch đầu tư theo dự án với đăng ký kinh doanh.
Theo quy định này, sau khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư,
nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh
doanh như nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư chỉ cần hoạt động theo giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh là được và đủ.
Thứ tư, thu hẹp phạm vi áp dụng cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với
nhà đầu tư nước ngoài. Theo Luật Đầu tư 2005, tất cả các dự án có vốn nước ngoài
không xác định tỷ lệ của nhà đầu tư nước của doanh nghiệp vẫn phải cấp Giấy
chứng nhận đầu tư. Nay theo Luật Đầu tư 2014 quy định đối với các dự án nhà đầu
tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp vốn 51% vốn điều
lệ mới phải xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước
ngoài. Đây thực sự là một bước mở nhằm góp phần thu hút, khuyến khích đầu tư
đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.
Bên cạnh những mặt tích cực của các quy định cải cách thủ tục hành chính, Luật
Đầu tư 2014 còn có nhiều ưu điểm như Luật đã xóa bỏ phân biệt đối xử đối với nhà
đầu tư nước ngoài, tạo mặt bằng pháp lý bình đẳng về quyền thành lập doanh
nghiệp và thực hiện hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh
tế. Theo đó, trừ một số hạn chế về tỷ lệ vốn góp và phạm vi hoạt động theo quy
định của pháp luật và điều ước quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài được quyền thành
lập tất cả các loại hình doanh nghiệp quy định tại Luật doanh nghiệp, được góp vốn,
mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ sở hữu không hạn chế và thực
hiện hoạt động đầu tư theo quy định áp dụng thống nhất đối với nhà đầu tư trong
nước. Luật liệt kê cụ thể các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Quy định
này giúp nhà đầu tư tìm hiểu luôn được các ngành nghề kinh doanh có điều kiện
thay vì trước đây phải tìm hiểu qua các văn bản chuyên ngành. Quy định này cũng
tránh được cách hiểu khác nhau của người thi hành, áp dụng luật. Trước đây theo
72
Luật Đầu tư 2005, lĩnh vực cấm đầu tư mang tính chất chung chung, không rõ ràng
như: phương hại đến quốc phòng, an ninh, quốc gia… nhưng theo Luật Đầu tư 2014
chỉ cấm hoạt động đầu tư kinh doanh được liệt kê tại Luật. Đây là quy định tiến bộ,
khẳng định “Nhà đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong
những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.
Một khía cạnh của các biện pháp khuyến khích đầu tư đó là hỗ trợ đầu tư. Hiện
nay, Luật Đầu tư 2014 với tư cách là nguồn luật chung điều chỉnh lĩnh vực đầu tư,
đã đưa ra những quy định về hỗ trợ đầu tư rất đơn giản và ngắn gọn trong 3 Điều
luật là Điều 19, Điều 20 và Điều 21. pháp luật hỗ trợ đầu tư tại Việt Nam là tập hợp
các quy định xác định các hình thức hỗ trợ đầu tư trong Luật Đầu tư 2014 và các
quy định về cách thức thực hiện các hỗ trợ đầu tư trong các văn bản pháp luật
chuyên ngành như: Luật Khoa học và Công nghệ 2013, Luật Công nghệ cao 2008,
Luật Chuyển giao công nghệ 2006; Luật Giáo dục 2005, Luật Giáo dục đại học
2012 và Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014; Luật Đất đai; Luật Hỗ trợ doanh nghiệp
nhỏ và vừa 2017 và các văn bản dưới luật khác,…
Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, các hình thức hỗ trợ đầu tư hiện
nay đa dạng và có tính thu hút, khuyến khích đầu tư, với những quy định cụ thể như
sau:
- Hỗ trợ xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được quy
định trong Luật Đầu tư 2014, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày
12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Đầu tư và Luật Công nghệ cao 2008;
- Hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đã được thực hiện gắn liền với
chính sách phát triển giáo dục ( Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014);
- Hỗ trợ tín dụng giúp đỡ giải quyết khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp
đầu tư (Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017);
- Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh (Luật Đất đai 2013);
- Hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ được Nhà nước thực hiện
thông qua các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ để cung cấp dịch vụ
73
khoa học và công nghệ, việc thành lập và tổ chức quản lý các tổ chức này
được điều chỉnh bởi Luật Khoa học và Công nghệ 2013;…
Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn có quy định bảo đảm cơ chế giải quyết tranh
chấp, đảm bảo trong trường hợp xảy ra tranh chấp mà các bên không thể giải quyết
được thông qua con đường thỏa thuận, hòa giải thì một trong hai bên, đặc biệt là
nhà Đầu tư nước ngoài được chọn một cơ quan phán quyết để giải quyết tranh chấp
sao cho họ có lợi nhất phù hợp với các điều ước và thông lệ quốc tế. Mặc dù tranh
chấp là điều không nhà đầu tư nào mong muốn, nhưng thực tế hoạt động đầu tư vô
cùng đa dạng, phức tạp và tranh chấp xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Việc quy
định cơ chế để giải quyết các tranh chấp phát sinh về đầu tư phần nào trấn an tâm lý
các nhà đầu tư, khiến họ cảm thấy yên tâm hơn khi tiến hành hoạt động đầu tư của
mình.
Như vậy, có thể nói, Chính phủ Việt Nam đã có sự quan tâm hàng đầu đến bảo
đảm và khuyến khích đầu tư, thể hiện trong việc điều chỉnh những quy định pháp
luật liên quan đến đầu tư kinh doanh từ đó tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn,
giảm bớt rào cản về thủ tục hành chính, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các quy định pháp luật đang ngày được hoàn
thiện, không chỉ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong nước mà còn phù hợp
với các Hiệp ước, Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.
2.4.2. Nhược điểm
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được của pháp luật Việt Nam về bảo đảm và
khuyến khích đầu tư thì còn tồn tại một số nhược điểm như:
Thứ nhất, pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư còn thiếu sự thống nhất
và chồng chéo giữa các văn bản (VD: Luật Đầu tư và Luật các tổ chức tín dụng như
thực trạng phân tích trong Chương 2), có sự khác biệt rõ nét giữa quy định trong
Luật đầu tư và các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tạo lỗ hổng trong việc chuyển
lợi nhuận ra nước ngoài khi các nhà đầu tư lợi dụng ưu đãi làm phản tác dụng của
các quy định pháp luật.
74
Thứ hai, các quy định pháp luật còn quy định nửa vời, chưa lường trước hết các
sự kiện có thể phát sinh trong thực tế, quy định pháp luật chưa kịp thời điều chỉnh
nhiều vấn đề bức xúc trong thực tiễn đầu tư tại Việt Nam, chẳng hạn quy định về
bảo đảm trong trường hợp thay đổi pháp luật.
Thứ ba, chưa có các chế tài đi kèm trường hợp các nhà đầu tư lợi dụng các biện
pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, an ninh,
xã hội.
Thứ tư, thủ tục hành chính về đầu tư còn rườm rà. Mặc dù pháp luật đã có quy
định rút gọn thủ tục hành chính nhưng thực tế các thủ tục này vẫn là mối e ngại của
các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào Việt Nam. Thủ tục phải qua nhiều cửa mà
mỗi cửa lại yêu cầu nhiều giấy phép con mà trong luật và các văn bản hướng dẫn
không đề cập tới.Thêm vào đó là thời gian để chờ các thủ tục này rất dài theo luật
định nhưng trên thực tế khoảng thời gian này còn dài hơn thế. Thủ tục đầu tư là cần
thiết để nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình nhưng phải đảm bảo đơn giản,
thuận lợi cho các nhà đầu tư. Cơ chế một cửa cũng như các thủ tục đăng ký online
đã được thực hiện nhưng chưa hiệu quả. Vì vậy, việc tiếp tục cải thiện các thủ tục
hành chính về đầu tư luôn luôn là yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay.
Thứ năm, một số chính sách ưu đãi được ban hành nhưng không có quy định
hoặc quy định không minh bạch về điều kiện và thủ tục để được hưởng ưu đãi. Điều
này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn vướng mắc trong việc xin xác
nhận đối tượng được hưởng ưu đãi. Thậm chí, có trường hợp chính sách trao quyền
tuỳ nghi quá lớn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, tạo cơ hội cho
tham nhũng tiêu cực, doanh nghiệp phải chung chi để được xác nhận đủ điều kiện
được ưu đãi. Kết quả là chính sách ưu đãi không phát huy được tác dụng, làm nản
lòng những doanh nghiệp muốn đầu tư vào những lĩnh vực được khuyến khích.
Thứ sáu, pháp luật tách biệt giữa xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư với việc xây
dựng kế hoạch ngân sách. Nhiều biện pháp ưu đãi hỗ trợ đầu tư dàn trải, lãng phí,
gây xói mòn cơ sở thu ngân sách, dẫn đến việc Nhà nước buộc phải tăng thu từ
những nguồn khác, gây phản ứng trong xã hội.
75
Thứ bảy, pháp luật chưa có cơ chế kiểm soát để hạn chế các doanh nghiệp đầu
tư có lỗ lũy kế, lỗ mất vốn nhưng vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh, các
doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá. Các quy định hiện hành quy định ưu đãi về
thuế thu nhập doanh nghiệp theo dự án mà không theo tư cách pháp nhân. Có những
dự án được ưu đãi, công ty mẹ được ưu đãi nên cùng trong một công ty mẹ nhưng các
chi nhánh, công ty con lại được hưởng chế độ thuế ưu đãi khác nhau. Do đó, các
doanh nghiệp sẽ chuyển giá.
Thứ tám, một số quy định trong Luật Đầu tư 2014 chưa thực sự phù hợp, còn
chồng chéo gây khó khăn cho các chủ thể thi hành và áp dụng. Chẳng hạn Nhà đầu tư
nước ngoài theo quy định tại Luật đầu tư 2014 được xác định theo tiêu chí quốc tịch:
“Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo
pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”(Khoản 14
Điều 3 Luật đầu tư 2014). Tuy nhiên một số quy định tại Luật đầu tư 2014 thì việc xác
định tư cách của nhà đầu tư nước ngoài lại dựa theo vốn, tức là, chỉ cần doanh nghiệp
tại Việt Nam có vốn đầu tư từ nước ngoài thì doanh nghiệp đó cũng bị xem là nhà đầu
tư nước ngoài.
Ví dụ: Tại Việt Nam, Doanh nghiệp X có 51% vốn đầu tư nước ngoài thành lập
doanh nghiệp mới Y. Theo quy định tại Điều 23 Luật đầu tư 2014 thì Doanh nghiệp Y
cũng vẫn phải áp dụng các điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù xét
về mặt quốc tịch pháp nhân thì Doanh nghiệp X và Y là pháp nhân Việt Nam và theo
quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2014 thì rõ ràng Doanh nghiệp X và Y
không phải là nhà đầu tư nước ngoài. Nếu vốn nước ngoài trong doanh nghiệp X là
52% và doanh nghiệp X nắm 52% vốn điều lệ của doanh nghiệp Y, như vậy, tỷ lệ vốn
nước ngoài trong doanh nghiệp Y chỉ là 27,04% (52% x 52%). Như vậy, chỉ với
27,04% vốn nước ngoài mà doanh nghiệp Y vẫn phải tuân theo các điều kiện đầu tư
và thủ tục đầu tư như quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài là khó thuyết phục, có
gây khó khăn, e ngại cho chính các nhà đầu tư nước ngoài.
Những nhược điểm nêu trên của pháp luật là do các nguyên nhân chủ yếu như sau:
Chúng ta chưa có chiến lược soạn thảo và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và
khuyến khích đầu tư. Thực tế thời gian qua, pháp luật điều chỉnh không đồng bộ, các
76
quy định được sửa đổi bổ sung chỉ giải quyết vấn đề mang tính tình thế. Chính vì vậy
mới có trường hợp pháp luật càng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, càng chi tiết thì
càng khó thi hành do mâu thuẫn giữa các luật mới sửa đổi bổ sung với luật chuyên
ngành khác.
Công tác xây dựng pháp luật chưa thống nhất giữa các cơ quan với nhau. Luật liên
quan đến ngành nào thì ngành đó lập dự án, nhiều trường hợp dự án đó có lợi cho một
ngành nhất định mà lại đi ngược với quy định của các ngành khác.
Hội nhập quốc tế là tất yếu, tuy nhiên việc nghiên cứu các quy định về đầu tư của
các nước trong khu vực và trên thế giới của cơ quan lập pháp Việt Nam còn chậm trễ,
chưa mang tính hệ thống và bị chắp vá nên dẫn đến nhiều quy định Việt Nam trái với
quy định quốc tế.
77
CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ
KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT NAM
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và định hướng hoàn thiện
pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư
Trong giai đoạn tới, tình hình đất nước và bối cảnh phát triển quốc tế đòi hỏi Việt
Nam phải tiếp tục công việc đổi mới, phát huy sức mạnh dân tộc để đưa đất nước tiến
nhanh và vững chắc.
Nước ta với thuận lợi lớn nhất là tình hình trong nước chính trị xã hội ổn định, là
nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế. Hệ thống pháp luật và chính sách đã và đang
được Đảng và nhà nước quan tâm, chỉ đạo xây dựng và điều chỉnh sao cho phù hợp
với thực tiễn. Cùng với đó, quan hệ về chính trị, ngoại giao của nước ta cũng ngày mở
rộng trên thị trường quốc tế.
Khó khăn lớn nhất còn tồn tại là trình độ phát triển kinh tế còn thấp, quy mô sản
xuất nhỏ, thu nhập dân cư thấp, hệ thống tài chính tiền tệ chưa thật sự vững chắc, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.
Nhìn chung trình độ công nghệ của Việt Nam còn khá lạc hậu so với các nước trong
khu vực. Xu hướng toàn cầu hóa là một cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn
đối với đất nước ta. Chúng ta cần tận dụng tối đa những thuận lợi và cơ hội, né tránh
và hạn chế những rủi ro tiêu cực.
Thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích
mạnh mẽ để thu hút các nhà đầu tư vào các ngành nghề như công nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, viễn thông, công nghệ thông tin,…Việc ban
hành các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư đã thu hút được lượng lớn đầu tư
vào Việt Nam kể cả vốn lẫn các dự án đầu tư. Xuất phát từ ý nghĩa về tầm quan trọng
của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư mà các biện pháp này có sức ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động đầu tư cả về số lượng và chất lượng của nước ta.
Thực tiễn cho thấy các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư này đã làm tăng
tính hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư, đồng thời tạo được sự hấp dẫn cho môi trường
78
đầu tư tại Việt Nam và rất phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra
mạnh mẽ.
Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư góp phần không nhỏ tạo ra môi
trường đầu tư bình ổn thu hút đầu tư tăng cao. Xu hướng quốc tế hóa về đầu tư đã tạo
ra những luồng đầu tư không chỉ giới hạn trong khuôn khổ biên giới một quốc gia mà
các nhà đầu tư đã thực hiện những dự án đầu tư ở nhiều quốc gia khác nhau. Do có sự
ổn định trong quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư; các nhà đầu tư có thể yên
tâm đầu tư trong môi trường đầu tư không bị xáo trộn đến các vấn đề cơ bản liên quan
đến những lợi ích trực tiếp của các nhà đầu tư. Sự thay đổi một cách linh hoạt và đúng
đắn của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư sẽ đồng nghĩa với việc cải tạo
môi trường đầu tư một cách tích cực; thông thoáng và hấp dẫn để đẩy nhanh tốc độ thu
hút nguồn lực từ bên ngoài. Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư là cơ sở
pháp lý để bảo đảm cho nhà đầu tư có một môi trường đầu tư tốt.
Bên cạnh đó, các biện pháp đảm bảo và khuyến khích đầu tư còn định hướng đầu
tư vào các lĩnh vực tạo cơ sở cho phát triển toàn bộ nền kinh tế; định hướng đầu tư vào
phát triển các vùng dân tộc; miền núi; hải đảo; các vùng nông thôn và duyên hải gặp
khó khăn; để thực hiện cơ cấu vùng lãnh thổ; giảm dần sự chênh lệch sự phát triển
giữa thành thị và nông thôn; giữa các vùng, miền khác nhau của tổ quốc.
Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư được ban hành đã thể hiện thái độ
đầy thiện chí cũng như những nỗ lực của nhà nước trong việc mời gọi các nhà đầu tư
đầu tư vào và tìm kiếm lợi nhuận. Như đã phân tích ở trên, mặc dù pháp luật Việt
Nam đã có nhiều cải cách tiến bộ, pháp luật đã có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với
tình hình phát triển thực tế, song vẫn còn nhiều hạn chế gây khó khăn cho việc thi
hành áp dụng, là rào cản các nhà đầu tư khi muốn thực hiện hoạt động đâu tư tại Việt
Nam. Chính vì vậy, nhu cầu cấp thiết là hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến
khích đầu tư. Có thể hoàn thiện pháp luật theo các định hướng sau:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư nhằm bảo vệ
quyền lợi của các nhà đầu tư.
79
Để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, pháp luật cần hoàn thiện các quy định
giải quyết những khó khăn trong hoạt độngđầu tư của nhà đầu tư, đặc biệt là những
vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về điềukiện đầu tư và thủ tục đầu tư;
Việc hoàn thiện pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo
quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh được thực hiện một các tốt nhất như lựa chọn lĩnh
vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn, quy mô đầu tư,
đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án,…
Các nhà đầu tư được đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành, nghề; thành lập
doanh nghiệp theo quy định pháp luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư, kinh
doanh đã đăng ký.
Nâng cao hiệu quả và hiệu lực công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu
tư, đồngthời hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý đầu tư và các quy định về thủ tục
đầu tư theo nguyêntắc đơn giản hóa thủ tục, nhưng phải đảm bảo thực hiện có hiệu
quả công tác quản lý nhànước, tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát và phối hợp
giữa các cơ quan quản lý ở trungương và địa phương.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư nhằm phát triển
nền kinh tế.
Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư không chỉ bảo đảm
quyền lợi của các nhà đầu tư mà còn tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế quốc
gia. Đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng của hoạt động đầu tư mà Chính phủ
muốn đạt được là sự tăng trưởng của nền kinh tế. Pháp luật quy định các biện pháp
bảo đảm và khuyến khích nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, lành mạnh, thu
hút nhiều nhà đầu tư, tuy nhiên pháp luật cũng cần quy định chế tài đối với các
trường hợp lợi dụng ưu đãi để trục lợi cá nhân, gây phương hại đến xã hội hay kinh
tế. Chẳng hạn trường hợp các doanh nghiệp áp dụng thủ thuật để giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp, xét về doanh nghiệp được hưởng lợi khi lợi nhuận tăng, tuy
nhiên lại là lỗ hổng cho ngân sách nhà nước.
80
Thực hiện công cuộc đổi mới, những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn
bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật
khuyến khích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước...
tạo nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với
đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với
yêu cầu hội nhập; tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc
mọi thành phần kinh tế.
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật bảo đảm và khuyến khích đầu tư phù hợp các quy
định quốc tế
Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện nhiều quy định luật pháp quốc tế,
với cấp độ và hình thức hội nhập khác nhau như tham gia các thỏa thuận thương
mại ưu đãi, các hiệp định thương mại tự do, tham gia các tổ chức như WTO,
ASEAN,,…
Định hướng trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ước
quốc tế trong các lĩnh vực đầu tư. Việc ký kết nhiều hiệp định song phương và đa
phương về thương mại, đầu tư, tránh đánh thuế hai lần, đặc biệt là việc gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới đã tạo cơ sở pháp lý và tiền đề, điều kiện quan trọng về
thể chế để nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền
kinh tế quốc tế.
Đồng thời, đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn
bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên, đảm bảo tính quốc tế của sự phát triển kinh tế thị trường
của Việt Nam.
3.2. Giải pháp hoàn thiện và thực thi biện pháp bảo đảm và khuyến khích
đầu tư ở việt nam
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về bảo đảm và khuyến khích đầu tư
Hiện nay, các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm và khuyến khíchđầu
tư tương đối đầy đủ và chi tiết, tuy nhiên trong thực tế vẫn còn những hạn chếnhất
định như đã phân tích trong phần trước. Một trong những hạn chế của pháp luật đó
81
là chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật, các quy định còn rườm rà,cũng có
quy định chung chung chưa điều chỉnh bao quát hết các trường hợp có thểphát sinh
trong thực tiễn. Chính vì vậy, tác giả xin đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện các
quy định pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư phải phù
hợp với Hiến pháp và thống nhất đồng bộ trong hệ thống pháp luật
Xây dựng pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư phải phù hợp với Hiến
pháp bởi vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc có tính chất nền tảng của chế
độ nhà nước, là cơ sở xác định toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam.
Pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ và có tác
động qua lại các các đạo luật khác trong hệ thống pháp luật, do vậy cần được quy
địnhthống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tránh quy định
chồngchéo và quy định rải rác ở các văn bản khác nhau gây khó khăn cho các chủ
thể ápdụng.Đồng thời hoàn thiện một cách đồng bộ các đạo luật khác nhau, không
điều chỉnh chắp vá mang tính tình thế. Hoàn thành xây dựng các văn bản trực tiếp
điều chỉnh hoạt động đầu tư như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp,… và các lĩnh vực
pháp luật khác có liên quan đến đầu tư như: Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Bộ
Luật Dân sự,…Ngoài ra pháp luật cần xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành để
tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư hoàn chỉnh trong thời gian tới. Pháp luật
cần quy định rõ ràng, không quy định nửa vời như biện pháp bảo đảm trong trường
hợp thay đổi pháp luật,…
Thứ hai, pháp luật cần hoàn thiện một số quy định pháp luật cụ thể như sau:
Sửa đổi nhóm các quy định chung của Luật (về khái niệm nhà đầu tư nước
ngoài, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dự án đầu tư...) làm cơ sở cho việc
áp dụng thống nhất điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh, khắc phục tình trạng xung
đột giữa Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các Luật có liên quan.
Hoàn thiện các quy định về lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư nhằm nâng cao
hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài, ưu tiên thực hiện các dự án có công nghệ hiện
đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng
82
sản, đất đai ...; quy định thống nhất Danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư làm
cơ sở để áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, tiền thuê
đất, sử dụng đất ...
Sửa đổi quy định về thủ tục đầu tư theo hướng bãi bỏ quy định Giấy chứng nhận
đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoàn thiện các quy định
về thủ tục đăng ký, thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư nhằm làm rõ hồ sơ, quy
trình, thủ tục, thời hạn thực hiện..., đồng thời bổ sung tiêu chí thẩm tra dự án phù
hợp với quy hoạch và yêu cầu quản lý nhằm tránh tình trạng cấp phép tùy tiện, phá
vỡ quy hoạch.
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư đảm bảo tính
kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia tiến bộ trên
thế giới.
Hoàn thiện pháp luật dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định đã
được thực tiễn kiểm nghiệm là hợp lý, đúng đắn và hiệu quả. Sự kế thừa không chỉ
được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu pháp luật về đầu tư thực định mà còn phải
nghiên cứu cả pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Ngoài ra, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư cần phải tiếp
thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước có chế độ chính trị, kinh tế xã hội có nét tương đồng với nước ta như Trung
Quốc và các nước ASEAN vì những vấn đề mà Việt Nam đang tiếp cận đã từng
được cộng đồng quốc tế nghiên cứu, giải quyết bằng pháp luật một cách thỏa đáng
và khoa học. Việc tiếp thu các quy định này một mặt giúp chúng ta không tốn thời
gian và công sức, mặt khác góp phần làm cho pháp luật Việt Nam trở nên tương
thích hơn với pháp luật của các nước trên thế giới.
Thứ tư, bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch và công khai các quy định pháp luật
về bảo đảm và khuyến khích đầu tư.
Pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư cần được quy định rõ ràng và
minh bạch. Bởi trong xu thế hội nhập quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ e ngại
hợp tác với quốc gia có hệ thống pháp luật mập mờ, không rành mạch. Vì vậy, pháp
83
luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư phải được quy định dễ hiểu, hiểu theo một
nghĩa thống nhất, hết sức rành mạch. Các quy định sau khi được ban hành cần được
công bố công khai rộng rãi và kịp thời cho mọi đối tượng là cá nhân, tổ chức đầu tư,
các cán bộ thi hành pháp luật để có thể kịp thời nắm bắt từ đó mới có quyết định
đầu tư và thực hiện chính xác triệt để các quy định của pháp luật.
Thứ năm, xây dựng chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo đảm và
khuyến khích đầu tư.
Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư giúp kích cầu hoạt động đầu tư,
thu hút các nhà đầu tư. Tuy nhiên mặt hạn chế của các biện pháp này khi nhà đầu tư
lợi dụng các ưu đãi, hỗ trợ để thực hiện các hành vi trục lợi. Vì vậy, bên cạnh xây
dựng những chính sách bảo đảm và khuyến khích đầu tư, pháp luật cần xây dựng
những chế tài đi kèm để tránh trường hợp các nhà đầu tư bất chấp vì lợi nhuận mà
tác động xấu đến môi trường và kinh tế - xã hội.
3.2.2. Tăng cường tính thực thi của pháp luật
Thực trạng thi hành pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư
được xem là chưa thực sự hiệu quả, các nhà đầu tư còn lo ngại về thủ tục hành
chính, pháp luật còn chưa thống nhất và thường xuyên thay đổi.
Bên cạnh việc điều chỉnh pháp luật phù hợp với tình hình phát triển kinh tế đất
nước và phù hợp với thông lệ quốc tế, vai trò quản lý của cơ quan nhà nước cũng rất
quan trọng.
Đối với các doanh nghiệp đầu tư trong một ngành, lĩnh vực thì các quy định
quản lý ngành sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hơn là các quy định về ưu đãi.
Do đó, để thu hút đầu tư vào một ngành, lĩnh vực thì trước tiên cần tạo thuận lợi cho
các nhà đầu tư thông qua việc dỡ bỏ rào cản gia nhập ngành, minh bạch hoá thông
tin chính sách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, cải thiện cơ sở hạ tầng trước khi
phải sử dụng đến biện pháp ưu đãi đầu tư. Ví dụ: khi Nhà nước muốn khuyến khích
các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển thì cần có kế
hoạch, chiến lược để bảo hộ sáng chế, đảm bảo thực thi các quy định quyền sở hữu
trí tuệ trước khi tính đến việc ưu đãi đầu tư.
84
Khi xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư thì cần phải đánh giá cả tác động tích
cực và tiêu cực, chú trọng sử dụng phương pháp định lượng. Trong thời gian qua,
có tình trạng các cơ quan đề xuất chính sách ưu đãi chỉ tập trung vào việc trình bày
những tác động tích cực của chính sách như giúp phát triển kinh tế địa phương,
hoặc tăng vốn đầu tư vào một ngành nghề cụ thể. Tuy nhiên, các tác động tiêu cực
về ngân sách, về giảm đầu tư ở nơi khác hoặc tác động tiêu cực về môi trường, cạnh
tranh thì thường không được đề cập trong quá trình xây dựng chính sách. Do đó,
cần tiến tới đặt ra nguyên tắc rằng nếu đề xuất chính sách ưu đãi đầu tư nào mà
không thể hiện đầy đủ và rõ nét các tác động tiêu cực thì phải được hạn chế trong
quá trình thẩm định, thẩm tra và thông qua.
Hiện nay có tình trạng tách biệt giữa xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư với việc
xây dựng kế hoạch ngân sách. Nhiều chính sách ưu đãi đầu tư dàn trải, lãng phí, gây
xói mòn cơ sở thu ngân sách, dẫn đến việc Nhà nước buộc phải tăng thu từ những
nguồn khác, gây phản ứng trong xã hội. Có thể tính đến giải pháp đưa những nội
dung chung, mang tính nguyên tắc, về tổng chi/giảm thu cho ưu đãi đầu tư vào
trong dự toán ngân sách. Các chính sách ưu đãi cụ thể không được phép vượt quá
nguyên tắc và tổng chi/giảm thu đó.
Các ngành, các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình cấp phép và
quản lý dự án đầu tư nước ngoài. Đồng thời, thúc đẩy giải ngân, không cấp phép các
dự án công nghệ lạc hậu, có tác động xấu tới môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử
dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu
tư/diện tích đất, kể cả đất khu công nghiệp; cải thiện hạ tầng cơ sở, tăng cường quy
hoạch theo hướng hiện đại. Việc quy hoạch và cải thiện hạ tầng cơ sở cần phải thực
hiện đồng bộ giữa các địa phương, các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.
Một điều quan trọng nữa đối với cơ quan nhà nước, đó là thu hút đầu tư phải
phù hợp với lợi thế, điều kiện, trình độ phát triển và quy hoạch từng địa phương
trong mối liên kết vùng, đảm bảo hiệu quả tổng thể kinh tế - xã hội - môi trường.
Đối với các thành phố đã phát triển như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,
Hải Phòng… cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ chất lượng
cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn; kiên quyết không lựa chọn dự án đầu tư sử dụng
85
nhiều lao động, gây ô nhiễm môi trường, phát thải khí nhà kính. Đối với các địa
phương, vùng kinh tế còn kém phát triển có thể lựa chọn dự án sử dụng nhiều lao
động (như dệt nhuộm, may, da dày) nhưng phải cam kết đầu tư bảo đảm bảo vệ môi
trường…
Nhà nước cần nâng cao vai trò điều hành chính sách vĩ mô và phối hợp giữa các
cơ quan để giải quyết các về đề quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế sâu rộng hiện nay, để đảm bảo đổi mới thành công, cần phải có một Nhà
nước mạnh, được tổ chức hợp lý, thực hành dân chủ, có khả năng huy động và quản
lý mọi nguồn lực.
Nước ta hiện đang đứng trước những thách thức rất lớn của yêu cầu tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững; Khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường; Phát triển
kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội. Do vậy, cùng với việc tăng cường ban
hành luật, cần phải tiếp tục xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh thông
về nghiệp vụ để bảo đảm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm túc.
Để hoàn thiện các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, nhà nước cần tích
cực rà soát lại các quy định pháp luật, nhất là các ưu đãi về đất đaiđể đảm bảo tính
đồng bộ giữa pháp luật đất đai, pháp luật về đầu tư và các chính sách khác của Nhà
nước. Xác định rõ đối tượng được hưởng ưu đãi về đất đai của Nhà nước đến được
trực tiếp với người được thụ hưởng. Việc ưu đãi phải thực chất và chỉ nên thực hiện
đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật,
cơ sở hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường, đầu tư vào địa bàn kinh tế xã hội khó khăn,
đặc biệt khó khăn và các đối tượng chính sách.Hiện nay, nhiều dự án có thời gian
ưu đãi quá dài, làm hạn chế sự sáng tạo và đặc biệt là giảm đáng kể nguồn thu ngân
sách. Cùng với đó, toàn bộ các ngành, lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế phải phải quy
định tại luật về thuế, không nên quy định tại các luật chuyên ngành.
Tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước
để có hướng xử lý đối với từng loại dự án, đặc biệt với các dự án quy mô lớn, sử
dụng nhiều đất đai bao gồm cả việc rút giấy phép nếu cần thiết; Nâng cao hiệu quả
của công tác thực thi pháp luật, có chế tài xử phạt mạnh đối với các trường hợp vi
phạm.
86
Về các chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi về đất đai cần được xác định lại qua các
thời kỳ khác nhau, không thể áp dụng chung một kiểu mà không có đổi mới. Việt
Nam cần có cơ chế ưu đãi linh hoạt hơn, kể cả biện pháp phi tài chính để thu hút các
dự án lớn quan trọng từ các tập đoàn đa quốc gia, nhất là các tập đoàn đa quốc gia
đặt trụ sở chính tại Việt Nam. Đồng thời, chú trọng hoàn thiện chính sách về sử
dụng đất trong và ngoài khu công nghiệp, nâng cao hiệu suất đầu tư trên 1 ha đất sử
dụng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng đầu tư và bảo đảm nhu cầu phát triển đô thị,
xã hội.
3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về nền kinh tế thị trường
(thực chất)
Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, nhưng thực chất nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển
vẫn chưa công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, thậm chí còn xếp là nền
kinh tế phi thị trường (trong một số hiệp định có liên quan của WTO). Để xây dựng
nên kinh tế thị trường Nhà nước ta đã thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước, thế nhưng khi các doanh nghiệp vẫn còn sự chi phối quá nhiều từ nhà nước
mà không theo cơ chế thị trường, theo năng lực cũng như tình hình sản xuất kinh
doanh làm cho các nhà đầu tư thêm phần lo lắng trong việc mua cổ phần từ việc cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù nhà nước ta luôn đảm bảo rằng quyền tự
định đoạt của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh cũng như đảm bảo sự công
bằng, minh bạch giữa các nhà đầu tư nhưng sự chưa công nhận nền kinh tế thị
trường của Việt Nam là mối lo ngại của các nhà đầu tư. Do đó, khi xây dụng một
nền kinh tế thị trường thực chất, được các nước trong khu vực và trên thế giới công
nhận thì sẽ làm cho các nhà đầu tư nước ngoài họ yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt
Nam.
Cùng với phương hướng xây dựng nền kinh tế thị trường thực chất, nhà nước
cũng cần có chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững, tạo môi
trường kinh doanh thuận lợi thông thoáng. Nền kinh tế tăng trưởng ổn định sẽ tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, tạo tiền đề thu hút thêm vốn đầu tư trong
tương lai. Môi trường chính trị cần được giữ vững ổn định; Nghiên cứu hoàn thiện
87
cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia đầu
tư vào các đơn vị hành chính - kinh tế, phát triển các khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao… Cơ quan xúc tiến đầu tư nước ngoài cần xây dựng năng
lực dự báo và đáp ứng các nhu cầu tìm kiếm nguồn cung của các nhà đầu tư nước
ngoài. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà cung cấp hỗ trợ, kết nối doanh
nghiệp; giúp doanh nghiệp khắc phục những trở ngại về thông tin trong thời đại
Cách mạng công nghiệp 4.0.
3.2.4. Giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành
pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư
Để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật về bảo đảm
và khuyến khích đầu tư trước hết cần tiến hành đẩy mạnh công tác phổ biến và
tuyên truyền pháp luật không chỉ với cán bộ công nhân viên chức mà tới toàn dân,
hướng tới bảo đảm rằng ai cũng biết luật và ai cũng làm đúng luật.
Các đối tượng cần được phổ biến là cán bộ các cơ quan như Sở Kế hoạch – Đầu
tư, Cục thuế,… và các nhà đầu tư là những doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nội dung phổ biến bao gồm các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm và
khuyến khích đầu tư, cụ thể là những nguyên tắc bảo đảm đầu tư, các hình thức và
đối tượng được áp dụng biện pháp ưu đãi đầu tư, các ngành nghề và địa bàn được
ưu đãi, các chính sách ưu đãi và hỗ trợ riêng của từng địa phương, các thủ tục hành
chính liên quan đến đầu tư, các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp khi phát
sinh,…
Về hình thức phổ biến và tuyên truyền pháp luật, có thể thông qua các bài báo
truyền thống, các chương trình truyền hình, trang mạng xã hội, thư điện tử, các hội
thảo hội nghị, tổ chức các cuộc thi về tìm hiểu pháp luật tại các địa phương,…
Bên cạnh việc truyền thông và phổ biến pháp luật về bảo đảm và khuyến khích
đầu tư, nhà nước ta cũng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện
pháp luật của các cơ quan nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm khắc
các sai phạm, gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong kinh doanh. Qua đó răn đe,
giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các cán bộ công chức nhà
88
nước. Về phía doanh nghiệp, nhà nước cần tích cực trong công tác quản lý, thanh
tra, kiểm toán thường kỳ bảo đảm các doanh nghiệp đầu tư hoạt động đúng quy
định pháp luật, không gây phương hại đến nền kinh tế và xã hội của đất nước.
Tuy nhiên để công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật có thể giúp nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư thì bản thân hệ thống
pháp luật cần phải được hoàn thiện, đồng bộ và phù hợp để áp dụng trong thực tiễn.
3.2.5. Giải pháp nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi pháp
luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư
Giải pháp nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi pháp luật về bảo
đảm và khuyến khích đầu tư có mối quan hệ mật thiết với giải pháp nâng cao trình
độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu
tư. Bởi lẽ cán bộ nhà nước thực thi tốt pháp luật chỉ khi nào họ am hiểu pháp luật và
có ý thức chấp hành và thực thi pháp luật.
Chủ động bố trí, sắp xếp cán bộ có năng lực, có trách nhiệm trong hướng dẫn
chuẩn bị hồ sơ đầu tư, tiếp nhận, xử lý các thủ tục hành chính bảo đảm đúng tiến độ
theo quy định, có chế tài khuyến khích đồng thời phát hiện và xử lý nghiêm những
cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, gây cản trở cho tổ chức, cá nhân khi thi
hành công vụ
Nâng cao năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công
tác xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo đảm và khuyến khích
đầu tư thông qua việc tập huấn, đào tạo lại hoặc mở rộng hợp tác với các đối tác
quốc tế để gửi đi đào tạo.
89
KẾT LUẬN
Đất nước ta đang trên đà phát triển nền kinh tế, trong đó vai trò to lớn của đầu tư
là không thể phủ nhận. Nhận thức rõ vai trò của đầu tư trong nền kinh tế hiện nay,
pháp luật Việt Nam đã và đang hoàn thiện theo hướng tích cực bằng các quy định
về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư
thông thoáng, bình đẳng và thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư, và thực tế các quy
định pháp luật đã gặt hái được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất
cập, mâu thuẫn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật gây khó khăn cho quá trình
thực thi và áp dụng. Không những vậy, pháp luật Việt Nam còn có những khác biệt
đáng kể với pháp luật các quốc gia khác và các điều ước, hiệp định mà chúng ta đã
ký kết với các nước trên thế giới. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về đầu tư nói
chung và pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư nói riêng là vô cùng cần
thiết, phải được thực hiện một cách đồng bộ trên cơ sở học tập kế thừa các quy định
trước đó, loại bỏ những quy định không còn phù hợp, học hỏi tiếp thu có chọn lọc
các kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến trên thế giới, từ đó áp dụng vào thực tiễn
phát triển của đất nước ta.
Ba chương trong luận văn đã đề cập các vấn đề lý luận về các biện pháp bảo
đảm và khuyến khích đầu tư; phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật trong
việc quy định các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư tại Việt Nam. Từ
những bất cập, hạn chế để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các
biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, tạo niềm tin đáng kể cho các nhà đầu tư
cũng như cải thiện môi trường đầu tư trong nước.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn, tác giả đã cố gắng tổng hợp và
phân tích những quy định của pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư. Thông
qua nghiên cứu thực trạng thi hành pháp luật, tác giả đề xuất giải pháp để hoàn thiện
các quy định pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót nên rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để
luận văn được hoàn thiện hơn.
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản quy phạm pháp luật
1. Hiến pháp Việt Nam 2013;
2. Luật Đầu tư 2014;
3. Luật Điều ước quốc tế 2016;
4. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987;
5. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996;
6. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010;
7. Thông tư 02/2017/TT-BKHĐT hướng dẫn về cơ chế phối hợp giải quyết các
thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư nước
ngoài;
8. Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26/06/2018 Về cấp và quản lý bảo lãnh
Chính phủ;
9. Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 Quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
10. Quyết định số 34/2015/QĐ-TTg ngày 14/08/2015 Ban hành danh mục các
chương trình, dự án ưu tiên được xem xét cấp bảo lãnh chính phủ;
11. Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN năm 2009;
12. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP);
13. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP);
14. Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS);
Giáo trình, luận văn, tạp chí và các bài nghiên cứu khác
15. ThS. Hoàng Văn Cương, Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh
nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh
nghiệp 2000-2011, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư năm 2012;
16. ThS.Đào Thu Hà, Hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đầu tư trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Công Thương, ngày 17/12/2018;
91
17. Nguyễn Thị Hưng – Phạm Thị Hiền – Nguyễn Thị Thùy Linh, Pháp luật về
ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước ASEAN và gợi mở cho
Việt Nam, Tạp chí Công Thương, ngày 22/01/2018;
18. Tăng Văn Nghĩa, Tuân thủ của doanh nghiệp đối với trách nhiệm sản phẩm
và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Kinh tế đối
ngoại, Số 119 (7/2019);
19. Chủ biên PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt và TS. Từ Quang Phương, Giáo
trình Kinh tế đầu tư, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2007, Tr.7;
20. Lê Thị Thu Thủy, Các biện pháp khuyến khích theo Luật đầu tư và thực tiễn
áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học
Luật – Đại học Huế, Thừa Thiên Huế năm 2018;
21. TS. Phạm Thị Tường Vân, Chống chuyển giá của các công ty xuyên quốc
gia và giải pháp đối với Việt Nam,Tạp chí tài chính, ngày 24/06/2019
22. James chen, Investment, Investopedia, ngày 30/06/2019;
23. United Nationconference on trade and development, Investment promotion
provisions in international investment agreements, New York anh Geneva
2008;
24. United Nationconference on trade and development, World Investment
Report (2010), Investing in a low-carbon Econom, New York anh
Geneva,2010;
25. United Nationconference on trade and development, UNCTAD (2013),
World Investment Report, New York and Geneva 2013;
26. United Nationconference on trade and development, UNCTAD (2018),
Investment and New Industrial Policies,World Investment Report, New York
and Geneva 2018;
Tài liệu Internet
27. www.mpi.gov.vn;
28. http://econterms.com/econtent.html Từ điển Econterms;
29. https://vi.wikipedia.org;