intTypePromotion=4

Mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của các công ty thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
42
lượt xem
3
download

Mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của các công ty thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Phương pháp hồi quy tương quan (OLS) với dữ liệu thu thập từ 27 doanh nghiệp lớn trong ngành thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.trong giai đoạn 2009-2013 cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê giữa hoạt động quản trị vốn lưu động, được đo lường thông qua các biến số kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả tiền bình quân, số ngày tồn kho bình quân, chu kỳ chuyển hóa tiền mặt, và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của các công ty thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP<br /> <br /> MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI<br /> CỦA CÁC CÔNG TY THỰC PHẨM - ĐỒ UỐNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG<br /> CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM<br /> Bùi Thu Hiền*<br /> Nguyễn Hoài Nam**<br /> Tóm tắt<br /> Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của<br /> doanh nghiệp. Phương pháp hồi quy tương quan (OLS) với dữ liệu thu thập từ 27 doanh<br /> nghiệp lớn trong ngành thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam<br /> trong giai đoạn 2009 - 2013 cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê giữa hoạt<br /> động quản trị vốn lưu động, được đo lường thông qua các biến số kỳ thu tiền bình quân,<br /> kỳ trả tiền bình quân, số ngày tồn kho bình quân, chu kỳ chuyển hóa tiền mặt, và khả năng<br /> sinh lời của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao<br /> hiệu quả quản trị vốn lưu động của các công ty thực phẩm - đồ uống niêm yết trên TTCK<br /> Việt Nam.<br /> Từ khoá: quản trị vốn lưu động, khả năng sinh lời, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả tiền bình<br /> quân, số ngày tồn kho bình quân, chu kỳ chuyển hóa tiền mặt..<br /> Mã số: 78.091014. Ngày nhận bài: 09/10/2014. Ngày hoàn thành biên tập: 21/03/2015. Ngày duyệt đăng: 25/03/2015.<br /> <br /> 1. Giới thiệu chung về mối quan hệ giữa<br /> quản trị vốn lưu động và hiệu quả kinh<br /> doanh<br /> Quản trị vốn lưu động là hoạt động vô cùng<br /> quan trọng nhằm đem lại hiệu quả sản xuất<br /> kinh doanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để<br /> quản trị tốt vốn lưu động trong mỗi doanh<br /> nghiệp đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng mối quan<br /> hệ, ảnh hưởng của các yếu tố trong vốn lưu<br /> động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.<br /> Đã có rất nhiều nhà khoa học tiến hành<br /> nghiên cứu, thống kê mối quan hệ định lượng<br /> của các yếu tố trong vốn lưu động đến hiệu<br /> quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể, để xem xét<br /> mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và<br /> <br /> lợi nhuận doanh nghiệp, Deloof (2003) đã sử<br /> dụng dữ liệu từ 1.009 doanh nghiệp phi tài<br /> chính của Bỉ trong khoảng thời gian từ 1992<br /> - 1996. Bằng việc sử dụng mô hình tương<br /> <br /> ThS, Trường Đại học Ngoại thương; Email: hienbt@ftu.edu.vn.<br /> CN, Trường Đại học Ngoại thương; Email: hoainam240692@gmail.com.<br /> <br /> *<br /> <br /> ** <br /> <br /> 90<br /> <br /> Taïp chí KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI<br /> <br /> Soá 71 (03/2015)<br /> <br /> KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP<br /> <br /> quan và hồi quy, Deloof đã tìm ra mối quan hệ<br /> ngược chiều đáng kể giữa doanh thu từ hoạt<br /> động sản xuất kinh doanh và kỳ thu tiền, số<br /> ngày của hàng tồn kho cũng như kỳ trả tiền<br /> của các doanh nghiệp Bỉ.<br /> Eljelly (2004) cũng đã tiến hành nghiên<br /> cứu mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và<br /> tính thanh khoản của doanh nghiệp, đo lường<br /> thông qua hệ số thanh toán ngắn hạn và chu kỳ<br /> chuyển hóa tiền mặt trên mẫu 929 công ty cổ<br /> phần tại Ả-rập Xê-út. Eljelly đã tìm ra mối quan<br /> hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lời của các<br /> doanh nghiệp và tính thanh khoản của chúng,<br /> được đo lường thông qua hệ số thanh toán ngắn<br /> hạn. Mối quan hệ này càng trở nên rõ rệt với<br /> những doanh nghiệp có hệ số thanh toán ngắn<br /> hạn cao và chu kỳ chuyển hoá tiền mặt dài. Tuy<br /> nhiên, ở cấp độ ngành, Eljelly đã nhận thấy<br /> rằng chu kỳ chuyển hoá tiền mặt đóng vai quan<br /> trọng hơn so với hệ số thanh toán ngắn hạn như<br /> là thước đo sự ảnh hưởng của tính thanh khoản<br /> đến khả năng sinh lời. Ông ta cũng tìm ra rằng<br /> quy mô doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng đáng<br /> kể lên khả năng sinh lời ở cấp độ ngành.<br /> Lazaridis và Tryfonnidis (2006) đã sử dụng<br /> mẫu từ 131 doanh nghiệp niêm yết trên Sở<br /> giao dịch chứng khoán Athens trong khoảng<br /> thời gian từ năm 2001 – 2004 để tiến hành<br /> nghiên cứu chéo giữa các ngành. Họ đã tìm<br /> ra mối quan hệ đáng kể giữa khả năng sinh<br /> lời, đo lường thông qua lợi nhuận gộp từ hoạt<br /> động sản xuất kinh doanh và chu kỳ chuyển<br /> hoá tiền mặt cũng như các thành phần của nó<br /> (khoản phải thu, khoản phải trả và hàng tồn<br /> kho). Dựa trên kết quả phân tích số liệu bằng<br /> mô hình hồi quy tương quan, họ đề xuất rằng<br /> nhà quản trị có thể tăng lợi nhuận bằng cách<br /> đẩy nhanh chu kỳ chuyển hoá tiền mặt và giữ<br /> các khoản phải thu, phải trả và hàng tồn kho<br /> ở mức tối ưu.<br /> Soá 71 (03/2015)<br /> <br /> Ngoài ra, Raheman và Nasr (2007) đã<br /> nghiên cứu tác động của các biến đại diện cho<br /> quản trị vốn lưu động bao gồm kỳ thu tiền bình<br /> quân, số ngày trên một vòng quay hàng tồn<br /> kho, kỳ trả tiền bình quân, chu kỳ chuyển hóa<br /> tiền mặt và hệ số thanh toán ngắn hạn lên lợi<br /> nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh<br /> của các doanh nghiệp Pakistan. Họ đã lấy dữ<br /> liệu từ 94 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao<br /> dịch chứng khoán Karachi trong khoảng thời<br /> gian 6 năm từ 1999 – 20004 và tìm ra mối<br /> quan hệ rất chặt chẽ giữa những biến trên và<br /> khả năng sinh lời của công ty. Cụ thể là khi<br /> chu kỳ chuyển hóa tiền mặt tăng lên sẽ kéo<br /> theo sự giảm sút của khả năng sinh lời và nhà<br /> quản trị có thể tối đa hóa giá trị doanh nghiệp<br /> thông qua việc giảm chu kỳ chuyển hóa tiền<br /> mặt xuống mức nhỏ nhất có thể.<br /> Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007)<br /> đã thu thập dữ liệu từ 8.872 doanh nghiệp vừa<br /> và nhỏ tại Tây Ban Nha trong giai đoạn 1996<br /> – 2002. Sau đó, họ tiến hành nghiên cứu tác<br /> động của quản trị vốn lưu động lên khả năng<br /> sinh lời của doanh nghiệp bằng cách sử dụng<br /> dữ liệu bảng. Kết quả thu được đã chứng minh<br /> rằng nhà quản trị có thể tạo ra nhiều giá trị<br /> hơn bằng cách giảm số ngày tồn kho và kỳ thu<br /> tiền bình quân. Thêm vào đó, rút ngắn chu kỳ<br /> chuyển hóa tiền mặt cũng sẽ giúp cải thiện khả<br /> năng sinh lời của doanh nghiệp.<br /> Trong bài nghiên cứu của mình, ba nhà<br /> kinh tế học Amarjit, Nahum Biger và Neil<br /> Mathur (2010) đã thu thập thông tin từ 88<br /> doanh nghiệp Mỹ niêm yết trên sở giao dịch<br /> chứng khoán New York trong ba năm từ 2005<br /> – 2007. Sau khi tiến hành nghiên cứu bằng<br /> phương pháp hồi quy tương quan, kết quả thu<br /> được là i) Tồn tại mối quan hệ ngược chiều<br /> chặt chẽ giữa kỳ thu tiền bình quân và khả<br /> năng sinh lời. ii) Không tìm ra mối quan hệ<br /> Taïp chí KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI<br /> <br /> 91<br /> <br /> KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP<br /> <br /> giữa kỳ trả tiền bình quân cũng như kỳ tồn<br /> kho bình quân và khả năng sinh lời của doanh<br /> nghiệp. iii) Tồn tại mối quan hệ ngược chiều<br /> chặt chẽ giữa chu kỳ chuyển hóa tiền mặt và<br /> khả năng sinh lời.<br /> Mathuva (2011) cũng đã tiến hành nghiên<br /> cứu ảnh hưởng của các hoạt động quản trị<br /> vốn lưu động lên khả năng sinh lời của doanh<br /> nghiệp bằng việc sử dụng mẫu từ 30 công<br /> ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán<br /> Narobi. Bằng việc sử dụng mô hình tương<br /> quan Pearson, Spearman, mô hình hồi quy<br /> OLS sử dụng dữ liệu bảng và mô hình hồi<br /> quy có ảnh hưởng bất biến, ông ta đã tìm ra<br /> rằng: i) Tồn tại mối quan hệ ngược chiều rất<br /> chặt chẽ giữa kỳ thu tiền của doanh nghiệp<br /> và khả năng sinh lời ii) Tồn tại mỗi quan hệ<br /> cùng chiều rất chặt chẽ giữa thời gian của<br /> vòng quay hàng tồn kho và khả năng sinh lời<br /> iii) Tồn tại mối quan hệ cùng chiều chặt chẽ<br /> giữa kỳ trả tiền bình quân và khả năng sinh<br /> lời của doanh nghiệp.<br /> Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ rằng<br /> rằng quản trị vốn lưu động có ảnh hưởng<br /> đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tuy<br /> nhiên, tại Việt Nam hiện nay, còn rất ít các<br /> nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này.<br /> Do đó, bài viết tập trung vào nghiên cứu mối<br /> quan hệ định lượng giữa quản trị vốn lưu động<br /> và khả năng sinh lời của các công ty sản xuất<br /> thực phẩm – đồ uống niêm yết trên TTCK Việt<br /> Nam . Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số<br /> giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị vốn<br /> lưu động của các công ty này.<br /> 2. Khái quát chung về ngành sản xuất<br /> thực phẩm – đồ uống ở Việt Nam<br /> Từ một ngành nhỏ bé, khiêm nhường, sau<br /> hơn 20 năm mở cửa, đến nay ngành thực phẩm<br /> – đồ uống đã có một vị thế đáng kể trong nền<br /> 92<br /> <br /> Taïp chí KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI<br /> <br /> kinh tế. Theo số liệu của Bộ Công thương,<br /> tính đến thời điểm này, ngành đã chiếm tỷ<br /> lệ 15% GDP và vẫn đang có xu hướng tăng.<br /> Đặc biệt, khi một số tên tuổi, thương hiệu<br /> Việt được cộng đồng quốc tế thừa nhận là tiền<br /> đề quan trọng để hàng Việt Nam vươn ra thế<br /> giới. Sữa Ba Vì đã có mặt ở Châu Phi, các sản<br /> phẩm của Vinamilk đã được xuất khẩu sang<br /> Trung Quốc, các nước Trung Đông... Nhiều<br /> mặt hàng có cồn của Việt Nam đã được xuất<br /> khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc...<br /> Theo số liệu của Bộ Công Thương năm<br /> 2013, chỉ số sản xuất của ngành bia, rượu,<br /> nước giải khát 10 tháng đầu năm đã tăng<br /> 9%; ngành sữa có khó khăn hơn nhưng cũng<br /> tăng trưởng xấp xỉ 6%. Điều quan trọng hơn,<br /> ngành thực phẩm đồ uống đã chiếm lĩnh<br /> được phần lớn thị trường trong nước và từng<br /> bước vươn ra thị trường thế giới. Ngoài ra,<br /> nếu xét theo các tiêu chí: tổng doanh thu,<br /> ROA, ROE của 500 doanh nghiệp lớn nhất<br /> Việt Nam thì theo Bảng xếp hạng 500 doanh<br /> nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam (VNR500)<br /> năm 2013 thì ngành thực phẩm – đồ uống<br /> luôn góp mặt ở Top 5. Điều này cho thấy hiệu<br /> quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngành<br /> khá tốt. Nhìn rộng hơn, trong năm năm qua,<br /> ngành thực phẩm và đồ uống tăng trư ởng<br /> nhanh cả về số lượng và chất lượng, được<br /> đánh giá là ngành có tiềm năng lớn, đặc biệt<br /> là tại các thành phố và thị trấn, nơi có mức<br /> sống ngày càng được cải thiện.<br /> Theo ước tính của Tổ chức giám sát kinh<br /> doanh quốc tế (BMI), ngành thực phẩm và đồ<br /> uống của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kép,<br /> đạt 9,43%. Trong đó, doanh thu ngành thực<br /> phẩm đóng hộp là 5,17%, bánh kẹo là 4,65%,<br /> đồ uống có gas tăng 6,9%. Ngoài ra, các chỉ<br /> tiêu tăng trưởng khác về tài sản và vốn chủ sở<br /> hữu của ngành trong năm 2013 đều đạt mức<br /> Soá 71 (03/2015)<br /> <br /> KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP<br /> <br /> ấn tượng là 10,53% và 32,84%. Các chỉ số về<br /> lợi nhuận như ROA và ROE của ngành lần<br /> lượt đạt mức 17,58% và 23,71%, nằm trong<br /> top 5 ngành có chỉ ROA và ROE cao nhất theo<br /> số liệu của Vietnam Report. Cơ cấu nguồn vốn<br /> trung bình chung của ngành được duy trì ở<br /> mức an toàn với nợ phải trả chiếm 35% và vốn<br /> chủ sở hữu chiếm 65%, cơ cấu nguồn vốn lý<br /> <br /> tưởng đối với các ngành sản xuất kinh doanh.<br /> Về khả năng thanh toán, hệ số thanh toán ngắn<br /> hạn chung của ngành nằm ở mức an toàn 1,58.<br /> Tất cả các chỉ số đều nói lên một sự phát triển<br /> rất vững chắc từ nhóm ngành thực phẩm – đồ<br /> uống, điểm sáng hiếm hoi của nền kinh tế Việt<br /> Nam trong năm 2013.<br /> <br /> Bảng 1. Các chỉ số chung của nhóm ngành thực phẩm – đồ uống năm 20131<br /> Tăng trưởng<br /> <br /> Vốn hóa<br /> thị trường<br /> (tỷ đồng)<br /> <br /> Doanh<br /> thu (%)<br /> <br /> Tài sản<br /> (%)<br /> <br /> VCSH<br /> (%)<br /> <br /> 228.869<br /> <br /> 1,007<br /> <br /> 10,53<br /> <br /> 32,84<br /> <br /> ROA<br /> (%)<br /> <br /> ROE<br /> (%)<br /> <br /> Nợ/<br /> Tổng<br /> tài sản<br /> <br /> Khả năng<br /> thanh toán<br /> ngắn hạn<br /> <br /> 17,58<br /> <br /> 23,71<br /> <br /> 0,35 <br /> <br /> 1,58 <br /> <br /> Nhóm ngành thực phẩm – đồ uống Việt<br /> Nam gồm một số ngành kinh tế kỹ thuật chính:<br /> Rượu- bia - nước giải khát, chế biến sữa và các<br /> sản phẩm từ sữa, dầu thực vật, chế biến bột và<br /> tinh bột, công nghiệp kỹ nghệ thực phẩm và<br /> chế biến thủy hải sản. Nhìn chung, hiện nay<br /> ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm – đồ<br /> uống Việt Nam có những đặc điểm như sau:<br /> <br /> hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Sản lượng bánh<br /> kẹo năm 2012 đạt trên 100.000 tấn, tổng giá<br /> trị thị trường năm 2012 khoảng trên 8.000 tỷ<br /> đồng. Về phía ngành ngành bia - rượu - nước<br /> giải khát, lĩnh vực này luôn được coi là một<br /> trong những ngành sản xuất phát triển có hiệu<br /> quả kinh tế cao, chiếm 4,69% giá trị sản xuất<br /> của toàn ngành công nghiệp. Trong năm 2013,<br /> Về quy mô, nhóm ngành thực phẩm đồ uống các doanh nghiệp trong ngành bia sản xuất và<br /> hiện có khoảng 100 doanh nghiệp đang niêm tiêu thụ ước đạt 3 tỷ lít bia tăng 7,5 % so với<br /> yết trên sàn chứng khoán Việt Nam với giá trị cùng kỳ, các doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh<br /> vốn hóa hơn 2.180 nghìn tỷ đồng. Tổng doanh vực nước giải khát sản xuất và tiêu thụ ước đạt<br /> thu của toàn ngành trong năm 2013 đạt khoảng 4,6 tỷ lít, tăng trưởng 9% so với cùng kỳ và<br /> 45 nghìn tỷ đồng và lợi nhuận ròng khoảng sản xuất rượu công nghiệp ước đạt 56 triệu lít,<br /> 9 nghìn tỷ đồng. Theo số liệu của Bộ Công đạt 89% so cùng kỳ năm trước<br /> Thương, ngành chế biến thực phẩm chiếm<br /> Về cơ cấu thị trường, do sở hữu những điều<br /> một tỷ lệ đáng kể sản lượng đầu ra của ngành kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành thực<br /> công nghiệp nói chung và tổng sản phẩm quốc phẩm – đồ uống như thị trường tiêu thụ lớn với<br /> nội (GDP) nói riêng. Ước tính, lượng tiêu thụ thu nhập không ngừng tăng lên, nguồn nguyên<br /> thực phẩm hàng năm luôn chiếm khoảng 15% liệu dồi dào, chi phí lao động thấp, Việt Nam<br /> GDP. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực sản xuất là điểm đến hấp dẫn của nhiều tên tuổi lớn như<br /> bánh kẹo đã có khoảng 30 DN trong nước và Coca - Cola, Pepsico, Red Bull, Lavie, Orion,<br /> www.kisvn.vn.<br /> <br /> 1<br /> <br /> Soá 71 (03/2015)<br /> <br /> Taïp chí KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI<br /> <br /> 93<br /> <br /> KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP<br /> <br /> Lotte… Theo Cục Quản lý cạnh tranh Bộ<br /> Công thương, đến năm 2013, trong lĩnh vực<br /> đồ uống, cả nước có 134 DN sản xuất, gồm<br /> cả doanh nghiệp trong nước và có vốn đầu tư<br /> trực tiếp nước ngoài. Riêng về sản xuất nước<br /> giải khát, trong năm 2012, 10 doanh nghiệp<br /> thuộc top đầu đã chiếm đến 75,64% thị phần,<br /> trong đó các doanh nghiệp dẫn đầu lần lượt là<br /> Công ty Nước giải khát IBC chiếm 25,50%,<br /> Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Tân<br /> Hiệp Phát chiếm 22,65% và Công ty TNHH<br /> Nước giải khát Coca Cola VN chiếm 10,50%.<br /> Về sản xuất thực phẩm, lĩnh vực bánh kẹo nói<br /> riêng, 3 doanh nghiệp Việt Nam đứng đầu thị<br /> trường là Kinh Đô, Bibica và Hữu Nghị đã<br /> chiếm hơn 42% thị trường, các doanh nghiệp<br /> nội địa còn lại và khối ngoại sở hữu 38% thị<br /> trường, 20% còn lại là hàng nhập khẩu. Tuy<br /> nhiên, với sự xuất hiện của nhiều thương hiệu<br /> nước ngoài như Glico, Lotte, sự cạnh tranh<br /> trong lĩnh vực bánh kẹo đang dần trở nên gay<br /> gắt hơn bao giờ hết.<br /> Hình 1: Thị phần bánh kẹo Việt Nam năm<br /> 2010 và 2012<br /> <br /> Nguồn: Công ty Cổ phần chứng khoán KIS<br /> Việt Nam, 2012<br /> <br /> Về những áp lực cạnh tranh trong ngành,<br /> áp lực từ khách hàng rất cao do mức độ tiếp<br /> cận thông tin cao và sự sẵn có của các sản<br /> 94<br /> <br /> Taïp chí KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI<br /> <br /> phẩm thay thế. Ngày nay, sự đòi hỏi của khách<br /> hàng về những sản phẩm chất lượng, uy tín,<br /> an toàn cho sức khỏe với giá cả phải chăng đã<br /> trở nên cao hơn bao giờ hết, khiến các doanh<br /> nghiệp luôn phải tìm cách tự đổi mới và cải<br /> tiến nếu muốn tiếp tục tồn tại. Thêm vào đó,<br /> đối với nhóm khách hàng là các nhà phân phối<br /> lớn với số lượng ít nhưng rất tập trung và có<br /> quy mô lớn, họ có vị thế đàm phán cao đối với<br /> các doanh nghiệp sản xuất và luôn tìm cách<br /> chèn ép giá cả nhằm tối thiểu hóa chi phí của<br /> mình. Do vậy, các doanh nghiệp sản xuất trong<br /> ngành thực phẩm – đồ uống phải không ngừng<br /> cải tiến chất lượng sản phẩm, đồng thời cắt<br /> giảm chi phí để đáp ứng nhu cầu của khách<br /> hàng. Áp lực từ các sản phẩm thay thế trong<br /> ngành sản xuất thực phẩm – đồ uống rất cao<br /> do các công ty ngày càng đầu tư phát triển để<br /> tìm ra các sản phẩm tân tiến, ưu việt hơn các<br /> sản phẩm hiện tại. Như trong ngành sản xuất<br /> bánh kẹo hiện nay, khách hàng sử dụng nhiều<br /> hơn các sản phẩm mứt hoa quả an toàn, tốt cho<br /> sức khỏe trong các dịp Tết. Hay trong lĩnh vực<br /> sản xuất nước giải khát, việc sử dụng các sản<br /> phẩm trà xanh, nước ép có lợi cho sức khỏe<br /> thay thế cho các sản phẩm nước ngọt có gas<br /> truyền thống là đang trở nên rất phổ biến.<br /> Về áp lực từ nhà cung cấp, có thể thấy rằng<br /> Việt Nam là nước có nguồn nguyên liệu rất dồi<br /> dào, đa dạng, và bản thân các doanh nghiệp<br /> lớn thường ký hợp đồng dài hạn với nhà cung<br /> cấp và vì vậy có vị thế đàm phán rất lớn. Do đó<br /> áp lực từ nhà cung cấp trong ngành thực phẩm<br /> – đồ uống thấp. Đơn cử như Kinh Đô, công<br /> ty sản xuất bánh kẹo chiếm thị phần lớn nhất<br /> hiện nay, thường ký hợp đồng với số lượng lớn<br /> mua đường từ các nhà máy đường Biên Hòa,<br /> Bourbon Tây Ninh và nhà máy đường Phú<br /> Yên, do vậy có quyền lực đàm phán lớn về giá<br /> cả cũng như chất lượng. Hay trong khoảng thời<br /> Soá 71 (03/2015)<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2