
CHÍNH PHỦ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 89/NQ-CP Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2026
NGHỊ QUYẾT
PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 3 NĂM 2026 VÀ HỘI NGHỊ CHÍNH PHỦ
VỚI ĐỊA PHƯƠNG
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế
làm việc của Chính phủ;
Trên cơ sở thảo luận của các Thành viên Chính phủ, ý kiến các đại biểu dự họp và kết luận của Thủ
tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến
Chính phủ với địa phương, tổ chức vào ngày 04 tháng 4 năm 2026.
QUYẾT NGHỊ:
I. Về tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026
1. Những kết quả nổi bật
Chính phủ thống nhất đánh giá: Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục biến
động phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, căng thẳng
địa chính trị, xung đột quân sự tiếp tục kéo dài tại một số quốc gia và bùng nổ tại Trung Đông, tác
động nghiêm trọng đến nguồn cung và giá dầu, khí thiên nhiên hóa lỏng, các sản phẩm dầu mỏ,
nguy cơ gián đoạn các tuyến hành lang vận tải hàng hải, hàng không, đứt gãy chuỗi cung ứng và
suy giảm tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu. Các thách thức an ninh phi truyền thống, biến
đổi khí hậu và các hiện tượng thủy văn cực đoan diễn biến phức tạp, vượt quy luật, tiềm ẩn nhiều
rủi ro thiên tai cấp độ lớn. Ở trong nước, tiếp nối thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ
2026 - 2031 đã thành công rất tốt đẹp, là tiền đề, động lực quan trọng để cả nước vững bước vào kỷ
nguyên mới.
Dưới sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường
xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm; sự đồng hành của Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời của các cơ quan trong hệ thống chính
trị; sự đồng thuận, tham gia tích cực của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp; sự hỗ trợ, giúp đỡ của
bạn bè quốc tế; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương đã quán triệt,
thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XIV và hệ thống 09
nghị quyết chuyên đề, đột phá, chiến lược của Bộ Chính trị, các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội; quyết liệt, chủ động chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ thường xuyên; kịp
thời, linh hoạt ứng phó với biến động từ bên ngoài và những vấn đề đột xuất, phát sinh. Trong tháng
3, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 52 văn bản quy phạm pháp luật, 609 văn bản chỉ

đạo, điều hành; tổ chức 165 hội nghị, cuộc họp, làm việc...; tính chung quý I, Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành 135 văn bản quy phạm pháp luật, 1.354 văn bản chỉ đạo, điều hành; tổ chức
gần 500 hội nghị, cuộc họp, làm việc, đi công tác địa phương, cơ sở. Nhờ đó, kinh tế - xã hội tháng
3 và quý I năm 2026 của nước ta đạt nhiều kết quả tích cực, tốt hơn tháng trước và cùng kỳ năm
trước, tạo động lực để tiếp tục thúc đẩy công việc trong tháng 4, quý II và thời gian tới.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được thúc đẩy, các cân đối lớn
của nền kinh tế được bảo đảm. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I ước tăng 7,83% so với cùng
kỳ; 23/34 địa phương đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) từ 8% trở lên,
trong đó Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hải Phòng, Hưng Yên đạt từ 10% trở lên. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
tháng 3 tăng 1,23% so với tháng trước, bình quân quý I tăng 3,51% so với cùng kỳ, thấp hơn mục
tiêu cả năm (khoảng 4,5%). Thị trường tiền tệ, ngoại tệ cơ bản ổn định; bảo đảm thanh khoản của
hệ thống ngân hàng, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Thu ngân sách nhà nước tháng
3 ước đạt 219,3 nghìn tỷ đồng; tính chung quý I đạt 829,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,8% dự toán, tăng
11,4% so với cùng kỳ trong khi đã miễn, giảm khoảng 43,6 nghìn tỷ đồng tiền thuế, phí...; nợ công,
nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách được kiểm soát tốt. Kim ngạch xuất nhập khẩu
tháng 3 đạt 93,55 tỷ đô la Mỹ (USD), tăng 39,2% so với tháng trước và tăng 23,9% so với cùng kỳ;
tính chung quý I đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ. Giải ngân vốn đầu tư công quý I là
110,3 nghìn tỷ đồng, đạt 11% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 1,2% về tỷ lệ và khoảng
30 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2025.
Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế duy trì đà tăng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp
(IIP) tháng 3 ước tăng 18,8% so với tháng trước, quý I ước tăng 9% so với cùng kỳ. Nhiều dự án
công nghiệp mới, nhất là các dự án thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ, vật liệu cơ bản được đưa vào
vận hành thương mại. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 3 đạt 51,2 điểm, là tháng thứ 9
liên tiếp duy trì trên mức 50 điểm. Khu vực nông nghiệp tăng trưởng tích cực, bảo đảm an ninh
lương thực quốc gia trong mọi tình huống và cung ứng đủ hàng hóa nông sản thiết yếu, đáp ứng đầy
đủ nhu cầu tiêu dùng. Xuất khẩu nông sản tháng 3 ước đạt 6,02 tỷ USD, tăng 47,8% so với tháng
trước; quý I đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ; xuất siêu khoảng 4,78 tỷ USD, tăng 12%
so với cùng kỳ. Khu vực dịch vụ tiếp tục tăng khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng tháng 3 ước tăng 12,1%, quý I tăng 10,9% so với cùng kỳ; nguồn cung hàng hóa dồi dào,
giá cả cơ bản ổn định. Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 3 đạt 2,1 triệu lượt, quý I đạt 6,76 triệu
lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ - là mức cao nhất quý I các năm từ trước đến nay. Hoạt động
sản xuất, kinh doanh tiếp tục chuyển biến tích cực; số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong
tháng 3 là 22 nghìn, quý I là hơn 57,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 57,8% so với cùng kỳ; tính chung
số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong quý I là 96 nghìn, tăng 31,7% so với
cùng kỳ. vốn đầu tư toàn xã hội quý I ước đạt 744,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ;
trong đó đầu tư tư nhân đạt hơn 402,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8%; tổng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) đăng ký đạt 15,2 tỷ USD, vốn FDI thực hiện đạt 5,41 tỷ USD, tăng lần lượt 42,9% và
9,1% so với cùng kỳ. Các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài được tập trung rà soát, xử
lý hiệu quả; ghi nhận có 4.489 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc với tương ứng với 198,4
nghìn ha đất và tổng mức đầu tư hơn 3,3 triệu tỷ đồng; đã giải quyết được 1.022 dự án và báo cáo
cấp thẩm quyền cho phép ban hành chính sách đặc thù để tháo gỡ 2.610 dự án, đất đai. Triển khai
quyết liệt các nhiệm vụ về xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo đúng định
hướng chiến lược của Bộ Chính trị: ban hành đầy đủ, đồng bộ các nghị định hướng dẫn tổ chức,
hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, thành lập Ban Chỉ đạo, Hội đồng điều hành, kiện toàn
nhân sự, chuẩn bị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng thúc đẩy vận hành, phát triển Trung tâm tài chính
quốc tế tại Việt Nam. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực, dự báo khả quan về triển
vọng phát triển kinh tế của nước ta trong năm 2026.
Công tác bảo đảm an sinh xã hội được các cấp, các ngành, các địa phương chú trọng. Các chương
trình an sinh xã hội, hỗ trợ Tết trên toàn quốc được thực hiện với số tiền hơn 3.700 tỷ đồng cho 6,2

triệu đối tượng và trên 15,5 nghìn tấn gạo. Hoàn thành vượt tiến độ 15 ngày "Chiến dịch Quang
Trung" thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ với gần
34,8 nghìn nhà ở bị hư hỏng, gần 1,6 nghìn nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi được sửa chữa, xây dựng lại,
bảo đảm mọi người dân đều được an cư trước ngày khai mạc Đại hội XIV của Đảng và vui xuân
đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Trong quý I, các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã
hỗ trợ vay vốn cho trên 674 nghìn khách hàng với số tiền trên 48,5 nghìn tỷ đồng. Đời sống vật chất
và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên; thu nhập bình quân người lao động quý I tăng
8,5% so với cùng kỳ; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên đạt
96,6%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2026 xếp hạng thứ 45 trên thế giới, tăng 01 bậc so với
năm 2025.
Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và đào tạo, y tế, thông tin, truyền thông tiếp tục được đẩy mạnh.
Nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật đặc sắc được tổ chức, tạo khí thế vui tươi, phấn khởi, đáp
ứng nhu cầu thụ hưởng của Nhân dân; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội truyền thống diễn
ra sôi nổi, an toàn, tuân thủ pháp luật. Ngành giáo dục tích cực chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp trung
học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2026 theo kế hoạch; khởi công xây dựng 121
trường phổ thông nội trú liên cấp, tiến tới hoàn thành mục tiêu tại Thông báo số 81-TB/TW ngày 18
tháng 7 năm 2025 của Bộ Chính trị. Công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân được
tăng cường; bảo đảm đủ thuốc, vắc xin, vật tư y tế; kiểm soát hiệu quả các dịch bệnh truyền nhiễm
lưu hành phổ biến; chấn chỉnh kịp thời công tác quản lý an toàn thực phẩm.
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được chú trọng; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tập trung
chỉ đạo triển khai quyết liệt chiến dịch 20 ngày đêm xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật; ưu
tiên thời gian, nguồn lực chuẩn bị kỹ lưỡng các tài liệu phục vụ Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XIV và Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI và tổng rà soát hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh,
chuyển đổi số quốc gia, cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Tiếp tục vận hành chính quyền địa
phương 2 cấp thông suốt, đồng bộ; 3.193 Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã tại 33 địa
phương và 01 Trung tâm tại Hà Nội đi vào hoạt động hiệu quả; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt hơn 93%,
vượt chỉ tiêu cả năm (80%); 34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành xử lý 25.885 cơ sở nhà, đất.
Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ
vững; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhất là trong thời gian tổ chức Đại hội
XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 -
2031. Công tác phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy,
cứu hộ, cứu nạn được triển khai tích cực. Công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được chú trọng. Công tác đối ngoại và hợp tác
quốc tế được triển khai chủ động, toàn diện, đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố quan
hệ của Việt Nam với các nước láng giềng, thúc đẩy hài hòa quan hệ với các đối tác lớn, tiếp tục đa
dạng hóa quan hệ chính trị, kinh tế đối ngoại, đóng góp hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước trước các thách thức của tình hình thế giới; nâng cao vị thế, uy tín của Việt
Nam trên trường quốc tế.
Trước diễn biến phức tạp của xung đột quân sự tại Trung Đông, Thủ tướng Chính phủ đã khẩn
trương thành lập Tổ công tác và điện đàm, gửi thư tới lãnh đạo nhiều nước, làm việc với nhiều Đại
sứ, lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam liên quan đến lĩnh vực năng
lượng, xăng dầu, thúc đẩy "ngoại giao năng lượng"; quyết liệt, kịp thời chỉ đạo công tác ứng phó,
bảo đảm nguồn cung ứng, bình ổn thị trường xăng dầu, đẩy nhanh chuyển dịch sang sử dụng năng
lượng sạch, nhiên liệu sinh học, tiết kiệm nhiên liệu. Nhờ có các biện pháp, giải pháp ứng phó kịp
thời, linh hoạt, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan liên quan, đến nay,
sản lượng khai thác, sản xuất dầu và khí đều đạt kế hoạch; nguồn cung và giá xăng dầu trong nước

được đảm bảo, bám sát thị trường thế giới; hoạt động bán lẻ xăng dầu diễn ra bình thường, tuân thủ
quy định pháp luật; chưa phát hiện đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý.
2. Hạn chế, bất cập cần lưu ý
Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, kinh tế - xã hội nước ta vẫn còn bất cập và tiếp tục gặp
khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô tiềm ẩn rủi ro do tác động từ các yếu tố bất lợi bên ngoài; giá
xăng, dầu biến động mạnh, chuỗi cung ứng năng lượng gián đoạn, chi phí vận tải tăng cao, đặt ra
những vấn đề về nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, "khả năng chống chịu", thích ứng của nền
kinh tế trong tình huống khẩn cấp. Thị trường tiền tệ, tỷ giá tiếp tục chịu áp lực; tình hình huy động
vốn của các ngân hàng thương mại khó khăn, lãi suất huy động và cho vay chưa ổn định trong khi
yêu cầu huy động nguồn lực đầu tư toàn xã hội năm 2026 là rất lớn. Các động lực tăng trưởng cần
có sự bứt phá mạnh mẽ hơn.
Chi phí sản xuất có xu hướng tăng, hoạt động kinh doanh trong một số ngành, lĩnh vực còn khó
khăn, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Còn tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết,
hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết. Chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở trong vận hành chính quyền
địa phương 02 cấp chưa đồng đều tại một số địa phương. Còn thủ tục hành chính, điều kiện kinh
doanh, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật rườm rà chưa được cắt giảm, đơn giản hóa, gây khó khăn
trong thực hiện. Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, vi phạm sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn
thực phẩm... còn diễn biến phức tạp; ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn chưa được khắc phục
hiệu quả. Đời sống của một bộ phận Nhân dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng dân
tộc thiểu số, biên giới, hải đảo. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội, cháy nổ ở một số địa bàn
còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp...
II. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 4, quý II và thời gian tới
Thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường; căng thẳng địa
chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, kéo dài; an ninh năng
lượng, tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu tiềm ẩn nhiều rủi ro... Đối với nước ta, năm 2026 là
năm đầu triển khai Nghị quyết của Đại hội XIV của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5
năm 2026 - 2031 với yêu cầu rất cao về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng; công
tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu tăng trưởng đạt 2 con số đặt ra nhiều
thách thức và áp lực lớn.
Trước tình hình có cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách
thức nhiều hơn, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bám sát và tập trung thực
hiện 4 nguyên tắc cốt lõi về tăng trưởng kinh tế mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra tại Hội nghị
Trung ương 2 khóa XIV, tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành
động quyết liệt hơn nữa, rà soát kỹ lưỡng các nhiệm vụ được giao, khẩn trương hoàn thành các
nhiệm vụ đã quá hạn, xử lý khó khăn, vướng mắc nội tại và ứng phó kịp thời, hiệu quả với những
vấn đề phát sinh, tập trung chỉ đạo, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ của tháng 4 và quý II năm
2026; trong đó chú trọng những nội dung sau;
1. Quán triệt, triển khai kịp thời, đồng bộ, hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ thực
hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhất là hệ thống 09 Nghị quyết chuyên đề, đột
phá, chiến lược của Bộ Chính trị, 92 nhiệm vụ trọng tâm có thời hạn trong tháng 4 và quý II năm
2026 theo Kết luận của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện đúng thời
hạn, có chất lượng các đề án trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2026. Phối hợp chặt chẽ, kịp thời với các cơ quan của Quốc hội để

hoàn thiện các tài liệu phục vụ Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI; khẩn trương ban hành theo
thẩm quyền hoặc trình cấp thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết các luật, pháp lệnh của
Quốc hội đã có hiệu lực thi hành.
2. Theo dõi sát diễn biến tình hình thế giới, chủ động phản ứng chính sách, thích ứng linh hoạt, phù
hợp, hiệu quả đối với vấn đề phát sinh. Kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm
soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững. Điều
hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính
sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách nhà
nước; kiểm soát nợ công, bội chi ngân sách nhà nước; mở rộng cơ sở thu, chống thất thu; phấn đấu
thu ngân sách nhà nước năm 2026 vượt ít nhất 10% so với ước thực hiện năm 2025. Triệt để tiết
kiệm chi thường xuyên, ngoài việc tiết kiệm 10% chi thường xuyên theo Nghị quyết số
245/2025/QH15 của Quốc hội, phấn đấu tiết kiệm thêm trên 5% chi thường xuyên, dành nguồn lực
cho các nhiệm vụ an sinh xã hội, các dự án trọng điểm.
3. Tăng cường huy động các nguồn lực cho phát triển; triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ,
giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2026
được Thủ tướng Chính phủ giao. Bảo đảm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công của từng dự án theo kế
hoạch từng tháng, nhất là các dự án, công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng,
giao thông vận tải, dự án liên tỉnh, liên vùng, kết nối quốc gia, khu vực, quốc tế, các chương trình
mục tiêu quốc gia được xác định là động lực tăng trưởng năm 2026 của cả nước, vùng và địa
phương. Xây dựng, điều chỉnh, triển khai các chiến lược, quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch
vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành quốc gia tích hợp, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo điều
kiện cho huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực hiệu quả.
4. Xây dựng, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp quan trọng
như năng lượng, cơ khí chế tạo, vật liệu mới, hóa chất; phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ. Thúc
đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống; khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng
mới. Vận hành đồng bộ, phát huy hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam... Khẩn trương
cụ thể hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao thành các hoạt động hợp tác gắn
với thu hút FDI, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết; thúc đẩy đàm
phán, ký kết các FTA mới, mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng. Phát triển
thị trường trong nước; đẩy mạnh cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; tổ
chức các chương trình kích cầu tiêu dùng trong nước quy mô lớn.
5. Phát huy hiệu quả hoạt động của các Ban Chỉ đạo, Tổ công tác của Thành viên Chính phủ. Quyết
liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài theo chỉ đạo của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2026 và các
Công điện số: 14/CĐ-TTg ngày 15 tháng 02 năm 2026, 20/CĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2026,
không bỏ sót, bỏ lọt dự án cần tháo gỡ; phấn đấu hoàn thành xử lý xong trong quý III năm 2026.
Quyết tâm đạt mục tiêu "Chiến dịch Đông Khê năm 2026" thực hiện 85 ngày đêm hoàn thành giai
đoạn 1 đối với 2 tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh và Hữu Nghị - Chi Lăng nhân dịp kỷ niệm
136 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
6. Chủ động các giải pháp ứng phó linh hoạt, hiệu quả trước tác động của xung đột quân sự tại
Trung Đông, không để bị động, bất ngờ; rà soát tổng thể, toàn diện các vấn đề "tự chủ chiến lược",
bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cung ứng đủ điện, xăng, dầu, hàng hóa thiết yếu trong mọi
tình huống. Tổ chức sản xuất, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; phấn đấu tiết kiệm điện tối
thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026. Phát triển điện mặt trời mái nhà; hỗ trợ
doanh nghiệp chuyển đổi năng lượng xanh, đổi mới công nghệ, áp dụng các mô hình tuần hoàn, sử
dụng bền vững tài nguyên, phát triển nguyên vật liệu tái chế, tái tạo, phát triển phương tiện giao
thông xanh.

