
NGỘ ĐỘC THUỐC NGỦ VÀ
THUỐC AN THẦN
Th.S Phạm Thu Thùy
1. ĐẠI CƯƠNG:
Dẫn chất gây ngủ đầu tiên của Acid barbituric là Barbital (Veronal) tổng
hợp 1903 bởi Eischer và Von Mehring. Từ đó có hàng chục Barbiturate ra đời.
Các Barbiturate đều là các acid yếu.
1.1. PHÂN LOẠI BARBITURATE:
Có 2 loại chính: Oxybarbiturate và Thiobarbiturate.
- Oxybarbiturate điển hình là Phenobarbital có tác dụng chậm (3-6
giờ).
- Thiobarbiturate có tác dụng rất nhanh ngay sau khi tiêm, dùng để
gây mê bằng đường tĩnh mạch (Thiopental).
1.2. CHUYỂN HÓA BARBITURATE TRONG CƠ THỂ:
- Barbiturate dễ được hấp thu ở môi trường toan, vì vậy thấm nhanh qua
niêm mạc dạ dày.

- Barbiturate tác dụng nhanh dễ hòa tan trong mỡ hơn Barbiturate chậm,
vì vậy sau khi tiêm 30 phút đã rời bỏ tổ chức não đi nhanh vào tổ chức
mỡ nên bệnh nhân tỉnh lại.
- Barbiturate được chuyển hoá ở gan bởi các Enzym có trong tế bào gan.
Vì vậy người suy gan dễ bị ngộ độc.
- Các Barbiturate tác dụng chậm được lọc qua cầu thận và tái hấp thu ở
ống lượn gần. Nếu pH nước tiểu kiềm hơn Barbiturate sẽ làm giảm tái
hấp thu Barbiturate và thải trừ nhiều nhất qua nước tiểu dưới dạng
nguyên vẹn. Vì vậy kiềm hóa huyết thanh và cho lợi tiểu là một biện
pháp tốt để thải trừ Barbiturate qua thận.
1.3. ĐỘC TÍNH:
- Barbiturate tác dụng lên các ty lạp thể của các tế bào làm giảm sự tiêu
thụ oxy, sự phát sinh ra nhiệt lượng và acid lactic. Với liều cao,
Barbiturate ức chế thần kinh trung ương. Thuốc tác dụng lên hệ thống
lưới và hạ não làm hệ thống thức tỉnh bị ức chế gây hôn mê
- Barbiturate ức chế các trung tâm vận mạch, hô hấp, các bộ phận nhận
cảm đối với pH máu, pCO2, pO2 làm mất phản xạ ho.
- Các tác dụng này có tính chất tạm thời và mất đi không để lại di chứng
sau khi thuốc được thải trừ hết.
2. TRIỆU CHỨNG NGỘ ĐỘC CẤP:

2.1. NGỘ ĐỘC BARBITURATE CÓ TÁC DỤNG NHANH
(THIOPENTAL):
- Có thể gây tăng phản xạ co thắt như co thắt thanh quản, màng hầu.
- Nếu tiêm nhanh có thể gây ngưng thở.
- Thiopental quá hạn có thể gây Sunfhemoglobin máu (triệu chứng giống
như Methemoglobin máu), trụy mạch và suy hô hấp cấp.
2.2. NGỘ ĐỘC BARBITURATE TÁC DỤNG CHẬM:
2.2.1. HÔN MÊ:
Mức độ hôn mê tỷ lệ với liều Barbiturate uống. Tuy nhiên tùy cá nhân
còn tùy thuộc vào sự hấp thu qua ruột, sự phân phối trong cơ thể và khả
năng chuyển hóa của gan. Hôn mê do ngộ độc Barbiturate có thể chia làm 4
mức độ:
- Giai đoạn 1: Gọi to còn trả lời. Điện não: Sóng nhanh lẫn sóng
Alpha bình thường. Nồng độ Barbiturate trong máu 20 mg/lít.
- Giai đoạn 2: Cấu véo, phản ứng đúng. Điện não: Sóng chậm
Theta và Denta. Nồng độ Barbiturate trong máu: 40 mg/lít.
- Giai đoạn 3: Cấu véo phản ứng không đúng. Điện não: Sóng
chậm to, không có phản ứng với tiếng động và cấu véo. Nồng độ
Barbiturate trong máu: 80 mg/lít.

- Giai đoạn 4: Cấu véo không còn phản ứng, các phản xạ gân
xương bị mất hết, bệnh nhân nằm yên, thở khò khè, mất phản xạ
ho, phản ứng nuốt, đồng tử thường dãn. Rối loạn thần kinh thực
vật: Rối loạn hô hấp, ngừng thở, trụy mạch, sốt cao hoặc hạ thân
nhiệt. Điện não: Sóng rất chậm trên cơ sở một đường thẳng (tê
liệt thần kinh thực vật). Nồng độ Barbiturate trong máu: 100
mg/lít.
2.2.2. RỐI LOẠN HÔ HẤP:
Là biểu hiện của rối loạn thần kinh thực vật, thường có ở giai đoạn 4.
Có 2 cơ chế giải thích rối loạn này:
- Giảm thông khí phế nang nguyên nhân trung ương do Barbiturate
có tác dụng trực tiếp ức chế thần kinh trung ương đặc biệt là
trung tâm hô hấp ở hành tủy, dẫn đến giảm PaO2 và tăng PaCO2.
- Tắc nghẽn đường hô hấp trên do hôn mê sâu làm tụt lưỡi về phía
sau, ứ đọng đờm dãi, mất phản xạ ho, hít phải chất nôn và dịch
vị.
Hai cơ chế trên dẫn đến suy hô hấp cấp rất nặng, nhất là khi có hội
chứng Mendelson và thường là nguyên nhân chính gây tử vong.
2.2.3. RỐI LOẠN TUẦN HOÀN:

Ngộ độc Barbiturate nặng gây sốc do thần kinh thực vật bị tê liệt làm
giảm thúc tính các thành mạch gây hạ huyết áp, trụy mạch. Tình trạng sốc
càng dễ xảy ra nếu phối hợp thêm với mất nước, tắc mạch phổi do nằm lâu.
2.2.4. RỐI LOẠN ĐIỀU HÒA THÂN NHIỆT:
Bệnh nhân có thể sốt cao hoặc hạ thân nhiệt trong trường hợp ngộ
độc nặng.
2.2.5. BỘI NHIỄM:
- Ở hệ hô hấp do ứ đọng đờm dãi và xẹp phổi.
- Ở chỗ loét do nằm bất động.
2.2.6. SUY THẬN CẤP:
- Suy thận cấp chức năng do mất nước hoặc trụy mạch.
- Suy thận cấp thực thể trên bệnh nhân đã có tổn thượng thận tiềm
tàng.
2.2.7. DỊP PHÁT BỆNH:
Ngộ độc Barbiturate là nguyên nhân thuận lợi gây tai biến mạch máu
não, tắc động mạch phổi, nhồi máu cơ tim.
3. XỬ TRÍ:
3.1. RỬA DẠ DÀY:

