Nội độc tố trong viêm đường mật do sỏi
Nội độc tố đóng vai trò quan trọng trong viêm đường mật cấp từ triệu
chứng lâm ng đến tiên lượng bệnh. Nghiên cứu 33 bệnh nhân viêm đường
mật cấp do sỏi đường mật chính, được điều trị tại Bệnh viện nhân dân Gia
Định cho thấy, nội độc tcó trong dịch mật hầu hết các trường hợp viêm
đường mật nặng (88,9% viêm m đường mật và 100% sốc nhiễm trùng
đường mật). Tỷ lệ có nội độc tố trong dịch mật trong trường hợp cần can
thiệp cấp cu (66,7%), cao hơn hn so với các trường hợp mổ chương trình.
Khoảng 88,9 - 100% viêm đường mật nặng có nội độc tố trong nước mật.
Sỏi đường mật chính vẫn còn bệnh phổ biến khu vực Đông Nam Á nói
chung Việt Nam nói riêng. Đa số bệnh nhân vào viện vì viêm đường mật
nhiều mức độ nặng nhkhác nhau, đặc biệt là thlâm sàng nặng với tụt huyết áp,
rối loạn tri giác, được gọi là viêm mđường mật. Gần đây tác giả gọi là viêm
đường mật thể nhiễm độc.
Những khám phá mới vsinh bệnh của viêm đường mật nhiễm độc cho
thấy vai trò quan trọng của nội độc tố. Nội độc tố liên quan ttriệu chứng
lâm sàng đến tiên lượng bệnh của viêm đường mật. Tỷ lệ hiện diện nội độc t
trong nước mật và trong máu vào khoảng 85% 30% các trường hợp viêm
đường mật.
Những dấu hiệu lâm sàng thgiúp tiên đoán nhiễm nội độc tố máu và
ngược lại, nồng độ của nội độc tố giúp tiên lượng liệu bệnh nhân tình trạng
viêm đường mật nhiễm độc hay không. Kinh nghiệm thực tế cho thấy cần phát
hiện sớm vm đường mật thể nặng. Chẩn đoán và xtrí sớm giúp hạ thấp tỷ lệ t
vong, gim chi phí điều trị cho người bệnh.
Triệu chứng lâm sàng
Theo thống kê của Bệnh viện John Hopkins cho thấy bệnh nhân viêm
đường mật đủ 3 triệu chứng trong tam chứng Charcot (sốt lạnh run, đau bụng,
vàng da) không còn nhiều như trước, đa số bệnh nhân 2 trong 3 triệu chứng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lbệnh nhân đến bệnh viện với đủ 3 triệu
chứng trong tam chứng Charcot chiếm tỷ lệ cao nhất 15/33 (45,5%).
Theo Lau 1996 Kanazawa 1997 thì tlệ nội độc tố trong dịch mật bệnh
nhân viêm đường mật khoảng 85%. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này
thấp hơn, 18/33 trường hợp có nội độc tố trong mẫu thử, chiếm tỷ lệ 55%. Nội độc
thiện diện trong 80% các bệnh nhân 3 triệu chứng, 50% bệnh nhân 2 triệu
chứng và chỉ 12,5% bệnh nhân có 1 triệu chứng.
Thể lâm sàng
Trong nghiên cứu này sbệnh nhân viêm đường mật nặng còn chiếm tỷ lệ
cao, 27,2% viêm m đường mật 1 trường hợp (3,3%) sốc nhiễm trùng đường
mật. Các trường hợp này đều phải giải áp đường mật cấp cứu đa số có nội độc
tố trong mẫu thử: 88,9% viêm mủ đường mật so với 39,1% viêm đường mật.
Vi trùng
Như những nghiên cứu trước đây, vi khuẩn thường gặp là gram (-) đường
ruột. Chủ yếu là E. coli 54,36%, kế đến là Klebsiella 22,9%. Nghiên cứu của Liset
và Pitt 1990: tlệ cấy đa khuẩn là 20 - 35%. Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng
cho tlệ tương tự, phần lớn là cấy đơn khuẩn 61%, còn lại là cấy đa khuẩn 18%.
Tlệ nội độc tố trong mẫu thử nhóm cấy đa khuẩn cao hơn hẳn so với
nhóm cấy đơn khuẩn (100% so với 60%).
Giải áp đường mật
Số bệnh nhân giải áp mật cấp cứu chiếm tỷ lệ khá cao (48%) và t lệnội
độc tố trong dịch mật cao n hẳn nhóm bệnh nhân đáp ứng điều trị nội khoa
(75% so với 35%). Tỷ lệ giải áp mật cấp cứu hầu hết rơi vào nhóm bệnh nhân
viêm đường mật nặng (viêm mđường mật và sốc) thường nội độc tố trong
dịch mật. Điều này cho thấy có mối liên h giữa độ nặng của viêm đường mật và
nội độc tố trong dịch mật, tuy nhiên cần thêm nhiều công trình nghiên cứu với
cỡ mẫu lớn hơn để chứng tỏ điều này.