
Phái võ ở Việt Nam
Phần 2
1.Nam Hồng Sơn là môn võ do võ sư Nguyễn Nguyên Tộ[cần dẫn nguồn] sáng lập trên cơ sở
kết hợp võ thuật Trung Hoa và võ thuật cổ truyền Việt Nam. Sau một thời gian gián đoạn,
từ năm 1984 con trai trưởng của ông tiếp tục phát triển Nam Hồng Sơn trên địa bàn Hà
Nội và Hà Tây, Việt Nam. Võ sinh Nam Hồng Sơn tập luyện bằng võ thuật Trung Hoa ở
những năm đầu, sau đó mới học võ thuật cổ truyền Việt Nam, kết hợp cả võ thuật tay
không và binh khí.
Lịch sử
Nguyễn Nguyên Tộ (1895-1984), còn có tên là Sáu Tộ là võ sư nổi tiếng trong làng võ
Hà Nội. Ông là bạn của các bậc tiền bối võ thuật Việt Nam như Ba Cát, Hàn Bái, Cử
Tốn. Từ nhỏ ông đã được học võ dân tộc của những người đã dự kỳ thi võ của triều đình
Huế, sau đó ông học thêm một số môn phái võ Trung Hoa để bổ sung cho môn võ của
mình. Trong suốt cuộc đời, ông đã đóng góp nhiều công sức cho việc truyền bá, giảng
dạy võ dân tộc.
Trưởng nam của ông, võ sư Nguyễn Văn Tỵ từ năm lên 9 tuổi đã được cha truyền dạy võ.
Vào năm 1954, khi ông lên tuổi 17, ông đã dạy lớp võ đầu tiên để tự vệ quê nhà tại làng
Văn Hội, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Trong thời gian chiến tranh chống Mĩ,
võ sư Nguyễn Văn Tỵ phải gác võ thuật sang một bên và bước sang lĩnh vực đàn guitar,
suốt từ năm 1957 đến năm 1984.
Từ năm 1984, phong trào võ thuật thủ đô được khôi phục, võ sư Nguyễn Văn Tỵ vừa dạy
đàn vừa dạy võ. Sau khi Nguyễn Nguyên Tộ mất, kế thừa di huấn của ông, Nguyễn Văn
Tỵ đã đưa Nam Hồng Sơn đến với thanh niên Hà Nội, Hà Tây, với hàng ngàn thanh niên

tham gia trong đó có nhiều người nước ngoài. Tại các kì hội diễn võ thuật cổ truyền, môn
phái Nam Hồng Sơn có nhiều tiết mục đặc sắc, có chất lượng và giành được nhiều thứ
hạng cao. Nhiều người kế tục môn phái đã trở thành võ sư, huấn luyện viên tài năng.
Đặc điểm và hệ thống chương trình
Bên cạnh đặc tính kết hợp võ thuật của hai dân tộc nói trên, Nam Hồng Sơn hiện nay còn
gìn giữ được một số bài võ cổ thuộc chương trình thi võ của triều Nguyễn. Về mặt kĩ
thuật, võ sư Nguyễn Văn Tỵ vẫn trung thành với chương trình giảng dạy của cha ông sử
dụng lúc sinh thời. Ba năm đầu, môn sinh luyện tập võ thuật Trung Hoa, bao gồm tấn
pháp, đòn thế và các bài quyền như: Long hổ quyền, Tứ lộ đoản quyền, Thảo mã quyền,
Phượng vũ quyền, Liên hoa quyền, Hồng côn, Tề mi côn, Quý Châu kiếm, Liên hoa độc
kiếm, Liên hoa song kiếm. Những năm tiếp theo, các võ sinh học võ thuật cổ truyền Việt
Nam bao gồm các bài như Lão mai quyền, Ngọc trản ngân đài, Siêu xung thiên v.v. kết
hợp với tập khí công và nội công.
Các võ đường
Việt Nam
Tại Hà Nội có 8 võ đường, trong đó đáng chú ý là các võ đường Quán Thánh và Ngọc
Lâm.[1]
1. Phân đường Văn Sừ
2. Phân đường Đăng Văn
3. Phân đường Huy Đồng
4. Phân đường Ngọc Lâm
5. Phân đường Khánh Hải
6. Phân đường Khắc Trịnh

7. Phân đường Văn Thế
8. Phân đường Quốc Trung
Nước ngoài
Tại Đức có 3 địa điểm tập luyện[2]:
1. Bernhard-bästleinstr.22 - Berlin - Lichtenberg
2. Kungfu 17 Marzahn - Wollenbergerstr. 1 - Berlin - Lichtenberg
3. Anton-Saefkow-Platz 5 - 10369 Berlin
Võ phục
Võ phục môn phái màu đen. Hệ thống đai đẳng bao gồm 5 màu, phân cấp theo thứ tự từ
thấp đến cao là Huyền Đai, Bạch Đai, Thanh Dai, Hoàng Đai, và cao nhất là màu Hồng
Đai.Riêng Hồng Đai dành cho huấn luyện viên và các võ sư.Chia làm 9 thao
Các bài quyền
Cơ Bản Công
Khởi đầu quyền
Long hổ quyền
Tứ Lộ đoản quyền
Thảo mã quyền
Ngũ hành quyền
Phượng Ngũ Quyền

La Hán Quyền
Nam Hồng quyền
Quý Châu quyền
Mai Hoa Quyền
Tứ Xuyên Quyền
Mai Hoa Hồ Nam
Lão Mai Quyền Thảo
2. Phạm Gia võ phái là một môn võ được lão võ sư Phạm Cô Gia thành lập năm 1940
trên cơ sở kết lọc võ thuật truyền thống gia đình, các bài quyền và binh khí của võ Bình
Định. Võ phái Phạm Gia nổi tiếng nhờ các bài Phạm Gia kiếm pháp, bao gồm các động
tác kiếm thuật mới lạ và Phạm Gia quyền pháp với các đòn thế tự vệ sắc sảo. Từ năm
1990, Phạm Gia võ phái gia nhập Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam. Hiện nay, võ
phái hoạt động chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Phật gia quyền còn có tên khác là La Hán Phật gia quyền lấy gốc tích xuất xứ võ
Thiếu Lâm từ bài quyền đầu tiên La Hán Thập Bát Thủ (chữ Hán: 佛家拳; phiên âm
latinh: Fut Gar (Kuen); đôi khi được dịch nghĩa là Buddha Fist hay Monk Family Fist), là
tên của một võ phái của các vị Lạt Ma ở vùng Vân Nam và Tây Tạng là chủ yếu.
Nguồn gốc và danh xưng
Tương truyền rằng võ phái này có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm và chùa Thiếu Lâm
Tung Sơn Hà Nam.

Thuyết khác lại cho rằng gốc phát tích của nó là chung một gốc với Hồng Gia Quyền của
Hồng Hy Quan và Vịnh Xuân Quyền của Nghiêm Vịnh Xuân tại thành phố Phật Sơn,
tỉnh Quảng Đông.
Nguồn gốc môn phái không rõ ràng và có một vài kỹ thuật kỹ pháp liên quan đến Nam
Thiếu Lâm Phúc Kiến ở kỹ thuật trường kiều đại mã và La Hán quyền của Thiếu Lâm
Tung Sơn Hà Nam, cước pháp (đòn chân) thì lại có liên quan một ít đến Bắc Thiếu Lâm.
Theo thuyết khác, bộ môn này có nguồn gốc từ một ngôi chùa thuộc các môn đồ của
Thiếu Lâm ở tỉnh Quảng Đông do các sư tăng trong chùa rút gọn tinh hoa quyền pháp
của các hệ Nam quyền Quảng Đông mà chủ yếu là Hồng Gia Quyền của Nam Thiếu Lâm
nên rất thịnh hành ở vùng lưỡng Quảng (Quảng Đông & Quảng Tây).
Bộ môn này có lan truyền sang các khu vực lân cận như Hồng Kông, Đài Loan và rất
thịnh hành tại tỉnh Thanh Hóa miền Bắc Việt Nam trước 1954 và hiện đang lưu truyền
phổ biến ở các khu vực Bắc Mỹ, Canada.
Đặc trưng kỹ pháp
Đây là một môn quyền thuật có nguồn gốc từ các phái võ miền Nam Trung Hoa xuất xứ
từ Nam Thiếu Lâm nên thuộc các bộ môn Nam quyền.
Về mặt kỹ pháp, Phật gia quyền sử dụng các loại thủ hình như các hệ phái Nam quyền
khác : quyền (đấm), chưởng (xòe bàn tay), trửu (cùi chỏ), chỉ (các ngón tay xỉa), câu thủ
(cổ tay), trảo (ức bàn tay và các ngón tay co lại), ... cũng có sử dụng đòn chân (cước
pháp, thối pháp) của Bắc Thiếu Lâm nhưng lại đá thấp từ thắt lưng trở xuống và ít khi
nhảy cao đá như các bộ môn Trường quyền của Bắc Thiếu Lâm.
Quyền pháp của Phật gia quyền tinh tuyển tinh hoa của các loại Nam quyền như Hồng,
Lưu, Lý, Mạc, Thái (Hung gar, Liu gar, Li gar, Mo gar, Choy gar).
Kỹ pháp đặc trưng vẫn là sử dụng Kiều pháp (đòn tay) như Hồng Gia Quyền, vẫn theo
nguyên lý "Ổn mã ngạnh kiều, trường kiều đại mã, đoản kiều tiểu mã" nghĩa là "Ngựa
vững cầu cứng, ngựa lớn cầu dài, ngựa nhỏ cầu ngắn", diễn giải: bộ pháp (tấn pháp và

