Phái võ ở Việt Nam
Vũ gia thân pháp
Vũ gia thân pháp là một môn võ của Việt Nam do võ sư Vũ Bá Quý (1912-1995) sáng
lập.
Mục lục
1 Khái quát
2 K năng môn phái
o 2.1 Thân pháp
o 2.2 Bpháp
o 2.3 Thủ pháp
o 2.4 Binh k
o 2.5 Khíng
3 Tchức
o 3.1 Chức danh hoạt động
o 3.2 Các ngày k niệm trong năm
o 3.3 Cơ cấu môn phái
o 3.4 Hệ thống võ đường
4 Xem thêm
5 Chú thích
6 Liên kết ngoài
Khái quát
Vũ gia thân pháp căn bản được võ sư Vũ Bá Quý kết hợp giữa thân, thủ pháp Vịnh xuân
quyền, bpháp Hầu quyn với các bài thế chiến đấu thực tiễn xuất phát từ nền võ thuật
cổ truyền hình thành qua các cuộc chiến trong lịch sử ginước của dân tộc Việt Nam.
Qua đó gạn lc để nhằm đưa ra những giải pháp pt triển ti ưu trong việc tiếp cận, tập
luyện, trau dồi và bảo tồn giá trị môn phái đối với các thế hệ môn sinh Vũ gia thân pháp.
Sự hình thành sắc thái, tính đặc thù trong nghthuật võ học và mang ý nghĩa chiến đấu
cao, cùng đồng thời thể hiện sự đa dạng và phcập. Là một trong những thành công của
ngườing lập. Võ sư Vũ Bá Quý không hẹp hòi hay câu nệ khi đưa võ của ông vượt qua
sự trị vì cá nhân đến với cộng đồng.
Những môn sinh thuộc thế hệ đầu tiên vào những năm của thập niên 60 cho đến nay, họ
đã và đang phát trin đường lối cơ bản dựa trên kho tàng võ học từ người thầy Vũ Bá
Quý để lại. Định hình và hợp chuẩn phương pháp sư phạm về thuyết cũng như thực
hành. Ấn định giáo trình và ni quy trên các võ đường sát thực tế, đầy đủ và chặt chẽ.
Trong truyền đạt luôn đặt các tiêu chí là rèn luyện sức khoẻ, đạo đức và ý chí làm đầu.
Với cơ sở btay của Vịnh Xuân trong cận chiến, áp dụng Ma b bvới thân pháp xoay
người của Nga Mi, và kèm theo một s cước pháp phù hợp với li đánh áp sát đối
phương. Võ sư Vũ Bá Quý dạy đệ tử về quyền, vroi, vkiếm, song ông vẫn khuyên
"Học văn cho võ đỡ phu, học võ cho văn đỡ nhược" .[1]
Kỹ năng môn phái
Thân pháp
Tính hoạt động của thân pháp trong Vũ gia thân pháp được linh hoạt theo nguyên tắc dồn
phá, ép khoá, xoay và lật. Dựa theo nguyên tắc con quay, dẫn và hoá giải lực theo theo
chiu thuận của đòn xoay và chạm lật. Đồng thời, thân pháp này hoàn thành được là s
kết hợp với bộ pháp cổ truyn Vũ gia (xem mục Bộ pháp).
Phương châm:
Nhu mềm mà không yu, cương chắc mà linh hoạt.
Sinh công, phát công và hgiải (thu công) ly ý, tâm thân làm trọng.
Vai hông nhất hợp, khai pháp ng và th xoắn vặn tựa như dây thng, bật và
lật như lò xo.
Thi triển chiêu thức không lệ thuộc vào v t, khoảng cách, thời gian.
Thực hiện đa chiều lực, làm nền cho các đòn thế tay và thủ pháp cơ bản.
Bộ pháp
Bpháp, với các k ng thi triển đều tuân thủ và làm nn cho tn pháp. Linh hoạt sử
dụng để ứng với sở trường của từng địa phương là vùng đồng bằng hay miền núi. B
pháp nhanh nhẹn, sắc bén, ly thân thủ pháp làm trọng, được thịnh hành ở nơi địa hình ít
bằng phẳng như các vùng núi. Còn ở vùng đồng bằng và nơi đa hình bằng phẳng thì
bộ pháp được xem trọng và thực dụng hơn. Slinh hoạt đó có nằm trong phần mở rộng
của các kng luyện tập.
Xoay (Xoay tứ cửa):
Thuộc kỹ pháp dịch chuyển tâm thân theo đường cung tròn, ly đối thủ làm tâm.
Hoá gii đòn thế đối thủ với phương pháp trượt và chèn. Xoay chân tứ cửa thực hiện tại
ch kết hợp du đẩy, quăng hoặc xô đi thủ đi xa. Đối với các môn sinh mới tập thì việc
xoay chân tcửa đồng nghĩa với việc tập tấn pháp căn bản.
Lật (Thoái bộ):
Trọng lượng cơ thể trên trụ là chân sau, chân trước nhấn nền tạo ra lực đòn by bật lại
phía sau. Động tác này thể hin k pháp thoái lui tạm thời khi bất ngờ gặp công sát. Kỹ
pháp Thi bộ thành thục giúp bộ pháp ln vững chắc trong di chuyển.
Lướt (Túc càn bất ly địa):
Hình thành từ bộ pháp Vịnh xuân quyền và Hầu quyn. Khi tập luyện đạt chỉ giới cao
thể thoắt ẩn, hiện trước đối thủ.
Mã xiết: hai chân trượt cùng đều lúc bám xiết mặt đất. Ưu điểm: biến tốc đột ngột, cả
khi thân hình trượt đều vào đi thủ, ginguyên bpháp, thủ pháp nên đặc biệt an toàn
khi nhập nội, tư thế trung chính, chắc chắn, bộ pháp vng chắc (có thể coi như thế thiên
cân trụy đưa toàn b trọng tâm vào bẩy đối thủ).[2]
Bpháp Vũ gia thân pháp thực tế được hình thành dựa trên những nguyên tắc căn bn
của vật lý tnhiên, là Khởi hình - Khai hình - Hợp hình, và âm dương ngũ hành pháp
Th-Kim-Thu-Mộc-Ho. Công việc trin khai thuyết hay thực hành trên các võ
đường, đã được chứng thực sự hoàn thiện và đạt được thànhng. Cơ bản nguồn gốc, sở
trường của môn phái luôn tuân thủ nghiêm khắc và nâng cao thường xuyên trong các võ
đường.
Thủ pháp
Thủ pháp Vũ gia thân pháp quy tụ hoạt động linh hoạt theo pháp: Khởi lực, khai lực, và
hp lực trong Thoái-Th-Công cùng với hệ thống bài Ngũ hình quyền Xà, Long, H,
Báo, Hạc, ngũ hình tng hợp và Đối luyện 108 rút gọn.
Khởi hình, Khai hình và Hợp hình từ trong ý. Khởi lc, Khai lực và Hợp lực từ trong
thức. Lấy hình của địch để Khởi hình, lấy lực của địch để Khởi lực. m ý hình xuất phát
t mắt, mắt nhìn đâu thì ý và lc phải đưa đến điểm đó. Tâm ý lực xuất phát t nền vàt
bàn chân, thi triển qua khớp gối, hông, vai và khuỷu tay nhsự vận hành của h thống cơ
gân và khí huyết.
Tính hp nhất với các nguyên tắc võ căn bản được Vũ gia thân pháp luôn ln xem trọng,
là công lực quyền pháp Tam quyền mà võ sư Vũ Bá Quý đã dàyng xây dng, góp
phần phát trin nền võ thuật cổ truyn Việt Nam.
Binh k
Khí công
Vic tập luyện k ng ở Vũ gia thân pháp được nhìn nhận và quy tập trên nguồn t tu
tài nguyên chung của tự nhiên, xã hội con người nhất định. Được tuân thủ theo
những nguyên tắc khoa y học cổ truyn với những dẫn giải và minh chứng rõ ràng, c
thể.
n ch:
Điều tâm nhập tĩnh.
Bài trừ những ý niệm và khí hỗn tạp, tăng trưởng lưu trữ chính k, duy trì s
yên tĩnh của não bộ.
Cân bằng âm dương, gigìn sự ổn định, vững chắc bên trong và khnăng thích
ứng bên ngoài của cơ thể.
Nâng cao sức khoẻ, phòng chống bệnh tật, tăng trí thông minh và kéo dài tuổi th.
n trng ý c, năng lực và tư duy bản thân.
Tổ chức