BÀI VĂN MẪU LỚP 10
Đề bài: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh
ký của Nguyễn Du
Trong gia tài thi ca phong phú của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, bộ
phận thơ chữ Hán có vai trò kđặc biệt. Đó là những bài mà Nguyn
Du có thể trực tiếp bộc lộ những tâm tư, tình cm; bày tnhững day
dứt trăn trở của mình. Trong bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" những tâm
sự ấy của Nguyễn Du li có được sự tương đồng, gần gũi với cuộc
đời, số phận tài sắc mà bất hạnh của Tiểu Thanh. Bởi vậy bài thơ là sự
kết hợp hài hoà giữa nỗi thương người và sự thương mình, giữa sự xót
thương cho kiếp người mệnh bạc và lòng trân trọng ngợi ca những
phm chất cao đẹp của con người. Đó cũng là một phương diện quan
trọng, sâu sắc trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du.
Trong thơ n trung đi, không phải ít hình nh những người phụ nữ
"tài hoa bạc mệnh", là nạn nhân của cái quy luật "hồng nhan đa
truân". Người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều đa tài là thế:
Câu cẩm tú đàn anh h
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương"
và: "Cờ tiên, ợu thánh ai đang
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm
nhưng rồi rốt cuộc cũng chỉ bị nhốt nơi cung cấm mà nui tiếc q
khứ, chán nản hiện tại và lo sợ cho tương lai. Tuy nhiên, phải nói rằng
chỉ đến Nguyễn Du mới xuất hiện cả một lớp người mang trọn cái số
kiếp bạc mệnh ấy: Kiều, Đm Tiên, người ca nữ đất Long Thành….
Số phận của họ nằm trong mạch cảm hứng chung của Nguyễn Du và
thể hiện tấm lòng nhân đạo bao la ở ông. Bởi thế dễ hiểu vì sao cuộc
đời Tiểu Thanh một người con gái xa về thời gian, cách về không
gian li nhận được sự cm thông sâu sắc như thế từ nhà thơ. Tiểu
Thanh cũng đầy đủ tài hoa, nhan sắc, nhất là tài hoa văn chương, thơ
phú. Cuộc đời cuối cùng cũng vùi chôn trong nm mồ khi đang độ
xuân xanh tuổi trẻ. Phần tinh hoa để lại cho đời cũng tiêu tan chỉ vì cái
lòng ghen tuông ích kỷ, tàn ác của người vợ cả. Sự biến đổi đau
thương ấy của cuộc đời nàng như được hiện hữu trong cảnh vật :
Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Trong nguyên văn, Nguyễn Du dùng chữ "tận" như muốn xoá sạch
mọi dấu vết của cảnh đẹp Tây Hồ, tô đậm thêm n tượng hoang vắng,
tàn tạ của gò hoang. Sự biến đổi tang thương của cảnh gợi mối thương
m đến người. Cảnh đẹp Tây Hgiờ chỉ còn gò hoang cũng như tất
cả những gì còn lại của Tiểu Thanh tài sắc chỉ là một mảnh giấy tàn,
là phn dư cảo. Nhưng chỉ từng ấy thôi cũng đủ để nhà tmột mình
thương cảm, xót xa mà khóc cho đời hồng nhan. Tiểu Thanh trong đời
thực 300 m trước cũng như nàng Kiều, người ca nữ đất Long Thành
đều phải hứng chịu:
Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh chừa ai đâu
(Truyn Kiều)
Tài sc của những con người ấy thì được ngợi ca là nhng giá trị tinh
thần cao đẹp nhưng bản thân họ thì li bị đày đoạ, chà đạp. Nguyễn
Du vi tấm lòng nhân đạo bao la sâu sắc của mình đã thhiện một sự
đồng cảm, xót thương hết sức chân thành với số phận Tiểu Thanh.
Đây là một nét mới mẻ trong Chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du. Đối
tượng mà Nguyễn Du tơng cảm, quan tâm không chỉ là "thập loại
chúng sinh" đói nghèo đau khổ. Rất nhiều tình cm của ông ng về
những kẻ tài hoa.
Chính số kiếp của Tiểu Thanh tạo nên cái mối hận ngàn năm để
Nguyễn Du nhắc đến trong hai câu luận:
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tmang
Mối hận ấy hỏi trời không thấu, hỏi đất không hay, chỉ có những kẻ
cùng hi cùng thuyn là có thể cùng nhau than thở. Nguyễn Du tự
nhận mình cũng mắc cái nỗi oan kỳ lạ vì nết phong nhã i hoa. i
cách khác sự đồng cảm lớn lao của Nguyn Du dành cho Tiu Thanh
có được bởi Nguyễn Du là người đồng cảnh. Lòng thương người khởi
phát từ sự thương mình n càng cn thực và sâu sc. Đúng như
Mộng Liên Đường chủ nhân Nguyễn Đăng Tuyến từng nhận xét rằng:
"Thúy Kiu khóc Đạm Tiên, Tố Ntử làm truyện Thúy Kiều, việc
tuy khác nhau mà lòng thì là một, người đời sau thương người đời
nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình tht là cái
mối thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay
vậy". Quả thực cái sự tình, trớ trêu của tạo hoá với những kẻ tài
năng đã trthành mối hận của muôn đời và khắp chốn.
Như vậy, tình thương của Nguyễn Du đối với Tiê Thanh là tình cm
của những người tuy xa cách về hoàn cnh nhưng lại tương đồng
trong cnh ngộ. Từ nỗi thương mình mà xót xa cho người. Và từ sự
thương cảm cho người lại tiếp tục gợi lên bao băn khoăn, day dứt cho
kiếp mình. Bi một lẽ, Tiểu Thanh rốt cuộc còn có được một Nguyễn
Du tri âm tri kỷ rỏ lệ xót xa. ít hay nhiều linh hồn văn chương, nhan
sắc, tài hoa "hu thần" ấy còn có được sự an ủi. Nhưng còn Nguyễn
Du, cũng là k"tài tử đa cùng" lm sự lận đận gian nan thì 300 năm
sau biết còn ai trong thiên hạ tưởng nhớ, tiếc thương. Đó là cái tâm sự
băn khoăn không thể có lời giải đáp mà chnhờ qua trường hợp Tiểu
Thanh, Nguyn Du mới có cơ hội suy ngẫm và gửi gắm.
Bài thơ có kết cấu đặc biệt: hai câu đầu là cảnh vật, sự kin, còn 6 câu
sau nặng một khối tình. Khối tình y xét riêng ra tlà sxót xa cho
số kiếp Tiểu Thanh và những băn khoăn về cuộc đời chính tác giả.
Nhưng ở tầng sâu khái quát nó là nỗi niềm của cmt lớp kẻ sĩ tài
hoa, tài tmà nhân ái bao la.
Đề bài: Cảm nhận về bài Độc tiểu thanh
Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh cũng "định mệnh" như Thuý Kiều
đến với Đạm Tiên vậy. Ngày tết Thanh minh mà sao sc xuân không
đến với Đạm Tiên trên nm cỏ:
Sè sè nấm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng na xanh.
Sắc cỏ vàng úa giữa mùa xuân thật hợp cho cuộc gặp gỡ giữa hai con
người có tên trong sđoạn trường. Nguyễn Du với Tiểu Thanh kng
chỉ là scách biệt âm dương. Đó còn là scách biệt của khoảng cách
thời gian vời vợi : ba trăm m lẻ. Nhưng không phải vì có nhiều
khoảng cách mà thiếu đi sự cảm tng. Độc Tiu Thanh kí của
Nguyễn Du chính là tiếng lòng vượt lên bao khong cách để mà cm
thông và thương xót cho một kiếp người.