VĂN MẪU LỚP 11: MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA –
HOÀI THANH
PHÂN TÍCH TINH THẦN THƠ MỚI TRONG ĐOẠN TRÍCH
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
BÀI MẪU SỐ 1:
Tinh thần thơ mới theo Hoài Thanh biểu hiện rõ nhất ở chữ tôi. Trong thơ cũ là chữ
ta, còn trong thơ mới là chữ tôi. Tuychỗ giống nhau nhưng vẫn có chỗ khác nhau, đó là
điều chúng ta hãy cần tìm hiểu.
Tinh thần thơ mới một nội dung nổi bật được Hoài Thanh nói lên thật sâu sắc
trong phần cuối bài tiểu luận "Một thời đại trong thi ca".
Sau khi chỉ ra nh dáng câu thơ, nhạc điệu câu thơ, sự mềm mại, chỗ ngắt hơi, phép
dùng chữ, phép đặt câu,... của thơ mới, ông nói rõ tinh thần thơ mới là điều quan trọng hơn
ta hãy đi tìm. Ông đưa ra một tiêu chí là "phải sánh bài hay với bài hay"; ông chỉ ra sự kế
thừa của sự vật "Hôm nay đã phôi thai từ hôm qua trong cái mới vẫn còn rớt lại ít
nhiều cái cũ". các thời đại vẫn nối tiếp theo dòng chảy thời gian nên “muốn rõ đặc sắc
mỗi thời phải nhìn vào đại thể".
Tinh thần thơ mới theo Hoài Thanh biểu hiện rõ nhất ở chữ tôi. Trong thơ cũ là chữ
ta, còn trong thơ mới là chữ tôi. Tuy có chỗ giống nhau nhưng vẫn có chỗ khác nhau, đó
điều chúng ta hãy cần tìm hiểu.
Cái tôi bản ngã của mỗi con người ai cũng có, sự tự ý thức về mình.
mang theo một quan niệm chưa từng thấy: quan niệm nhân. Lúc đầu chữ tôi xuất hiện
trên thi đàn Việt Nam "thực bỡ ngỡ", như một kẻ "lạc loài nơi đất khách". "Chữ tôi vài cái
nghĩa tuyệt đối của " lúc đầu xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, đến một mình, "bao
nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu". Ngày một ny hai, mất dần vẻ bở ngỡ rồi
được "vô số người quen", cảm thấy "nó đáng thương", "nó tội nghiệp quá!".
Bài "Tình già" của Phan Khôi, bài "Trên đường đời", "Vắng khách thơ" (sau đổi
thành "Xuân về") của Lưu Trọng Lư là ba bài thơ mới được giới thiệu trên báo Phụ nữ tân
văn vào năm 1932. Sáu năm sau, 1938, tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu ra đời. Ta có thế giớỉ
thiệu hai đoạn thơ làm ví dụ để thấy được "hình dáng câu thơ", thấy được cái tôi từ chỗ "bỡ
ngỡ" lúc đầu rồi về sau được "vô số người quen" như thế nào?
Năm vừa rồi
Chàng cùng tôi
Nơi vùng giáp Mộ
Trong gian nhà cổ
Tôi quay tơ,
Chàng ngâm thơ.
Vườn sau oanh giục gĩa,
Nhìn ra hoa đua nở,
Dừng tay tôi kêu chàng:
"Này, này! bạn! xuân sang"
Chàng nhìn xuân mặt hớn hở
Tôi nhìn chàng lòng vồn vã
(“Xuân về' - Lưu Trọng Lư)
đây là bốn câu thơ trích trong bài "Vội vàng” của Xuân Diệu Mỗi sáng sớm thần
vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa;
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân...
Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân, chỉ đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì
gia đình. Còn nhân, cái bản sắc của nhân "chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia
như giọt nước trong biển cả". Những bậc kì tài (như Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương,
Xương,...), "thảng hoặc họ cũng ghi hình ảnh họ trong văn thơ", thẳng hoặc trong thơ
văn họ cũng dùng đến chữ tôi để nói chuyện với người khác" (1). Trong thợ cũ thường chỉ
có chữ ta, các thi sĩ "ẩn mình sau chữ ta một chữ có thể chí chung nhiều người".
Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
(Bà Huyện Thanh Quan)
Gặp ta nay, xuân chớ lạ lùng
Tóc có khác nhưng lòng chẳng khác
Kế từ thuở biết xuân bốn mươi chín năm về trước
Vẫn rượu thơ non nước thú làm vui
Đến xuân này ta tuổi đã năm mươi
Tính trăm tuổi đời người, ta mới nửa
Rồi sau lại bao nhiêu xuân nữa
Mặc trời cho ta chửa hỏi chi
Sẵn rượu đào xuân uống với ta đi...
(Gặp xuân- Tản Đà)
Cái tôi của thơ mời là cái tôi đầy bi kịch. Cũng muốn nói đến cái khổ sở, thảm hại
trước "nỗi đời cay cực” của các nhà thi nhân. Cũng nói đến chuyện lên tiên được sống trong
giấc tiên ("Tiếng sáo Thiên Thai" Thế Lữ). ng nói đến say, đến đơn ("Say đi
em", "Phương xa",... - Vũ Hoàng Chương). Hoặc phiêu lưu trong trường tình:
Thuyền yêu không ghé bến sầu
Nhớ đêm thiếu phụ bên lầu không trăng
(Một mùa đông - Lưu Trọng Lư)
Hoặc điện cuồng, hoặc đắm say, hoặc bơ vơ, hoặc ngơ ngẩn buồn:
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh,
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh
Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo".
Chế Lan Viên
Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao,
Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó.
Huy Cận
Trăng sáng, trăng xa, trông rộng quá!
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ
Xuân Diệu
Cái tôi làm cho nền hồn thơ giàu bản sắc của thơ mới, đồng thời cũng chứa đầy bi
kịch của thơ mới. ch phân tích của Hoài Thanh vừa khái quát vừa cụ thể, rất tinh tế và
tài hoa. Cách dùng từ chính xác, cách dùng điệp từ, dùng tương phản để tạo giọng điệu và
cảm xúc, đọc lên nghe rất lí thú:
"Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta tìm bề sâu. Nhưng càng đi
sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu
Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu.
Những động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta
ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận".
Phải nắm được cái hồn của thơ mới, phải rất tài hoa mới viết đúng viết hay
như vậy. Hoài Thanh như dẫn hồn độc giả nhập vào hồn của thơ mới:
"Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta.
Chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn nhất là xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta
mất luôn cả cái bình yên thời trước".
Một điểm nổi bật nữa của thơ mới là đã góp phần hiện đại hoá tiếng Việt. Câu thơ
co, duỗi tự nhiên. Lời thơ giản dị, dễ hiểu, giàu cảm xúc và hình ảnh. Các nhà thơ mới đã
gửi gắm tấm lòng trân trọng và yêu quý tiếng Việt. Hoài Thanh đã dùng hình ảnh "tấm lụa"
và "tấm hồn bạch" để nói lên tình cảm đẹp đẽ đó:
"Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế
kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Hdồn nh yêu qtrong tình yêu tiếng Việt. Tiếng
Việt họ nghĩ, tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ đã qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn
mượn tấm hồn bạch chung để gửỉ nỗi băn khoăn riêng".
Đoạn cuối của bài tiểu luận "Một thời đại thi ca", Hoài Thanh đã trân trọng, quý
trọng y tỏ niềm hi vọng đối với thơ mới và các nhà thơ mới "trong thất vọng sẽ nảy mầm
hi vọng". Thơ mới cũng như các nhà tmới kế thừa phát huy truyền thống tinh thần
nòi giống, sẽ kế thừa những tinh hoa của thơ cũ, nền thơ cổ điển Việt Nam, “tìm về dĩ ng
để vin về những gì bất diệt đủ bảo đảm cho ngày mai”.
Điệp ngữ "Chưa bao giờ như bây giờ...’! cất lên ba lần làm cho giọng văn vang lên
tha thiết, ân tình.
Những năm 1943, 1944, thơ mới như bị "chững lại". Nhưng rồi Cách mạng tháng
Tám bùng nổ, kháng chiến chống Pháp diễn ra ác liệt đã thổi lửa cho thơ mới thế hệ
những nhà thơ mới. Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ,... đã trthành người
chiến trên mặt trận văn hoá, đã góp phần xứng đáng y dựng phát triển nền tca
Việt Nam hiện đại.
Bảy thập niên sau, đọc "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh, ta hiểu thêm thơ mới,
ta yêu thêm lớp thi sĩ tiền chiến của "một thời đại thi cu".
Mời trầu
Quả cau nho nhỏ, miếng trâu hôi.
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thi thắm lại.
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
Hồ Xuân Hương
Bài ca ngất ngưởng
Vũ trụ nội mạc phi phận sự.
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Nguyễn Công Trứ
Đêm buồn
Trời không chớp bể với mưa nguồn.
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn.
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức.
Bén chùa chú trọc đã hồi chuông.