
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------
NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số: 9 38 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2023

Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI,
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thư
TS. Nguyễn Linh Giang
Phản biện 1: PGS.TS. Vũ Trọng Lâm
Phản biện 2: GS.TS. Thái Vĩnh Thắng
Phản biện 3: PGS.TS. Vũ Công Giao
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp
Học viện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam.
Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khoa học pháp lý, tình trạng khẩn cấp (TTKC) đã có một lịch sử lâu dài.
Những tư liệu cổ về pháp luật của đế quốc La Mã đã ghi nhận về khái niệm justitium -
một hình thức sơ khai của TTKC, khi các thiết chế dân sự như tòa án, kho bạc và nghị
viện bị đình chỉ hoạt động theo lệnh của quan tổng tài đế chế. Ngày nay, theo các thông lệ
quốc tế, TTKC (state of emergency) là một tình huống cho phép chính quyền có thể ban
hành những chính sách, hoặc thực hiện những hành động mà thông thường không được
phép thực hiện, nhân danh lợi ích công cộng.
Ở Việt Nam, những văn bản pháp luật đầu tiên về TTKC đã được ban hành từ
ngay sau khi ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau này, Việt Nam gia nhập
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) 1996 ngày 24 tháng 9 năm
1982 nên các quy định về TTKC cũng phải được tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là trong
việc hạn chế quyền con người. Hệ thống pháp luật Việt Nam có khá nhiều văn bản quy
phạm pháp luật quy định vấn đề TTKC, như: Hiến pháp năm 2013; Luật An ninh quốc
gia; Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật; Luật Dân quân tự vệ; Luật Quốc phòng, Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền
nhiễm, Pháp lệnh TTKC năm 2000;…Pháp luật về tình trạng khẩn cấp ở Việt Nam còn
có những hạn chế như: (1) Pháp luật về tình trạng khẩn cấp chưa đưa ra được khái niệm
thế nào là tình trạng khẩn cấp; (2) Chưa xây dựng tiêu chí, chỉ số, cấp độ, phạm vi TTKC
cho từng lĩnh vực; (3) Chưa xây dựng được các nguyên tắc làm cơ sở cho việc thực hiện
khi xảy ra TTKC; (4) Pháp luật về TTKC ở Việt Nam hiện nay chưa trù liệu được hết
phạm vi quyền con người, quyền công dân có thể hoặc cần bị hạn chế trong thời gian diễn
ra TTKC; (5) Chưa quy định rõ ràng trong pháp luật về tình trạng khẩn cấp về việc hạn
chế quyền phải công khai, chính xác, rõ ràng; (6) quy định các biện pháp phòng ngừa việc
lạm quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong TTKC; (6) Chưa quy định về thời
hạn có hiệu lực của TTKC, chưa quy định trình tự, thủ tục thời gian kéo dài hoặc số lần
gia hạn TTKC; (7) Chưa quy định rõ xử lý vi phạm pháp luật về TTKC đối với tổ chức,
cá nhân vi phạm, trách nhiệm bồi thường nhà nước khi cán bộ, công chức thực thi nhiệm
vụ, công vụ gây thiệt hại trong TTKC; (8) Chưa quy định các biện pháp liên quan đến an
sinh xã hội, hỗ trợ tổ chức, cá nhân, cũng như các biện pháp tổ chức, điều hành các hoạt
động kinh tế, xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục, các hoạt động tố tụng tư pháp trong
TTKC,….Nguyên nhân của những hạn chế trên là do pháp luật về TTKC ít được áp dụng
trong thực tiễn, vì áp dụng ít nên những hạn chế không thể thấy được và cũng không thể
bộc lộ. Bên cạnh đó, Nhà nước chưa từng thực hiện công tác tổng kết thực tiễn việc thực
hiện pháp luật về TTKC, nên không thể đưa ra những vấn đề còn vướng mắc, bất cập của
pháp luật về TTKC. Đồng thời, nguyên nhân cũng là do việc nghiên cứu, hoàn thiện lý
luận cũng chưa được quan tâm đúng mức.
Về mặt nhận thức, quan điểm của Việt Nam về TTKC là rất hẹp, dường như
TTKC chỉ khi có liên quan đến quốc phòng, an ninh. Đây cũng là lý do mặc dù Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 mà lại đóng dấu
mật, mà lẽ ra các quy định của pháp luật phải được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến tất

2
cả các tầng lớp nhân dân để thực hiện. Bên cạnh đó, một số luật cũng có quy định về
TTKC như Luật phòng chống lụt bão, Luật phòng chống dịch bệnh,… nhưng cũng
dường như chỉ những vấn đề thật lớn và phải liên quan đến quốc phòng, an ninh thì mới
quan niệm là TTKC. Nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của pháp luật về TTKC kể từ
thời điểm xảy ra dịch COVID-19. Cụ thể, trong thời gian bùng phát dịch COVID-19 thì
pháp luật về TTKC mới được đề cập đến nhiều. Điều này đã được thể hiện rõ trong thực
tiễn.
Về mặt thực tiễn, từ trước đến nay, với thực tiễn thực hiện Pháp lệnh Tình trạng
khẩn cấp cũng cho thấy một sự lưỡng lự lớn trong việc áp dụng pháp luật về TTKC để xử
lý tình hình khẩn cấp đang diễn ra. Các biện pháp đưa ra mang tính đột phá, ngoại lệ, có
hiệu quả nhất định trong TTKC (ví dụ các biện pháp trong đại dịch COVID-19), nhưng
những biện pháp đó có khi lại trở thành trái với quy định của pháp luật. Nguyên nhân là
do chế định pháp luật về TTKC chưa được nhận thức và thực hiện đầy đủ. Một mặt, cho
đến nay, khung pháp luật về TTKC còn tương đối đơn giản với văn bản điều chỉnh chủ
yếu chỉ là pháp lệnh. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về TTKC và pháp luật về TTKC ở
Việt Nam từ trước đến nay còn tương đối khiêm tốn. Các nội dung, khía cạnh cần điều
chỉnh về TTKC chưa được nghiên cứu bài bản, toàn diện để làm cơ sở hoàn thiện, ban
hành khung pháp luật đầy đủ, điều chỉnh có hiệu quả về TTKC. Do đó, nghiên cứu này sẽ
đóng góp thêm những thông tin tư liệu xác đáng, là nguồn tham khảo có giá trị cho
nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Từ những lý do nêu trên, tác giả cho rằng việc nghiên cứu về chủ đề “Pháp luật
về tình trạng khẩn cấp ở Việt Nam hiện nay” là tính cấp thiết, mang tính thời sự và có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là dựa trên việc nghiên cứu các vấn đề lý
luận và thực tiễn về TTKC; từ đó đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về TTKC ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án phải giải quyết được
các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về TTKC. Phần này trả
lời cho câu hỏi: Những vấn đề lý luận về TTKC là gì? Các yếu tố cấu thành pháp
luật TTKC?
Hai là, nghiên cứu thực trạng pháp luật về TTKC ở nước ta hiện nay. Phần
này trả lời câu hỏi: Việt Nam hiện nay đã có khung pháp luật về tình huống khẩn
cấp chưa và đang ở mức độ nào?
Ba là, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TTKC ở Việt Nam.
Phần này trả lời cho câu hỏi: Khung pháp luật về TTKC của Việt Nam cần sửa đổi,
bổ sung như thế nào để phù hợp với tình hình hiện nay?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu

3
Luận án nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn của pháp luật về
TTKC ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Do Đề tài của Luận án là “Pháp luật về tình trạng khẩn cấp
ở Việt Nam hiện nay”, nên về mặt nội dung, Luận án phân tích lý luận và thực tiễn
về TTKC và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về TTKC ở Việt Nam hiện nay.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu các khái niệm, quy định pháp luật
một số nước trên thế giới, quy định của pháp luật quốc tế về TTKC để phục vụ cho
việc so sánh, đối chiếu cơ sở pháp lý và thực trạng pháp luật về TTKC ở Việt Nam,
từ đó nhận thức được những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về TTKC ở Việt
Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, Luận án đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về
TTKC ở Việt Nam hiện nay.
- Về mặt thời gian: Luận án sử dụng các tài liệu, văn bản, chính sách, pháp
luật có liên quan đến TTKC được ban hành hoặc công bố kể từ khi Việt Nam giành
độc lập năm 1945 đến năm 2022. Tuy nhiên, giới hạn của Luận án là pháp luật về
TTKC ở Việt Nam hiện nay, nên Luận án tập trung sử dụng các tài liệu, văn bản,
chính sách, pháp luật hiện đang còn hiệu lực của Việt Nam để phân tích, đánh giá.
Ngoài ra, Luận án còn sử dụng các tài liệu, nghiên cứu về pháp luật về TTKC ở
nước ngoài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định
lượng (chủ yếu được sử dụng tại Chương 3) để đạt được những mục tiêu nghiên
cứu đề ra.
Phương pháp tổng hợp để: Hệ thống hoá các quan điểm về pháp luật về
TTKC; tìm hiểu các quy định của các nước trên thế giới và của Việt Nam về pháp
luật về TTKC; đưa ra khái niệm, đặc điểm TTKC, vai trò của pháp luật về TTKC
(chủ yếu được sử dụng ở Chương 1 và chương 2).
Phương pháp so sánh để: So sánh các quy định của các nước trên thế giới
và của Việt Nam cũng như các quan điểm của các nhà khoa học, các chuyên gia về
TTKC (chủ yếu được sử dụng ở Chương 2 và Chương 3).
Phương pháp phân tích để: Phân tích các yếu tố tác động đến pháp luật về
TTKC, các yếu tố cơ bản cấu thành pháp luật về TTKC (ở Chương 3); đưa ra các
kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về TTKC ở Việt Nam hiện nay (ở Chương
4).
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu để chứng minh
các luận điểm, đánh giá, nhận định của Luận án.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Ý nghĩa về mặt lý luận: Về mặt lý luận, nghiên cứu này sẽ làm rõ được những
nội dung lý luận cơ bản về TTKC; quy định TTKC trong pháp luật quốc tế và quốc gia;

