PHÒNG NGỪA VÀ XTRÍ PHẢN ỨNG THUỐC CÓ HẠI VÀ TÁC
DỤNG PHỤ (ADR)
Các thuốc trong Dược thư quốc gia Việt Nam được trình ym vi những
tác dụng có hại quan trọng nhất nhưng mới chỉ mức độ nhất định, vì báo
cáo vtác dụng hại (ADR) cũng kng dự kiến được hết các nguy
thgặp. Việc báo cáo các phn ứng hại là bắt buộc trong các thnghiệm
lâm sàng. Nhưng trong các thử nghiệm lâm sàng chỉ có rất ít người bệnh tiếp
xúc với những phản ng đó, do đó hạn chế khả ng phát hiện những phản
ứng hiếm gặp nghiêm trng thể xảy ra. Vì vy việc o cáo tự nguyện về
tác dụng không mong muốn là rất quan trọng sau khi thuốc được n rng
i trên th trường, đặc biệt điều y đã tr thành nguyên tắc đối với các
thuốc mi. Phi báo o tất cả những triu chứng và phn ng không mong
mun khi phát hin được và nghi ng là c dụng hại hoặc tác dụng phụ.
Ðiều quan trọng cần nhận rõ tất cmọi thuốc đều tác dụng có hại và
phụ. Vấn đề chính kng phải là phân chia một cách lý thuyết xem một triệu
chứng hoặc phản ứng nào là tác dụng phụ hay là tác dụng hại. Cả hai loại
đều cần được o cáo và m rõ. Vấn đề chính là những phản ng không
mong muốn này thực sự là không mong muốn đôi khi rất nghiêm trng.
Cũng khi còn nguy cơ các tác dụng có hại và tác dụng phụ có thể
gây cho người bệnh những bệnh mới, có thể rất nặng, gây tàn tt kéo dài
thm chí tvong. Do đó điều quan trọng là phải tìm cách hạn chế càng nhiu
càng tốt nguy gặp phải những phản ứng này. Nguyên tắc chung để hạn
chế các c dụng phụ là sdụng đúng liều cho từng người bệnh. Nguy về
những phản ng thuốc hại không phụ thuộc vào liu có thể hạn chế bằng
cách để ng ít ngưi càng tốt phải tiếp cn với nguy hiểm ca dùng thuốc.
Trong thc hành, điu đó nghĩa là chnhững người bệnh mới dùng
thuốc, và bnh nặng tới mức lợi ích của việc dùng thuốc vượt trội so với
nguy thể gặp phải. Vai trò của người thầy thuốc rất quan trọng trong
quá trình này, chn đoán đúng đơn phù hợp n cứ vào những hướng
dẫn điều tr hợp lý và an toàn
Do đó o cáo ADR cũng phải bao gồm c những điều mà theo thuyết
thđược coi là tác dụng phụ. Mc đích chính là nhn ra được các vấn đề
đang gây đau đớn và kchịu không cần thiết cho người bệnh. Khi thay đổi
cách s dụng một thuốc cũ, khi phối hợp với một thuốc khác theo cách mới,
hoặc khi sdụng cho mục đích mới, đều có thể gây những phản ng không
mong muốn mới hoặc hay gặp hơn
vy, o cáo ADR phải nêu những mối liên quan nghi nggiữa thuốc và
triệu chứng không mong muốn. Chỉ bằng cách này, thì mới thể phát hiện
được những vấn đề mới. Chỉ khi tìm ra vấn đề mới, thì mới xử trí được
chúng
Cách báo o ADR: Phải dựa trên snhững tác dụng hại và c dụng
ph nghi vấn. Không cn thiết phải xác nhận những triệu chứng nhận xét
thấy có thật sự là tác dụng có hại hay phụ không. Ý tưởng tổng quát của việc
báo o là thu thập dấu hiệu, dựa trên những quan sát ngh nghiệp tnhững
tình huống ngưi bệnh dùng thuốc, thấy phản ứng và triu chứng
không mong mun
Khi nhng phản ng này xảy ra, điều quan trọng là phi tả kỹ các triệu
chứng, thời gian triệu chứng xuất hiện, kết thúc và ghi chép tất cả những
thuốc người bệnh đã dùng. Cũng cần hỏi người bệnh về tự dùng thuốc và
thuốc ctruyền. Cần thông tin về tình hình bnh của người bệnh, và thông
tin vthời gian của tất ccác thuốc người bệnh được cho dùng hoặc đã
t dùng. Theo nguyên tc, mọi phản ng nghiêm trng đặc biệt tất c
những phản ứng có hại gây chết người hoặc đe dọa tính mạng phải được báo
cáo. Trong khi điều tr vi thuốc mi, có một nguyên tắc quốc tế là phải o
cáo ngay mọi phản ứng và triệu chứng không mong muốn phát hin được
Trách nhiệm theo dõi ADR:
Mỗi bác sĩ, n bộ y tế hoặc dược sĩ trách nhiệm nghề nghiệp vi bệnh
nhân của mình, giáo dục và cho lời khuyên nhm mục đích hạn chế nguy cơ.
Mọi cán bộ y tế sau đó trách nhiệm phải báo o về nghi vấn tác dụng
không mong muốn nếu triệu chứng xảy ra thchỉ ra rằng đó là một tác
dụng không mong muốn có hại
Phòng ngừa ADR
Nhiều phản ứng hại của thuốc, tương tác thuốc và tác dụng phụ th
phòng ngừa, nếu tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
1. Không bao giờ kê đơn bất kỳ thuốc nào mà không có chỉ định rõ ràng bin
minh cho việc kê đơn thuốc đó
2. Nếu người bệnh mang thai, rất hạn chế dùng thuốc
3. Hi người bệnh vd ứng. Dng mắc trước đó là một yếu tố dđoán tin
cậy về nguy cơ dị ứng với thuốc
4. Hỏi người bệnh xem trước đó đã dùng bt kỳ thuốc nào ca, kể cnhững
thuốc tự dùng. S dụng thuốc trước đó cũng có thể gây tương tác thuốc
nghiêm trng và bất ng
5. Tránh những phối hợp thuốc không cn thiết. Hãy dùng ng ít thuốc nếu
có th
6. Tuổi tác, các bệnh gan hoặc thận có thể ảnh hưởng đến chuyn hóa và kh
năng đào thải thuốc. những người bệnh này, cn phải dùng liều thấp n
bình thường
7. Cung cấp những chỉ dẫn thật rõ ng và giáo dc bệnh nhân, cả về bệnh và
về cách sử dụng đúng thuốc đã đơn
8. Khi có nguy là các thuốc được kê đơn có thể gây phản ứnghi, phải
giáo dục người bệnh về cách nhận biết c triệu chứng sớm, như vậy vn đề
phản ứng có hại có thể được điều trị sớmmức có thể
Nhận biết và xtrí các triệu chứng da quan trọng của ADR
Các phản ứng da với thuốc rất quan trọng cần nhận biết, một mặt vì tính cht
nghiêm trng của chúng, mặt khác đó là sự cảnh o về những phản ng
thuốc nghiêm trng hơn thậm c đe dọa tính mạng
Ban đỏ dát sần: Phản ứng ngứa và tróc vy, thể tự hết nếu ngừng thuốc,
chiếm một tỷ lệ lớn trong tất cả những phản ứng da do thuốc
Mày đay/phù mạch: Mày đay một cảnh báo quan trọng vì có mối liên
quan rất chặt chẽ với phản ứng phản vệ đầy đủ và hen nặng. y đay xuất
hiện đột ngột, cùng với ban đngứa phân tán. Thường dịu đi trong vòng 24
giờ. Ban da bọng nước được tạo thành là do hu quả giải phóng histamin,
thể do nhiều quá trình gây ra. Ðiu quan trọng cn nhớ: Phản ứng phản vệ là
do shoạt hóa của c chất trung gian rất giống nhau. Phù mạch khác về
mặt hóa sinh, tuy nhiên cũng có thể rất nặng khi liên can đến các niêm mạc
đường hấp trên. thđe dọa tính mạng bằng cách trực tiếp gây tắc