
Sử Thi Đăm Săn...
1. 1. Một số kiến thức về sử thi:
- Sử thi còn gọi là anh hùng ca, bài ca anh hùng, trường ca. Đây là thể loại tác
phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học các dân tộc
nhằm ngợi ca những sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trong đại đối
với dân tộc trong buổi bình minh lịch sử.
- Đặc trưng của sử thi là:
* Ra đời và phản ánh thời kì ấu thơ của dân tộc- tộc người. Thể hiện những bức
tranh xã hội rộng lớn cùng với những sự kiện lịch sử trọng đại.
* Biểu dương chiến tích của những anh hùng dũng cảm, có phẩm chất tốt đẹp,
đại diện cho lợi ích cộng đồng. Thế giới sử thi là thế giới đặc biệt trong đó con người
và thần linh giao tiếp với nhau thật dễ dàng; hình ảnh thế giới hiện ra còn như môït
tổng thể toàn vẹn và hài hoà- điều đó phản ánh xã hội con người ở các dân tộc- tộc
người còn chưa bị phân hoá, cá nhân còn gắn bó với cộng đồng.
* Có ngôn ngữ trang trọng, ngợi ca, gọi chung là phong cách cao cả. Nghe hát
– kể sử thi là một sinh hoạt văn hoá tập thể và mọi giá trị của sử thi, do đó, là thành
tựu chung của cả cộng đồng.

Sử thi là một câu chuyện kể lại có đầu có đuôi với quy mô lớn, vì theo Hêghen
“nội dung và hình thức của nó thực sự là toàn bộ các quan niệm, toàn bộ thế giới và
cuộc sống của một dân tộc được trình bày dưới một hình thức khách quan của một
biến cố thực tại”. Các nhân vật chính của sử thi là các anh hùng dũng sĩ tiêu biểu cho
sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí thông minh. Lòng dũng cảm của cộng
đồng được miêu tả khá tỉ mỉ, đầy đủ từ cách ăn mặc, trang bị, đi đứng đến những tận
giao chiến với kẻ thù, những chiến công lừng lẫy và đôi khi cả những nét trong sinh
hoạt đời thường của họ nữa, điều đáng chú ý là tất cả những cái này đều được miêu tả
trong vẻ đẹp kì diệu khác thường. Sỡ dĩ như vậy là vì, sử thi ra đời vào thời điểm nối
tiếp thần thoại tức là từ thế giới của các vị thần bắt đầu chuyển sang thế giới của con
người, do đó cái nhìn đậm màu sắc thần kì nói trên đối với các nhân vật trong sử thi là
không tránh khỏi. Mác từng nhấn mạnh rằng vẻ đẹp của sử thi thể hiện trong tính hài
hoà đặc biệt của nó vốn có liên quan đến các quan hệ xã hội chưa chín muồi lắm. Mác
gắn sử thi với thời đại khởi thuỷ của sự sản xuất nghệ thuật đích thực và đồng thời còn
cho rằng sử thi trong hình thức cổ điển của nó đã tạo nên một thời đại trong lịch sử
văn hoá. Trong sử thi chủ yếu miêu tả hành động của nhân vật hơn là những rung
động tâm hồn. Nhưng trong những câu chuyện kể, cốt truyện thường được bổ sung
thêm những chi tiết miêu tả có tính chất tĩnh tại và những cuộc đối thoại trang trọng
có tính nghi thức.Những tác phẩm sử thi nổi tiếng trong văn học thế giới còn lưu giữ
được cho đến nay không nhiều. Có thể kể tên những tác phẩm tiêu biểu như Iliat và
Ôđixê của Hy Lạp, Mahabaharata và Ramayana của Ấn Độ…. Bên cạnh những tác
phẩm sử thi đồ sộ nói trên, các dân tộc khác cũng có những tác phẩm sử thi ngắn gọn
hơn dưới dạng những bài ca tráng sĩ hay dũng sĩ, nhưng không kém phần nổi tiếng

như Bài ca chàng Rô lăng của Pháp, Ilia Murometx của Nga và Nibelnghen của
Đức… Về sau những đặc trưng của sử thi dần dần biến đổi và được tiểu thuyết hiện
đại tiếp nhận để hình thành một thể loại mới là “tiểu thuyết sử thi” như Chiến tranh và
hoà bình của Lép Tônxtôi… Ở Việt Nam, những tác phẩm như Thánh Gióng, Sơn
Tinh- Thuỷ Tinh, Đăm Săn...mang những đặc trưng khá rõ nét của TLST.
- Người ta chia làm 2 loại sử thi:
* Sử thi thần thoại: Đẻ đất đẻ nước (Mường), Aúm ệt luông (Thái), Cây nêu
thần (Mơ nông)…
* Sử thi anh hùng: Đăm Săn, Đam Di, Xinh Nhã, Khinh Dú (Ê Đê), Đam Noi
(Ba na)…
- Vùng sử thi Tây Nguyên: Trong lúc sử thi ở nhiều nước là rời rạc, lẻ tẻ thì ở
Việt Nam, nó lại quần tụ thành vùng, tiêu biểu là ở Tây Nguyên. Người ta gọi là vùng
sử thi Tây Nguyên.
Sử thi Tây Nguyên, mà mỗi tộc người gọi tên khác nhau: khan (Ê Đê), hơ ri
(Gia rai), hơ mon (Ba na), Oùt nơ rông ( Mơ nông).. trở thành một đặc trưng thể loại
tiêu biểu cho vùng văn hoá Tây Nguyên. Vùng sử thi Tây Nguyên có căn nguyên từ
kinh tế- xã hội Tây Nguyên như: xã hội tiền giai cấp, kinh tế nương rẫy…Sử thi anh
hùng Tây Nguyên có 3 đề tài chính: hôn nhân, chiến tranh và lao động xây dựng. Đề
tài chiến tranh quan trọng hơn cả, là đề tài trung tâm của sử thi anh hùng và thu hút
các sự kiện thuộc 2 loại đề tài kia.
1.2. Sử thi Đăm Săn:
- Sử thi Đăm Săn là một trong những thiên sử thi anh hùng nổi tiếng của dân
tộc Ê Đê (Việt Nam). Tên đầy đủ là Bài ca chàng Đăm Săn (tiếng Ê Dê là Klei khan Y

Đăm Săn). Sử thi Đam San lần đầu tiên được L.Sabatier (một viên công sứ người
Pháp tại Tây Nguyên) phát hiện vào năm 1923-1924. Sabatier đã dịch sử thi này ra
tiếng Pháp và xuất bản ở Paris năm 1928. Năm 1959, sử thi này được giới thiệu trên
tạp chí Văn nghệ quân đội và được nhà xuất bản Văn hoá in song ngữ Việt – Ê Đê
(bản dịch của Đào Tử Chí) với tên gọi là Bài ca chàng Đăm Săn. Năm 1988, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội đã công bố văn bản sưu tầm và dịch sử thi Đăm Săn rất công phu
của Nguyễn Hữu Thấu.
- Sử thi Đăm Săn có 7 chương khúc tóm tắt như sau:
1- Chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí theo luật tục chuê- nuê, đòi lấy Đăm Săn làm
chồng, Đăm Săn không chịu.
2- Đam San bỏ về nhà chị là Hơ Aâng, Trời làm anh chết đi sống lại nhiều lần
và anh tự thân cứu được Hơ Nhí anh chịu thành hôn với hai người.
3- Tù trưởng Mtao Grư (tù trưởng Ó) cướp Hơ Nhí. Đăm Săn đánh lại, giành
được vợ, bắt làm tù binh.
4. Đam San đi phát rẫy, dọn ruộng, Mtao Mxây (tù trưởng Sắt) lại cướp vợ anh,
anh giết được kẻ thù, thành một tù trưởng giàu mạnh.
5. Đam San chặt cây thần. Cây đổ, hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí chết, Đăm
Săn lên trời toan chém đầu trời, được Trời bày phép làm cho vợ sống lại.
6. Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời về làm vợ, bị từ chối. Anh chết chìm trong
rừng đất nhão.
7. Vía của Đăm Săn hoá thành con ruồi, bay vào miệng Hơ Âng, Hơ Âng thụ
thai sinh được một con trai, cũng đặt tên là Đăm Săn. Đó là Đăm Săn cháu gọi Đăm
Săn đã mất là cậu. Đăm Săn cháu tiếp tục nối dây với chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí.

- Thiên sử thi miêu tả những chiến công oanh liệt và khát vọng tự do của một
tù trưởng trẻ tuổi tài năng lỗi lạc tên là Đăm Săn. Theo một tập tục hôn nhân cổ- tập
tục “nối dây” (tục chuê nuê) [1], thì Đam Sam buộc phải lấy hai chị em Hơ Nhí và Hơ
Bhí, khi chàng đã có người yêu. Đăm Săn được hưởng gia tài của vợ. Đăm Săn lại
đánh thắng nhiều tù trưởng thù địch khác, cướp được nhiều của cải, súc vật, bắt được
nhiều nô lệ và trở thành một tù trưởng giàu mạnh nhất vùng. Nhưng Đăm Săn còn
được muốn giàu mạnh hơn nữa: chàng cưỡi ngựa lên trời định bắt nữ thần Mặt trời về
làm vợ. Do hành động ngông cuồng này, Đam San cả người lẫn ngựa bị lún xuống
bùn, chết ngập trong rừng Sáp đen. Hồn Đam San đầu thai vào người chị ruột của
mình để rồi lại tiếp tục làm chồng dòng họ Hơ Nhí. Đam Sam là một nhân vật anh
hùng thuộc kiểu anh hùng thời thị tộc - bộ lạc. Những hành động và chiến công của
Đam San trong thiên anh hùng ca dân gian này xoay quanh 2 chủ đề chính:
*Thứ nhất là chủ đề đấu tranh để thoát khỏi những ràng buộc của một tập tục
hôn nhân theo chế độ mẫu quyền (tục chuê-nuê). Ở chủ đề này, cuộc đấu tranh của
Đăm Săn được miêu tả với nhiều mâu thuẩn phức tạp. Theo tập tục “nối dây” còn tồn
tại khá rõ trong xã hội người Ê Đê thời cổ, cuộc hôn nhân giữa Đăm Săn với Hơ Nhí
và Hơ Bhí đã được định sẵn từ trước. Khi Hơ Nhí còn nhỏ, bà của Hơ Nhí chết, Hơ
Nhí phải thay bà lấy ông. Ông Hơ Nhí đã nói với Hơ Nhí rằng sau này, Hơ Nhí sẽ lấy
Đăm Săn. Mở đầu thiên sử thi là cảnh bên nhà gái đến nhà Đăm Săn hỏi chồng cho
Hơ Nhí, Hơ Bhí. Đăm Săn cưỡng lại, song trời đã “chống gậy hèo” đến thu xếp việc
cưới hỏi. Đăm Săn phải khuất phục trước sức mạnh của tập tục. Song từ khi về nhà
vợ, chàng vẫn tiếp tục có những hành động chống đối lại cuôïc hôn nhân ấy. Chàng trễ
nải công việc nhà vợ, không chăm sóc vợ và bỏ về nhà chị ruột. Hành động tiêu biểu

