
Taminflu và các thuốc trị cúm
Cúm là một bệnh hay lây do virus. Virus gây bệnh cúm cũng có nhiều
loài, loài virus thường gây cúm trên người được chia nhiều phụ loài gọi là
virus týp A, B, C...
Các thuốc trị cảm cúm thông thường có tác dụng giảm đau, hạ nhiệt, kháng
dị ứng v.v... chỉ là những thuốc trị triệu chứng, giúp cho người uống cảm thấy dễ
chịu hơn trong khi bị cảm cúm, chứ không thể tiêu diệt được virus, kể cả các loại
kháng sinh. Tuy nhiên, đa số các trường hợp cảm cúm thông thường sẽ tự khỏi
nhờ sức đề kháng của cơ thể đối với các tác nhân gây bệnh, trừ một vài vụ dịch
cúm nặng xảy ra trong lịch sử do những chủng virus lạ, nguy hiểm, đặc biệt như
virus H5N1 từ gia cầm lây sang người hiện nay.
Những năm gần đây, nhờ sự hiểu biết cụ thể về cấu trúc và cách sinh sản
cũng như cơ chế gây bệnh của virus cúm trong cơ thể người, các nhà nghiên cứu
đã bào chế ra các loại thuốc thật sự có tác dụng phòng chống hiệu quả một số dạng
bệnh cúm thường gặp do virus.
Dưới đây là vài nét về các loại thuốc trên:

1. Năm 1976, Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA)
đã cho phép sản xuất thuốc amantadine để phòng và trị bệnh cúm typ A trên người
lớn và trẻ em trên 1 tuổi.
2. Năm 1993, FDA lại cho phép sản xuất một chuyển hóa chất của
amantadine là rimantadine để phòng và trị bệnh cúm ở người lớn và phòng bệnh
cúm cho trẻ em.
3. Năm 1999, FDA chấp thuận cho sản xuất hai loại thuốc trị cúm khác đó
là zanamivir (Relenza) và oseltamivir (Tamiflu).
Hai loại thuốc amantadine và rimantadine chỉ có tác dụng trên virus typ A
trên người mà thôi, đồng thời có nhiều tác dụng phụ nên không được phổ biến
nhiều, nhất là ở nước ta, khi virus cúm A bình thường trên người cũng không gây
ra dịch nguy hiểm.
Zanamivir và oseltamivir có tác dụng trên virus cúm người thuộc cả 2 typ
A, B. Hai loại thuốc này thuộc nhóm kháng virus có tác dụng ức chế enzym
Neuramidase: Khi virus cúm xâm nhập tế bào người bị nhiễm, nó sử dụng các chất
liệu di truyền của tế bào ký chủ để tạo ra những mầm virus mới rồi bung ra trên bề
mặt tế bào. Các mầm virus mới sinh ra gắn dính vào màng tế bào bằng những cầu
nối protein. Neuramidase là enzym đặc trưng của virus cúm có tác dụng bẻ gãy
cầu nối protein này, giúp cho các mầm virus được phát tán trong cơ thể và xâm
nhập vào các tế bào khác, cứ thế mà virus sinh sôi nẩy nở. Khi enzym
Neuramidase bị hai loại thuốc trên đây ức chế làm cho các cầu nối protein không

bị bẻ gãy để phóng thích các mầm virus, do đó hạn chế được sự kết tập và phát tán
của các mầm virus trong cơ thể.
Zanamivir được cho phép chỉ dùng liều trị bệnh cúm do virus không có
biến chứng ở người từ 7 tuổi trở lên trong vòng hai ngày khi bắt đầu có triệu
chứng.
Oseltamivir được cho phép dùng điều trị bệnh cúm do virus không có biến
chứng ở người từ 1 tuổi trở lên trong vòng hai ngày khi bắt đầu có triệu chứng,
đồng thời được dùng để phòng ngừa bệnh cúm typ A và B trên người từ 13 tuổi trở
lên.
Hiện nay, oseltamivir (với tên đặc chế Tamiflu do hãng Roche sản xuất)
đang được sử dụng để điều trị và dự phòng có hiệu quả virus H5N1 lây từ gia cầm
sang người. Một vài trường hợp virus kháng thuốc lẻ tẻ chưa được xác định. Nhiều
nước trên thế giới đặt mua Tamiflu để dự trữ, đề phòng sự lây lan và bùng phát
cúm gia cầm H5N1, trong trường hợp virus này có khả năng biến thể để lây từ
người sang người. Nhiều quốc gia đang đề nghị hãng dược phẩm Roche cho
nhượng quyền sản xuất thuốc có hoạt chất oseltamivir tại chỗ để chủ động trong
việc ngăn chặn dịch cúm H5N1 nếu có xảy ra, với giá thành chắc chắn sẽ rẻ hơn
rất nhiều so với thuốc đặc chế Tamiflu chính hãng. Tuần này, Việt Nam cũng đã
đạt được thỏa thuận với Roche để sản xuất Tamiflu.

Amantadine và rimantadine được bào chế dưới dạng viên. Zanamivir dưới
dạng bột để hít qua một dụng cụ gọi là “diskhaler”, mỗi ngày hít 2 lần, trong 5
ngày.
Oseltamivir (Tamiflu) có dạng viên cho người lớn, mỗi ngày uống 2 viên
chia làm 2 lần, trong 5 ngày. Trẻ em và người lớn không uống được dạng thuốc
viên thì dùng dạng nhũ dịch với liều tùy thuộc cân nặng.
Cần sử dụng thuốc sớm, trong vòng hai ngày từ khi có triệu chứng cúm
hoặc dùng để dự phòng cho những người có nguy cơ lây nhiễm. Các thuốc này tỏ
ra kém hiệu quả đối với những trường hợp cúm có biến chứng do nhiễm khuẩn
hay nhiễm virus gây viêm phổi.
Về các tác dụng không mong muốn amantadine và rimantadine có thể gây
bồn chồn, mất ngủ, nôn và không muốn ăn. Một vài trường hợp nặng có thể gây
động kinh co giật.
Oseltamivir và zanamivir ít gây phản ứng phụ hơn là các thuốc chống cúm
cũ. Phản ứng không mong muốn thường gặp ở oseltamivir là nôn mửa. Zanamivir
thường có thể gây tiêu chảy, nhức đầu và trên một số bệnh nhân, có thể gây khó
thở cần phải có biện pháp cấp cứu.
Zanamivir không dùng cho những người có bệnh mạn tính đường hô hấp
như hen suyễn, hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Người bị bệnh thận khi dùng
oseltamivir cần phải có bác sĩ chuyên khoa theo dõi để điều chỉnh liều cho phù
hợp.

Mặc dù chưa có đánh giá về tác dụng phụ của các thuốc chống cúm trên
đây đối với phụ nữ mang thai, nhưng nếu không thật cần thiết thì tốt nhất là không
dùng các thuốc trên cho phụ nữ có thai và cho con bú. Cũng không được dùng cho
những người có dị ứng với thành phần của những thuốc trên đây.

