Thuc hạ glucose máu
(Kỳ 4)
2.3.Thuốc làm tăng nhạy cảm của tế bào đích với insulin
2.3.1. Dẫn xuất của biguanid
Các dẫn xuất của biguanid cấu trúc hoàn toàn khác với dẫn xuất
sulfonylure gm:
phenformin (phenethylbiguanid) do gây acid lactic máu, nên đã bđình ch
lưu hành trên
thị trường, hiện chỉ còn metformin (dimethylbiguanid) .
Mặc dù các thuốc này c dụng hạ glucose máu rõ rệt những người
tăng glucose máu, nhưng chế tác dụng còn chưa được rõ. Một số tác giả cho
rằng, thuốc tác dụng thông qua s tăng dung nạp glucose, ức chế s tân tạo
glucose tăng tổng hợp glycogen gan do tăng hoạt tính glycogensynthetase và
làm ng tác dụng của insulin tế bào ngoại vi. Ngoài ra, thuốc còn hạn chế hấp
thu glucose ruột. Thuốc không tác dụng trực tiếp trên tế bào β của đảo
Langerhans, chtác dụng khi mặt insulin nội sinh, nên thuốc được chỉ
định ở bệnh nhân tụy c òn khả năng bài tiết insulin.
- Metformin (Glucophage): Hấp thụ kém qua đường tiêu hóa, không gắn
vào protein huyết tương, không b chuyển hóa, thải trừ chủ yếu qua thận. Thời
gian bán thải khoảng
1,3 - 4,5 giờ, thời gian tác dụng khoảng 6 -8 giờ, liều trun g bình 0,5-
2,5g/24 giờ, tối đa
3g/24 giờ và được chia làm 3 ln sau các bữa ăn hàng ngày.
+ Giống như dẫn xuất sulfonylure, metfomin được chỉ định dùng riêng r
hoặc kết hợp với các thuốc khác cho bệnh nhân tăng glucose máu typ II sau khi
điều chỉnh chế đ ộ ăn và tập luyện thể lực không có hiệu quả. Metformin có thể kết
hợp với một số thuốc khác để kích thích buồng trứng trong điều trị vô sinh. Không
dùng thuốc người tăng glucose máu ceton máu cao và ceton niệu, phụ n
có thai, cho con bú.
+ Thuốc thể gây rối loạn tiêu hóa, acid hóa máu do tăng acid lactic đặc
biệt ở bệnh nhân có kèm theo giảm chức năng gan, thận.
2.3.2.Các thuốc thuộc nhóm thiazolidindion
Là những thuốc cấu trúc chế tác dụng hoàn toàn khác với dẫn xuất
sulfonylure
biguanid. Các thuốc nhóm này những chất chủ vận và ái lực cao
với PPAR γ (peroxisome proliferator activated receptor γ). Receptor này trong
nhân tế bào chịu trách nhiệm điều hòa một sgen liên quan đến schuyển hóa
lipid glucose. Khi thuốc gắn vào receptor gây nên stương tác với ADN đặc
hiệu làm hoạt hóa giải mã gen, làm tăng nhậy cảm của tế bào với insulin giúp tăng
chuyển hoá glucid và lipid. Trên thực nghiệm, nời ta thấy các thuốc m tăng
chuyển hóa glucose tăng số lượng insulin receptor màng tế bào, tăng tổng
hợp glycogen thông qua tăng hoạt tính glycogensynthetase tăng sử dụng
glucose ở ngoại vi.
Các thuốc thuộc dẫn xuất thiazolidindion thể dùng riêng r hoặc phối
hợp với metformin hoặc các thuốc trong nhóm sulfonylure nhưng không phối hợp
với insulin để
điều trị tăng glucose máu typ II. Thuốc không được dùng cho người bị suy
gan, suy tim, phnữ có thai, cho con bú.Trong quá trình điều trị cần thường xuyên
theo dõi chức năng gan. Hai thuốc trong nhóm sử dụng nhiều hiện nay l à :
- Pioglitazon (Actos) viên 15,30,45 mg, uống 15 -45 mg/ngày.
- Rosiglitazon (Avandia) viên 4;8 mg, uống 4 -8 mg/ngày.
2.4. Thuốc làm giảm hấp thu glucose ở ruột: acarbose (Glucobay õ):
Thuốc được chỉ định bệnh nhân tăng glucose máu typ II kèm theo béo
bệu. chế tác dụng của thuốc không liên quan đến sự bài tiết insulin tế bào β
của tụy mà thông qua sức chế α- glucosidase bờ bàn chải niêm mạc ruột non.
Ngoài ra, thuốc còn ức chế, glucoamylase, maltase ruột. Cuối cùng, m gim
hấp thu glucose gây hạ glucose máu.
Thuốc có thể gây rối loạn tiêu hóa như trướng bụng, tiêu chảy và đau bụng.
Khi điều trị, cần điều chỉnh liều cho phù hợp với từng bệnh nhân, nhưng
nhìn chung liều trung bình cho người lớn 300mg trong 24 giờ. Các thuốc kháng
acid, cholestyrami n, một
số chất hấp phụ mạnh và chế phẩm chứa enzym tiêu hóa làm giảm tác dụng
của acarbose.
Không dùng thuốc ở những người có rối loạn chức năng hấp thu, phụ nữ
thai, cho con
bú và trẻ em dưới 18 tuổi.
2.5. Các thuốc bắt chước incretin (incretin mimeti c) và thuốc ức chế
DPP4(dipeptidyl peptidase 4 inhibitor) .
Gần đây người ta tìm ra 2 peptid hormon GLP1, GIP gọi chung incretin
có nguồn gốc
tại niêm mạc ruột, tác dụng điều hoà glucose máu sau khi ăn thông qua
sự kích thích
bài tiết insulin và m chậm stháo rỗng dạ dày. Trên sở phát hiện này
liraglutid và
exenatid hai chất giống incretin (incretin mimetic) đang được thử nghiệm
lâm sàng pha II
và III trên bệnh nhân tăng glucose máu typ II.
GLP1 kích thích bài tiết insulin sau khi ăn rất mạn h, ngoài ra còn ức chế
bài tiết glucagon, làm chm sự tháo rỗng dạ dày, kích thích s sao chép gen
glucokinase GLUT2 nhưng lại mất tác dụng nhanh do bị enzym
dipeptidylpeptidase phá hunên thi gian bán thải dưới 2 phút. Vildagliptin,
sitagliptin, s axagliptin các chất ức chế DPP4 làm kéo dài tác dụng của GLP1
đang được thử nghiệm lâm sàng pha II trên bệnh nhân ng glucose máu typ II.