intTypePromotion=3

Tiểu luận Công nghệ sau thu hoạch: Xây dựng quy trình công nghệ xử lý sau thu hoạch đối với Nho

Chia sẻ: Lê Cẩm Ngưng | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:13

0
96
lượt xem
22
download

Tiểu luận Công nghệ sau thu hoạch: Xây dựng quy trình công nghệ xử lý sau thu hoạch đối với Nho

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết tài liệu Tiểu luận Công nghệ sau thu hoạch: Xây dựng quy trình công nghệ xử lý sau thu hoạch đối với Nho. Mục đích bài tiểu luận nhằm tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ nho Ninh Thuận, đề ra giải pháp và kiến nghị để giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị của sản phẩm nho Ninh Thuận. Hi vọng tài liệu sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như công tác của mình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Công nghệ sau thu hoạch: Xây dựng quy trình công nghệ xử lý sau thu hoạch đối với Nho

  1. Trường Đại Học Công Nghệ Sài  Gòn Khoa Công Nghệ Thực Phẩm  CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH Tiểu luận Xây dựng quy trình công nghệ xử lý sau thu hoạch đối với NHO GV: TS. Lê Minh Hùng Sinh viên thực hiện Nhóm 5 Lê Cẩm Ngưng Nguyễn Thị Ngọc Duyên TRần Huỳnh Như Nguyển Thị Bá An Tp. Hồ Chí Minh ngày 14 tháng 12 năm 2016
  2. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 2 Phần I. TỔNG QUAN 1. Giới thiệu Nho là loại quả  mọng cây dây leo thân gỗ  thuộc chi Nho  Vitis, có nhiều  giống nho khác nhau, với màu sắc quả  cũng khác nhau. Nho thường kết hoa vào   tháng 4­5, kết quả vào tháng 8­9. Nho mọc thành từng chùm từ 6­ 300 quả, chúng  có màu đen, lam, vàng, lục, đỏ tía hay trắng. Nho có thể dùng ăn tươi, hoặc dùng   làm mứt nho, rượu nho. Cây nho  ưa khí hậu khô và nhiều nắng, độ   ẩm không khí thường xuyan6  thấp. Một đặc điểm đáng chú ý của nho là cần có một mùa khô đủ dài để tích lũy  đường. Nên trồng nho  ở  những nơi hứng nắng, nhưng được che chắn kỹ, tránh  những vùng có gió to vì có thể làm đỏ giàn, dập lá, rụng quả. Nơi có điều kiện khí  hậu, thời tiat61 và đất đai khá phù hợp cho cây nho phát triển ở nước ta là các đơn  vị thuộc tỉnh Niinh Thuận như Phước Hậu, Phước Sơn, Phước Thuận huyện Ninh   Phước, Thành Hải, Đô Vinh thuộc Phan Rang – Tháp Chàm. Giống nho chủ lực được trồng nhiều ở Ninh Thuận là Red Cardinal và NH   01 – 48 (White Malaga).  Thành phần chính có trong nho:  100g trái nho tươi cung cấp khoảng 210kcal. Trong trái nho chứa 75 ­ 85%  nước, 18 ­ 33% đường glucose và fructose và nhiều chất cần thiết cho con người   như: phlobaphene, acid galic, acid silicic, acid phosphoric, acid chanh, acid oxalic,   acid folic, kali, magiê, canxi, mangan, coban, sắt và các vitamin B1, B2, B6, B12, A,   C, P, K và PP cùng các enzyme. Trong phần vỏ của trái nho có chứa hợp chất tanin và dầu cần thiết; trong   hạt  nho  có   chứa   hợp   chất   tanin,   phlobaphene,   leucithin,   vani  và   dầu  béo.   Các   chuyên gia thuộc Viện Dinh dưỡng và Thực phẩm Ba Lan cho biết rằng, tổng  hàm lượng các khoáng chất và vitamin có chứa trong trái nho tươi cao hơn gấp 5 ­   7 lần so với táo tây, mận, xoài, cam và được coi là những viên vitamin tổng hợp tự  nhiên tốt nhất mà thiên nhiên ban tặng cho con người. 2. Tình hình sản xuất  Trong những năm tới, cây nho tiếp tục được xác định là cây trồng chủ  lực.   Hiện nay, toàn tỉnh Ninh Thuận có khoảng 1.260 ha diện tích trồng nho (trong đó  1.200 ha nho ăn trái, 60 ha nho rượu), tập trung chủ yếu ở các huyện Ninh Phước,   Ninh Hải và thị  xã Phan Rang ­ Tháp Chàm, với sản lượng hàng năm 30.000 tấn   nho trái, 230.000 lít rượu vang nho. So với những năm trước thì diện tích, năng   suất và chất lượng cây nho có sự tăng trưởng nhưng không nhiều. Nguyên nhân do thời tiết không thuận lợi khiến sản lượng sụt giảm làm   cho nho không đạt được chất lượng tốt (trái nhỏ, mẫu mã không đẹp…), … và  phần lớn nguyên nhân cũng do nho Trung Quốc (trái to, đẹp) tràn lan thị  trường  Việt và được bán ra thị  trường dưới mác nho Ninh Thuận. Chính điều đó khiến  cho sản phẩm gốc bị ép giá, nông dân thất thu, sản lượng sụt giảm.
  3. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 3 Hiện nay, nho nho Ninh Thuận vẫn chưa có một tên tuổi thương hiệu nào   đáng kể trên thương trường, chỉ xây dựng được một vài thương hiệu như Ba Mọi.   Ninh Phú  Thị trường tiêu thụ Chủ  yếu là trong nước, 2 thị  trường lớn nhất nước ta là TP HCM và Hà  Nội. Chỉ một lượng nhỏ được xuất khẩu sang Trung Quốc và Campuchia.  Hiện trạng sau thu hoạch Phần lớn nông dân tự  thu hoạch, bảo quản bằng chế  phẩm hóa học nên  chất lượng, mẫu mã giảm. Do sản xuất theo hộ  gia đình riêng lẻ  nên số  lượng   lẫn chất lượng không đồng đều. Thu hoạch chủ  yếu là thủ  công, kỹ  thuật phân  loại và bảo quản còn thấp không giữ được hương vị tự nhiên không giữ nho được   thời gian dài.  Các dạng hư hỏng trong quá trình xử lí: Biến đổi các thành phần hóa học trong quả làm mất chất dinh dưỡng, biến   đổi màu, sự oxi hóa, vi sinh vật xâm nhập, tổn thương trong quá trình thu hoạch,   vận chuyển và bảo quản như  vỡ, nứt, bị  dập, …ngoai ra, còn do nhiệt độ, ánh   sáng trong quá trình xử lí  Các loại bệnh và dịch hại Sâu đục làm hại rễ:  ấu trùng đục phá rễ  non làm chết cành, hại nặng có  thể làm chết toàn bộ cây nho. Sâu hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng. Rầy mềm: chích hút hại lá và đọt non cây nho, làm cho hoa không phát  triển, hạn chế sự phát triển của trái non.  Rầy lá: làm cho lá cong queo biến dạng, mặt trêm lá biến màu nâu, mặt   dưới có những lớp sáp trắng tại chỗ  rầy hút chích. Rầy còn gây hại làm ngọn  chùn lại, chùm hoa không phát triển. Rầy xanh: hại lá non, gân lá, chồi non, là môi giới truyền bệnh vi khuẩn  gây héo dây nho Rầy mềm hại rễ: hại rễ làm cho nho không phát triển, lùn lại, mật độ cao  có thể làm chết cây Sâu xanh da láng: phá phần non như đọt lá, chùm hoa, trái non Nhện vàng: làm lá biến dạng, ngọn cong queo và nhỏ lại, trái nứt khi bị tấn   công Nhện đỏ: chích hút nhựa làm cây suy yếu, gây hại tử lúc ra trái đến chín Bọ trĩ: hút các phần non làm cho lá có màu xanh nhạt, cành uốn cong, chùn   đọt, hoa rụng nhiều, trái kém phát triển, có sẹo và có thể bị nứt Rệp sáp: giảm sự sinh trưởng và phát triển của nho. Rệp vảy: mật độ cao làm đọt bị chùn lại không phát triển, có thể di chuyển   xuống hại gốc ghép, rễ. Bọ cánh cứng và bọ xít đen: hại tất cả các giai đoạn
  4. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 4 Sâu cuốn lá: Tuyến trùng gây hại tất cả các giai đoạn sinh trưởng gây chết  cây Ruồi đục trái: giảm năng suất và phẩm chất trái Ngoài ra, còn có các bệnh thối gốc, thối cành, thán thư, mốc sương (phấn  trắng), sương mai, rỉ sắt, thối chua, nứt trái, thối đen, giác ban (cháy lá), …  Điểm yếu trong khâu trước thu hoạch xử lí cần khắc phục để  tránh nhiều   tổn thất. 3. Một số phương pháp xử lí sau thu hoạch   Làm lạnh Phương pháp làm lạnh nho là là hạ nhiệt độ nho xuống gần nhiệt độ đông  cứng của nho với nhiệt độ từ  0 oC ­ 1oC, có thể ngăn ngừa được một số loại sâu  bệnh tiếp xúc với nho. Với phương pháp này thì ta cần độ ẩm cao từ 90% ­ 95%   để đảm bảo nho không bị mất nước, cũng như độ tươi của chúng. Ưu điểm: đơn giản dễ thực hiện, có nhiều cách làm lạnh nho khác nhau từ  đơn giản để tự làm đến áp dụng nhiều công nghệ làm lạnh cho công nghiệp. Nhược điểm: bảo quản ngắn ngày (3 – 7 ngày)  Phương pháp MAP (Modified Atmosphere Packaging) Nguyên tắc phương pháp MAP: sử dụng bao bì thấm các loại khí  chọn lọc   nhằm làm chậm quá trình hư  hỏng của nho, phương pháp này thường được kết  hợp với phương pháp lạnh sẽ làm tăng hiệu quả của phương pháp Cách thức: nho sẽ được cho vào túi và sẽ được rút sạch không khí trong túi  ra ngoài thay vào đó là khí CO2, N2, O2 theo tỉ lệ thích hợp phù hợp với nho. Ưu điểm: ức chế cường độ hô hấp; kìm hãm quá trình sinh lý, sinh hóa xảy  ra trong tế  bào, giữ  được chất lượng và màu sắc của nho , giá trị  dinh dưỡng  không thay đổi, tăng tính thẩm mỹ cho sản phẩm, dễ dàng vận chuyển. Nhược điểm: cần phải có kiến thức cao, tính toán tỷ lệ thành phần khí và  bao bì cho phù hợp với dâu, chi phí còn cao khi áp dụng với các phương pháp bảo  quản khác.  Chiếu xạ  Mục đích chủ  yếu của quá trình chiếu xạ  là tiêu diệt hoặc  ức chế  vi sinh   vật, côn trùng có hại trên rau trái và làm chậm các quá trình chín sau thu hoạch, lão  hóa và nảy mầm. Cách thức: nho được đưa qua dây chuyền kín và chiếu xạ tia UV từ 0.25 –  1.0 kj/m2.  Ưu điểm: làm chậm quá trình chính nên bảo quản được lâu, diệt được vi  sinh vật, kí sinh trùng bám trên dâu. Nhược điểm: chi phí thiết bị cao, người thực hiện phải có kiến thức cao và  phải có đồ bảo hộ; nho có thể bị biến đổi mùi vị.
  5. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 5 Phần II. Mục đích và nội dung nghiên cứu cụ thể. Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ nho Ninh Thuận Đề ra giải pháp và kiến nghị để giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao   giá trị của sản phẩm nho Ninh Thuận. Việc nâng cao chất lượng của nông sản có ý nghĩa rất lớn, đảm bảo được   chất lượng nông sản sau thu hoạch. Rau quả là một loại nông sản tương đối khó  bảo quản vì lượng nước trong rau quả chiếm rất cao là điều kiện tốt cho vi sinh  vật hoạt động.  Vì vậy cần phải kết hợp các biện pháp tổng hợp giữa các khâu trước và  sau thu hoạch, vận chuyển và phân phối lưu trữ để giảm tổn thất, nâng cao chất   lượng và tăng thêm thu nhập cho người sản xuất. Phần III. Qui trình công nghệ xử lý sau thu hoạch. 1. Chuỗi cung ứng:  Chuỗi cung ứng Với chuỗi cung  ứng này. Người tiêu dùng để sử  dụng được sản phẩm phải qua   nhiều trung gian, khiến chi phí bỏ  ra rất nhiều so với chất lượng sản phẩm sử  dụng. Người dân thụ  động trong việc tìm kiếm nguồn tiêu thụ, phải qua trung  gian không thu được nhiều lợi nhuận, có trường hợp còn bị  các thương lái thu   mua ép giá phải bán rẻ, sản xuất cực nhọc mà lợi nhuận không cao dễ  khiến   chán nản, không đủ  chi phí để  nâng cao chất lượng cải thiện đời sống và sản   xuất. Chất lượng sản phẩm chưa được đảm bảo. Chuỗi cung ứng đề xuất
  6. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 6 2. Quy trình công nghệ xử lý sau thu hoạch. 3. Giải thích qui trình chuẩn bị thu hoạch và bảo quản nho sau thu hoạch: a. Các yếu tố trước thu hoạch:  Điều kiện khí hậu, thời tiết của nho sinh trưởng, phát triển ngoài đồng ruộng: Cảng tránh phơi nho dưới ánh sáng mặt trời thì càng tốt, kể  cả  trong lúc  thu hoạch và sau thu hoạch, vì khi nho bị  phơi dưới nắng sẽ bị thu nhiệt, và có   thể bị rám nắng. Sản phẩm bị phơi dưới nắng có thể nhanh chóng nóng lên 4­6 oC  so với nhiệt độ  không khí. Thùng đựng trên vườn cần để  trong bóng râm hoặc  được che phủ nhẹ nếu chúng không được vận chuyển sớm ra nông trại. Nhưng tốt nhất là thu hoạch nho vào lúc sáng muộn vì lúc này hiện tượng   chảy nhựa xảy ra ít hơn khi thu hoạch nho vào lúc bình minh (điều này làm giảm  công làm sạch sản phẩm trước khi bao gói). Nếu thu hoạch sớm quá, trái có vị chua và chát, hương vị không ngon. Nếu   thu hoạch trễ  quá thì trái dễ  bị  hư, nứt quả, rụng nhiều trong quá trình vận   chuyển và bảo quản. Khi thu hoạch dùng kéo cắt cuống chùm, đặt chùm nho nhẹ nhàng vào giỏ  nhựa chứa khoảng 5kg có lót giấy mềm tránh va đập. Cắt tỉa trái hư hỏng và trái  nhỏ không đủ tiêu chuẩn.  Bảo vệ thực vật: Để bảo vệ nông sản trước thu hoạch các kĩ thuật bao gói, cắt thân, lá  trước thu hoạch, phun thuốc thực vật là hết sức cần thiết Bao gói trên đồng ruộng có thể giảm các bước lưu trữ sản phẩm trước khi  đưa ra thị trường và giảm được tổn thất đáng kể.  Xử lý và lưu trữ tại nơi thu hoạch: Các thao tác không đúng cách trong quá trình lưu giữ  trên đồng ruộng bao  gồm: ném quả  vào thùng chứa, làm rơi hoặc kéo mạnh dụng cụ  chứa trong quá   trình vận chuyển. Những thao tác này có thể  dẫn đến cả  các tổn thương vật lý  nhìn thấy và không nhìn thấy. Các vết thương nhìn thấy có thể là các vết cắt, lỗ  thủng hoặc vết trầy xước. Ngoài việc ảnh hưởng đến chất lượng cảm quan, các  tổn thương vật lý còn làm tăng sự mất nước và tốc độ chín, và dẫn đường cho vi  sinh vật xâm hại.  Nho sau thu hoạch được giữ  tạm thời dưới bóng râm, tránh phơi ra dưới   ánh nắng mặt trời, vì điều này gây rám nắng, mất nước nhanh dẫn đến khô nhăn,   và tích lũy nhiệt độ  thúc đẩy quá trình chín. Sự  tăng nhiệt độ  của quả  thường  thấy khi quả  bị  phơi nắng một đến hai giờ. Nhiệt độ  tích tụ  bên trong quả  sẽ  được giải phóng sau đó và làm tăng nhiệt độ  bên trong vật liệu bao gói, vật  chuyên chở hoặc khu lưu trữ. Đồng thời nó làm tăng cường độ  hô hấp. Để  loại  bỏ nhiệt, cần làm mát sơ bộ.
  7. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 7  Làm mát: Ngay sau khi thu hoạch, nho cần được làm mát. Làm mát hay làm mát sơ  bộ), làm xua đi nhiệt tích tụ trên đồng ruộng sau thu hoạch, trước khi bất kì hoạt  động lưu trữ nào xảy ra. Trì hoãn việc làm mát sẽ dẫn đến việc giảm tuổi thọ,  cũng như chất lượng của nho. b. Những biến đổi sinh lý, sinh hóa của nho xảy ra trong giai đoạn  sau thu hoạch. Đặc điểm nguyên liệu và nguyên nhân gây hư hỏng nguyên liệu nho: Trong quá trình bảo quản nho, bản thân chúng còn diễn ra những biến đổi  về vật lý như  sự mất nước, là hiện tượng thường xuyên xảy ra làm nho bị  héo,   giảm trọng lượng, giảm chất dinh dưỡng. Những biến đổi về  sinh hóa làm cho  giảm chất dinh dưỡng và tất cả những biến đổi đó đều làm cho tính chống chịu   của nho đối với sâu bệnh kém đi và sự thiết hại tăng lên.  Các biến đổi về sinh lý: Hô hấp: Hô hấp là quá trình phân giải oxy hóa các vật chất của tế  bào (tinh bột,  đường, lipit, protein, axit hữu cơ…) thành phần các chất có cấu tạo phân tử  đơn   giản hơn, đồng thời giải phóng năng lượng và các phân tử vật chất cần thiết cho  các phản ứng tổng hợp của tế bào. Phương trình căn bản của quá trình hô hấp trong điều kiện có đủ  oxy (hô   hấp hiếu khí): C6H12O6 + 6O2         6CO2 + 6H2O+ 677,2 Kcal. Phương trình hô hấp yếm khí (quá trình lên men) C6H12O6  + C2H5OH   2CO2 + 28Kcal. Nho được xem là loại nông sản theo kiểu hô hấp thường.  Các biến đổi hóa sinh của nho sau thu hoạch: Nước:  Đối với nho, sản phẩm tươi có xu hướng thoát hơi nước mạnh, làm thủy   phần giảm. Khi thu hoạch cần thu hoạch vào lúc nho chứa nhiều nước và có   nhiệt độ thấp thường là lúc sớm muộn.  Cần duy trì độ ẩm môi trường (80­90%)  để tránh hiện tượng thoát hơi nước. Hydratcacbon: Đường: Đường tham gia vào quá trình hô hấp để tạo năng lượng duy trì sự  sống nho. Tinh   bột:   Dưới   tác   dụng   của   enzym   như   ­amylaza,   β­amylaza,  glucoamylaza, amylopectin­1,6­glicozidaza, tinh bột trong nho sẽ bị thủy phân tạo  thành đường đa và đường đơn.
  8. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 8 Xenlulozo và hemixenlulozo: Hàm lượng hemixenlulozo trong quả  là 0,3­ 2,7%, chúng là một nhóm polysacharide không đồng nhất, có liên kết chặt chẽ  với xenlulozo. Vitamin, chất khoáng và axit hữu cơ: Trong quá trình bảo quản vitamin có  khuynh hướng giảm và làm giảm giá trị  dinh dưỡng của nho. Vì vậy cần chú ý  đến nhiệt độ bảo quản sau khi thu hoạch nho. c. Giải thích quy trình 1. Phân loại: Phân loại nho theo kích thước, độ  chín... là cần thiết không chỉ  đối với  người sản xất, người mua, người chế biến nho. Phân loại tốt, đặc biệt là loại bỏ những phần bị nhiễm vi sinh vật ra khỏi   khối nho, sẽ có tác dụng hạn chế sự lây lan các vi sinh vật gây bệnh, thối hỏng. 2. Làm sạch: Rửa bằng nước có thể  lây lan vi sinh vật gây bệnh. Vì thế, cần tha nước  rửa liên tục. Tốt nhất rửa nho vào dung dịch Canxi clorua 10g/l trong 3 phút hoặc   hypoclorit Na 0,1% vào nước rửa. Sau khi rửa, cần làm ráo nước trên bề mặt nho bằng hong gió tự nhiên hay  bằng quạt trước khi bao gói và bảo quản. 3. Xử lý hóa chất: Rửa   nho   bằng   nước   Clo   có   thể  ngăn ngừa sự  thối hỏng của nho gây ra  bởi vi khuẩn, nấm men, nấm mốc trên bề  mặt nho. Nho được rửa trong dung dịch   hypoloride (dung dịch Clo 25ppm trong 2  phút) hoặc có thể  nhúng nho trong dung  dịch hypolorit (dung dịch Clo 50­70 ppm)   sau đó rửa sạch dưới vòi nước để  kiểm  soát vi khuẩn, nấm men, nấm mốc. Ngoài  ra còn có thể sử  dụng hypochoride Naocl  thêm vào 0,1% vào nước rửa. sau khi xử  lý xong rửa lại với nước sạch và làm khô  tự nhiên hoặc nhân tạo. Dung   dịch   hypochoride   4. Bao gói: Thị trường trong nước: Cho nho vào hộp nựa có nắp đậy có đục lỗ thoáng  khí thích hợp ở các siêu thị trung tâm, siêu thị  lớn hoặc xếp vào cáo thùng carton  
  9. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 9 có miếng lót ngăn cách giữa các chùm thường phân phối cho các cửa hang bán  nhỏ lẻ. Thị  trường xuất khẩu: Cho nho vào hộp nhựa và đưa vào máy để  điều  chỉnh thành phần khí và dập nắp hợp bằng màng bao MAP, thành phần khí  2­5%  O2 và 1­3% CO2. Xếp các hộp vào rổ  nhựa có nhiều lỗ  thoáng khí để  khi chất vào phòng  lạnh khí lạnh có thể bao xung quanh làm nhiệt độ bao phủ đều lên các hộp.  5. Bảo quản: Phương pháp lạnh kết hợp với phương pháp kiểm soát thành phần không  khí (Controlled atmosphere storage­CAS). Trong quá trình bảo quản, quá trình hô   hấp vẫn xảy ra trong điều kiện hiếu khí, trái cây sẽ  sử  dụng oxy để  thực hiện   các biến đổi sinh lý và sinh hóa, đồng thời thải carbon dioxide và hơi nước vào  kho bảo quản. Do đó, khi bảo quản bằng phương pháp này, cần liên tục hiệu  chỉnh thành phần khí trong kho sao cho áp lực riêng phần của từng khí luôn được   duy trì ở nhiệt độ ổn định. Mục đích: ­Ức chế sự trao đổi chất và sự sinh trưởng của vi sinh vật trên rau trái ­Làm chậm quá trình chín sau thu hoạch và quá trình lão hóa rau trái tươi. Tên trái Nhiệt độ  Độ ẩm tương  Thành phần khí  Thời gian  bảo quản  đối của không  trong kho bảo quản bảo quản (oC) khí(%) Nho  o 0 – 1 C 90­95% 2­5% O2  2­8 tuần 1­3% CO2 6.Vận chuyển và bày bán: Tránh điều kiện vận chuyển nghèo nàn dẫn đến hao hụt không nên có.  Cách thức xếp hàng phù hợp. Giữ  chặt các thùng hàng trong một khối. Cần che  phủ để tránh mưa, nắng và gió to. Cần đảm bảo sự thông khí thích hợp để tránh   hiện tượng  nóng  cục  bộ  hoặc  sự   yếm khí  làm tăng  nhiệt  độ   và   hàm lượng   ethylene. Thao tác cẩn thận trong khi xếp vào hoặc lấy ra. Thực hiện vận chuyển vào thời gian mát trong ngày. Nho tươi được đưa đến nhả  sản xuất có thể  phân phối cho các siêu thị  trong  nước và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài.  Sản phẩm khác Ngoài ra, nho còn được làm rượu vang, nước ép, syro, nho khô…
  10. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 10 Một số sản phẩm từ nho được sản xuất tại cơ sở nho Ba Mọi:  Rượu vang nho Syro nho Nho khô
  11. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 11 4. Sơ đồ mặt bằng 
  12. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 12 KẾT QUẢ DỰ KIẾN Sau khi xử  lý nho với nước clo ngăn ngừa thối hỏng kết hợp với bao gói  nho bằng hộp nhựa và dập nắp bằng màng MAP và bảo quản lạnh CAS thì có  thể bảo quản nho từ 4 ­ 6 tuần tùy vào điều kiện bảo quản và tùy loại nho, ngoài   ra không gây độc hại hay ảnh hưởng gì tới chất lượng nho. Kết quả  nghiên cứu chưa được cụ  thể  cho mấy, vì vậy cần phải nghiên   cứu kĩ và sâu hơn mới có thể tận dụng tối đa lợi ích của việc bao gói điều chỉnh   khí quyển màng MAP trong việc bào quản nho nói riêng và bảo quản rau của nói   chung. KẾT LUẬN Trong những năm gần đây, tình hình ứng dụng công nghệ sau thu hoạch đã   được cải thiện đáng kể. Nhiều loại rau quả  có thị  trường tiêu thụ  rộng khắp,  không những trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế  giới. Công  nghệ sau thu hoạch càng phát triển thì đầu ra của nông sản càng được mở  rộng,   giai đoạn sau thu hoạch là cầu nối giữa sản xuất nông nghiệp với người tiêu  dùng.  Ở  các nước đang phát triển có trình độ  thấp thì tác động này càng rõ nét.  Do vậy việc  ứng dụng công nghệ  sau thu hoạch để  nâng cao chất lượng nông  sản nhằm mở  rộng thị  trường tiêu thụ  là một trong những giải pháp cần được   quan tâm. Tuy nhiên, ta cần phải xác nhận một điều là chất lượng của nông sản  được quyết định chính bởi khâu trước thu hoạch, tức là khâu giống và chăm sóc.  Công nghệ sau thu hoạch không thể nâng cao chất lượng nông sản mà chỉ có thể  hạn chế việc giảm chất lượng khi nông sản tham gia lưu thông trên thị trường và   đến tay người tiêu dùng. Chất lượng của nông sản thực phẩm được đặc trưng   bởi nhiều chỉ tiêu: chỉ tiêu dinh dưỡng, chỉ tiêu cảm quan, chỉ tiêu vệ sinh an toàn  thực phẩm. Việc quản lý hiệu quả trong suốt thời kỳ sau thu hoạch, tốt hơn việc đưa   ra bất kỳ  công nghệ  phức tạp nào, là chìa khóa để  đạt được mục tiêu đặt ra.   Trong khi việc đầu tư  thiết bị  đắt tiền và xử  lý sau thu hoạch bằng công nghệ  cao sẽ  đem lại lợi ích cho các hoạt động  ở  quy mô lớn, thì lại là vấn đề  không   thực tiễn đối với quy mô nhỏ. Thay vào đó, công nghệ đơn giản, chi phí thấp có   thể thích hợp hơn đối với khối lượng nhỏ. Ở các nước đang phát triển, các hoạt   động thương mại thường hạn chế, nông dân phải bán sản phẩm trực tiếp cho  nhà cung cấp cũng như người xuất khẩu. KIẾN NGHỊ Hiện tại sản xuất trái cây còn mang tính chất sản xuất nhỏ chưa đủ  cung  cấp nên giá thành cao, chất lượng chưa  ổn định, chưa có tính cạnh tranh bền  vững. Khâu sơ chế, bảo quản cây ăn quả  nhìn chung còn rất thô sơ  (ngoại trừ  siêu thị  và các doanh nghiệp lớn), hợp tác xã và nông dân không có trung tâm bảo quản  
  13. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ­ NHO 13 (bảo quản lạnh) nên hao hụt các khâu đã  ảnh hưởng đến lợi nhuận của từng   thành viên trong chuỗi, ảnh hưởng đến giá bán cuối cùng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản