intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tiểu luận Triết học số 65 - Phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế

Chia sẻ: Phuc Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
13
lượt xem
5
download

Tiểu luận Triết học số 65 - Phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận cung cấp cho người học các kiến thức: Tiểu luận Triết học, triết học Mac Lenin, phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế,... Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích dành cho các bạn sinh viên đang theo học môn dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học số 65 - Phép biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế

  1. Tiểu luận Triết học LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay hội nhập kinh tế  quốc tế  là vấn đề  bức xúc của thời đại,  mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù muốn hay không cũng  đều bị cuốn hút hoặc chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc  tế. Nhận biết được xu thế đó của thời đại Đảng và Nhà nước ta đã đề  ra  phương hướng chủ  động tham gia hội nhập vào kinh tế  quốc tế  và đang   chuẩn bị    gia nhập vào tổ  chức thương mại WTO. Tuy nhiên bên cạnh đó  Đảng và Nhà nước ta cũng nhận rõ được mặt tích cực và mặt tiêu cực của  quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đưa ra biện pháp khắc phục mặt tiêu  cực đó là phải kết hợp giữa hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh   tế độc lập tự chủ. Trước   vấn   đề   cập   nhật    của  thời   đại   và  nhận   biết  được   phương   hướng xây dựng đổi mới của đất nước ta em quyết định chọn đề  tài: " Phép  biện chứng về mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ  giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự  chủ  với hội nhập kinh tế quốc   tế" để  tìm hiểu sự  vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước trong sự  nghiệp xây dựng đổi mới đất nước là hoàn toàn đúng đắn. Em xin chân thành cảm  ơn cô giáo Nguyễn Thị  Ngọc Anh, người đã  giúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận đầu tay này. 1
  2. Tiểu luận Triết học CHƯƠNG I Trong những năm gần đây khi khoa học kỹ  thuật nhân loại ngày càng  phát triển đã thúc đẩy nền kinh tế  của một số  nước phát triển như  vũ bão.  Nhưng để đạt được sự phát triển đồng đều và kinh tế giữa các nước trên thế  giới thì không còn con đường nào khác là con đường hội nhập kinh tế quốc  tế. Hội nhập kinh tế  quốc tế  là một xu thế  không thể  tránh khỏi trên thế  giới. Nó là nền tảng cho các nước tăng cường hiểu biết lẫn nhau và hợp tác  thông qua đối thoại đồng thời cải thiện quan hệ chính trị  giữa các quốc gia,   thúc đẩy các nước trên thế  giới cùng nhau phát triển và mục đích cao hơn   nữa đó là đem lại cuộc sống đầy đủ, đoàn kết hoà bình cho tất cả nhân loại. Chính vì những lợi ích to lớn đó mà hội nhập kinh tế quốc tế đang trở  thành vấn đề  cấp bách đối với mỗi quốc gia trên thế  giới. Với sự  mở  màn  của liên minh Châu Âu (EU) thông qua một thị trường chung một đồng tiền   chung và việc kết nạp thêm các nước thành viên mới. Ở Đông Nam Á, tiến   trình này cũng đang diễn ra rất sôi động và đã thu hút được những kết quả  khả quan. Mà đỉnh cao của quá trình hội nhạp kinh tế được thể hiện ở sự ra   đời của tổ chức thương mại thế giới WTO, đây là tổ  chức thương mại lớn  nhất thế giới được thành lập ngày 1.1.1985, ban đầu có 130 nước thành viên,  đến nay tổng số thành viên WTO đã lên 148 trong đó có 2/3 là các nước đang  và kém phát triển.Ngoài các thành viên chính thức, hiện nay còn 25 nước   đang trong quá trình hội nhập trong  đó có Việt Nam. Thông qua tổ  chức   WTO các nước có thể tự do trao đổi mua bán trên cơ  sở  cả  hai bên cùng có  lợi đồng thời giúp đỡ  lẫn nhau cùng phát triển, tiếp thu được những thành  tựu khoa học kỹ thuật của thế giới. Tuy nhiên vấn đề  bức xúc đặt ra hiện nay đối với mỗi quốc gia trong   quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là xây dựng nền kinh tế  được lập tự  2
  3. Tiểu luận Triết học chủ. Bởi vì hội nhập kinh tế  quốc tế  vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu   cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ  hội cho sự  phát  triển nhưng cũng vừa có những thách thức đối với các quốc gia nhất là đối  với quốc gia đang  ở  giai đoạn phát triển như  nước ta. Do xu thế  hội nhập   kinh tế quốc tế dẫn đến sự tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng gia tăng  nên các nước trên thế giới đều rất coi trọng đến khả năng độc lập tự chủ về  kinh tế  nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc mình trong  cuộc cạnh tranh kinh tế gay gắt và để xác lập một vị thế chính trị nhất định  trên trường quốc tế. Đối với đất nước ta là đất nước xây dựng nền kinh tế  nhiều thành  phần theo định hướng XHCN và đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh   tế  quốc tế  nên Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ mối quan hệ  giữa xây   dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế để Việt Nam   có thể vững bước hoà nhập vào nền kinh tế của thế giới mà như Đại hội IX   khẳng định:"Nước ta chủ  động hội nhập kinh tế  quốc tế  và khu vực theo  tinh thần phát huy tối đa mọi lực nâng cao hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập  tự  chủ và xây dựng định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc giữ  vững an  ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn  hoá dân tộc, bảo vệ môi trường" (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc  gia Hà Nội, sản xuất 2001, tr: 119 ­ 200) Như  vậy xây dựng nền kinh tế  độc lập tự  chủ  với hội nhập kinh tế  quốc tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Dựa vào nguyên lý về mối liên  hệ  phổ  biến chúng ta sẽ  phân tích mối liên hệ  giữa xây dựng nền kinh tế  độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế. 3
  4. Tiểu luận Triết học CHƯƠNG II 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. 1.1. Nội dung của nguyên lý Mọi sự   vật hiện tượng của thế giới đều nằm trong mối liên hệ  phổ  biến không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập mà chúng tác   động lẫn nhau, rằng buộc quy định và chuyển hoá lẫn nhau, các mối liên hệ  quy định trong mỗi tổng thê của nó quy định sự biến đổi của sự vật, khi các  mối liên hệ thay đổi tất yếu sẽ dẫn đến thay đổi sự vật . Quan điểm biện chứng duy vật còn khẳng định tính khách quan và đa  dạng hoá của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ  là khách   quan, là thống nhất vật chất của thế giới. Tính đa dạng của mối liên hệ trực  tiếp và gián tiếp; có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên  hệ  bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của thế giới đó, có   mối liên hệ  bản chất và không bản chất, có mối liên hệ  tất yếu và ngẫu   nhiên…. các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động   và phát triển của sự  vật về  mối liên hệ  cũng đòi hỏi phải thừa nhận tính  tương đối trong sự phân loại của các mối liên hệ. 1.2. Ý nghĩa của nguyên lý Từ  việc nghiên cứu nguyên lý về  mối liên hệ  phổ  biến, đòi hỏi trong  quá trình nhận thức cũng như  hoạt động thực tiễn chúng ta cần thực hiện  nguyên tắc toàn diện và lịch sử cụ thể. Theo nguyên tắc về  quan điểm toàn diện thì trong nhận thức và hoạt  động thực tiễn con người cần xem xét sự  vật trong tính toàn vẹn của nhiều  mối liên hệ nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể  cả các quá trình, các  4
  5. Tiểu luận Triết học giai đoạn phát triển của sự  vật, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, có   như  vậy mới nắm bắt được thực chất của sự  vật khi tuân thủ  nguyên tắc   con người sẽ  tránh được sai lầm cực đoan, phiến diện một chiều, không   đồng nhất và san bằng các mối liên hệ, các mặt của sự  vật phải phản ánh   đúng vai trò của từng mối liên hệ phải rút ra được mối liên hệ bản chất chủ  yếu của sự  vật. Khi tuân thủ  nguyên tắc này con người sẽ  tránh được mối  quan hệ thứ yếu và chiết trung. Theo quan điểm lịch sử cụ thể thì khi nghiên cứu xem xét sự  vật phải   đặt nó trong điều kiện hoàn cảnh cụ  thể  trong không gian và thời gian xác   định mà nó đang tồn tại phát triển, đồng thời phải phân tích vạch ra  ảnh  hưởng của điều kiện hoàn cảnh đối với sự tồn tại của sự vật, với tính chất   của sự vật và với xu hướng vận động phát triển của nó. Khi vận dụng một   lý luận nào đó vào trong thực tiễn cần tính đến điều kiện cụ thể của nơi vận   dụng, tránh bệnh giáo điều dập khuân máy móc. 2. Vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến để phân tích mối quan hệ  giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự  chủ  với hội nhập kinh tế  quốc tế . 2.1. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế  quốc tế  là quá trình "mở  cửa" nền kinh tế, đưa các  doanh nghiệp trong nước tham gia tích cực vào cạnh tranh quốc tế, sự tham   gia vào phân công lao động quốc tế sẽ tạo điều kiện mở rộng không gian và  môi trường để chiếm lĩnh những  vị trí phù hợp nhất có thể được trong quan  hệ  kinh tế  quốc tế. Đó cũng là quá trình chúng ta tham gia vào các tổ  chức  kinh tế, tài chính khu vực và thế giới, qua đó mà thiết lập mối quan hệ kinh   tế, thương mại, đầu tư, khoa học và công nghệ  với các nước trên thế  giới.   (Tạp chí nghiên cứu ­ trao đổi ­ Vương Thị Bích Thuỷ) 5
  6. Tiểu luận Triết học 2.2. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của đất  nước.  Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường duy nhất để đưa một quốc gia   không ngừng phát triển nền kinh tế  và nâng cao trìn độ  khoa học kỹ  thuật  của nứoc mình.  Theo quan điểm biện chứng về mối quan liên hệ phổ biến của các nhà  triết học đã khẳng định  ở  trên :"Mọi sự  vật hiện tượng của thế  giới đều  nằm trong mối liên hệ phổ biến không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một   cách biệt lập mà chúng tác động lẫn nhau, rằng buộc quy định và chuyển hoá   lẫn nhau". Khi áp dụng quan điểm này vào thực tế là hoàn toàn đúng khi một   quốc gia tự  mình tách ra khỏi mối quan hệ  với các quốc gia khác thì nó  không thể  tồn tại và phát triển được. Bởi vì trước hết một quốc gia không  thể  tự  mình cung cấp những nhu cầu cho quốc gia mình, do mỗi quốc gia  trên thế giới đều có một thế mạnh riêng như Nhật Bảnh mặc dù là một quốc  gia phát triển mạnh về  khoa học kỹ thuật nhưng lại là một nước nghèo tài  nguyên khoáng sản, thị trường tiêu thụ hàng hoá trong nước nhỏ bé. Nếu như  Nhật Bản không hội nhập kinh tế giao lưu với các quốc gia khác về trao đổi  hàng hoá và mua nguyên vật liệu thì Nhật Bản sẽ  không thể tồn tại và phát  triển như  ngày nay. Và cả  Mỹ  mặc dù là một quốc gia phát triển bậc nhất   thế giới hiện nay, là trung tâm khoa học kỹ thuật của thế giới nhưng để  có  sự  phát triển như  vậy là do Mỹ  có chính sách đúng đắn mở  cửa hội nhập   kinh tế và thu hút nhân tài khắp thế giới cũng như  mua được những nguyên   vật liệu với giá rẻ và có thị trường rộng lớn trên toàn thế  giới. Đó là những   quốc gia có nền kinh tế  phát triển bậc nhất thế  giới phát triển được nền   kinh tế  như  ngày nay là do sự  phối hợp kinh tế  quốc tế. Còn các quốc gia  đang phát triển và chậm phát triển thì sao? Ta có thể  khẳng định rằng dù  quốc gia giàu hay nghèo cũng phải tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế. Sở  6
  7. Tiểu luận Triết học dĩ như  vậy bởi vì các quốc gia nghèo có nền kinh tế  kém phát triển là do  trình độ  khoa học kỹ  thuật lạc hậu, trình độ  hiểu biết thấp. Nên các nước  này càng cần tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế để  tiếp thu thêm được   những   thành tựu khoa học kỹ  thuật của các nước phát triển, các nước đi  trước, đồng thời trao đổi mua bán với các nước phát triển như  xuất khảu   nhân công dư  thừa, xuất khẩu nguyên nhân vật liệu và mua các thiết bị  kỹ  thuật máy móc hiện đại nhằm nâng cao trình độ  khoa học kỹ  thuật trong  nước, phát triển công nghiệp góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cần phải khẳng định rằng trước xu thế toàn cầu hoá không một quốc  gia nào có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Sự xã hội hoá mạnh mẽ  của lực lượng sản xuất, sự  phát triển vượt bậc của khoa học kỹ  thuật và  công nghệ  hiện đại đã làm nảy sinh yêu cầu hợp tác đa dạng nhiều chiều,  ổn định và bền vững trên phạm vi toàn cầu. Mỗi nước trở  thành một bộ  phận hữu của thế giới, nền kinh tế của mỗi dân tộc được đặt trong sự  phụ  thuộc vào mối quan hệ qua lại với nền kinh tế khu vực và thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta có cơ hội tích luỹ được những tiền  đề, những điều kiện cho một trình độ phát triển mới. Trước hết chúng ta có   cơ  hội thu hút vốn, khoa học kỹ  thuật công nghệ  hiện đại, kinh nghiệm  quản lý kinh tế  từ  bên ngoài và mở  rộng thị  trường để  đẩy nhanh quá trình  công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát  triển. Với một nền kinh tế  yếu kém, nếu không tranh thủ  được những cơ  hội do toàn cầu hoá mang lại dù là toàn cầu hoá đang do CNTB chi phối thì   chúng   ta   không   thể   xây   dựng   CNXH   được.   Chỉ   riêng   vấn   đề   "học   hỏi"  CNTB đã là một đề  tài khách quan, một yêu cầu bắt buộc đối với việc xây  dựng CNXH ở các nước chậm phát triển. Như Lênin đã nói:"Chúng ta không  hình dung một thứ  chủ  nghĩa xã hội nào khác hơn là CNXH dựa trên cơ  sở  những bài học mà nền văn minh lớn của CNTB đã thu được" 7
  8. Tiểu luận Triết học (Theo tạp chí nghiên cứu ­ trao đổi, bài viết "bản chất của toàn cầu   hoá và khả năng hội nhập của Việt Nam" ThS Vương Thị Bích Thuỷ) 2.3. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đang là vấn   đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay. Thế giới đang chứng kiến sự phát  triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ  thông tin và sinh học. Làm tăng nhanh lực lượng sản xuất và tạo ra sự  thay   đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng thúc đẩy quá trình quốc tê  hoá, xã hội hoá nền kinh tế, cũng như  quá trình tham gia của mỗi quốc gia   vào phân công lao động và hợp tác quốc tế. Đây chính là đặc điểm cơ  bản   của nền kinh tế thế giới hiện nay các định chế  và tổ  chức kinh tế  ­ thương   mại khu vực và quốc tế  đã được hình thành để  phục vụ  cho quá trình hội  nhập kinh tế  quốc tế, tạo lập hành lang pháp luật chung và để  các nước   cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề  lớn của kinh tế  thế  giới   mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách đơn lẻ. Đặc điểm cơ  bản của hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới hiện nay thể hiện qua một số  xu hướng chính như sau: ­ Xu hướng tăng cường hợp tác đa phương. ­ Xu hướng tự do hoá và khu vực hoá ­ Thương mại dịch vụ  đóng vai trò quan trọng trong thương mại thế  giới. ­ Sự  tăng cường chính sách bảo hộ  với các rào cản thương mại hiện  đại (trích bài viết của Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự đăng trên  tạp chí Thương mại số ra tháng 3/2004). 8
  9. Tiểu luận Triết học 2.4. Khái niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ Một nền kinh tế  độc lập tự  chủ  trong bối cảnh toàn cầu hoá có thể  được hiểu là nền kinh tế  có khả  năng thích  ứng cao với những biến động   của tình hình quốc tế và trong bất cứ tình huống nào nó cũng có thể cho phép  duy trì các hành động bình thường của xã hội và phục vụ  đắc lực cho các  mục tiêu phát triển kinh tế  xã hội của đất nước. Đó là nền kinh tế  phải có  cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và đảm bảo độ  an toàn cần thiết, có tốc độ  phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh cao, cơ cấu xuất nhập khẩu cơ  bản cân đối, cơ  cấu mặt hàng đa dạng, phong phú với tỷ  lệ  các mặt hàng  công nghệ và có giá trị gia tăng lớn chiếm ưu thế, cơ cấu thị trường quốc tế;   đối tác cũng đa dạng và tránh chỉ tập trung quá nhiều vào một vài mục tiêu;   đảm bảo nền tài chính lành mạnh, đặc biệt giữ cân bằng cần thiết trong cán  cân thanh toán và có nguồn dự trữ quốc gia mạnh. (Nguồn: báo đầu tư chứng khoán). Như vậy nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc,   phụ  thuộc vào các nước khác, người khác hoặc một tổ  chức kinh tế nào đó   về đường lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện   kinh tế, tài chính, thương mại, viện trợ  để  áp đặt khống chế, làm tổn hại   chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc. Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của  thị  trường, trước sự  khủng hoảng của nền kinh tế  tài chính bên ngoài, nó  vẫn có khả năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển trước sự bao vây, cô  lập và chống phá của các thế  lực thù địch, nên vẫn có khả  năng đứng vững  không bị sụp đổ, không bị rối loạn. (Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội IX của Đảng, NXB CTQG, Hà   Nội 2001, tr 109). 9
  10. Tiểu luận Triết học Trong thời đại ngày nay, độc lập tự  chủ  về  kinh tế  không còn được  hiểu đó là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà được đặt trong mối  quan hệ  biện chứng với mở  cửa, hội nhập, chủ dộng tham gia sự giao lưu,   hợp tác và cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực và lợi thế so   sánh của quốc gia. Điều này có nghĩa là độc lập tự chủ về kinh tế cũng đồng  thời hội nhập được vào nền kinh tế quốc tế. 2.5. Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội  nhập kinh tế quốc tế Nếu như  chỉ  có hội nhập kinh tế  quốc tế  mà không có xây dựng nền  kinh tế  độc lập tự chủ thì quốc gia đó có phát triển bền vững được không?  Câu trả lời ở đây là không. Qua những bài học kinh nghiệm sâu sắc mà một  số nước châu Á rút ra sau khi bị rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính ­ tiền tệ  nặng nề  năm 1997­1998, là sự  phụ  thuộc của nền kinh tế  về  vốn, công  nghệ, thị trường nước ngoài và sự đầu cơ trục lợi của những nhà kinh doanh  tiền tệ qua thị trường chứng khoán và các luồng vốn ngắn hạn. Các nền kinh   tế  này vượt qua được giai đoạn khó khăn, nhanh chóng phục hồi một phần  rất quan trọng, theo đánh giá của các nhà phân tích kinh tế nước ngoài là do  nền kinh tế Mỹ mấy năm qua có sự tăng trưởng khá. Tuy nhiên, hiện nay khi  nền kinh tế  Mỹ  đang ngập trong trong khó khăn, nhất là sau sự  kiện 11­9­ 2001 vừa qua người ta lại dự đoán rằng nền kinh tế một số nước châu Á khó  bề  vươn dậy vì đã dựa quá nhiều vào xuất khẩu, không tranh thủ  thời cơ  tiến hành những cải cách trong nước nhằm đảm bảo sự   ổn định trong nền   kinh tế  của mình. Rồi nữa, nợ  nần và những hậu quả  nghiêm trọng bất  ổn   chính trị, lật đổ, đảo chính, chiến tranh giữa các phe phăi, đặc biệt nạn đói  luôn đe doạ mạng sống  hàng triệu người... là minh chứng cho thấy chỉ biết   sống dựa vào bên ngoài, phụ  thuộc hẳn vào bên ngoài thì sẽ  chẳng bao giờ  phát triển được nền kinh tế đất nước. 10
  11. Tiểu luận Triết học Theo tổng kết của UNĐP (tổ  chức hỗ  trợ  phát triển của liên hiệp  quốc) cho rằng “từ  khi diễn ra quá trình toàn cầu hoá đến nay trên thế  giới   có 10 nước giàu lên, nhưng có 180 nước nghèo đi, trong đó có 60 nước GDP   bình quân đầu người thấp hợ  trước khi tham gia toàn cầu hoá. Tổng kết   những nước vay nợ  để  phát triển cho thấy chưa đến 10% số  nước có khả  năng trả được bợ, số còn lại trở thành con nợ lưu cữu”. (Tài liệu nghiên cứu văn kiện đại hội IX của Đảng, nxb: CTQG Hà  Nội 2001 tr25). Qua những số  liệu tổng kết  ở trên chúng ta thấy rằng nếu một quốc  gia không tự  mình xây dựng nền kinh tế  độc lập tự  chủ  mà chỉ  phụ  thuộc   vào các phe phái mạnh hơn hoặc phụ  thuộc vào một nước lớn hơn sẽ  dẫn  đến hậu quả nghiêm trọng làm cho nền kinh tế của quốc gia đó luôn chịu sự  ảnh hưởng đối với từng biến động của nền kinh tế  quốc gia khác và sẽ  không tự mình đứng dậy được khi có sự  biến kinh tế  xảy ra. Như vậy nền   kinh tế  của quốc gia đó sẽ  luôn lạc hậu và chậm tiến. Đó chính là lý do vì  sao trong quá trình hội nhập kinh tế phải gắn liền với xây dựng nền kinh tế  độc lập tự chủ. Như  vậy xây dựng nền kinh tế  độc lập tự  chủ  và hội nhập kinh tế  quốc tế  có mối quan hệ  biện chứng với nhau, hỗ  trợ và tác động lẫn nhau  cùng đi đến mục đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển nền kinh tế của quốc  gia đó. Đồng thời giữa xây dựng nền kinh tế  độc lập tự  chủ  và hội nhập   kinh tế quốc tế còn là mối quan hệ bên trong và bên ngoài. Mối quan hệ bên   trong là xây dựng nền kinh tế  độc lập tự  chủ  và mối quan hệ  bên ngoài là  hội nhập kinh tế quốc tế. Và cả hai mối quan hệ này đều tác động trực tiếp  đến sự phát triển đất nước trong đó xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là   yếu tố quyết định đến vận mệnh của đất nước còn hội nhập kinh tế quốc tế  là nhân tố thúc đẩy, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Bởi  11
  12. Tiểu luận Triết học chỉ có xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự  chủ  chúng ta mới có đầy   đủ tư cách và thực lực để chủ động hội nhập đúng hướng và hiệu quả kinh   tế quốc tế  và ngược lại, chỉ có chủ động hội nhập kinh tế  quốc tế chúng ta  mới nhanh chóng bổ xung sức mạnh nội lực còn khiếm khuyết, thiếu hụt, rút  ngắn con đường phát triển nhằm không ngừng tự  hoàn thiện mình để  giữ  vững hơn nữa độc lập tự  chủ. Hơn nữa, muốn chủ  động hội nhập kinh tế  quốc tế  một cách đúng đắn và mạnh mẽ  không thể  không bắt đầu từ  nền  tảng sức mạnh tổng thể của một nền kinh tế độc lập tự  chủ. Nếu vấn đề  thứ nhất là tiền đề là điều kiện đảm bảo cho vấn đề thứ hai thì đến lượt nó,  vấn đề thứ  hai lại là hệ  quả, là động lực, là môi trường phát triển mới của   vấn đề thứ nhất. Đó là một quá trình biện chứng. Vấn đề dặt ra ở đây là phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ như  thế nào trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ở đây xây dựng “độc lập, tự chủ” không có nghĩa là tự biệt lập hoặc   cô lập mình mà phải chủ động hội nhập quốc tế và khu vực “mở cửa” không  có nghĩa là “ngó cửa”, “hội nhập” không phải là “hoà tan”. Phải nắm bắt  được khả  năng nội lực của quốc gia để  linh hoạt trong hợp tác đối ngoại  kinh tế. Như đã nói ở trên xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thànhmột  xu thế  lớn của kinh tế  thế  giớivà quan hệ  kinh tế  quốc tế  từ  vài thập niên  trở lại đây .Xu hướng này lôi cuốn nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực  vừa có mặt tiêu cực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh. Do   vậy, để hội nhập mà không hoà tan rất cần sự tỉnh táo nhìn nhận trong thực  tế  tự  do hoá thương mại một số  nước giàu lên trong khi một số  nước khác   nghèo hẳn đi. Ngay trong từng nước sự  tự  do thương mại cũng có lợi cho   tầng lớp này, nhưng lại có hại cho tầng lớp khác. Cụ  thể  như  Mỹ  và Liên  minh châu Âu (EU), tuy tự do hoá thương mại nhưng vẫn duy trì chính sách  12
  13. Tiểu luận Triết học bảo hộ  hàng nông sản ­ thế  mạnh chủ lực của các nước kém phát triển nói  chung và Việt Nam nói riêng . Hoặc như vụ kiện cá ba sa của Việt Nam vừa   qua, về thực chất chính là để bảo vệ những ngành kinh tế không còn đủ sức  cạnh tranh. Điều này liệu có công bằng : trên thực tế  chính phủ  các nước,   dưới áp lực của cử tri bỏ phiếu cho mình không thể nào đồng ý những điều  khoản thương mại có thể gây hại cho một bộ phận, một ngành kinh tế  của  họ. Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế hiện nay, các nước giàu đã  thành công trong việc thiết lâp “cuộc chơi” tự do hoá thương mại với những  luật chơi do họ  đặt ra. Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đã thành công trong việc  buộc các nước khác gỡ  bỏ  những rào cản để  hàng công nghiệp và dịch vụ  của mình tràn vào các nước này. Ngược lại họ cũng lại thành công trong việc   duy trì mức thuế cao đánh vào hàng nông sản nhập khẩu đơn giản là vì luật   chơi trong tay kẻ mạnh Nói như  vậy, không có nghĩa là sân chơi không “đẹp” thì không chơi  mà việc tham dự  một cách tích cực vào sân chơi này là chuyện tất yếu và  không thể  phủ  nhận, vì bên cạnh những mặt chưa được vẫn còn rất nhiều   mặt được và vấn đề  là tận dụng các cơ hội này như thế  nào? Về thực chất  hội nhập kinh tế  quốc tế  là sự  kết hợp nội lực với ngoại lực, kết hợp sức   mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm bảo vệ  lợi ích của dân  tộc, phát triển kinh tế đất nước. 13
  14. Tiểu luận Triết học 3. Sự  vận dụng nguyên lý về  mối liên hệ  phổ  biến một cách sáng tạo  của đảng và Nhà nước ta việc kết hợp quá trình xây dựng nền   kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế. 3.1 Những thách thức đối với nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế  quốc tế. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đang là vấn  đề  nổi bật của kinh tế  thế  giới   , tạo ra sức ép buộc chúng ta phải chấp   nhận “cuộc chơi” nếu không cố  gắng đi cùng nhịp với các nước trong khu  vực thì Việt Nam có nguy cơ  bị tụt hậu và chịu thua thiệt của người đi sau   Hội nhập kinh tế hiện luon có hai mặt, trước hết hội nhập kinh tế khiến các  nước phải mở  cửa thị  trường về  thương mại hàng hoá, làm giảm những  khác biệt thông qua việc tiến tới bãi bỏ hàng rào và biện pháp phi thuế quan  mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư. Với việc tham gia vào quá trình này chúng ta sẽ có cơ hội mở rộng thị  trường xuất nhập khẩu, thu hút được một nguồn đầu tư trực tiếp của nước   ngoài, nhất là tranh thủ  được nguồn viện trợ  phát triển chính thức (ODA)  ngày càng lớn, đồng thời giảm đáng kể  nợ  nước ngoài. tiếp thu khoa học   công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý, đào tạo được một đội ngũ cán bộ năng  lực để tham gia hội nhập. Nhưng quan trọng hơn cả là thực hiện được chủ  trương chuyển toàn bộ  nền kinh tế  kế  hoạch sang nền kinh tế  thị  trường   theo định hướng XHCN, đặt tất cả doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh,  lấy hiệu quả là mục tiêu của doanh nghiệp , xoá bỏ  tư tưởng bao cấp trông  chờ  vào sự  trợ  giúp và bảo hộ  của Nhà nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ  cấu   kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên hội nhập kinh tế  quốc tế  cũng sẽ  tạo ra áp lực cạnh tranh  lớn   hơn,   nhất   là   từ   phía   Trung   Quốc,   ấn   Độ,   và   phần   lớn   là   các   nước  14
  15. Tiểu luận Triết học ASEAN, vốn là những nước sản xuất mang tính cạnh tranh với nước ta và có   nhiều  ưu thế  hơn ta, thậm chí ngay cả  trong những ngành hàng xuất khẩu  chủ lực của ta hiện nay như nông sản, thuỷ sản, may mặc, giày dép, . Trong   thu hút FDI chúng ta cũng vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt hơn  và nguy cơ  sẽ  giảm FDI nước ta nếu chúng ta không có những chính sách và biện pháp  cải thiện môi trường đầu tư mạnh mẽ làm tăng tính hấp dẫn hơn hẳn so với   các nước trong khu vực. (Nguồn :   Thời báo tài chính ­ bài viết của Bộ  trưởng Trương Đình   Tuyển) 3.2 Thực trạng tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt  Nam  Những thành tựu cơ bản mà đất nước ta đã đạt được trong những năm  qua khi tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế là rất lớn lao. Đất nước ta thoát   ra khỏi tình trạng bị  bao vây cấm vận, cô lập, tạo dựng được môi trường  quốc tế, khu vực thuận lợi cho công việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng  cao vị thế nước ta trên chính trường và thương trường thế giới. Cho đến nay  Việt Nam đã ký 86 hiệp định thương mại song phương, 46 hiệp định khuyến  khích và bảo hộ đầu tư  và 40 hiệp định chống đánh thuế 2 lần với các nước  và vùng lãnh thổ, có quan hệ thương mại với trên 160 nước và nền kinh tế;   thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế là thành viên của   ASEAN, ASEM , APEC... Thực hiện thành công chiến lược  ổn định và phát  triển kinh tế ­ xã hội (1991 ­ 2000) ; GDP tăng trưởng bình quân 8,2%/năm,  trong giai đoạn 1991 ­ 2000, khoảng 7%  trong hai năm 2001 và 2002 , năm  2003 tăng 7,2% và là nước có tốc độ tăng GDP thứ hai thế giới, chỉ đứng sau   Trung Quốc. Hạ tầng cơ sở được cải thiện rõ rêt. Thúc đẩy chuyển dịch cơ  cấu nền kinh tế một cách tích cực theo định hướng tăng dần tỷ trọng giá trị  công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị  nông nghiệp trong cơ cấu  15
  16. Tiểu luận Triết học thu nhập quốc dân. Cơ  cấu vùng kinh tế  cũng bắt đầu thay đổi theo hướng   hình thành các vùng trong điểm , các khu xuất nhập khẩu tập trung , các khu   chế  xuất, chuyển toàn bộ  nền kinh tế  sang môi trường cạnh tranh lấy mục  đích và hiệu quả kinh tế xã hội làm cơ  sở, thay đổi thói quen trông chờ  vào  sự bảo hộ của Nhà nước của các doanh nghiệp. Mở  rộng được thị  trường xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong  nước phát triển tạo thêm việc làm , tăng thu ngân sách. Năm 1990 kim ngạch  xuất khẩu mới đạt 2,404 tỷ  USD và nhập khẩu 2,752 tỷ USD thì năm 2001  kim ngạch xuất khẩu đã đạt 15 tỷ USD (nếu tính cả dịch vụ  thì đạt 17,6 tỷ  USD), tăng mỗi năm trung bình trên 20%, có năm tăng 30% (gấp 7 lần năm  1990). Năm 2003 xuất khẩu đạt 20,176 tỷ  USD. Xuất khẩu bình quân đầu  người đạt 200 USD, đây là mức được thế giới công nhận là quốc gia có nền   xuất khẩu bình thường. Bên cạnh đó nước ta còn thu hút được một nguồn   lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Đến nay ta đã thu hút được trên   41,538 tỷ USD vốn đầu tư từ 64 quốc gia và vùng lãnh thổ với trên 4.370 dự  án trong đó đã thực hiện trên 24,654 tỷ  USD. Nguồn đầu tư  nước ngoài có  vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, chiếm gần 30% vốn đầu tư xã   hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất khẩu, giải quyết việc làm   cho khoảng 40 vạn lao động và hàng chục vạn lao động gián tiếp . Tranh thủ  được kỹ  thuật tiên tiến và khoa học quản lý mới. Tranh thủ  được nguồn  viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn, đồng thời giảm đáng kể  nợ nước ngoài. Các nhà tài trợ đã cam kết giành cho nước ta 20 tỷ USD , chủ  yếu là cho vay ưu đãi và một phần là viện trợ không hoàn lại. Tuy nhiên bên cạnh đó nước ta còn tồn tại không ít khó khăn hạn chế  đó là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhìn chung còn yếu, chính  sách vĩ mô chưa tạo được động lực khuyến khích doanh nghiệp nâng cao  năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp Việt Nam phần lớn đều có quy mô nhỏ,   16
  17. Tiểu luận Triết học ít vốn. Đa phần các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế  Nhà nước hoạt  động trong tình trạng kém hiệu quả kinh tế và có tư tưởng trông chờ vào sự  bảo hộ của Nhà nước . Hệ thống chính sách , cơ chế quản lý của Nhà nước   chưa tạo ra  môi trường cạnh tranh thực sự giữa các doanh nghiệp thuộc mọi  thành phần kinh tế. Môi  trường  kinh doanh vẫn còn một số  bất cập về  khuôn khô rpháp lý và thể chế, cấu trúc thị trường và hành vi cạnh tranh. Thể  chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện thể hiện ở sự thiếu đồng bộ của các   yếu tố  như  thị  trường tiền tệ, thị  trường đất đai, bất động sản, thị  trường   lao động, khoa học công nghệ... các cơ sở pháp lý đảm bảo cạnh tranh chậm   được ban hành và sửa đổi. Bên cạnh đó việc thực thi pháp luật còn rất hạn  chế. Những chủ  trương chính sách đúng đắn của đảng và chính phủ  ban  hành chưa được thực hiện triệt để. Bộ  máy điều hành  ở  một số  bộ  và địa  phương còn yếu kém  chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. 3.3 Đường lối đổi mới và chủ trương của Đảng và chính phủ Trước những biến đổi của tình hình thế giới, xu thế tất yếu của quốc  tế  hội nhập quốc tế  , Đảng ta đã kịp thời đề  ra chủ  trương, quan điểm,   nguyên tắc về chính sách đối ngoại của đất nước, nhằm có thêm bạn bè, tạo  thêm thế  mạnh, tranh thủ  thêm vốn, công nghệ  cho sự  phát triển kinh tế,  tranh được tình thế  rất khó khăn sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp  đổ. Với nhận thức  như vậy tại đại hội đảng lần thứ VII, đảng ta đã đưa ra  quan điểm : thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá , đa  phương hoá các quan hệ  quốc tế, mở  rộng hợp tác, trên nguyên tắc bình   đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia, không can   thiệp vào công việc nội bộ  của nhau. Đại hội VII đã đưa ra khẩu hiệu nổi   tiếng “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả  các nước trong cộng đồng thế  giới, phấn đấu vì độc lập hoà bình và phát triển” 17
  18. Tiểu luận Triết học (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nxb sự thât, Hà Nội  1991, tr147) Đây là bước mở  đầu cho quốc tế  hội nhập, quyết định sáng suốt có  tính bước ngoặt về chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới Để  phát triển kinh tế , đảng ta chỉ rõ phải tận dụng tối đa ngoại lực,   trên cơ  sở  dựa vào sức mình là chính. Giữ  vững độc lập tự  chủ, đi đôi với   mở  rộng hợp tác quốc tế, đa dạng hoá , đa phương hoá quan hệ  đối ngoại.  Dựa vào sức mình là chính , đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài  xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập khu vực và thế  giới hướng  mạnh  vào xuất khẩu (Văn kiện đại hội đại biểu VIII, nxb Quốc gia Hà Nội , 1996  tr84­85) Cũng trong văn kiện đại hội VIII, đảng ta nêu rõ “Điều chỉnh cơ  cấu  thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn  lợi ích giữa ta và đối tác, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới,   các diễn đàn , các tổ chức , các định chế  quốc tế, một cách chọn lọc, bước   đi thích hợp.” Đến đại hội IX, chính sách đối ngoại của đảng từng bước được bổ  xung hoàn thiện hơn. Đảng ta tiếp tục khẳng định “chủ động hội nhập kinh   tế  tranh thủ  mọi thời cơ để  phát triển trên nguyên tắc giữ  vững độc lập tự  chủ và định hướng XHCN, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc,   bình đẳng cùng có lợi, vừa có hợp tác, vừa đấu tranh đa dạng hoá, đa phương  hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, đề  cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá  hoại của các thế lực thù địch”. (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nxb : CTQG, Hà Nội   2001, tr167) 18
  19. Tiểu luận Triết học CHƯƠNG III Phân tích mối liên hệ  giữa xây dựng nền kinh tế  độc lập tự  chủ  với  hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có thể  khẳng định một lần nữa giữa xây   dựng nền kinh tế độc lập tự  chủ  và chủ  động hội nhập kinh tế  quốc tế  có  mối quan hệ biện chứng. Chỉ có xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự  chủ chúng ta mới có đầy đủ tư cách và thực lực để chủ động hội nhập đúng  hướng và có hiệu quả. Và ngược lại , chỉ  có chủ  động hội nhập kinh tế  quốc tế chúng ta mới nhanh chóng bổ sung sức mạnh cho nội lực còn khiếm   khuyết, thiếu hút, rút ngắn con đường phát triển nhằm không ngừng tự hoàn  thiện mình để giữ vững nền độc lập dân tộc. Do đó, việc vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vào phân tích   chủ  trương , đường lối của đảng về  kinh tế  là việc làm hết sức đúng đắn,   giúp chúng ta không những hiểu rõ chủ trương, đường lối kinh tế đó mà còn  giúp cho chúng ta có sự tự tin, ý chí quyết tâm thực hiện chủ trương, đường  lối đó. Vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong hội nhập kinh tế  quốc tế thông qua phân tích mối liên hệ bên trong bên ngoài làm sáng tỏ quan   điểm đúng đắn của đảng ta trong việc lãnh đạo xây dựng kinh tế đất nước. Theo các dự báo trong năm 2004, nền kinh tế thế giới sẽ đạt được tốc   độ  tăng trưởng tiềm năng. Bởi vậy, xuất khẩu của Việt Nam sẽ  có những   điều kiện thuận lợi hơn do thương mại toàn cầu. Mặc dù vậy, khi nền kinh   tế của nhiều nước đang có khả năng tăng trưởng đi lên, động cơ thúc đẩy họ  tự  do hoá để tăng cường hội nhập sẽ giảm. Đây có thể  là khó khăn đối với  Việt Nam trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO. Hơn nữa với những diễn   biến phức tạp trên các thị  trường tài chính hiện nay và dự  báo trong tương   lai, Việt Nam cần phải chuẩn bị để  đối phó, ngăn ngừa những bất  ổn định  về tài chính có thể xảy ra , điều đó có nghĩa là Việt Nam phải xây dựng cho  19
  20. Tiểu luận Triết học mình một nền kinh tế độc lập tự chủ để có thể ứng phó trước mọi khó khăn   trong quốc tế hội nhập kinh tế quốc tế. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản