
Tìm hiểu về mẫu Virus.Win32.Sality.ag

Những loại virus như thế này thường có cơ chế tự tái tạo các nguồn tài
nguyên trên máy tính bị lây nhiễm, không giống như worm, các loại
virus không sử dụng và khai thác các dịch vụ mạng để tự nhân bản và
lây lan sang các máy tính khác. 1 bản sao hoàn chỉnh của virus sẽ tự động
“mò” tới các máy tính nếu đối tượng bị lây nhiễm được xác định theo 1 trong
các cách sau – với vài lí do hoặc nguyên nhân không hề liên quan đến các
chức năng hoạt động của virus đó. Ví dụ như:
- Khi đang tiến hành lây nhiễm vào 1 hoặc nhiều ổ đĩa có thể truy cập được,
virus sẽ xâm nhập vào 1 hoặc nhiều file cố định trên hệ thống
- Chúng có thể tự sao chép chính bản thân vào những thiết bị lưu trữ di động
- Khi người sử dụng gửi đi 1 hoặc nhiều email với những file đính kèm đã bị
nhiễm virus
Virus.Win32.Sality.ag (theo cách đặt tên của Kaspersky) còn được biết đến
dưới những dạng như sau:
- Trojan.Win32.Vilsel.vyz (cũng theo Kaspersky Lab)
- W32/Sality.aa (Panda)
- Virus:Win32/Sality.AT (MS(OneCare))

- Win32/Sality.NBA virus (Nod32)
- Win32.Sality.3 (BitDef7)
- Win32.Sality.BK (VirusBuster)
- W32/Sality.AG (AVIRA)
- W32/Sality.BD (Norman)
- Virus.Win32.Sality.ag [AVP] (FSecure)
- PE_SALITY.BA (TrendMicro)
- Virus.Win32.Sality.at (v) (Sunbelt)
- Win32.Sality.BK (VirusBusterBeta)
Mẫu virus này được phát hiện vào ngày 7/4/2010 lúc 08:21 GMT, hoạt động
vào ngày hôm sau – 8/4/2010 lúc 09:40 GMT, những thông tin phân tích
được chính thức công bố cùng ngày – 8/4/2010 tại thời điểm 13:13 GMT.
Phân tích chi tiết về mặt kỹ thuật
Những chương trình độc hại như này thường xuyên lây nhiễm, “bám” vào
các file thực thi trên máy tính bị lây nhiễm. Chúng còn có thêm chức năng tự
động tải và kích hoạt thêm các chương trình nguy hiểm khác trên máy tính
của nạn nhân mà họ không hề biết. Và về bản chất, chúng là những file
Windows PE EXE, được viết bằng ngôn ngữ C++.

Khi được kích hoạt, những chương trình này tự động “trích xuất” 1 hoặc
nhiều file từ chính chúng và lưu tại các thư mục hệ thống của Windows với
nhiều tên gọi khác nhau:
%System%\drivers\<rnd>.sys
với <rnd> là chuỗi ký tự Latin thường ngẫu nhiên được tạo ra, ví dụ như
INDSNN. Những file dạng này thường là driver kernel mode của 5157 byte.
Và theo Kaspersky Anti-Virus chúng được xếp vào lớp
Virus.Win32.Sality.ag.
Các driver được giải nén, cài đặt và kích hoạt thành 1 dịch vụ của Windows
được gọi là amsint32.
Quá trình lây nhiễm
Về bản chất, chúng được tạo ra để lây nhiễm vào tất cả các file thực thi của
Windows với đuôi mở rộng dạng *.EXE và *.SCR. Nhưng chỉ những file
chứa những section trong phần PE header bị lây nhiễm: TEXT, UPX và
CODE.

Khi lây nhiễm thành công vào file PE, virus sẽ kế thừa các section cuối cùng
trong file và copy phần thân tới phần cuối của section. Sau đó, chúng sẽ lây
lan tới khắp mọi nơi trên ổ cứng và tiếp tục tìm thêm file để lây nhiễm. Và
khi những file lây nhiễm này được kích hoạt, chúng sẽ lập tức copy phần thân
của file nguyên bản vào 1 thư mục tạm được tạo ra với tên sau:
%Temp%\__Rar\.exe
Để chắc chắn rằng chúng tự động kích hoạt khi hệ thống khởi động, chúng sẽ
tự copy bản thân chúng tới tất cả các phân vung logical với những tên ngẫu
nhiên và phần mở rộng trong danh sách sau: *.exe, *.pif và *.cmd. Đồng thời,
chúng tạo tiếp các file ẩn trong thư mục gốc của những ổ đĩa này:
:\autorun.inf – tại đây những doạn mã, câu lệnh để kích hoạt các file mã độc
được lưu trữ. Hoặc khi người dùng mở Windows Explorer thì những virus
này cũng sẽ được kích hoạt.
Phương thức Payload
Một khi hoạt động, chúng sẽ tạo ra các thông số nhận diện thống nhất được
gọi là Ap1mutx7 để đánh dấu sự hiện diện của chúng trong hệ thống. Và sau
đó, chúng sẽ tiếp tục tải dữ liệu từ những địa chỉ sau:

