intTypePromotion=1

Tổng điều Tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009

Chia sẻ: Nguyen Lan | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:276

0
116
lượt xem
20
download

Tổng điều Tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được tiến hành vào thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 theo Quyết định số 94/2008/Qđ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. đây là cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ tư và điều tra nhà ở lần thứ ba tiến hành ở nước ta kể từ khi nước nhà thống nhất vào năm 1975. Mục đích của cuộc Tổng điều tra là thu thập số liệu cơ bản về dân số và nhà ở trên toàn bộ lãnh thổ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổng điều Tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009

  1. Bộ kế hoạch và đầu tư Tổng cục thống kê Tổng điều tra Dân số và nhà ở VIỆT NAM năm 2009 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT Hà Nội, tháng 6 năm 2011
  2. Lời nói đầu Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được tiến hành vào thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 theo Quyết định số 94/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ tư và điều tra nhà ở lần thứ ba tiến hành ở nước ta kể từ khi nước nhà thống nhất vào năm 1975. Mục đích của cuộc Tổng điều tra là thu thập số liệu cơ bản về dân số và nhà ở trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phục vụ công tác kế hoạch hóa phát triển đất nước. Số liệu điều tra mẫu 15% tổng dân số được xử lý ngay sau khi kết thúc điều tra và đã được công bố vào ngày 31 tháng 12 năm 2009. Ngày 21 tháng 07 năm 2010, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương đã công bố toàn bộ số liệu của cuộc Tổng điều tra. Nhằm cung cấp các kết quả của cuộc Tổng điều tra tới người dùng tin, tiếp theo các ấn phẩm đã phát hành của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, với sự giúp đỡ của Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với các nhà nghiên cứu thuộc các cơ quan và tổ chức khác nhau trong nước, tiến hành phân tích sâu các kết quả của cuộc Tổng điều tra thông qua một số chuyên khảo của một số lĩnh vực. Cuốn sách “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: thực trạng, xu hướng và những khác biệt” do các cán bộ nghiên cứu thuộc Vụ Thống kê Dân số và Lao động, Tổng cục Thống kê thực hiện là kết quả của một trong những nỗ lực trên. Chuyên khảo gồm 4 chương chính. Chương 1 giới thiệu và phương pháp luận. Chương 2 phân tích mức sinh và xu hướng sinh hiện tại của Việt Nam qua số liệu của các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở. Chương 3 trình bày các kết quả phân tích về mức tử vong. Một số kỹ thuật đánh giá đã được áp dụng nhằm bổ sung những căn cứ khoa học cho các phân tích thực tiễn, như phương pháp hệ số sống nghịch đảo, phương pháp Trussell và phương pháp Zlotnik-Hill. Cuối cùng, Chương 4 đưa ra một số kết luận và khuyến nghị nhằm đưa ra một số định hướng chính sách, đóng góp cho công tác xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình Dân số Sức khỏe sinh sản của Việt Nam. Cuốn sách được hoàn thành với sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc. Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới các cán bộ của Văn phòng Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, về những đóng góp quý báu trong quá trình biên soạn và hoàn thiện chuyên khảo. Chúng tôi đánh giá cao và cảm ơn các cán bộ của Tổng cục Thống kê, những người đã làm việc với lòng nhiệt tình và tận tâm cho sự ra đời của cuốn sách này. Chúng tôi rất hân hạnh giới thiệu chuyên khảo này tới tất cả các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các nhà lập kế hoạch, các nhà ra quyết định và chính sách cùng các đối tượng sử dụng khác có quan tâm đến vấn đề này. Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc biên soạn tài liệu, song khó tránh khỏi thiếu sót và hạn chế, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để rút kinh nghiệm cho các ấn phẩm tiếp theo của cuộc Tổng điều tra. Tổng cục Thống kê MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT iii
  3. Mục lục Lời nói đầu iii Các biểu phân tích viii Các hình phân tích ix Bản đồ Việt Nam x CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 1 1.1 Giới thiệu 1 1.2 Mục đích nghiên cứu và nội dung 1 1.3 Nguồn số liệu 2 1.4 Phương pháp ước lượng 2 1.5 Hạn chế 6 CHƯƠNG 2: MỨC SINH VÀ MÔ HÌNH SINH HIỆN TẠI 7 2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức sinh 7 2.2 Sự thay đổi mức sinh của Việt Nam thời kỳ 1999-2009 9 2.2.1 Sự thay đổi tổng tỷ suất sinh 9 2.2.2 Sự thay đổi tỷ suất tái sinh sản nguyên 10 2.2.3 Sự thay đổi tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi 11 2.2.4 Sự thay đổi tỷ suất sinh thô 14 2.2.5 Sự thay đổi tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên 16 2.3 Sự khác biệt mức sinh theo lãnh thổ 17 2.3.1 Sự khác biệt theo các vùng kinh tế - xã hội 17 2.3.2 Sự khác biệt theo tỉnh/thành phố 22 2.4 Sự khác biệt mức sinh theo các đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của người mẹ 25 2.4.1 Sự khác biệt về mức sinh giữa các tôn giáo 25 2.4.2 Sự khác biệt về mức sinh theo dân tộc 26 2.4.3 Sự khác biệt về mức sinh theo trình độ học vấn 27 2.4.4 Sự khác biệt về mức sinh theo tình trạng hoạt động kinh tế 28 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT v
  4. 2.4.5 Sự khác biệt về mức sinh theo tình trạng di cư 29 CHƯƠNG 3: MỨC TỬ VONG 31 3.1 Chất lượng thông tin về tử vong 31 3.2 Sự thay đổi mức tử vong 32 3.2.1 Sự thay đổi tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi 32 3.2.2 Sự thay đổi tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi 33 3.2.3 Sự thay đổi tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi 34 3.2.4 Sự thay đổi tỷ suất chết thô 36 3.2.5 Sự thay đổi tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh 37 3.3 Sự khác biệt mức tử vong theo lãnh thổ 38 3.3.1 Sự khác biệt theo các vùng kinh tế - xã hội 38 3.3.2 Sự khác biệt theo tỉnh/thành phố 39 3.4 Sự khác biệt mức tử vong theo các đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của người mẹ 44 3.4.1 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo tôn giáo của người mẹ 44 3.4.2 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo dân tộc của người mẹ 44 3.4.3 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo trình độ học vấn của người mẹ 45 3.4.4 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo nghề nghiệp của người mẹ 46 3.5 Nguyên nhân chết 47 3.6 Tử vong mẹ 49 CHƯƠNG 4: TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ 51 4.1 Tóm tắt các phát hiện 51 4.1.1 Về mức sinh 51 4.1.2 Về mức tử vong 51 4.2 Khuyến nghị 52 vi MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  5. CÁC BIỂU TỔNG HỢP 55 Biểu 1: Một số chỉ tiêu về mức sinh chia theo đơn vị hành chính 57  iểu 2: Số phụ nữ 15-49 tuổi, số trẻ em sinh trong 12 tháng trước điều tra (số đã điều chỉnh), B tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi (ASFR) chia theo thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội, tỉnh/thành phố và một số đặc trưng cơ bản, 1/4/2009 60  iểu 3: Số phụ nữ 15-49 tuổi chia theo tổng số con đã sinh, tuổi của người mẹ, thành thị/ B nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 91  iểu 4: Số phụ nữ 15-49 tuổi chia theo tổng số con hiện còn sống, tuổi của người mẹ, B thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 109  iểu 5: Số trẻ sinh trong 12 tháng trước điều tra chia theo giới tính của trẻ, thành thị/ B nông thôn, tuổi của người mẹ, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 127 Biểu 6: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo đơn vị hành chính 145  iểu 7: Bảng sống chia theo giới tính, thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội B và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 148 PHỤ LỤC 221 Phụ lục 1: Phân bổ phạm vi điều tra mẫu chi tiết chia theo thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội, tỉnh/thành phố và các quận/huyện 223 Phụ lục 2: Các khái niệm và định nghĩa của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 246 Phụ lục 3: Phiếu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 251 Phụ lục 4: Các ấn phẩm và sản phẩm điện tử dùng cho cung cấp kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 263 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT vii
  6. CÁC BIỂU PHÂN TÍCH Biểu 2.1: Tổng tỷ suất sinh (TFR), 1999-2009 10 Biểu 2.2: Tỷ trọng dân số nữ và tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi, 1999 và 2009 12 Biểu 2.3: Tỷ suất sinh thô, 1999-2009 15 Biểu 2.4: C  BR năm 1999 và 2009 chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của phụ nữ 15-49 tuổi năm 2009 16 Biểu 2.5: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo thành thị/nông thôn, 2001-2009 17 Biểu 2.6: TFR chia theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 18 Biểu 2.7: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế và tỷ lệ hộ nghèo của năm 2008 chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 2009 19 Biểu 2.8: Tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và trong độ tuổi có tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi cao trong tổng dân số chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 2009 21 Biểu 2.9: TFR, CBR chưa chuẩn hóa năm 2009 và CBR chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của dân số toàn quốc năm 2009 chia theo các vùng kinh tế - xã hội 22 Biểu 2.10: Tổng tỷ suất sinh của các tôn giáo, thành thị/nông thôn, 2009 25 Biểu 2.11: Tổng tỷ suất sinh chia theo dân tộc, 1989, 1999 và 2009 26 Biểu 2.12: Tổng tỷ suất sinh theo tình trạng hoạt động kinh tế và thành thị/nông thôn, 2009 29 Biểu 2.13: Tổng tỷ suất sinh chia theo tình trạng di cư và thành thị/nông thôn, 2009 30 Biểu 3.1: Tỷ suất chết của trẻ em dưới một tuổi chia theo thành thị/nông thôn, 1989-2009 33 Biểu 3.2: Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh chia theo giới tính, 1989-2009 37 Biểu 3.3: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 2009 39 Biểu 3.4: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo tôn giáo, 2009 44 Biểu 3.5: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo dân tộc, 2009 45 Biểu 3.6: Ước tính tỷ suất chết mẹ, nguy cơ tử vong mẹ chia theo các khu vực của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), 2008 50 viii MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  7. CÁC HÌNH PHÂN TÍCH Hình 2.1: Tỷ suất tái sinh sản nguyên, 1999-2009 11 Hình 2.2: Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR), 1999 và 2009 13 Hình 2.3: Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi chia theo thành thị và nông thôn, 1999 và 2009 14 Hình 2.4: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên chia theo trình độ học vấn, 2009 17 Hình 2.5: Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi chia theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 20 Hình 2.6: TFR và CBR chia theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 21 Hình 2.7: TFR chia theo trình độ học vấn và thành thị/nông thôn, 2009 28 Hình 3.1a: Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi của Việt Nam, 1989-2009 (nam) 35 Hình 3.1b: Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi của Việt Nam, 1989-2009 (nữ) 35 Hình 3.2: Tỷ suất chết thô, 1960-2009 36 Hình 3.3: Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của một số nước ASEAN, 1989-2009 38 Hình 3.4: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi và tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi chia theo trình độ học vấn của người mẹ, 2009 46 Hình 3.5: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi và tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi chia theo nghề nghiệp và khu vực kinh tế của người mẹ, 2009 47 Hình 3.6: Tỷ suất chết do bệnh tật chia theo giới tính và vùng kinh tế - xã hội, 2009 48 Hình 3.7: Tỷ suất chết do tai nạn giao thông chia theo giới tính và vùng kinh tế - xã hội, 2009 49 Bản đồ 2.1: TFR và thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh/thành phố 24 Bản đồ 3.1: CDR của các tỉnh/thành phố, 2009 41 Bản đồ 3.2: IMR của các tỉnh/thành phố, 2009 42 Bản đồ 3.3: Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của các tỉnh/thành phố, 2009 43 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT ix
  8. BẢN ĐỒ VIỆT NAM V1. Trung du và miền núi phía Bắc 02. Hà Giang 04. Cao Bằng 06. Bắc Kạn 08. Tuyên Quang 10. Lào Cai 11. Điện Biên 12. Lai Châu 14. Sơn La 15. Yên Bái 17. Hoà Bình 19. Thái Nguyên 20. Lạng Sơn 24. Bắc Giang 25. Phú Thọ V2. Đồng bằng sông Hồng 01. Hà Nội 22. Quảng Ninh 26. Vĩnh Phúc 27. Bắc Ninh 30. Hải Dương 31. Hải Phòng 33. Hưng Yên 34. Thái Bình 35. Hà Nam 36. Nam Định 37. Ninh Bình V3. Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 38. Thanh Hóa 40. Nghệ An 42. Hà Tĩnh 44. Quảng Bình 45. Quảng Trị 46. Thừa Thiên Huế 48. Đà Nẵng 49. Quảng Nam 51. Quảng Ngãi 52. Bình Định 54. Phú Yên 56. Khánh Hòa 58. Ninh Thuận 60. Bình Thuận V4. Tây Nguyên 62. Kon Tum 64. Gia Lai 66. Đắk Lắk 67. Đắk Nông 68. Lâm Đồng V5. Đông Nam Bộ 70. Bình Phước V6. ĐB sông Cửu Long 86. Vĩnh Long 93. Hậu Giang 72. Tây Ninh 80. Long An 87. Đồng Tháp 94. Sóc Trăng 74. Bình Dương 75. Đồng Nai 82. Tiền Giang 89. An Giang 95. Bạc Liêu 77. Bà Rịa-Vũng Tàu 83. Bến Tre 91. Kiên Giang 96. Cà Mau 79. Tp Hồ Chí Minh 84. Trà Vinh 92. Cần Thơ * Theo quy định của Nghị định 92/NĐ-CP ngày 7 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ, vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc được quy hoạch lại thành vùng mới có tên gọi là Trung du và miền núi phía Bắc; vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ được quy hoạch lại thành vùng mới có tên gọi Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; Quảng Ninh được chuyển từ vùng Đông Bắc về Đồng bằng sông Hồng; Ninh Thuận và Bình Thuận chuyển từ Đông Nam Bộ về Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. ** Trong các biểu số liệu các Vùng 1, Vùng 2, …, đến Vùng 6 được viết tắt tương ứng là V1, V2, …, V6. x MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  9. Chương 1: GIỚI THIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 1.1 Giới thiệu Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được thực hiện vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 theo Quyết định số 94/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 7 năm 2008. Kết quả sơ bộ của Tổng điều tra được công bố vào tháng 8 năm 2009. Tiếp sau đó kết quả điều tra mẫu được công bố vào tháng 12 năm 2009. Kết quả toàn bộ được phát hành vào tháng 7 năm 2010, tiếp sau đó là các báo cáo phân tích và chuyên khảo được soạn thảo và lần lượt được công bố. Trong Tổng điều tra năm 2009 có lồng ghép điều tra mẫu 15%, thu thập nhiều thông tin chi tiết, trong đó có có thông tin để ước lượng các số đo về mức độ sinh và chết của dân số Việt Nam. Kết quả của cuộc Tổng điều tra năm 2009 và các cuộc Tổng điều tra trước đó cho thấy mức sinh của nước ta tiếp tục giảm và đã đạt mức sinh thay thế. Mức độ chết (tử vong) của trẻ sơ sinh cũng giảm liên tục và tuổi thọ trung bình tính từ khi sinh tăng. 1.2 Mục đích nghiên cứu và nội dung Một số nét chính về mức độ sinh và mức độ chết thu thập được trong Tổng điều tra đã được tính toán và công bố1. Chuyên khảo này nhằm đưa ra bức tranh chi tiết hơn về mức độ sinh và mức độ chết của dân số Việt Nam trong những năm qua, sự thay đổi và khác biệt của các số đo nói trên theo các đặc trưng nhân khẩu học, đồng thời đưa ra các yếu tố có thể ảnh hưởng đến các số đo đó. Nội dung của chuyên khảo này gồm 4 chương, như sau: Chương 1: Giới thiệu tóm tắt về các phương pháp sử dụng để ước lượng các số đo về mức sinh và mức chết; Chương 2: Trình bày các ước lượng của các số đo về mức độ sinh, thay đổi và khác biệt của các số đo đó theo các đặc trưng nhân khẩu học; Chương 3: Trình bày các ước lượng của các số đo về mức độ chết, sự thay đổi và khác biệt của chúng theo các đặc trưng nhân khẩu học; Chương 4: Các khuyến nghị chính sách để tiếp túc giảm bền vững mức sinh, giảm mức chết trẻ em, tăng tuổi thọ nhằm tạo một cơ sở cơ bản quan trọng về dân số cho công cuộc phát triển bền vững 1 X  em: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, Các Kết quả Chủ yếu, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, Hà Nội, 6/2010. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 1
  10. 1.3 Nguồn số liệu Chuyên khảo này sử dụng số liệu về sinh và chết của điều tra mẫu 15% thu thập được trong Tổng điều tra 2009 và các phương pháp ước lượng gián tiếp để tính các số đo về mức độ sinh và chết, phản ánh cho thời kỳ 12 tháng trước thời điểm điều tra. Ngoài ra, số liệu đã được công bố của Tổng điều tra 1989 và 1999, và các số liệu, tài liệu liên quan của nước ta hoặc của các nước/khu vực khác cũng được dùng để so sánh đối chiếu. Các phương pháp ước lượng gián tiếp để tính các số đo về mức độ sinh và chết sử dụng trong chuyên khảo này được trình bày dưới đây: 1.4 Phương pháp ước lượng Do các dữ liệu về sinh và chết trong các cuộc điều tra mẫu, Tổng điều tra thường không cao do bị bỏ sót nên các nhà nhân khẩu học đã nghiên cứu xây dựng các kỹ thuật gián tiếp để ước lượng các chỉ tiêu phản ánh mức sinh và mức chết. Các kỹ thuật này cũng luôn luôn được làm mới và tin học hóa. Liên hợp quốc đưa ra khuyến nghị và cung cấp các kỹ thuật gián tiếp dưới dạng phần mềm. 1.4.1 Kỹ thuật gián tiếp ước lượng mức độ sinh Kỹ thuật ước lượng gián tiếp là ước lượng tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của phụ nữ trong tuổi sinh đẻ 15-49 từ số liệu về số con đã sinh tổng hợp theo tuổi người mẹ và mô hình của mức sinh theo tuổi của người mẹ, ghi nhận được trong 12 tháng trước điều tra. Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi thu thập được luôn thấp hơn (hoặc cao hơn) mức sinh thực bởi vì các sự kiện sinh thường bị bỏ sót (hoặc ghi trùng) trong điều tra. Nhà nhân khẩu học Brass2 đã xây dựng một phương pháp, thường gọi là phương pháp P/F, để đánh giá và chỉnh tỷ suất sinh đã ghi nhận được bằng cách so sánh các tỷ suất đã ghi nhận được với số liệu số con sinh trung bình tính cho nhóm 5 độ tuổi của phụ nữ. Phương pháp P/F giả thiết rằng mức sinh là không đổi trong thời kỳ trước đây, mô hình của tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi ghi chép được (ký hiệu là ASFR) là đúng, và mức sinh tích luỹ đối với nhóm phụ nữ trẻ theo số con đã sinh (CEB) là chính xác. Brass đơn giản cộng dồn và làm trơn số liệu ASFR ghi chép được dưới dạng số liệu số con sinh. Với giả thiết mức sinh không thay đổi, các số liệu đã được làm trơn (ký hiệu là nFx) là so sánh được với số con đã sinh ghi chép được (nCEBx). Tỷ lệ nCEBx/ nFx đối với nhóm tuổi trẻ cung cấp hệ số điều chỉnh chấp nhận được để điều chỉnh các tỷ suất sinh đã ghi nhận. Nhà nhân khẩu học Arriaga sau đó đã cải tiến phương pháp nói trên và mở rộng ra cho cả những trường hợp mức sinh đang thay đổi. Mô tả đầy đủ cách tiếp cận Brass và Arriaga về ước lượng tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi từ số liệu số con đã sinh ghi chép được và từ mô hình sinh theo tuổi trình bày trong công trình nghiên cứu của Arriaga. Cơ quan Tổng điều tra của Hoa Kỳ đã tin học hóa kỹ thuật này bằng một bảng tính excel có tên gọi là bảng tính PFRATIO trong bộ các bảng tính phân tích dân số3. 2 C  ẩm nang số 10: Các kỹ thuật gián tiếp về ước lượng nhân khẩu học, Nhà Xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội 1976. 3 E duardo E. Arriaga, Phân tích dân số với máy vi tính, Cơ quan Tổng điều tra Hoa Kỳ, tháng 11 năm 1994 (Population Analysis with Microcomputer, Bureau of the Census, November 1994). 2 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  11. Dựa vào hệ số điều chỉnh “k” chọn được, tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR), Tổng tỷ suất sinh (TFR) và Tỷ suất sinh thô (CBR) cũng được điều chỉnh một cách tương tự, cụ thể là: ASFRi* = k x ASFRi, i là các nhóm 5 độ tuổi của khoảng tuổi 15-49, TFR* = k x TFR, CBR* = k x CBR, trong đó, ASFRi, TFR, CBR là chỉ tiêu chưa điều chỉnh, còn ASFRi*, TFR* và CBR* là các các số đo đã được điều chỉnh. 1.4.2 Kỹ thuật gián tiếp ước lượng mức độ chết (i) Gián tiếp ước lượng tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi Nhà nhân khẩu học Brass đã chứng minh rằng xác suất chết trong khoảng thời gian từ khi sinh đến độ tuổi a (ký hiệu là q(a) có thể ước lượng theo công thức: q(a) = 5Mx. 5Dx, trong đó 5Dx là tỷ trọng trẻ em chết đối với phụ nữ nhóm tuổi (x,x+5) và 5Mx hệ số đặc trưng theo tuổi, gọi là hệ số nhân, nó phụ thuộc vào chỉ số mô hình tuổi của mức sinh. Tỷ trọng trẻ em chết đối với phụ nữ nhóm tuổi 15-19, 20-24, 25-29, ..., 45-49 được sử dụng để tính q(a) cho các giá trị tương ứng bằng 1, 2, 3, 5, 10, 15 và 20. Sau đó Sullivan4 chứng minh rằng kiểu quan hệ như thế cũng tồn tại khi số liệu được tính toán theo độ dài hôn nhân. Trong trường hợp này, độ dài hôn nhân 0-4 năm, 5-9 năm, ..., 30-34 năm tương ứng với q(a) đối với các độ tuổi tương ứng là 2, 3, 5, 10, 15, 20 và 25. Để tái hiện, phương trình hồi quy được xây dựng liên quan đến hệ số nhân 5Mx đối với các chỉ số của trật tự sinh. Có 9 tập riêng biệt phương trình hồi quy được ước lượng, 5 tập đầu cho từng mô hình Liên hợp quốc5 và 4 tập cuối cho từng mô hình của Coale và Demeny (hồi quy Trussell6). Thông qua tập thứ hai, các phương trình hồi quy cũng đã được xây dựng từ cùng một tập các biến độc lập, chúng ước lượng thời gian tương ứng với các giá trị q(a). Các biến độc lập mà chúng ước lượng giá trị q(a), cũng như thời gian tham chiếu, được tính toán từ số liệu đầu vào. Hơn nữa, đối với tỷ trọng trẻ em chết theo nhóm tuổi hoặc theo độ dài hôn nhân của phụ nữ, các biến cần được tính bằng tỷ lệ giữa số trẻ em sinh bình quân của phụ nữ ở nhóm tuổi đầu tiên hoặc nhóm độ dài hôn nhân đầu tiên và số liệu đó của nhóm tuổi thứ hai hoặc nhóm độ dài hôn nhân thứ hai, tỷ lệ giữa số trẻ em sinh bình quân của phụ nữ ở nhóm tuổi thứ hai hoặc nhóm độ dài hôn nhân thứ hai và số liệu đó của nhóm tuổi thứ ba hoặc nhóm độ dài hôn nhân thứ ba, và tuổi sinh con trung bình. Biến cuối cùng chỉ được sử dụng để tính toán dựa vào các mô hình của Liên hợp quốc; ước lượng gần đúng tuổi sinh con trung bình có thể được tính từ các trường hợp sinh trong 12 tháng trước điều tra và tuổi của người mẹ. Phương trình hồi quy được sử dụng để tính toán các ước lượng tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (1q0), xác suất chết giữa 1 và 5 tuổi (4q1), và tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh tương ứng với các giá trị q(a) trong từng mô hình bảng sống mẫu (đối với cả hai giới). Cách ước lượng này đã được Liên hợp quốc tin học hóa bằng phần mềm có tên là QFIVE để ước lượng 1q0, 4q1 và tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh (viết tắt là e0). 4 Sullivan, J. M. 1972. “Mô hình ước lượng xác suất chết trong thời gian từ khi sinh đến độ tuổi nào đó của trẻ em”, Nghiên cứu dân số, tập 26, số 1 (tháng 3 năm 1972), trang 77-99. 5 P  alloni, A và L. Heliman, 1985, “Ước lượng lại các tham số cấu trúc để ước lượng mức độ chết của các nước đang phát triển”, Bản tin dân số của Liên hợp quốc, số 18, trang 10-33. 6 C  ẩm nang số 10: Các kỹ thuật gián tiếp về ước lượng nhân khẩu học, Nhà Xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội 1976. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 3
  12. (ii) Ước lượng tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi thường được viết tắt là 5q0 và tính theo công thức sau: 5q0 = 1q0 + 4q1 – 1q0 × 4q1, trong đó: 1q0 là tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi; 4q1 là xác suất chết giữa 1 và 5 tuổi được ước lượng gián tiếp như ở đã trình bày ở trên bằng phần mềm QFIVE. (iii) Gián tiếp ước lượng mức độ sót của khai báo chết của toàn bộ dân số Ngoài kỹ thuật ước lượng gián tiếp tỷ suất chết của trẻ em, hai phương pháp cân bằng tăng trưởng chung (GGB) và thế hệ chết giả định (SEG) cũng đã được áp dụng kết hợp để đánh giá mức độ đầy đủ của thông tin về chết của toàn bộ dân số . Phương pháp cân bằng tăng trưởng chung: Năm 1975 nhà nhân khẩu học Brass đã đưa ra phương pháp GGB, thu được từ dân số ổn định được biểu thị bằng biểu thức quan hệ trực giác đối với mỗi một nhóm tuổi mở a+ của dân số đóng, tỷ lệ tham gia vào nhóm tuổi (b(a+)) bằng tỷ lệ tăng trưởng của nhóm (r(a+)) cộng với tỷ lệ ra khỏi nhóm tuổi (tỷ lệ chết) (d(a+)). Tất nhiên, điều tất yếu xảy ra đối với toàn bộ dân số đóng là tỷ lệ tăng trưởng bằng tỷ lệ sinh trừ tỷ lệ chết. Vì vậy, r(a+) = b(a+) – d(a+) hay b(a+) = r(a+) + d (a+) (1) Đối với dân số đóng, tỷ lệ tăng trưởng là hằng số đối với tất cả các nhóm tuổi, do đó tỷ lệ tham gia vào nhóm và tỷ lệ chết phải quan hệ tuyến tính với nhau. Nếu biểu thị N(a) và N(a+) tương ứng là số tham gia vào nhóm (tức là số sinh vào tuổi a) và dân số của nhóm tuổi a, r là tỷ lệ tăng trưởng của dân số ổn định, và D(a+) là số chết từ tuổi a trở lên, ta có: N(a)/N(a+) = r + (D(a)/N(a+)) (2) Nếu tỷ lệ tham gia vào nhóm được tính toán phân bố dân số chỉ sử dụng cách tiếp cận tương đối đơn giản, thí dụ N(a) bằng một phần năm của trung bình nhóm 5 độ tuổi nhỏ hơn và lớn hơn tuổi a, bất kỳ sai số phạm vi nào bất biến với tuổi phải được xoá bỏ, ngược lại, tỷ lệ chết, tính từ số chết theo tuổi và dân số theo tuổi, sẽ bị ảnh hưởng bởi tất cả khác biệt giữa dân số và số chết. Hệ số góc của đường thẳng giữa tỷ lệ tham gia vào nhóm tuổi đối và tỷ lệ ra khỏi nhóm tuổi sẽ ước lượng mức độ đầy đủ của số chết ghi nhận được và cung cấp hế số điều chỉnh số chết. N0(a)/N0(a+) = r + ((1/c).(D0(a+)/N0(a+))) (3) trong đó, chỉ số trên “0” dùng để biểu thị giá trị quan sát được, N0(a)/N0(a+) là tỷ lệ tham gia vào nhóm tuổi, ), D0(a+)/N0(a+) là tỷ lệ chết quan sát được, r là tỷ lệ tăng trưởng của dân số ổn định và c là mức độ đầy đủ của số chết ghi nhận được đối với dân số ghi nhận được (giả thiết rằng là hằng số đối với tuổi). Năm 1987, các nhà nhân khẩu học đã mở rộng phương pháp đơn giản này cho dân số không ổn định với biểu thức sau: N0(a)/N0(a+) – r0(a+) = k + ((1/c).(D0(a+)/N0(a+))) (4) trong đó, r0(a+) là tỷ lệ tăng trưởng quan sát được của dân số từ tuổi a trở lên, và k là sai số trong tỷ lệ tăng trưởng (giả thiết rằng là hằng số đối với tuổi). 4 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  13. Phương pháp GGB yêu cầu 3 giả thiết chính: i). Dân số đóng; ii). Dân số và số chết thay đổi theo thời gian, nhưng cùng một nguồn; và iii). Việc ghi chép tuổi của dân số và người chết là chính xác. Phương pháp thế hệ chết giả định: Phương pháp SEG được hai nhà nhân khẩu học Bennett và Horiuchi đưa ra vào năm 1984 dựa vào đề xuất của Vicent (1951) rằng trong dân số đóng với đăng ký đầy đủ số chết, dân số độ tuổi a vào thời điểm t có thể được ước lượng bằng cách cộng tích luỹ số chết đối với các thế hệ sau thời điểm t cho đến khi thế hệ đó chết hết. Điều này tương đương với quan hệ của bảng sống rằng (5) Vì vậy, đối với dân số ổn định, số chết cả thời kỳ từ độ tuổi a trở đi tương đương với dân số vào đúng độ tuổi a. Bennett và Horiuchi đã phát triển phương pháp này cho dân số đóng không ổn định bằng cách sử dụng tỷ lệ tăng trưởng theo độ tuổi. Dân số độ tuổi a có thể ước lượng từ số chết thời kỳ của tất cả tuổi x lớn hơn a bằng cách cộng dồn hàm mũ của các tỷ lệ chết đặc trưng theo tuổi từ a đến x cho phép biết được lịch sử nhân khẩu học của dân số: (6) Tỷ số giữa dân số độ tuổi a được ước lượng theo cách này từ số chết quan sát được và dân số độ tuổi a cho phép ước lượng mức độ đầy đủ của số chết ghi nhận được (giả thiết là không đổi đối với tất cả các độ tuổi) trong điều tra: (7) Trong đó č (a) là ước lượng số chết lớn hơn tuổi a của dân số và Ň(a) là dân số độ tuổi a ước lượng được thu được từ số chết và tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn độ tuổi a. Trong hình thức cơ bản này, phương pháp SEG thêm vào các giả thiết bổ sung – dân số thay đổi theo thời gian – đối với 3 giả thiết của phương pháp GGB được đề cập ở trên. Bennett và Horiuchi cũng gợi ý sử dụng kết hợp phương pháp SEG và GGB: đầu tiên ước lượng sự thay đổi phạm vi điều tra bằng cách sử dụng phương pháp GGB, sau đó điều chỉnh số liệu tổng điều tra theo sự thay đổi phạm vi đã ước lượng ở trên, cuối cùng là áp dụng phương pháp SEG; người ta gọi kiểu làm này cách tiếp cận “GGB–SEG kết hợp”. Cách tiếp cận này đã được thể hiện dưới dạng một bảng tính có thông tin đầu vào là dân số vào một thời điểm và số người chết trong 12 tháng trước thời điểm đó chia theo độ tuổi. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 5
  14. 1.5 Hạn chế Một số hạn chế của nghiên cứu về mức độ sinh và mức độ chết trong chuyên khảo này bao gồm: Thứ nhất, do các chỉ tiêu về mức độ sinh và mức độ chết trong tài liệu này được ước lượng gián tiếp. Những chỉ tiêu này không phải được tính toán trực tiếp từ số liệu vi mô của điều tra mẫu, vì vậy không thể tình được sai số mẫu và khoảng tin cậy. Thứ hai, thiết kế mẫu của Tổng điều tra dân số 1989, 1999 và 2009 là nhằm cung cấp số liệu đại diện cho cấp tỉnh. Do vậy, những phân tổ nhỏ hơn, chi tiết hơn chỉ để nhằm cung cấp xu hướng thay đổi của chỉ tiêu đó, chứ không đảm bảo đó là giá trị thực. Thứ ba, các kỹ thuật ước lượng gián tiếp luôn yêu cầu một số giả thiết, ví dụ như dân số đóng, mức sinh hoặc mức chết không đổi, tính đầy đủ của số liệu gốc… Vì vậy, tính chính xác của kết quả thu được từ kỹ thuật ước lượng gián tiếp phụ thuộc vào các giả thiết mà kỹ thuật đó yêu cầu có được đảm bảo hay không. Ví dụ, liên quan đến giả thiết dân số đóng (dân số không có biến động cơ học - di chuyển), thì một kỹ thuật ước lượng gián tiếp có thể cung cấp một kết quả rất tốt cho cả nước, nhưng đưa ra kết quả hạn chế hơn cho cấp đơn vị hành chính cấp dưới (tỉnh/thành phố); thậm chí trong cùng cấp tỉnh/thành phố, kết quả ước lượng của đơn vị này cũng có thể khả dĩ hơn so với kết quả của đơn vị khác. Điều này là do mức độ biến động cơ học của các đơn vị là khác nhau, trong phạm vi cả nước biến động cơ học không có hoặc ở mức độ không đáng kể, còn biến động cơ học của tỉnh/thành phố lớn hơn của cả nước và khác nhau giữa các tỉnh/thành phố. Với những lý do trên, nên khi sử dụng số liệu trình bày trong tài liệu này cần có có cân nhắc thận trọng đối với các chỉ tiêu phân tổ chi tiết. 6 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  15. Chương 2: MỨC SINH VÀ MÔ HÌNH SINH HIỆN TẠI Sinh, chết và di cư là ba nhân tố chủ yếu tác động đến quá trình tăng trưởng dân số. Trong các yếu tố đó, mức sinh giữ vai trò quan trọng nhất vì nó là yếu tố chính cho sự thay thế sinh vật học và duy trì sự phát triển của nhân loại. Để đảm bảo quá trình phát triển lâu dài, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng tới sự phát triển dân số phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Việc phân tích sâu về mức độ, xu hướng và những khác biệt về mức sinh của dân số theo các đặc trưng kinh tế - xã hội khác nhau là công cụ giúp các nhà quản lý, nghiên cứu, lập kế hoạch, người dùng tin trong và ngoài nước đánh giá các thành tựu, hạn chế và yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh, làm căn cứ để xây dựng các chương trình, chiến lược và chính sách dân số và xã hội khác của quốc gia. Dựa vào kết quả thu được từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 và các cuộc điều tra biến động dân số hàng năm từ năm 2001-2008, chương này trao đổi về thực trạng và xu hướng biến đổi mức sinh của Việt Nam, đưa ra một số thông tin và khuyến nghị liên quan đến dân số cho công tác lập kế hoạch và xây dựng chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ tới. 2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức sinh Mức sinh phản ánh mức độ sinh đẻ thực tế của một tổng thể dân cư trong thời kỳ nghiên cứu. Nó không những phụ thuộc vào khả năng sinh sản của mỗi người phụ nữ, mà còn phụ thuộc vào các nhân tố dân số, kinh tế và xã hội khác như: mức độ kết hôn, tuổi kết hôn, thời gian sống trong hôn nhân, số con mong muốn của các cặp vợ chồng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, địa vị của người phụ nữ, chính sách của nhà nước và hiệu quả sử dụng các biện pháp tránh thai... Mức sinh có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu: Tỷ suất sinh thô (Crude Birth Rate - CBR); tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (Age Specifiec Fertility Rate – ASFR); tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate – TFR) và tỷ suất tái sinh sản nguyên (Gross Reproduction Rate – GRR). Tỷ suất sinh thô (CBR) biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong 12 tháng trước thời điểm điều tra, tính bình quân trên 1.000 người dân7. Gọi là “thô” bởi vì: (1) tỷ suất này tính trên toàn bộ dân số (tức là bao gồm cả những người có khả năng và không có khả năng sinh con); (2) tỷ suất này không tính đến phân bố cơ cấu dân số chia theo độ tuổi, nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến số trẻ sinh ra trong năm. Vì thế, khó có thể sử dụng CBR để so sánh và đánh giá sự khác biệt về sinh của dân số qua các thời kỳ hoặc giữa các dân số khác nhau trong cùng một thời kỳ mà không sử dụng các kỹ thuật chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của dân số. Mặc dù vậy, CBR vẫn được sử dụng vì đây là chỉ tiêu hữu hiệu phản ánh mức tăng hoặc giảm dân số trong một thời kỳ nhất định, hơn nữa việc tính toán các chỉ tiêu này không quá phức tạp với hai thông số: số trẻ sinh ra trong năm trước điều tra và dân số trung bình của thời kỳ đó. 7 K  hái niệm sinh hay sinh sống được hiểu là đứa trẻ khi được sinh ra có ít nhất một trong các biểu hiện còn sống, như: khóc, tim còn đập, cuống nhau rung động, v.v… Những trường hợp chết bào thai, chết lưu (chết từ trong bụng mẹ) không được coi là sinh. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 7
  16. CBR phụ thuộc nhiều vào cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi. Trong cùng một thời kỳ tham chiếu, hai nhóm dân số có cùng quy mô và mức độ sinh theo độ tuổi của phụ nữ như nhau, dân số nào có tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao hơn, dân số đó sẽ có số trẻ được sinh ra lớn hơn. Vì vậy, để đánh giá mức sinh được chính xác hơn, người ta sử dụng: tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (Age Specifiec Fertility Rate - ASFR). Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) cho biết bình quân cứ 1000 phụ nữ trong một độ tuổi (hoặc một nhóm tuổi) nhất định có bao nhiêu trẻ em sinh sống trong năm. ASFR là công cụ thích hợp để nghiên cứu mô hình sinh của dân số và so sánh xu hướng sinh của dân số ở các độ tuổi và nhóm tuổi khác nhau, nhưng nó lại quá chi tiết nên rất khó sử dụng để so sánh mức sinh tổng quát của toàn bộ dân số. Để đo lường mức sinh tổng quát, các nhà nhân khẩu học đã kết nối các tỷ suất sinh đặc trưng theo từng độ tuổi, nhóm tuổi riêng biệt thành một chỉ số tổng hợp gọi là Tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate - TFR). Tổng tỷ suất sinh là số con sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong cả cuộc đời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra của những phụ nữ 15-49 tuổi. Mặc dù, TFR là chỉ tiêu tổng hợp của mức sinh nhưng chưa đủ để xác định được khả năng tái sinh sản (sinh thay thế) của dân số. Vì TFR cho biết số con trung bình (cả con trai và con gái) mà một người phụ nữ có thể có, trong khi chỉ có những người con gái mới thực sự thay thế những người mẹ của họ làm nhiệm vụ sinh con trong tương lai. Vì vậy, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất tái sinh sản nguyên (Gross Reproduction Rate - GRR) và tỷ suất tái sinh sản tịnh (Net Reproduction Rate - NRR) để đánh giá khả năng sinh thay thế của dân số8. GRR là số con gái sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong suốt cả cuộc đời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra. Số con gái đã sinh GRR = x TFR Tổng số con đã sinh NRR là số con gái sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong suốt cả cuộc đời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi và trật tự chết như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra. NRR giống như GRR, nhưng luôn thấp hơn GRR, vì có một số phụ nữ không sống được đến hết tuổi có khả năng sinh đẻ. Số con gái đã sinh NRR = x ∑ASFRx*5Lx/100000 Tổng số con đã sinh Trong đó: 5Lx/100000 là hệ số sống của phụ nữ từ khi sinh đến độ tuổi x theo bảng sống. NRR cho biết khả năng tái sinh sản (mức sinh thay thế) của dân số: 8 Population Reference Bureau. Population handbook. 5th Edition. Chương 3. Trang 17. 8 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  17. - Nếu NRR = 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữ sinh ra sẽ vừa đủ để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai. - Nếu NRR > 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữ sinh ra sẽ vượt quá số cần thiết để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai. - Nếu NRR < 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữ sinh ra sẽ không đủ để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai9. Nếu giả thiết rằng tất cả số trẻ em gái sinh ra đều có thể sống được qua thời kỳ có khả năng sinh sản thì có thể sử dụng GRR để đánh giá mức sinh thay thế của một tập hợp dân số. 2.2 Sự thay đổi mức sinh của Việt Nam thời kỳ 1999-2009 2.2.1 Sự thay đổi tổng tỷ suất sinh Biểu 2.1 trình bày tổng tỷ suất sinh trong 10 năm từ năm 1999 đến năm 2009 của toàn quốc, thành thị và nông thôn. Số liệu cho thấy, trong những năm đầu của thập kỷ qua, tổng tỷ suất sinh có tăng và giảm với biên độ dao động nhỏ (dưới 6%) nhưng bắt đầu từ năm 2006 đến nay, xu thế giảm sinh là khá vững chắc và đã đạt dưới mức sinh thay thế. Đây được coi là thành công quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đầu tiên của chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình 2001-201010. Thành công này không những giúp Việt Nam giảm được tốc độ gia tăng dân số nhanh mà còn là cơ sở để tạo ra một bước chuyển đổi có tính căn bản trong lĩnh vực sinh sản, chuyển từ sinh sản tự nhiên, với mức sinh rất cao sang sinh đẻ tự chủ hay còn gọi là “sinh đẻ có kế hoạch”, với mức sinh hợp lý, tiến tới đạt mức sinh duy trì trạng thái cân bằng của dân số. Số liệu trong Biểu 2.1 cho thấy, có sự khác biệt về mức sinh giữa thành thị và nông thôn. Năm 2009, bình quân mỗi phụ nữ nông thôn có nhiều hơn 0,3 người con so với phụ nữ thành thị. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do tâm lý thích đông con nhiều cháu vẫn còn khá phổ biến ở một số khu vực nông thôn và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình ở nông thôn, đặc biệt vùng sâu, vùng xa còn kém hơn ở thành thị, khiến một số phụ nữ vẫn còn gặp khó khăn trong việc hạn chế tình trạng mang thai và sinh con ngoài ý muốn. Ngoài ra, tỷ lệ chết sơ sinh và chết trẻ em ở thành thị thấp hơn ở nông thôn, cũng tác động làm giảm nhu cầu sinh thay thế ở khu vực này. 9 John R, Weeks, Population - An Introduction to Concepts and Issues, 7th edition, chương 5, trang 187. 10 M  ục tiêu 1 của Chiến lược dân số 2001-2010: “Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô, cơ cấu dân số và phân bổ dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội vào năm 2010” MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 9
  18. BIỂU 2.1: TỔNG TỶ SUẤT SINH (TFR), 1999-2009 Đơn vị tính: Con/phụ nữ Tổng tỷ suất sinh (TFR) Thời kỳ tham chiếu Toàn quốc Thành thị Nông thôn 1/4/1998-31/3/1999 2,33 1,67 2,57 1/4/2000-31/3/2001 2,25 1,86 2,38 1/4/2001-31/3/2002 2,28 1,93 2,39 1/4/2002-31/3/2003 2,12 1,70 2,30 1/4/2003-31/3/2004 2,23 1,87 2,38 1/4/2004-31/3/2005 2,11 1,73 2,28 1/4/2005-31/3/2006 2,09 1,72 2,25 1/4/2006-31/3/2007 2,07 1,70 2,22 1/4/2007-31/3/2008 2,08 1,83 2,22 1/4/2008-31/3/2009 2,03 1,81 2,14 Số liệu cũng cho thấy, 10 năm qua tổng tỷ suất sinh của khu vực nông thôn giảm khá ngoạn mục, từ 2,57 con/phụ nữ xuống còn 2,14 con/phụ nữ, gần đạt mức sinh thay thế. Trong khi con số đó của khu vực thành thị gần như thay đổi không đáng kể xung quanh mức 1,80 con/phụ nữ. Trong 10 năm qua, chất lượng cuộc sống được nâng cao và cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản được cải thiện. Việc cung cấp thông tin về hiệu quả của lợi ích sinh ít con đối với phụ nữ ở khu vực nông thôn được coi là một trong những nguyên nhân cơ bản góp phần thu hẹp khoảng cách khác biệt về mức sinh giữa thành thị và nông thôn. Điều này một lần nữa khẳng định sự thành công của chương trình dân số- kế hoạch hóa gia đình và rất nhiều chương trình, chiến dịch chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là sức khỏe sinh sản ở khu vực nông thôn trong những năm qua. Dẫu vậy, mức sinh ở nông thôn vẫn cao hơn khá nhiều so với ở thành thị, nên trong thời gian tới vẫn cần nhiều nỗ lực trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình kết hợp với việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hướng về khu vực nông thôn nhiều hơn nữa để giảm bớt khoảng cách sinh giữa hai khu vực, nhằm có được thành công hơn nữa trong công cuộc phát triển nông thôn nói chung, và trong công tác giảm sinh và chăm sóc sức khỏe nói riêng. 2.2.2 Sự thay đổi tỷ suất tái sinh sản nguyên Hình 2.1 mô tả sự thay đổi tỷ suất tái sinh sản nguyên (GRR) của Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2009. Đồ thị cho thấy, cùng với quá trình giảm sinh và tăng tỷ số giới tính khi sinh, tỷ suất tái 10 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2