intTypePromotion=1

Y học cổ truyền: Chương 8 - Các bệnh về cơ xương khớp - Nguyễn Khắc Thái Bảo

Chia sẻ: Bảo Nguyễn Khắc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:79

0
413
lượt xem
112
download

Y học cổ truyền: Chương 8 - Các bệnh về cơ xương khớp - Nguyễn Khắc Thái Bảo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu "Y học cổ truyền: Chương 8 - Các bệnh về cơ xương khớp" trình bày các bài thuốc, kinh nghiệm dân gian chữa trị các bệnh liên quan đến xương khớp. Các bệnh được đề cập trong tài liệu như: Bài thuốc tri đau nhức khớp xương (gout), một số bệnh về khớp xương, bài thuốc chữa phong thấp, cây thầy thím trị viêm cơ thấp khớp, viêm khớp dạng thấp, toa thuốc gia truyền trị bệnh tê bại toàn thân, bán thân đau nhức cột xương sống thấp khớp, nhức mỏi, đông y trị bệnh viêm khớp, tài liệu về bệnh khớp của lương y Huỳnh Minh, rượu nhàu trị viêm khớp nhức mỏi, bài thuốc dân gian chữa phong thấp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Y học cổ truyền: Chương 8 - Các bệnh về cơ xương khớp - Nguyễn Khắc Thái Bảo

  1. Biên soạn : Nguyễn Khắc Bảo Y HỌC CỔ TRUYỀN CHƯƠNG 8 CÁC BỆNH VỀ CƠ XƯƠNG KHỚP Khởi biên : TP.HCM THÁNG 10-2012 1
  2. CHƯƠNG 8 CƠ XƯƠNG KHỚP - Phương tây có câu “người Việt Nam chết trên đống thuốc”. Nền y học cổ truyền dân tộc có nhiều bài thuốc rất huyền diệu, tuy nhiên nhưng phương thuốc hay này đang bị chìm dần vào quên lãng và dần dần mất đi niềm tin từ chúng ta. - Người nghèo ở Việt Nam có rất ích điều kiện chăm sóc bởi nền y học hiện đại, một khi họ mắc các bệnh hiểm nghèo thì chỉ có thể chờ chết, hoặc nếu có điều kiện thì đôi khi tây y cũng bó tay với nhiều trường hợp. - Với mục đích sưu tầm các bài thuốc hay dân gian để điều trị hầu hết các loại bệnh, cũng như cung cấp những bài thuốc cổ truyền hay cho những ai thật sự đang rất cần và tin tưởng vào nó, một cứu cánh cho người nghèo mắc bệnh... Người dùng trước khi sự dụng các bài thuốc này cần nghiên cứu thật kỉ các thông tin trong sách này, những vấn đề còn thắc mắc thì nên hỏi thầy thuốc đông y để tránh những việc đáng tiếc. Mọi thắc mắc xin liên lạc tác giả qua. Email : nkbao80@gmail.com Lời tác giả 2
  3. MỤC LỤC CHƯƠNG 8 ...................................................................................................................................2 VẤN ĐỀ 1: BÀI THUỐC TRI ÐAU NHỨC KHỚP XƯƠNG (GOUT) ..................................4 1. Bài thuốc trị Gout hiệu quả.....................................................................................................4 2. Theo Đông y ...........................................................................................................................5 3. Đông y chữa bệnh gout (Thống phong)..................................................................................7 4 Theo lương y Phạm Như Tá.....................................................................................................8 5. Dựa theo các dấu hiệu bệnh chứng và nguyên......................................................................11 6. Bệnh Gút là bệnh thấp khớp do rối loạn chuyển hoá Purin ở người.....................................12 VẤN ĐỀ 2 : MỘT SỐ BỆNH VỀ KHỚP XƯƠNG ................................................................19 VẤN ĐỀ 3 : BÀI THUỐC CHỮA PHONG THẤP .................................................................25 VẤN ĐỀ 4 : CÂY THẦY THÍM TRỊ VIÊM CƠ THẤP KHỚP............................................30 1.Tại sao lại có tên cây thầy thím………………………………………………………………30 2. Tác dụng cây thầy thím…………………...…………………………………………………30 3. Tên khoa học của cây thầy thím………………………………………….………………….31 4. Trị đau nhức do phong thấp, viêm khớp, viêm cơ, gai cột sống…………………………….31 VẤN ĐỀ 5 : VIÊM KHỚP DẠNG THẤP ................................................................................33 VẤN ĐỀ 6 : TOA THUốC GIA TRUYềN TRị BệNH TÊ BạI TOÀN THÂN,BÁN THÂN ĐAU NHứC CộT XƯƠNG SốNG THấP KHớP, NHứC MỏI .................................................34 VẤN ĐỀ 7 : ĐÔNG Y TRỊ BỆNH VIÊM KHỚP ....................................................................36 VẤN ĐỀ 8 : TÀI LIỆU VỀ BỆNH KHỚP CỦA LƯƠNG Y HUỲNH MINH......................38 VẤN ĐỀ 9 : RƯỢU NHÀU TRỊ VIÊM KHỚP NHỨC MỎI.................................................50 VẤN ĐỀ 10 : BÀI THUỐC DÂN GIAN CHỮA PHONG THẤP ..........................................51 Tác giả BS Hoàng xuân đại……………………………………………………………………51 Một tài liệu khác………………………………………………………………………………53 VẤN ĐỀ 11 : 20 BÀI THUỐC NAM TRỊ ĐAU LƯNG ..........................................................54 VẤN ĐỀ 12 : BÀI THUỐC TRỊ KHƯỚP TỪ ĐINH LĂNG .................................................56 VẤN ĐỀ 13 : NHỨC MỎI KHỚP.............................................................................................57 VẤN ĐỀ 14 : THOÁI HÓA KHỚP-GẠO LỨC RANG CÔNG HIỆU..................................58 VẤN ĐỀ 15 : CHỮA ĐAU LƯNG MỎI GỐI TÊ THẤP BẰNG CÂY ĐINH LĂNG .........68 VẤN ĐỀ 16 : KHẢ NĂNG CHỮA LÀNH VẾT THƯƠNG KỲ DIỆU CỦA RAU BẮP CẢI VÀ VÔ SỐ BỆNH KHÁC ..........................................................................................................70 VẤN ĐỀ 17 : BÀI THUỐC BÍ TRUYỀN CHỮA ĐAU LƯNG, VAI ....................................74 VẤN ĐỀ 18 : BÀI THUỐC TỪ CÂY MƯỚP GAI .................................................................74 3
  4. CHƯƠNG 8 : CƠ XƯƠNG KHỚP VẤN ĐỀ 1: BÀI THUỐC TRI ÐAU NHỨC KHỚP XƯƠNG (GOUT) 1. Bài thuốc trị Gout hiệu quả Hàng năm cứ mỗi độ giao mùa đầu gối của tôi lại sưng lên và đỏ như ca chua sắp chín. Tôi (một CSVSQ/TVBQGVN) không đi đứng gì được và thường phải vào bệnh viện. Tôi đã tốn khá nhiều tiền cho Tây y và Ðông y, nhưng bệnh tình vẫn không hết. Cơ may tôi gặp được Cháu nội của một Ngự y thời Nhà Nguyễn sang Hoa kỳ du lịch. Vi này cũng là một Ðông y cho tôi Toa thuốc sau đây và tôi đã uống khoảng 30 thang (mỗi thang bổ ở ngoài tiện thuốc bắc chỉ độ $2.50) thì bệnh đau nhức khớp xương (GOUT) của tôi đã lành hẳn, ăn uống không còn kiên cử gì nữa. Tôi xin chia xẽ với các Bạn trong Gia đình Võ Bị mình Bài Thuốc này . Toa thuốc này Bạn Trần Tóan (TX) trong dịp dự Ðại Hội Khóa 18 năm 2008 tại San Jose, nhờ phổ biến rộng rãi trên Diễn Ðàn Khóa 18 : BÀI THUỐC TRỊ ÐAU NHỨC KHỚP XƯƠNG (GOUT) - BẠCH LINH-------- --------1 Lạng - BẠCH TRỤC----------- ----5 Chỉ (Sao Vàng Khử Thổ) - Ý DĨ----------- --------- ----6 Chỉ (Sao Vàng Khử Thổ) - NHÂN SÂM----------- -----1 Chỉ Rưỡi - BẠCH GIỚI TỬ------------ 3 Chỉ - QUẾ CHI--------- --------- 1 Chỉ Mỗi Thang Thuốc đổ vào 3 chén rưỡi Nước nấu còn lại Nữa chén, uống xong , nấu lại lần thứ hai liều lượng Nước như trên, uống mỗi ngày 2 lần. Trần Tòan 4
  5. 2. Theo Đông y, nguyên nhân chủ yếu gây bệnh gút là khí huyết suy yếu khiến ngoại tà xâm nhập cơ thể, gây nghẽn tắc kinh lạc. Hậu quả là khí huyết rối loạn, tà độc tích tụ ở các khớp, gây đau nhức, vận động khó khăn. Gút (thống phong) là một dạng bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa purine gây nên. Biểu hiện chủ yếu là: khớp xương sưng tấy, nóng đỏ, đau nhức kịch liệt, tái phát nhiều lần. Bệnh lâu ngày có thể dẫn đến dị dạng khớp, nổi u cục quanh khớp và dưới da, sỏi thận, suy thận... Trong Đông y, thống phong là một loại bệnh Tý (chỉ trạng thái kinh mạch, xương khớp bị nghẽn tắc, đau nhức, vận động khó khăn). Đau xuất hiện ở khắp các khớp xương, đau ghê gớm như bị hổ cắn, nên còn gọi là chứng “Bạch hổ lịch tiết phong” (“lịch” là khắp cả, “tiết” chỉ khớp xương). Nếu không chữa trị kịp thời, bệnh tà sẽ thâm nhập vào sâu bên trong, gây tổn thương các tạng phủ, chủ yếu là hai tạng can, thận. Bệnh kéo dài lâu ngày khiến công năng của các tạng phủ suy yếu dần, khí huyết bị ứ trệ hóa thành cục “đàm” - đọng lại quanh các khớp dưới dạng những khối u. Đông y gọi những khối u đó là “thống phong thạch” (đá thống phong). Từ xưa, các thầy thuốc Đông y đã nhận thấy thống phong có những biểu hiện bệnh lý rất phức tạp, không thể chỉ dùng một phương thuốc cố định mà chữa khỏi. Các bài thuốc gia truyền, kinh nghiệm dân gian tuy có thể mang lại một số kết quả trị liệu nhất định nhưng ít khi chữa khỏi hoàn toàn, tận gốc. Những người không hợp thuốc còn gặp tác dụng phụ ngoài mong muốn. Vì vậy, cần căn cứ vào các chứng trạng cụ thể để phân loại bệnh và sử dụng các phép trị, bài thuốc tương ứng: Thể thấp nhiệt nghẽn tắc kinh mạch Khớp xương đột nhiên bị sưng tấy, nóng đỏ, xung huyết, khó cử động, đau kịch liệt - gân như bị xé, xương như muốn nứt ra. Bệnh thường phát nặng vào ban đêm, kèm theo sốt cao, đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn, miệng khát, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô. Dùng phép chữa thanh nhiệt trừ thấp, hoạt huyết thông lạc: Phòng phong, hạnh nhân, liên kiều, tàm sa, xích tiểu đậu, khương hoàng, hải đồng bì, sơn chi mỗi thứ 10 g, ý dĩ nhân 30 g, hoạt thạch 15 g, bán hạ 6 g. Sắc kỹ với nước, chia 3 lần uống trong ngày. Nếu khớp xương nóng đỏ nhiều, thêm nhẫn đông đằng (dây kim ngân) 30 g, hổ trượng căn (cốt khí củ) 10 g. Nếu đau nhiều, thêm uy linh tiên 15 g, nhũ hương 6 g, cùng sắc uống. Thể huyết ứ đàm trở 5
  6. Bệnh kéo dài nhiều ngày, hay tái phát, khớp xương bị biến dạng và cứng lại, vùng da quanh khớp xương đen sạm, đau kịch liệt ở một số vị trí cố định, chân tay tê dại, khó co duỗi. Khi bệnh phát nặng, khớp xương có thể bị sưng, đau, nóng, đỏ, người phát sốt, khát nước, tiểu tiện sẻn đỏ; hoặc khớp xương lạnh ngắt, gặp thời tiết lạnh đau càng kịch liệt, được chườm nóng thì thấy dễ chịu. Chất lưỡi đỏ tía, có những điểm ứ huyết. Dùng phép chữa hoạt huyết hóa ứ, hóa đàm thông lạc: Đào nhân, hồng hoa, khương hoạt, tần cửu, đương quy mỗi thứ 12 g, địa long, ngưu tất mỗi thứ 20 g, ngũ linh chi, xuyên khung, mộc dược, hương phụ mỗi thứ 9 g, cam thảo 6 g. Sắc kỹ với nước, chia 3 lần uống trong ngày. Nếu quanh các khớp còn nổi lên những cục “thống phong thạch”, cần thêm bạch giới tử 10 g, bạch cương tàm 10 g, cùng sắc uống. Thể can thận suy hư Bệnh kéo dài lâu ngày khiến cơ thể ngày càng tiều tụy, hai tạng can và thận bị hư tổn nặng. Sức đề kháng của cơ thể giảm khiến ngoại tà dễ xâm nhập vào cơ thể, dẫn đến những cơn đau lúc nặng lúc nhẹ, các khớp xương thỉnh thoảng lại sưng đau, nóng đỏ. Dạng bệnh này còn kèm theo các triệu chứng như: toàn thân mệt mỏi, kém ăn, sốt nhẹ về chiều, lưng đau gối mềm, phiền táo, tai ù, đầu choáng, mắt hoa, miệng háo, ra mồ hôi trộm khi nằm ngủ, đại tiện phân lỏng hoặc tiêu chảy vào lúc sáng sớm (ngũ canh tả), tiểu tiện nhiều lần, chất lưỡi đỏ ít rêu. Dùng phép trị bổ ích can thận, trừ thấp, thông kinh lạc: Phòng phong, đương quy, địa hoàng, phục linh, tang ký sinh mỗi thứ 15 g, tần cửu, xuyên khung, bạch thược, đỗ trọng, ngưu tất mỗi thứ 10 g, tế tân 3 g, nhục quế 7 g, nhân sâm 12 g, cam thảo 6 g. Sắc kỹ với nước, chia 3 lần uống trong ngày. Thêm phụ tử 8 g, can khương 8 g nếu người bệnh thiên về dương hư, với những biểu hiện như sợ lạnh, da nhợt nhạt, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng, lưỡi trắng nhợt. Phụ tử là vị thuốc có độ độc rất cao, cần được bào chế đúng phương pháp mới sử dụng được. Vì vậy, chỉ mua nó ở những cửa hàng Đông Nam dược có uy tín. Mặt khác, phải cho phụ tử vào sắc trước - nấu sôi với nước ít nhất 1,5 giờ để độc tố có đủ thời gian phân giải bớt, sau đó mới cho các vị thuốc khác vào cùng sắc uống. Cần bỏ nhục quế, thêm kỷ tử 15 g, hà thủ ô chế 15 g để tư bổ can thận nếu có triệu chứng thiên về âm hư, với những biểu hiện như hai gò má ửng đỏ từng cơn, sốt cơn về chiều, phiền táo, ra mồ hôi trộm khi nằm ngủ, đầu mặt choáng váng, tai ù, miệng khô khát, chất lưỡi đỏ ít rêu. 6
  7. Nếu lưng gối đau mỏi nhiều, thêm hoàng kỳ 30 g, tục đoạn 15 g để bổ thận, ích khí. Nếu chân tay tê dại nhiều, cần thêm kê huyết đằng 30 g để dưỡng huyết, thông lạc. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống) 3. Đông y chữa bệnh gout (Thống phong) Thống phong là bệnh xảy ra đột ngột, diễn ra nhanh, sưng hoặc đau hoặc sưng đau dữ dội, thường cố định ở một vài điểm tại cốt tiết, xương tủy. Bệnh thường phát sinh ở tứ chi làm bệnh nhân khó vận động, bệnh gặp ở nam giới nhiều, ít gặp ở nữ giới. Y học hiện đại gọi là bệnh gút. Nếu đau nhiều, đốt xương sưng đau thì gọi là: “Lịch tiết phong” hoặc “Thống phong lịch tiết”. Nếu đau dữ dội như bị cắn xé, nhức nhối, đau nhiều về đêm gọi là: “Bạch hổ thống phong”. Nguyên nhân chủ yếu do thận âm và thận dương đều bị khuy tổn, cốt tủy không được nuôi dưỡng đầy đủ, công năng chủ thủy cũng bị ảnh hưởng, khả năng vận hành, điều tiết thủy dịch trong cơ thể bị suy giảm, đồng thời công năng khí hóa của thận và bàng quang không được thực hiện, dịch độc không được bài tiết ứ đọng lại trong cơ thể khi gặp ngoại tà mà gây ra bệnh. Thường gặp hai loại chứng trạng phối hợp sau: Nguyên nhân do phần âm, phần huyết hư suy, huyết nhiệt, cốt tiết chứa thủy ẩm khi thời tiết thay đổi, ẩm thấp nhiều làm cho tà khí: phong, thấp xâm nhập nhân lúc chính khí hư yếu, tấu lý sơ hở, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cốt tiết, lưu lại ở cơ, xương khớp làm cho khí huyết không vận hành được mà gây ra. Nguyên nhân do đàm thấp ứ trệ khi thời tiết thay đổi, ẩm thấp nhiều làm cho tà khí: hàn, thấp nhân lúc chính khí hư yếu, tấu lý sơ hở, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cốt tiết, lưu lại ở cơ, xương khớp làm cho khí huyết càng bị ứ trệ không vận hành được mà gây ra sưng, đau. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc Đông y chữa chứng thống phong tùy theo từng thể bệnh để bạn đọc tham khảo: Thể lịch tiết phong Triệu chứng: Sưng đau nhiều khớp ở chân hoặc tay, đau cố định, đối xứng, sưng đau nhanh, đau dữ dội không đi, đứng được, người gầy, da nóng, rêu lưỡi vàng khô, mạch phù sác. Phương pháp điều trị: Tư bổ can thận chỉ thống. Bài thuốc: Quy bản 4 lạng, tri mẫu 1 lạng, thục địa 2 lạng, trần bì 2 lạng, bạch thược 2 lạng, tỏa dương 1,5 lạng, hoàng bá 50g, can khương 50g, hổ cốt 100g. - Cách dùng: Hoàng bá tửu sao, quy bản tửu chích, tri mẫu sao, hổ cốt chích. Các vị trên (trừ thục địa) tán mịn, thục địa chưng, nghiền tinh trộn đều với bột thuốc, tửu hồ hoàn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15- 20g. Châm cứu - Tại chỗ: Châm các huyệt xung quanh vị trí đau (a thị huyệt). - Toàn thân: Châm bổ các huyệt: thận du, can du, tam âm giao, mệnh môn, phong trì, huyết hải, túc tam lý. Thể bạch hổ thống phong Triệu chứng: Sưng to, nóng, đỏ, đau nhiều ở một hoặc 2 khớp chân hoặc tay có khi cả đầu gối, đau cố định, đối xứng, sưng đau tăng nhanh, đau dữ dội không đi, đứng được, người béo, rêu lưỡi trắng, mạch hoạt sác. Phương pháp điều trị: Tiêu đàm, hóa thấp, tư bổ can thận chỉ thống. Bài thuốc: Khương hoạt 3 tiền, uy linh tiên 3 tiền, quế chi 3 tiền, hồng hoa 2 tiền, thần khúc 1 lạng, xuyên khung 1 lạng, đào nhân 1 lạng, long đởm thảo 1 lạng, phòng kỷ 1 lạng, bạch chỉ 1 lạng, hoàng bá 2 lạng, thương truật 2 lạng, nam tinh 2 lạng. - Cách dùng: Hoàng bá tửu sao, thương truật tẩm nước gạo, nam tinh chế gừng, thần khúc sao, đào nhân bỏ vỏ và đầu nhọn, uy linh tiên tẩm rượu. Tất cả các vị trên sao giòn tán mạt, di đường và hồ hoàn viên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15-20g. Châm cứu - Tại chỗ: Châm các huyệt xung quanh vị trí đau. 7
  8. - Toàn thân: Châm bổ các huyệt: thận du, can du, huyết hải, mệnh môn, túc tam lý. Cứu huyệt hoặc ôn châm các huyệt túc tam lý, tâm âm giao. Phòng bệnh Kiêng không ăn thịt: chó, trâu, bò, gà, ngan và các loại phủ tạng, không uống rượu, bia, không ăn những thứ cay nóng. Tránh bùn đất, gió lạnh và khi thời tiết thay đổi. Lao động nhẹ nhàng, nghỉ ngơi, luyện tập đều đặn. 4 Theo lương y Phạm Như Tá, thống phong là do ngoại tà xâm nhập cơ thể gây tắc nghẽn kinh lạc, khí huyết ứ trệ tại các khớp, gây ra đau và cử động các khớp khó khăn. Những biểu hiện Gút là căn bệnh thường gặp, với biểu hiện đau các khớp. Thường có 2 thể cấp và mãn tính. Với trường hợp cấp tính - đau dữ dội kèm sưng tấy đột ngột ở khớp bàn chân, ngón chân cái. Thường đau nhiều vào ban đêm. Cũng có thể bị ở các vị trí khác như, ngón chân, cổ chân, đầu gối... Các khớp thường có màu đỏ sẫm, ấn vào đau nhiều hơn; khớp hoạt động hạn chế. Cơn đau cấp tính có thể kéo dài 2-3 ngày (hoặc 5-6 ngày) rồi bệnh khỏi, không để lại di chứng, nhưng sau đó thường tái phát. Trường hợp đau mãn tính - thường do bệnh cấp tính chuyển thành, biểu hiện bệnh là viêm ở nhiều khớp, tái phát nhiều lần. Các khớp bị bệnh đau nhiều, kéo dài, tại khớp có thể sưng nóng đỏ đau, khớp bị dị dạng, co duỗi khó khăn, và xuất hiện các nốt u cục nổi lên xung quanh khớp, dưới da, ở vành tai (chuyên môn gọi hạt là tôphi) - những cục u này mềm, không đau, bên trong chứa một chất trắng như phấn. Bệnh tiến triển lâu ngày có thể gây tổn thương thận như viêm thận, sạn tiết niệu, tiểu máu, suy thận cấp và mãn tính. Tỳ giải 8
  9. Tri mẫu Thạch cao 9
  10. Mộc thông - Ảnh: H.Mai Bài thuốc Theo lương y Phạm Như Tá, khi áp dụng phép trị, cần chú ý đến giai đoạn phát triển của bệnh. Chẳng hạn với thể cấp tính chủ yếu dùng phép “thanh nhiệt thông lạc khu phong trừ thấp”. Đối với thể mãn tính thường kèm theo đàm thấp, ứ huyết, hàn ngưng, nên tùy chứng mà dùng các phép hóa đàm, trừ thấp, hoạt huyết thông lạc, ôn kinh, tán hàn. Đồng thời chú ý đến mức độ hư tổn của âm dương, khí huyết, can thận mà bồi bổ thích hợp. Nếu là thể cấp tính thì dùng bài thuốc gồm các vị: thạch cao 40-60g (nấu trước), quế chi 4-6g, bạch thược, xích thược, tri mẫu (mỗi loại 12g), dây kim ngân 20-30g, phòng kỷ, mộc thông, hải đồng bì (mỗi loại 10g), cam thảo 5-10g. Đem sắc uống ngày 1 thang, dùng trong thời gian bệnh biểu hiện sưng nóng đỏ đau. Với trường hợp đau mãn tính, nhiều khớp sưng to đau kéo dài, co duỗi khó..., thì dùng bài thuốc gồm các vị: chế ô đầu, tế tân (mỗi loại 4-5g), tỳ giải, xích thược, toàn đương quy (mỗi loại 12g), mộc thông, uy linh tiên (mỗi loại 10g), thổ phục linh 16g, ý dĩ nhân 20g, quế chi 4-6g. Đem sắc ngày dùng một thang. Cách sắc (nấu) các bài thuốc như sau: Nước đầu cho các vị thuốc vào nồi cùng 3 chén nước, nấu còn lại 1 chén, chiết nước ra. Nước thứ hai cho tiếp 2 chén nước vào nồi thuốc, nấu còn lại nửa chén. Hòa hai nước lại chia làm 3 lần dùng trong ngày. 10
  11. 5. Dựa theo các dấu hiệu bệnh chứng và nguyên do phát bệnh, đông y có phép biện chứng luận trị như đối với thể cấp tính, chủ yếu sử dụng phép thanh nhiệt, thông lạc. Với thể cấp tính: Có biểu hiện chính là thể phong thấp nhiệt, đột ngột khớp ngón cái hoặc các ngón khác bị sưng nóng, đỏ, đau, không đụng vào được, kèm theo sốt, đau đầu, sợ lạnh hoặc bứt rứt, khát nước, miệng khô, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn, mạch sác. Trị liệu cần phải thanh nhiệt, thông lạc, khu phong, trừ thấp, dùng phương “Bạch hổ gia quế chi thang gia giảm” gồm các vị: Thạch cao 40-60 g (sắc trước), tri mẫu 12 g, quế chi 4- 6 g, bạch thược 12 g, xích thược 12 g, dây kim ngân 20-30 g, phòng kỷ 10 g, mộc thông 10 g, hải đồng bì 10 g, cam thảo 5-10 g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần, suốt trong thời gian sưng đỏ, nóng sốt. Trường hợp thấp nhiệt nặng như sưng tấy, đau nhiều thì thêm dây kim ngân 40-50 g, thổ phục linh, ý dĩ (tăng để trừ thấp). Hoặc, thêm thuốc hoạt huyết như toàn đương quy, đản sâm, trạch lan, đào nhân, hồng hoa, tằm sa để hóa ứ chỉ thống. Trường hợp có biểu chứng thì thêm quế chi, độc hoạt, tế tân để giải biểu, tán hàn, chỉ thống. Với thể mãn tính: Biểu hiện nhiều khớp sưng đau, kéo dài, co duỗi khó; khớp sưng, nóng, đỏ không rõ ràng nhưng đau nhiều, dị dạng, kèm tê dại; da tím, sạm đen, chườm nóng dễ chịu, mạch trầm huyền hoặc khẩn, lưỡi nhợt, rêu trắng, đó là triệu chứng của hàn thấp, ứ trệ. Trị liệu cần khu hàn, thông lạc, trừ thấp, chỉ thống. Dùng chế ô đầu 4-5 g, tế tân 4-5 g (sắc trước), toàn quy 12 g, xích thược 12 g, uy linh tiên 10 g, thổ phục linh 16 g, tì giải 12 g, ý dĩ nhân 20 g, mộc thông 10 g, quế chi 4-6 g, sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần. Trường hợp sưng đau nhiều, cứng khớp, rêu lưỡi trắng bẩn dày - triệu chứng của đàm trọc ứ trệ - thì thêm chích cương tàm, xuyên sơn giáp, hy thiêm thảo, hải đồng bì để tăng tác dụng hoạt lạc, trừ đàm. Nếu đau nhiều do huyết ứ như dao đâm, mạch sáp, lưỡi tím bầm thì thêm ngô công, toàn yết, sao diên hồ sách để hoạt huyết, chỉ thống. Trường hợp thận hư biểu hiện liệt dương, đau mỏi lưng gối thì thêm bổ cốt chỉ, nhục thung dung, cốt toái bổ để bổ thận, kiện cốt, định thống. Có triệu chứng khí huyết hư thì thêm hoàng kỳ, đương quy, nhân sâm, bạch truật… Chứng thấp nhiệt uẩn kết: Biểu hiện khớp sưng đỏ đau nóng, phiền táo, khát, nước tiểu vàng, đỏ, đầu đau, sốt, sợ lạnh, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch nhu, sác. Phép trị là tuyên thanh, lợi thấp nhiệt, thông lạc, chỉ thống. Dùng phương “Niêm thống thang gia giảm” trích trong Bì phu bệnh chẩn liệu học, gồm: đương quy 10 g, bạch truật 10 g, đản sâm 10 g, hoàng cầm 10 g, thương truật 12 g, trư linh 12 g, trạch tả 12 g, phòng kỷ 12 g, long đởm thảo (sao) 6 g, khổ sâm 6 g, tri mẫu 6 g, thăng ma 6 g, ý dĩ nhân (sống) 15 g, xích tiểu đậu 15 g, sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần. Chứng thống phong cấp thể hàn thấp: Phương này có tác dụng tán hàn, trừ thấp tí, thông lạc, chỉ thống, gồm: quế chi 10 g, xuyên khung 10 g, khương hoạt 12 g, tang chi 12 g, tần giao 12 g, thương truật 12 g, ngưu tất 15 g, đan sâm 15 g, phòng kỷ 15 g, cam thảo 6 g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần. Kết hợp dùng đại hoàng 30 g, hoa hòe 30 g, tích tuyết thảo 30 g, đem sắc lấy nước để thụt vào đại tràng. Ngoài ra, bệnh gút còn nhiều thể khác nữa, tùy bệnh mà thầy thuốc gia giảm cho phù hợp. Đông y đã nhận ra bệnh gút khá sớm. Các y văn cổ không ghi chứng gút nhưng ghi “thống phong”, là chứng thống tí. Bác sĩ HOÀNG TUẤN LINH 11
  12. 6. Bệnh Gút là bệnh thấp khớp do rối loạn chuyển hoá Purin ở người , nguồn gốc từ việc tăng tiêu huỷ các axít nhân của tế bàohoặc giảm bài xuất acid uric qua thận . Gây tăng acid uric trong máu, mà hậu quả là các đợt viêm khớp cấp , gây các tophy, gây sỏi thận gây suy thận… Bệnh Gout có các đặc điểm lâm sàng khá đặc biệt , tương đối dễ nhận biết, nếu được quan sát kỹ ( đặc biệt ở những năm đầu của bệnh ) như : - Thường gặp ở nam giới ( trên 95% ) khoẻ mạnh mập mạp. -Thường bắt đầu vào tuổi 35 đến 45 . - Khởi bệnh đột ngột diễn biến từng đợt , giữa các đợt đau các khớp hoàn toàn khỏi (những năm đầu) -Vị trí bắt đầu thường là các khớp ở chi dưới, đặc biệt ngón 1 bàn chân ( 70%). - Tính chất sưng, nóng đỏ, đau dữ dội đột ngột ở 1 khớp , không đối xứng, xuất hiện các u cục ( tophy )ở nhiều nơi đặc biệt quanh khớp.Trong giai đoạn cấp có kèm các dấu hiệu toàn thân : Sốt cao, lạnh run, đôi khi có dấu hiệu màng não (cổ cứng ). cần ăn hạn chế các thức ăn chứa nhiều purin(chứa nhiều acid nhân tế bào ) như :Tim, gan, thận, óc, trứng lộn, cá chích, cá đối ..đây là loại thức ăn nhiều đạm. Y văn cổ không có ghi chứng gút nhưng có chứng “thống phong” là chỉ chứng thống tý lâu ngày khó khỏi. Cho nên bệnh thống phong có thể qui thuộc phạm trù chứng nhiệt tý trong đông y. Triệu chứng: Bệnh có 2 thể lâm sàng. l- Cấp tính: Cơn đau sưng tấy dữ dội đột ngột của khớp bàn chân, ngón cái, thường và0 ban đêm (cũng có thể ở các vị trí khác: ngón chân khác, cổ chân, gối…) khớp đỏ xẫm, ấn đau nhiều, khớp hoạt động hạn chế, kéo dài 2, 3 ngày hoặc 5, 6 ngày rồi khỏi không để lại di chứng nhưng rất dễ tái phát. 2. Mạn tính: Thường do bệnh cấp tính chuyển thành, biểu hiện viêm nhiều khớp mạn tính (khớp nhỏ, vừa và đối xứng) tái phát nhiều, thời gian ổn định rút ngắn, khớp bệnh đau nhiều kéo dài, tại khớp có thể sưng nóng đỏ không rõ nhưng thường có sốt, khớp dị dạng, co duỗi khó khăn, xuất hiện nốt u cục quanh khớp, dưới da, vành tai (hạt tôphi) mềm, không đau, trong chứa một chất trắng như phấn. Bệnh tiến triển lâu ngày gây tổn thương thận (viêm thận kẽ, sạn tiết niệu, tiểu máu, suy thận cấp, mạn). Chẩn đoán và phân biệt: * Chẩn đoán chủ yếu dựa vào: - Triệu chứng lâm sàng (như trên) chú ý hạt Tôphi, sạn thận gút, khớp gút to, thường chủ yếu là xương bàn chân tay sưng đau không đối xứng. Acid uric huyết tăng rõ, cao hơn 7mg%. 12
  13. - Cần phân biệt với: + Viêm khớp dạng thấp (không có acid uric cao, khớp sưng đối xứng…) + Tăng acid uric huyết đơn thuần (khớp bình thường), tăng acid uric thứ phát (suy thận…). Điều trị Biện chứng luận trị cần chú ý đến giai đoạn phát triển của bệnh. đối với thể cấp tính chủ yếu dùng phép thanh nhiệt thông lạc khu phong trừ thấp, đối với thể mạn tính thường kèm theo đàm thấp, ứ huyết, hàn ngưng, nên tùy chứng mà dùng các phép hóa đàm, trừ thấp, hoạt huyết thông lạc, ôn kinh, tán hàn. Đồng thời chú ý đến mức độ hư tổn của âm dương, khí huyết, can thận mà bồi bổ thích hợp. 1. cấp tính: Triệu chứng: Biểu hiện chính là thể phong thấp nhiệt; đột ngột khớp ngón cái (thường gặp nhưng cũng có thể các khớp nhỏ khác) sưng nóng đỏ đau, không đụng vào được, kèm theo sốt, đau đầu, sợ lạnh hoặc bứt rứt, khát nước, miệng khô, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn, mạch Sác. Bạch Hổ Gia Quế Chi Thang Gia giảm Thạch cao 40-60 Tri mẫu 12 Quế chi 4-6 Bạch thược 12 Xích thược 12 Ngân diệp 20-30 Phòng kỷ 10 Mộc thông 10 Hải đồng bì 10 Cam thảo 5-10 Sắc uống ngày l thang, trong thời gian sưng đỏ nóng sốt. Trường hợp thấp nhiệt nặng (Sưng tấy đau nhiều gia thêm dây Kim ngân 40 – 50g, Thổ phục linh,Ý dĩ (tăng trừ thấp) hoặc gia thuốc hoạt huyết như Toàn Đương qui, Đan sâm, Trạch lan, Đào nhân, Hồng hoa, Tằm sa để hóa ứ chỉ thống, trường hợp có biểu chứng thêm thêm Quế chi, Độc hoạt, Tế tân để giải biểu, tán hàn chỉ thống. 2. mạn tính: Triệu chứng: nhiều khớp sưng to đau kéo dài, co duỗi khó, tại khớp không đỏ nóng rõ nhưng đau nhiều, dị dạng kèm theo tê dại, da tím sạm đen, chườm nóng dễ chịu, co duỗi khó khăn, xuất hiện nốt u cục quanh khớp, lâu ngày gây tổn thương thận (viêm thận kẽ, sạn tiết niệu, tiểu ra máu, suy thận cấp, mạn).mạch Trầm Huyền hoặc Khẩn, lưỡi nhợt, rêu trắng là triệu chứng của hàn thấp ứ trệ. Pháp: Khu hàn, thông lạc, trừ thấp, chỉ thống Ô Đầu Tế Tân Thang (Hiện Đại Trung Y Nội Khoa Học): ô đầu (sắc trước) 5 Tế tân 5 ĐươNg qui 12 Xích thược 12 Uy linh tiên 10 Thổ phục 16 Tỳ giải 12 ý dĩ 20 Mộc thông 10 Quế chi 4-6 13
  14. Trường hợp sưng đau nhiều khớp cứng, mạch Hoãn Hoạt, rêu lưỡi trắng bẩn dày là triệu chứng đàm trọc ứ trệ, thêm chích Cương tàm, Xuyên sơn giáp, Tạo giác thích, Hy thiêm thảo, Hải đồng bì, để tăng tác dụng hoạt lạc, trừ đàm. Đau nhiều do huyết ứ (đau như dao đâm, mạch sáp, lưỡi tím bầm) thêm Ngô công, Toàn yết, sao Diên hồ sách để hoạt huyết chỉ thống. Trường hợp thận dương hư (liệt dương, đau mỏi lưng gối, chân tay lạnh, sợ lạnh, lưỡi bệu, mạch Trầm, Hoãn vô lực thêm Bổ cốt chỉ, Nhục thung dung, Cốt toái bổ để bổ thận kiện cốt định thống, có triệu chứng khí huyết hư thêm Hoàng kỳ, Đương qui, Nhân sâm, Bạch truật… Trên lâm sàng thường gặp: + Thấp Nhiệt Uẩn Kết: Khớp sưng đỏ, đau, nóng. Phiền táo, khát, nước tiểu vàng, đỏ, đầu đau, sốt, sợ lạnh, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch Nhu, Sác. Điều trị: Tuyên thanh, lợi thấp nhiệt, thông lạc, chỉ thống. Dùng bài Niêm Thống Thang gia giảm: Đương quy, Bạch truật, Đảng sâm, Hoàng cầm đều 10g, Thương truật, Trư linh, Trạch tả, Phòng kỷ đều 12g, Long đởm thảo (sao), Khổ sâm, Tri mẫu, Thăng ma đều 6g, Ý dĩ nhân (sống), Xích tiểu đậu đều 15g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Chẩn Liệu Học). + Đờm Ngưng Trở Lạc: do nhiều đờm ẩm gây nên, các khớp nặng, cử động khó khăn, khớp mềm hoặc cứng, có khi sốt cao, đầu đau, lo sợ, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế, Sáp. Điều trị: Hòa doanh, khứ ứ, hóa đờm, thông lạc. Dùng bài Đào Hồng Tứ Vật Thang gia giảm: Đương quy, Xích thược, Đào nhân, Mộc qua đều 10g, Hồng hoa, Uy linh tiên, Xuyên khung đều 6g, Dã xích đậu, Triết bối mẫu đều 12g, Ty qua lạc, Tạo giác thích, Giáp châu đều 4,5g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Chẩn Liệu Học). + Phong Thấp Hàn, Huyết Ứ: Bệnh phát cấp, khớp đau cứng một chỗ, lạnh thì đau nhiều, gặp ấm, nóng dễ chịu hơn, có thể bị biến dạng khớp và cứng khớp, khó cử động. Dù sưng nhưng không thấy nóng, đỏ, lưỡi trắng mỏng, mạch Hoạt, Trầm, Huyền hoặc Nhu, Hoãn. Điều trị: khu phong, trừ thấp, ôn kinh hoạt lạc. Dùng bài Kê Huyết Phụ Tử Niêm Thống Thang: Kê huyết đằng, Nhẫn đông đằng đều 50g, Thương truật, Kinh giới tuệ Theo thaythuoccuaban.com 14
  15. Kinh nghiệm nhiều năm gắn bó với nghiệp y dược đã giúp lương y Lê Hữu Chí (45 tuổi, ngụ phường Phú Hoà, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế) bào chế thành công bài thuốc chữa trị dứt điểm bệnh gút mãn tính. Vị lương y cho biết bài thuốc chữa trị bệnh gút được bào chế từ 12 loại thảo dược trong dân gian : Ông Chí đang chữa trị cho một bệnh nhân mắc bệnh gút 15
  16. Bài thuốc “nghèo” trị dứt “bệnh nhà giàu” Gọi là bài thuốc “nghèo” bởi thuốc được bào chế hoàn toàn từ những cây thảo dược rất dễ kiếm trong vườn tược, đồi núi, thậm chí ngay bên vỉa hè lề đường. Hơn nữa giá thành mỗi thang thuốc chỉ từ 15 đến 20 nghìn đồng. Lương y Chí trình bày bài thuốc chữa trị bệnh gút mãn tính gồm 12 loại thảo dược có tên sau: - Cam thảo đất - Táo mèo - Tỏ bưởi - Hạt chuối sứ - Củ ráy tía - Củ sơn thục - Củ khúc khắc - Lá lốt - Dây tơ hồng - Cà gai leo - Củ tỏi đỏ - Cây bồ công anh Tác dụng chung của những vị thuốc này theo lời thầy Chí là chống viêm và bài trừ thấp khớp. Ngoài ra thuốc còn có chức năng bồi bổ khí huyết, từ đó sản sinh ra hoạt chất bôi trơn các khớp xương, giúp cơ thể vận động thoải mái, dễ dàng. “Người bị gút biểu hiện rõ nhất ở việc đau các khớp chân, tay. Chính vì vậy công dụng cơ bản của bài thuốc chính là kháng viêm khớp, giúp lợi gân cốt”, ông Chí giải thích. Cách thức sử dụng bài thuốc được ông Chí hướng dẫn cực kì đơn giản là đem phơi khô rồi sắc lấy nước uống, liều lượng mỗi vị 8 gam, mỗi ngày sắc một thang và uống đều sau bữa ăn. “Sắc một lít nước, đến khi còn lại nửa lít là được, hoặc đổ vào 3 chén nước lấy lại hơn một chén để uống. Ngoài ra có thể xay mịn thuốc rồi cho vào ấm chế nước uống như pha trà. Mỗi ngày uống từ 3 - 4 ấm là tốt nhất”, ông hướng dẫn thêm. Cũng theo lời thầy thuốc này, thuốc nam cho tác dụng từ từ chứ không thể “uống ngày trước, ngày sau lành bệnh” nên đòi hỏi bệnh nhân phải kiên trì điều trị. Với kinh nghiệm nhiều năm chữa trị bệnh gút bằng thuốc nam, ông Chí cho biết thông thường bệnh nhân uống thuốc trong vòng 1 - 2 tháng sẽ cho kết quả khả quan như vận động chân tay ít đau, khớp xương không bị sưng tấy. Điều cần lưu ý đối với bệnh nhân điều trị gút là tuyệt đối kiêng tránh những thức ăn như thịt chó (thịt cầy), đồ hải sản, thịt đỏ (như thịt bò) và nội tạng động vật bởi những thực phẩm này chứa hàm lượng đạm cao, gây nguy cơ mắc bệnh. Thay vào đó người bệnh nên ăn nhiều rau quả, tăng cường uống nước và vận động nhẹ tuỳ theo sức khoẻ bản thân để khí huyết lưu thông đều đặn. “Nếu có điều kiện người bệnh có thể kết hợp thêm điều trị bằng phương thức châm cứu, mát xa các huyệt đạo bởi các phương pháp hỗ trợ này sẽ có tác dụng điều chỉnh khí huyết, bổ huyết, từ đó ắt bệnh tật sẽ tự nhiên mà thuyên giảm”, lời lương y Chí căn dặn bệnh nhân. Nói về ưu điểm của phương pháp chữa trị “bệnh nhà giàu” bằng bài thuốc nam, lương y Chí khẳng định thuốc hoàn toàn không cho tác dụng phụ, hiệu quả chữa trị tuy “chậm mà chắc”. Đó là chưa kể đến lợi ích kinh tế bởi không phải ai đều có đủ điều kiện mua các loại thuốc Tây y vốn rất đắt đỏ. 16
  17. Vị lương y xứ Huế thậm chí còn khẳng định bất kể bệnh nào đều có thể tự tìm thuốc để sắc uống chứ không nhất quyết phải tìm đến bác sĩ. “Đây toàn là những loại thảo dược dễ tìm ở nước ta, cách thức bào chế cũng hết sức đơn giản”, ông mở lòng chia sẻ. Một số vị thuốc nam có tác dụng điều trị bệnh gút Ba năm mày mò tự chế bài thuốc Kể về nguồn gốc bài thuốc nam chữa trị bệnh gút, lương y Lê Hữu Chí “bật mí” cách đây khoảng 10 năm, trong quá trình chữa trị cho bệnh nhân bị thấp khớp, ông mới biết nhiều người không phải đau khớp thông thường mà bị gút. Ở thời điểm đó nhiều người mắc bệnh gút nên căn bệnh này trở thành đề tài nóng hổi, thu hút sự quan tâm của nhiều người. Nghĩ vậy nên ông quyết tâm tìm tòi bằng được bài thuốc nam chữa trị căn bệnh được mệnh danh là “bệnh nhà giàu”. Trong Đông y bệnh gút được xác định do hai nguyên nhân chủ yếu: Ngoại nhân và nội nhân. Ngoại nhân tức cơ thể bị những luồng tà khí thâm nhập dẫn đến phong hàn, tê thấp, kinh mạch tắc nghẽn. Còn nội nhân hay còn gọi “thất tình nội thương”, xuất phát từ chế độ ăn uống thiếu khoa học hay ức chế tinh thần kéo dài khiến thân thể lâm bệnh. Đặc biệt bệnh gút nếu không được chữa trị kịp thời, không những khiến người bệnh khó vận động mà còn kéo theo nhiều hệ luỵ bệnh tật khác như: Dị dạng khớp xương, suy thận, bị sạn thận. Nghiền ngẫm nhiều cuốn sách, hỏi ý kiến nhiều lương y khác, sau khoảng 3 năm thử nghiệm, ông đã tự chế ra bài thuốc trên. Thuyết phục về tính hiệu quả của bài thuốc nam, thầy thuốc Đông y cho biết đã đưa vào áp dụng bài thuốc hơn sáu năm nay và thu được kết quả khả quan. Ông nói: “Hàng trăm bệnh nhân gút đã được chữa trị bằng bài thuốc nam gồm 12 vị thảo dược trên. Thực tế nhiều trường hợp mắc chứng gút mãn tính đã khỏi hẳn bệnh sau một thời gian kiên trì uống thuốc”. Anh Lương Văn Cầu (ngụ phường Phú Thuận, thành phố Huế), là bệnh nhân hiện đang điều trị bệnh gút bằng bài thuốc nêu trên chia sẻ: “Tuy mới uống thuốc vài tuần nhưng tôi cảm thấy cơ thể đỡ đau đớn hơn nhiều. Bây giờ tôi có thể cử động chân tay mà không đau nhói như trước đây. So với uống thuốc tây, thuốc nam vừa rẻ lại không gây cảm giác mất ăn, mất ngủ”. 17
  18. Tâm sự chuyện nghề, lương y Chí cho biết rất lấy làm vui mừng bởi sau hai thập kỉ theo nghề y, bài thuốc chữa gút chính là thành quả lớn nhất đời mình. Ông trải lòng chính nhờ lòng yêu nghề đã giúp bản thân nghiên cứu, bào chế thành công bài thuốc nam nêu trên. Càng khâm phục hơn khi ông sẵn lòng chia sẻ bài quý cho tất cả những ai có nhu cầu mà không chút vụ lợi tơ hào. Quan niệm nghề của ông khá đơn giản: “Sống là cho chứ đâu chỉ nhận. Cứu một mạng người hơn xây toà tháp”. Gút (Gout) là một bệnh lý rối loạn chuyển hoá chất purin làm tăng lượng Acid uric trong máu dẫn đến ứ đọng tinh thể muối Urát tại khớp gây viêm khớp. Biểu hiện lâm sàng đặc trưng của người bị mắc gút là sưng tấy, nóng, đỏ, đau dữ dội tại một hay nhiều khớp. Tỉ lệ mắc bệnh gút ở nam giới cao hơn nữ giới. Việc uống nhiều bia rượu cũng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Để phòng tránh bệnh gút nên giảm cân, uống nhiều nước. Một trong những phương pháp điều trị gút phổ biến hiện nay là kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại. Quảng Thiên 18
  19. CHƯƠNG 8 : CƠ XƯƠNG KHỚP VẤN ĐỀ 2 : MỘT SỐ BỆNH VỀ KHỚP XƯƠNG 19
  20. 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2