Ghé Bc Ninh nghe quan họ, nếm
đặc sản
vùng quê Kinh Bắc không ch làn điệu quan họ, mà còn rất nhiều n ăn đặc sản.
bánh tẻ làng Chờ, nh phu thê, bánh khúc làng Dim là thứ đặc sản mang đậm chất qhương.
Ai chưa được ăn thì bhấp dẫn bởi cái tên, n ai đã từng một lần thưởng thức thì không th
quên hương vị độc đáo của những món ăn này
Bánh phu thê Đình Bng
Bánh phu thê được đặt úp bụng hai chiếc bánh vào nhau ri dùng lạt đỏ buộc thành cp; có lẽ vì
vậy mà người đời gọi là bánh phu thê.
Được gói bằng những tấm lá dong giản dị, rồi luc lên, bánh phu thê không khoe i tỏa ơng
như nh rán, bánh khúc; chỉ tới khi bóc bánh người ta mới thật sự ngỡ ngàng.
Bánh sắc vàng trong sut, lấm tấm những hạt vng đen. Nhân bánh được làm bng đxanh đãi
sạch vỏ đã được hấp chín đánh tơi, cho thêm đường trắng, cùi da, hạt sen hương ngũ vị. Bột
làm bánh phi được làm từ gạo nếp, xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho ráo nước
rồi phơi khô (còn bột thô thì bán cho hàng bánh rán). Tới khi làm nh phải dùng nước quả dành
dành nhào bột đly mầu sắc tự nhiên chkhông được pha phm mầu. Người ta còn nạo đu đủ
xanh, ngâm phèn ri cắt nh nhào lẫn với bột để bánh có thêm độ giòn.
Bánh phu thê Đình Bng khi ăn thấy độ dẻo của nếp, đgiòn của đu đủ, độ ngậy của đỗ xanh, v
béo ca cùi da, vbùi của hạt sen, vị ngt của đường…, tất cả hòa quyện vào nhau làm thành
hương v rất riêng ca bánh. Nhân bánh hình tròn nằm trong vỏ bánh bkhuôn hình vuông bằng
lá dừa.
Khi làm bánh, người ta dàn mỏng bột lên khuôn, đặt nhân vào một đầu ri đp phần bột còn lại
lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che ch của tình phu thê.
Ở Bắc Ninh, mỗi nhà đều có một bí quyết làm bánh riêng vì vy bánh của mỗi nhà đều có hương
vriêng, mt nhãn hiu riêng. Tất cả các khâu từ nhào bột, nặn bánh, làm nhân, ớc , luộc
bánhđều phải làm bằng tay. nh gói xong được buộc y rơm nếp, luộc xong, người ta tháo
by rơm, úp bụng hai chiếc bánh vào nhau ri dùng lạt đỏ buộc thành cặp; lẽ vì vậy mà
ngưi đời gọi là bánh phu thê.
Bánh tẻ làng Ch
Bánh tlàng Ch vừa có độ giòn li vừa có vị đậm, vị béo ca nhân, nồng nàn của mùi lá,
không thể lẫn vào thứ bánh tẻ nào khác được.
Nhng ngày l tết vùng n Phong đã đành, nay thì hội Lim (Tiên Du), hội Đền Đô (Từ
n)… các nhà hàng khách sạn Bắc Ninh, Hà Ni rồi đến những ngày khánh thành, lcưới
sang trng đều thy bánh tẻ làng Chờ.
Gọi là nh tlàng Chlà cách gi dân dã cho d nhớ dễ thuộc. Người Bắc Ninh câu: Ba
làng Mịn, bảy làng ChMột làng Ô Cách cgiữa đồng. Chờ là tên gọi chung của 7 làng:
Phú Mẫn, Nghiêm Xá, Trung Bạn, Ngân Cầu (thị trấn Ch), Ngô Nội, Tiên Trà, Phù Lưu (xã
Trung Nghĩa) thuộc tổng Ch xưa, kết nghĩa với nhau tổ chức ngày hội “thất thôn giao liệt” t
ngày 11 đến ngày 13 tháng 3 âm lịch hàng năm.
Bánh tngon nhất li là của c làng Chờ: NNội, Tiên Trà, Phù Lưu, Nghiêm Xá. lẽ đây
là những làng nhiều đồng chiêm cy được những giống lúa có gạo thơm ngon.
Bánh tlà thức quà dân dã, vừa do va dai, vừa giòn va thơm, vừa thanh vừa mát m cho
ngưi ăn thêm tỉnh táo, lại chắc dạ. Bánh tẻ ăn lúc còn nóng mi ngon. nh tẻ làng Ch dẻo
ch không nhão, t như thứ bánh giò bạn thường thấy, vừa độ giòn lại vừa có vđậm, vị
béo của nn, nồng nàn của mùi lá, không thể lẫn vào thbánh tẻ nào khác được.
Bánh khúc làng Diềm
Bánh khúc làng Diềm có 2 loại: nhân hành và nhân đỗ.
Bánh khúc ng Diềm chẳng biết tbao giờ, chỉ biết rằng, trước đây n bánh này q lắm,
ch được làm khi khách quý đến chơi hay các dịp nhất niên, nhất lệ. Tuy không phải là quy
định khắt khe như trầu thuốc, song đây chính là nét văn hoá ẩm thực riêng có quê ơng Quan
họ.
Bánh khúc làng Diềm có 2 loại: nhân hành và nhân đỗ.nh khúc nhân đvị bùi của đỗ, béo
của thịt mỡ và thơm của hạt tiêu. Ba thnguyên liệu y được nấu lên, trn lẫn với nhau làm
thành nhân bánh. Bánh khúc nhân hành khác hơn đôi chút. Hành được dùng làm nhân bánh
khúc nhất thiết phải là hành khô, cộng thêm mc nhĩ, hạt tiêu, m, thịt ba chỉ băm nhỏ trộn lẫn
với nhau. Dù là bánh nhân đ hay nhân hành thì v bánh và nhân cũng đều phải nêm một lượng
gia vvừa đủ, nh mặn làm mất đi vị bùi, béo song nếu nhạt bánh smùi ngai ngái. Bánh
khúc thường được ngưi dân làng Diềm nặn vi 2 hình thức: tròn như bánh rán hoặc hình tai
voi, nhưng dù vi hình thức nào, vnh ng phải dát mỏng mà không đlnhân. Không ai
luộc bánh khúc bao gi người ta đbằng chõ như đ xôi. Cứ một lượt bánh lại rắc một lượt
go nếp mỏng đã ngâm mềm vừa đủ để dính đều vào bánh.
Bánh khúc ăn lúc nóng là ngon nhất, thể thay thế m tẻ nhưng người làng Diềm chlàm khi
khách qđến chơi nhà và các dịp rằm tháng giêng, lhội Đền Vua bà 62 Hi Tát giếng 3
– 3 âm lịch. Đó cũng chính là mùa của cây khúc.
Bánh đa Kế
>
Những chiếc bánh đa với hình yên ngựa vàng bóng, vị bùi, thơm mùi lc, vừng, khoai lang…
Dĩnh Kế, xưa kia vn tên là Phượng Nhỡn thuộc Phủ Lạng Thương Trấn Kinh Bắc.
Nhng ngày nắng, ai đi qua Dĩnh Kế cũng thy một màu trắng của nhng chiếc bánh đa to, tròn
trên những chiếc giàn phơi, dọc theo quốc l 1A, trong đường làng, ngõ xóm, sân n. như
thế, thử hỏi ai không tò mò, ai không mun khám phá, thử ăn chiếc bánh ngay tại làng nghề?
Bánh đa Kế là một món ăn bình dị, n dã nhưng chứa đựng trong đó bao hương vị, đậm đà quê
chất Bắc Ninh. Nhng chiếc nh đa với hình yên ngựa vàng bóng, vi, thơm mùi lạc, vừng,
khoai langđã trthành món quà không ththiếu đối với du khách đến thăm hoặc chỉ ghé qua
Bắc Ninh một lần.
Ban đầu chiếc bánh đa làm tnguyên liệu chính là sắn. Nhưng trong q trình làm thì người dân
nơi đây thấy rằng sắn là nguyên liu khó làm rt dính, bắt bụi và c những côn trùng,
không đảm bảo vệ sinh, chất lượng chiếc không cao nên h tìm cách ci tiến, thay thế sắn dần
bằng gạo tẻ. Từ đó, h thấy cht lượng chiếc bánh được nâng lên rõ rệt. Để làm nên những chiếc
bánh thơm ngon, béo giòn, vbùi thì phải trải qua nhiều ng đoạn, thao tác của người th. Họ
chn gạo tẻ ngon, không dính, đem ngâm khoảng 12-13 tiếng, sau đó đem xay vỡ, phải xay hai
ln để bột được kĩ, nhuyn, mịn, sờ tay vào bột phải mát, lọc hết bụi bẩn.
Bánh đa Kế đã trở thành mt đặc sản, một món ăn dân dã, bình dnổi tiếng trong ngoài nước:
Nga, Singapore. Du khách đến đây không chỉ được thưởng thức vị ngon của bánh đa ngay i
làm ra, mua được bánh đa chính gc làng nghvề làm quàn được thăm đền Dĩnh Kế(còn
gọi là Nghè Cả).